Câu 1: Giải thích: Luận điểm của Saussure: giá trị (value) của một ký hiệu
chỉ tồn tại trong mối quan hệ giữ với các hiệu khác trong hệ thống
(Saussure, 2005, p.222)
Luận điểm nền tảng của Ferdinand de Saussure về “giá trị” ( ) của hiệu trong value
thuyết hiệu học cấu trúc chủ trương rằng một hiệu chỉ ý nghĩa trong mối
quan hệ đối lập hệ thống với các hiệu khác trong cùng một ngôn ngữ chứ
không phải bản thân mang một nội dung hay bản chất cố định, tự nhiên.
Saussure bác bỏ cách tiếp cận truyền thống vốn xem từ ngữ như những “nhãn dán” lên
thế giới sự vật. Thay vào đó, ông khẳng định rằng ngôn ngữ vận hành như một hệ
thống cấu trúc, trong đó mỗi đơn vị (ký hiệu) chỉ có thể hiểu được giá trị của mình
thông qua sự phân biệt với các đơn vị khác. Nói cách khác, ý nghĩa không phải là thứ
được “đính kèm” sẵn trong một từ, được kiến tạo bởi sự khác biệt của từ đó với
những từ còn lại.
Theo Saussure, hiệu ( ) bao gồm hai mặt: ( ) sign cái biểu đạt signifier cái được
biểu đạt (signified), mối liên hệ giữa chúng tùy hứng (võ đoán arbitrary) chứ
không mang tính tự nhiên. Tuy nhiên, giá trị của một hiệu không đơn thuần là kết
quả của sự kết hợp này, sản phẩm của sự đối lập trong một hệ thống. Saussure
viết: “Trong ngôn ngữ, cũng như trong mọi hệ thống ký hiệu học khác, điều phân biệt
một hiệu chính điều làm cho tồn tại.” Ý nghĩa, thế, một sản phẩm của
quan hệ, không phải thực thể nội tại. được kết cấu hoá với những yếu tố mà
"tất cả đều dựa vào những mối quan hệ" tuỳ thuộc lẫn nhau giá trị của bất cứ một
yếu tố nào cũng đều do "những yếu tố chung quanh quy định". Phải phân tích các mối
quan hệ ấy mới nắm được giá trị các yếu tố của nó. Thí dụ từ "ăn" phát âm có thể khác
nghĩa thể khác trong một số trường hợp "ăn cơm" và "ăn ý". Nhưng tại sao vẫn
thể nhận thấy đó một từ. Mối liên hệ giữa hai lần cùng dùng một từ ăn dựa vào
đâu? Tất nhiên không phải dựa vào sự đồng nhất về vật chất (âm thanh); cùng không
phải dựa vào sự tương ứng hoàn toàn về nghĩa. Nó chỉ có thể dựa vào các mối quan hệ
với các yếu tố chung quanh làm nên , nghĩa giá trị của nó. Nói cách sự đồng nhất
khác, sự đồng nhất hay là giá trị của một yếu tố là do sự đối lập của nó với các yếu tố
khác trong kết cấu . Hình ảnh bàn cờ cho chúng ta thấy rõ điều này. Giá trị của
quân cờ là do vị trí của nó trong hệ thống bàn cờ mang lại. Nếu có trường hợp mất con
tốt bằng ngà, ta thoả thuận với nhau thay bằng cục phấn, thì cục phấn ấy vẫn có giá trị
như con tốt bằng ngà: cái vị trí và nước đi của nó (chức năng) vẫn như cũ.
Chính do đó, Saussure nhấn mạnh rằng “ngôn ngữ hình thức chứ không phải
chất liệu” ( ). Ông đưa ra hàng loạt dụ để minh họa language is form, not substance
cho luận điểm này, như trường hợp đoàn tàu Geneva–Paris thể thay đổi đầu máy,
toa xe người điều khiển nhưng vẫn được gọi “cùng một chuyến tàu”, bởi tính
chất hệ thống (lịch trình, tuyến đường) được giữ nguyên. Điều này phản ánh cách thức
hoạt động của ngôn ngữ: hiệu không quan trọng chất liệu vật của nó,
chức năng của trong hệ thống phân biệt. Mỗi từ một phần trong mạng lưới đối
lập tạo nên hệ thống ngôn ngữ; nếu mạng lưới thay đổi, giá trị của từng từ cũng thay
đổi theo. Chính từ đây, Saussure phát triển khái niệm như một chức năng hoàn giá trị
toàn , chỉ tồn tại trong tương tác giữa các phần tử trong một cấu trúc. quan hệ
Tóm lại, luận điểm của Saussure về giá trị của hiệu đặt nền tảng cho tư tưởng cấu
trúc luận trong thế kỷ XX. Ông từ chối việc gán cho hiệu bất kỳ giá trị tự nhiên
nào, thay vào đó thiết lập một nguyên then chốt: hiệu chỉ nghĩa trong hệ
thống, nghĩa đó phát sinh từ , không phải từ sự tương ứng với một thực khác biệt
tại khách quan hay từ bất kỳ bản chất nội tại nào của bản thân hiệu. Đây chính
bước ngoặt triết học trong hiểu biết về ngôn ngữ và sự biểu đạt, mở đường cho những
phát triển về sau trong hậu cấu trúc luận và các ngành nhân văn liên ngành khác.
Câu 2: Nghĩa sở thị và nghĩa liên tưởng
Trong hiệu học, đặc biệt trong truyền thống cấu trúc luận khởi nguồn từ
Ferdinand de Saussure và được phát triển bởi Roland Barthes, sự phân biệt giữa nghĩa
sở thị (denotation) nghĩa liên tưởng (connotation) đóng vai trò then chốt trong
việc phân tích quá trình tạo nghĩa của ký hiệu.
Nghĩa sở thị (denotation) nghĩa cơ bản, trực tiếp, phổ quát và thường được hiểu là
tương đối ổn định của một ký hiệu trong bối cảnh sử dụng thông thường. Đây là tầng
nghĩa đầu tiên, mang tính “tự nhiên”, kết quả của mối quan hệ quy ước giữa
signifier (cái biểu đạt) signified (cái được biểu đạt) trong hệ thống ngôn ngữ.
Chẳng hạn, hình ảnh một bông hồng đỏ trong một bức ảnh quảng cáo có nghĩa sở thị
đây nhận thức bản, mang một bông hoa thuộc loài hoa hồng màu đỏ
tính từ vựng và mô tả khách quan.
Tuy nhiên, hiệu không bao giờ dừng lại nghĩa sở thị. Khi được đặt trong những
bối cảnh văn hóa hội cụ thể, hiệu luôn mang thêm những tầng nghĩa khác
được gọi . Barthes khẳng định rằng nghĩa liên tưởng (connotation) nghĩa liên
tưởng tầng nghĩa thứ hai signifier lẫn signified của nghĩa sở thị, nơi cả trở
thành một , được gán cho một – đó chính là tầng nghĩa signifier mới signified mