














Preview text:
MÔI TRƯỜNG & PHÁT TRIỂN Chương 1: MỞ ĐẦU I.
Tổng quan về môi trường 1. Khái niệm
-Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có
mối quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con
người, sinh vật và tự nhiên (Theo Luật BVMT 2020)
-“Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội –
nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên
phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”.
(Bách khoa toàn thư về môi trường – 1994)
-Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thầnh môi
trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng,…
-BVMT là hoạt động phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến
môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy
thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, sử dụng hợp lý
tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu
(Luật BVMT Việt Nam – 2020)
-Sự cố môi trường là những sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động
của con người hoặc do biến cố bất thường của tự nhiên, gây ô
nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng
-Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng, số lượng của
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con
người, sinh vật và tự nhiên
-Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh
học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ
thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên
-Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là quy định bắt buộc áp dụng mức
giới hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của
chất ô nhiễm có trong nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thiết bị,
sản phẩm, hàng hóa, chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo quy định
của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
-Tiêu chuẩn môi trường là quy định tự nguyện áp dụng mức giới
hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của chất ô
nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức công bố theo
quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. (Luật BVMT Việt Nam 2020)
-Chất ô nhiễm là chất hóa học hoặc tác nhân vật lý, sinh học mà
khi xuất hiện trong môi trường vượt mức cho phép sẽ gây ô nhiễm môi trường
-Chất thải là vật chất ở thể rắn, thể lỏng, khí hoặc ở dạng khác
được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác
-Chất thải nguy hại là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ,
lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác
2. Chức năng cơ bản của môi trường Có 5 chức năng chính:
-Là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
-Nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và
sản xuất của con người
-Nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và sản xuất
-Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật
-Môi trường có chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
II. Tổng quan về tài nguyên 1. Khái niệm
-Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được
con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra các giá trị sử dụng mới
-Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người => Xã hội loài
người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi
loại tài nguyên được con người sử dụng và khai thác ngày càng gia tăng 2. Phân loại
Tài nguyên được chia làm 2 loại lớn:
-Tài nguyên thiên nhiên: là những của cải vật chất có sẵn trong tự
nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ
cuộc sống của con người (rừng, cây, các động vật, thực vật quý
hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu, khí,…). Tài
nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi trường, có
quan hệ chặt chẽ với môi trường
-Tài nguyên xã hội (tài nguyên con người): là một dạng tài nguyên
tái tạo đặc biệt, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả
năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.
3. Phân loại tài nguyên
-Theo phương thức và khả năng tái tạo:
+ Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật,…) là tài nguyên
có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được
quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý,
tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được.
VD: Tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể
bị mặn hóa, bạc màu, xói mòn,…
+ Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn,
sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng
VD: Dầu mỏ là tài nguyên không tái tạo vì mất hàng triệu năm
để hình thành, nhưng con người khai thác và sử dụng nhanh
nên sẽ dần cạn kiệt.
III. Tổng quan về phát triển 1. Khái niệm
-Phát triển là từ viết tắt của phát triển kinh tế xã hội
-Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần cho con người bằng hoạt động tạo ra của cải vật chất, cải
tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa.
-Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống
-Phát triển chủ yếu dựa vào tăng cường kinh tế mà bỏ qua các yếu
tố khác được xem là sự phát triển không bền vững.
a. Phát triển môi trường là gì?
-Ủy ban MTPT Liên Hợp Quốc 1987 đã đưa ra khái niệm phát triển
bền vững như sau: “PT bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng
được những nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng, tồn tại
đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
-Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức
ở Rio de Janeiro ở Brazil năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế
giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg Nam Phi năm 2002 đã xác
định PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, bao gồm:
+ Phát triển kinh tế, quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế
+ Phát triển xã hội, quan trọng nhất là thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các nước giàu
và các nước nghèo trên thế giới, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm.
+ Bảo vệ môi trường, quan trọng nhất là xử lý, khắc phục ô
nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống
cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
-Theo Luật BVMT 2014: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng
được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp
chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
-Phát triển bền vững đòi hỏi:
+ Về mặt xã hội: phải thỏa mãn hợp lý các nhu cầu về tinh thần,
vật chất và văn hóa của con người – Bảo vệ tính đa dạng văn hóa
+ Về mặt kinh tế: phải tự trang trải được các nhu cầu hợp lý với
chi phí không vượt quá thu nhập
+ Về mặt sinh thái: đảm bảo duy trì sự ổn định và an toàn lâu dài của các hệ sinh thái
-Tiêu chí phát triển bền vững: Phân hệ tự nhiên Phân hệ kinh tế Phân hệ xã hội – nhân
+ Sử dụng có hiệu quả + Giảm dần mức chi phí văn
tài nguyên, đặc biệt là năng lượng và các tài + Ổn định dân số tài nguyên không tái nguyên khác qua công + Phát triển nông thôn tạo nghệ tiết kiệm và thay
để giảm sức ép di dân + Phát triển không đổi lối sống vào đô thị vượt quá ngưỡng chịu + Thay đổi nhu cầu tiêu + Giảm thiểu tác động tải của hệ sinh thái
thụ không gây hại đến
xấu đến môi trường do
+ Bảo vệ đa dạng sinh đa dạng sinh học và môi đô thị hóa học trường + Nâng cao học vấn, + Bảo vệ tầng Ozon + Bình đẳng trong tiếp xóa mù chữ cận các nguồn tài
+ Bảo vệ chặt chẽ các + Bảo vệ đa dạng văn nguyên, mức sống, dịch hệ sinh thái nhạy cảm hóa vụ y tế và giáo dục + Giảm thiểu xả thải, + Bình đẳng giới, quan + Xóa đói, giảm nghèo khắc phục ô nhiễm
tâm tới nhu cầu và lợi tuyệt đối nước, ô nhiễm không ích giới + Công nghệ sạch và khí, lương thực thực sinh thái hóa công + Tăng cường sự tham phẩm; cải thiện và
nghiệp như tái chế, tái sử gia của công chúng vào
khôi phục môi trường ở dụng, giảm thải, tái tạo các quá trình ra quyết những khu vực ô
năng lượng đã sử dụng.
định của các nhà quản nhiễm. lý, hoạch định chính sách.
-Các lĩnh vực cần cân nhắc để đạt mục tiêu PTBV:
+ Lĩnh vực chính trị: đảm bảo để công dân được tham gia có hiệu
quả vào các quá trình ra quyết định
+ Lĩnh vực kinh tế: có khả năng tạo ra các giá trị thặng dư trong
mô hình sản xuất, kinh doanh tự điều chỉnh theo hướng sản xuất
sạch hơn và sản xuất sạch
+ Lĩnh vực xã hội: có giải pháp xử lý các xung đột nảy sinh do
phát triển không hài hòa, đặc biệt là xung đột môi trường
+ Lĩnh vực công nghệ: liên tục tìm kiếm các giải pháp công nghệ
mới để tăng nguồn tài nguyên
+ Lĩnh vực quốc tế: củng cố các mô hình thương mại và tài chính
bền vững trong mối liên minh toàn cầu/khu vực nhằm bảo vệ môi trường
+ Lĩnh vực hành chính: mềm mại và thích ứng, có khả năng tự
điều chỉnh và hoạch định được các chính sách thích hợp
-Nguyên tắc phát triển bền vững: Luc Hens đã lựa chọn trong số
các nguyên tắc của Tuyên bố Rio về MTPT để xây dựng một hệ
thống 7 nguyên tắc mới của phát triển bền vững:
+ Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân + Nguyên tắc phòng ngừa
+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ
+ Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ
+ Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền
+ Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
+ Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
-9 nguyên tắc cơ bản của PTBV:
+ Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
+ Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
+ Bảo vệ sức sống và tính đa dạng sinh học của trái đất
+ Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo
+ Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái Đất
+ Thay đổi thái độ và hành vi của con người
+ Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
+ Xây dựng một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho sự phát triển và bảo vệ
+ Xây dựng một khối liên minh toàn cầu trong việc bảo vệ môi trường
b. Chỉ số đo lường sự phát triển
Chỉ số tổng sản phẩm quốc nội GDP
-GDP được hiểu là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa, dịch vụ
được sản xuất ra trong lãnh thổ của một quốc gia, bao gồm cả
sản phẩm do người nước ngoài sản xuất trên lãnh thổ của quốc
gia đó trong một thời kì nhất định.
-GDP bình quân đầu người được tính bằng GDP của vùng lãnh thổ
chia cho tổng dân số tại cùng thời điểm. Chỉ số GDP bình quân
đầu người cao tỷ lệ thuận với mức thu nhập cũng như đời sống
người dân ở quốc gia đó.
Chỉ số tổng sản phẩm quốc gia GNP
-GNP là toàn bộ giá trị được công dân mang quốc tịch nước đó sản
xuất ra trong khoảng thời gian nhất định, không phân biệt lãnh
thổ (được đánh giá dựa chủ yếu vào yếu tố chủ sở hữu)
-VD: Ford đặt chi nhánh và xưởng sản xuất tại Anh để phục vụ thị
trường nội địa. Mọi thu nhập sau khi bán hàng từ chi nhánh này
sẽ được tính vào GDP của Anh. Tuy nhiên, lợi nhuận ròng thu được
và lương của công nhân người Mỹ đang làm việc tại đây sẽ được tính vào GNP của Mỹ.
Chỉ số thu nhập quốc gia GNI
-GNI là tổng thu nhập mà người dân và các tổ chức của một quốc
gia kiếm được trong một năm, bất kể thu nhập đó đến từ trong
nước hay từ nước ngoài
-Công thức tính: GNI = GDP + Thu nhập ròng từ nước ngoài -Trong đó:
+ GDP = Tổng giá trị tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước
Thu nhập ròng từ nước ngoài = Thu nhập nhận từ nước ngoài –
Thu nhập trả cho nước ngoài
Thu nhập nhận từ nước ngoài = Lợi nhuận, lãi suất, kiều hối mà
công dân trong nước kiếm được ở nước ngoài
Thu nhập trả cho nước ngoài = Lợi nhuận, lãi suất mà người nước
ngoài kiếm được từ đầu tư ở nước mình
-Ví dụ: Giả sử Việt Nam sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ trị giá 400
tỷ USD (GDP). Người Việt Nam ở nước ngoài gửi về 10 tỷ USD. Các
công ty nước ngoài ở Việt Nam mang 5 tỷ USD lợi nhuận ra nước ngoài
=> GNI của Việt Nam = 400 + (10 – 5) = 405 tỷ USD
Chỉ số tiến bộ đích thực GPI
-Nhằm đánh giá sự hưng thịnh đích thực và toàn diện của một
quốc gia, hiện nay nhiều nước phát triển đang sử dụng chỉ số GPI thay thế cho chỉ số GDP
-Khác với GDP, GPI lượng hóa và cộng thêm vào các công việc
thiện nguyện và trừ đi các phí tồn chi cho các hiệu ứng tiêu cực
như tội phạm, ô nhiễm, suy thoái tài nguyên
Chỉ số phát triển nhân văn HDI
-Chỉ số HDI được đánh giá trên thang điểm từ 1-0 là môt tập hợp
gồm 3 chỉ thị: tuổi thọ bình quân, tỉ lệ % người biết chữ,
GDP/người tính theo chỉ số sức mua tương đương PPP (Purchasing Power Parity) -Các mức đánh giá:
+ HDI từ 0.800-1.000: rất cao + HDI từ 0.700-0.799: cao
+ HDI từ 0.550-0.699: trung bình + HDI từ 0.350-0.549: thấp
Chỉ số nghèo tổng hợp HPI
-Chỉ số HPI biểu thị mức sống của một quốc gia. Theo Liên Hiệp
Quốc, chỉ số này là một chỉ thị rõ ràng và đầy đủ hơn so với HDI và GDP
-Đối với các nước đang phát triển, chỉ số HPI dựa trên 3 nhân tố cơ
bản của chỉ số HDI là: tuổi thọ, kiến thức và mức sống (GDP/người)
-Đối với các nước đang phát triển, ngoài 3 nhân tố cơ bản trên
đây, một nhân tố khác được tính thêm vào, đó là vị thế của người
dân trong xã hội (được tôn trọng, được tham gia vào các hoạt
động, mức độ dân chủ,…)
2. Một số mô hình kinh tế
-Mô hình phát triển kinh tế không bền vững: phát triển theo trục
đường thẳng nhằm cổ vũ cho một xã hội tiêu thụ, nổi bật là các hoạt động kinh doanh
-Kinh doanh là sử dụng nguyên liệu, năng lượng và áp dụng công
nghệ để sản xuất ra hàng hóa, tạo ra chất thải và bán hàng hóa đến người tiêu dùng
-Đặc điểm của phát triển theo mô hình tăng trưởng kinh tế không bền vững:
+ Tăng GDP gần như là mục tiêu duy nhất
+ Tách hoạt động kinh tế ra khỏi hệ thống xã hội và nhân văn
+ Phát triển kinh tế không chú ý đến bảo tồn tự nhiên
+ Gây suy thoái tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường
+ Không tính chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm
+ Không giải quyết tận gốc nghèo khổ
Phát triển không bền vững. Tạo ra nghịch lý của sự phát triển.
-Các mô hình phát triển đặc trưng trên thế giới:
+ Mô hình phát triển bền vững: khái niệm này được phát triển
trong các báo cáo của Liên Hợp Quốc như Báo cáo Brundtland,
các chỉ số phát triển bền vững như chỉ số phát triển con người
(HDI) và chỉ số môi trường được sử dụng để đo lường sự thành
công của mô hình này (WCED, 1987)
+ Mô hình phát triển kinh tế đổi mới: tập trung vào việc tạo ra giá
trị thông qua đổi mới công nghệ và sáng tạo. Các quốc gia như
Hàn Quốc và Singapore đã thành công trong việc áp dụng mô
hình này. Theo báo cáo của Global Innovation Index (2023), các
quốc gia đứng đầu về đổi mới sáng tạo thường có mức đầu tư cao
vào nghiên cứu và phát triển
+ Mô hình kinh tế xanh: mô hình này tập trung vào việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế trong khi bảo vệ môi trường và giảm thiểu ô
nhiễm. Theo báo cáo của UNEP (2022), các quốc gia đầu tư vào
công nghệ xanh và phát triển bền vững thường có sự tăng trưởng kinh tế tích cực.
c. Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh (IMR)
-IMR là tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi bị chết trong 1000 ca sinh đẻ, đơn vị tính là phần nghìn
-IMR là chỉ tiêu rất nhạy cảm với điều kiện kinh tế - xã hội, chăm sóc y tế -Công thức tính IMR: IMR = Do/Bo x1000 -Trong đó:
+ IMR: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi
+ Do: Số trẻ em 0 tuổi chết trong năm
+ Bo: Số trẻ sinh sống trong cùng năm
-IMR là chỉ tiêu rất nhạy cảm với điều kiện kinh tế - xã hội, chăm sóc y tế VD:
+ Châu Phi có IMR cao nhất thế giới (gần 100 phần nghìn)
+ Guinea, Mozambique có IMR lên đến 15 phần nghìn vào năm 1993
+ Bắc Mỹ và Tây Âu có IMR khoảng từ 6-10 phần nghìn
1. Biến động dân số cơ học a. Khái niệm
-Biến động cơ học biểu thị sự thay đổi dân số về mặt không gian, lãnh thổ
-Trong cuộc sống con người di dời bởi nhiều nguyên nhân, với
nhiều mục đích khác nhau, với khoảng cách xa gần khác nhau và
vào những thời điểm khác nhau. Quá trình này chịu tác động bởi
nhiều những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội => nó mang bản
chất kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc
-Di dân là hiện tượng di chuyển của người dân theo lãnh thổ với
những chuẩn mực về thời gian và không gian nhất định kèm theo
sự thay đổi nơi cư trú.
-Là sự chênh lệch giữa số người xuất cư và nhập cư
-Có ý nghĩa quan trọng đối với từng khu vực, từng quốc gia trên
phạm vi toàn thế giới, không ảnh hưởng đến quy mô dân số -Nguyên nhân:
+ Lực hút: đất đai màu mỡ, dễ kiếm việc làm
+ Lực đẩy: điều kiện sống khó khăn, thu nhập thấp
b. Đặc điểm của di dân
-Thứ nhất, con người di chuyển khỏi một địa dư nào đó. Nơi đi và
nơi đến phải được xác định. Có thể là một vùng lãnh thổ hay là một đơn vị hành chính
-Thứ hai, con người di chuyển bao giờ cũng có mục đích. Tính chất
cư trú là tiêu biểu để xác định di dân
-Thứ ba, khoảng thời gian ở lại bao lâu ở nơi mới để xác định sự di
chuyển nào đó có phải là di dân hay không c. Phân loại di dân
-Theo độ thời gian nơi
cư trú : lâu dài, tạm thời hay chuyển tiếp
+ Di dân lâu dài bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường
xuyên và nơi làm việc đến nơi mới với mục đích sống lâu dài.
Những thành phần này thường không trở về quê hương nơi cư trú
+ Di dân tạm thời ngụ ý sự thay đổi nơi ở gốc là không lâu dài và
khả năng quay trở lại nơi ở cũ là chắc chắn. Kiểu di dân này bao
gồm những hình thức di chuyển nơi làm việc theo mùa vụ, đi công tác, du lịch dài ngày
+ Di dân chuyển tiếp phân biệt các hình thức di dân mà không
thay đổi nơi làm việc. Kiểu di dân này gợi ý các điều tiết thị trường lao động
-Theo khoảng cách: người ta phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi
đi và nơi đến. Di dân giữa các nước gọi là di dân quốc tế, giữa các
vùng, các đơn vị hành chính trong nước thì gọi là di dân nội địa
-Theo tính chất chuyên quyền: di dân hợp pháp hay di dân bất hợp
pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc
d. Các giai đoạn phát triển dân số
-GD khởi thủy đến cách mạng nông nghiệp (7000 – 5500BC)
-GD cách mạng nông nghiệp (7000 – 5500 BC đến 1650)
-GD tiền công nghiệp (1650 – 1850)
-GD chuyển tiếp dân số (1850 – 1930) -Thế kỷ 20
2. Gia tăng dân số và các vấn đề về tài nguyên và môi trường
-Tác động dân số đối với môi trường có thể mô tả qua công thức: I = C.P.E -Trong đó:
+ I (Intensity) = cường độ tác động đến môi trường + P (Population) = dân số
+ C (Consumption) = mức tiêu thụ tài nguyên cho một đầu người
+ E (Effects) = hậu quả môi trường do tiêu thụ một đơn vị tài nguyên
a. Biểu hiện tác động của gia tăng dân số đến môi trường:
-Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do
khai thác quá mức các nguồn tài nguyên
- Sức ép lớn về không gian sống cho con người (giảm diện tích đất/người)
-Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân hủy
của môi trường tự nhiên
- Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công
nghiệp hóa và các nước đang phát triển gia tăng
- Sự chênh lệch giữa thành thị & nông thôn, di dân xảy ra, hình thành các siêu đô thị
b. Quan hệ giữa dân số & tài nguyên (QUAN TRỌNG)
-Dân số và tài nguyên đất: đất bị hoang mạc hóa, diện tích đất
canh tác bị thu hẹp, đất bị nhiễm mặn, không còn khả năng canh tác
-Dân số và tài nguyên rừng: diện tích rừng bị thu hẹp do khai thác
gỗ, phá rừng làm rẫy, mở đường giao thông
-Dân số và tài nguyên nước: giảm diện tích bề mặt ao hồ, ô nhiễm
nguồn nước, thay đổi chế độ dòng chảy
-Dân số và khí quyển: tăng lượng khí thải C02, ô nhiễm môi trường
không khí tại các đô thị lớn, nóng lên toàn cầu
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN VÀ MÔI TRƯỜNG 1.Khái niệm
-Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn
gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác thông qua trồng
trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc
-Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế
mỗi nước, đặc biệt là nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong nền
kinh tế ở các thế kỷ trước, khi mà công nghiệp chưa phát triển
-Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi,
chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch
-Sản xuất nông nghiệp được chia làm 2 loại chính: nông nghiệp
thuần nông và nông nghiệp chuyên sâu
+ Nông nghiệp thuần nông (hay nông nghiệp sinh nhai): là lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp đã có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu
ra chủ yếu phục vụ cho hộ gia đình nông dân. Không có sự cơ giới
hóa trong nông nghiệp sinh nhai
+ Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông
nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn
nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp
2.Các nền sản xuất nông nghiệp
Các nền nông nghiệp chính trong lịch sử:
a. Nền nông nghiệp hái lượm và săn bắt, đánh cá
-Nền nông nghiệp này kéo dài nhất từ khi có loài người cho đến
thời gian cách đây khoảng 1 vạn năm
-Sản phẩm thu hoạch được không nhiều, dân số lúc đó cũng ít nên
cũng không có tác động đến thiên nhiên
-Thời kỳ này nạn đói cũng thường xuyên đe dọa, lương thực dự trữ
không có, tỷ lệ tử vong cao
b. Nền nông nghiệp trồng trọt & chăn thả
-Nền nông nghiệp này (cách đây khoảng 10.000 năm) được đánh
dấu bằng việc xã hội loài người thay thế các hoạt động hái lượm
và săn bắt ngoài tự nhiên bằng các hoạt động trồng trọt, chăn
nuôi với các giống mà con người đã thuần hóa được
-Theo các tài liệu khảo cổ học thì các trung tâm thuần hóa cây
trồng và vật nuôi tập trung ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Quốc
Nền nông nghiệp du canh:
-Nương rẫy được phát đốt và gieo trồng một đến hai năm, khi năng
suất cây trồng giảm, nương rẫy sẽ bị bỏ hoang cho thảm thực vật
tự nhiên phát triển, cộng với thời gian độ phì nhiêu của đất dần dần được khôi phục
-Nền nông nghiệp du canh không đáp ứng đươc lương thực – thực
phẩm khi dân số tăng: bình quân cần 15 ha đất tự nhiên để nuôi
sống 1 người (canh tác trên 1 ha hàng năm và quay vòng 15 năm)
-Canh tác du canh ảnh hưởng xấu đến môi trường: rừng và tài
nguyên rừng bị phá hủy, xói mòn đất nghiêm trọng, mất cân bằng
nước, gây ra hạn hán và lụt lội
Nền nông nghiệp định ca nh:
-Trồng trọt và chăn nuôi trên diện tích đất cố định, các kỹ thuật
nông nghiệp được áp dụng: chọn giống cây, con cho năng suất
cao; tưới nước chống hạn; chăm sóc cây trồng và vật nuôi; bón
phân hữu cơ và cung cấp thức ăn cho vật nuôi
-Nông nghiệp định canh đã cho năng suất cao hơn và duy trì được
một số dân đông hơn nhiều
Về phương diện bảo vệ môi trường: cần phải chấm dứt
lối canh tác du canh, còn đối với định canh thì cần phát
triển theo hướng thâm canh.
c. Nền nông nghiệp công nghiệp hóa
-Nền nông nghiệp này được thực hiện mạnh mẽ ở các nước có nền
tảng nông nghiệp phát triển (Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật,…) vào cuối thế kỷ XVIII
-Nền nông nghiệp công nghiệp hóa đặc trưng bởi việc sử dụng triệt
để các thành tựu khoa học kỹ thuật, phân bón hóa học, thức ăn
chăn nuôi nhân tạo, thủy lợi triệt để, cơ giới hóa, điện khí hóa,
hóa học hóa, trồng cây trong nhà kính,…
d. Nền nông nghiệp sinh học
-Sinh vật kể cả cây trồng, vật nuôi, con người đều tồn tại và phát
triển theo những quy luật sinh học
-Không được biến cây trồng và vật nuôi thành cỗ máy sống dựa
vào các điều kiện nhân tạo
-Làm sao để các sản phẩm sản xuất ra giống như chúng được sản
xuất từ các hệ sinh thái tự nhiên
Qua nhiều năm phát triển nông nghiệp theo hướng
“nông nghiệp sinh học”: Chất lượng sản phẩm tốt hơn
NN công nghiệp hóa nhưng năng suất, sản lượng và giá
thành không đáp ứng được điều kiện KT-XH ở nhiều nước
Xuất hiện nông nghiệp sinh thái (NN bền vững) thay cho NN công nghiệp hóa
e. Nền nông nghiệp sinh thái học (nông nghiệp bền vững)
“Nền nông nghiệp sinh thái là nền nông nghiệp kết hợp hài hòa
những cái ưu điểm, tích cực của hai nền nông nghiệp: nông nghiệp hóa học
và nông nghiệp hữu cơ một cách hợp lý và có
chọn lọc nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không gây hại
đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai (NN bền vững); thỏa
mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông
nghiệp, nghĩa là phải đạt năng suất cao, phẩm chất nông sản
tốt với mức đầu tư vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao.” (Lê Văn Khoa, 1999)
-Nền nông nghiệp sinh thái học tuân thủ các nguyên tắc:
+ Không phá hoại môi trường
+ Đảm bảo năng suất ổn định
+ Đảm bảo khả năng thực thi, ít phụ thuộc vào bên ngoài
+ Ít lệ thuộc vào hàng nhập ngoại
-Nền nông nghiệp sinh thái học bao gồm các nội dung cơ bản: + Tính đa dạng sinh học
oTrong nền nông nghiệp truyền thống, mô hình canh tác độc
canh đã làm hệ sinh thái mất cân bằng và các quy luật sinh
thái bị thay đổi, nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của
môi trường => tính đa dạng sinh học trong nền nông nghiệp
sinh thái ở đây là phải đảm bảo các quy luật sinh thái tự
nhiên và môi trường sinh thái phải được cân bằng
oThực hiện đa dạng sinh học cũng là thực hiện đa dạng hóa
những nguồn thu nhập, giảm nguy cơ mất mùa toàn bộ =>
chúng ta cần phải trồng nhiều giống cây trồng và vật nuôi
khác nhau, thực hiện luân canh, xen canh; lai tạo giống mới
để có năng suất cao hơn; canh tác theo phương thức nông –
lâm kết hợp; bảo tồn và giữ gìn các giống vật nuôi khác loài (ong, gia súc,…)
+ Nuôi dưỡng đất cho đất sống
+ Đảm bảo tái sinh vật chất + Cấu trúc nhiều tầng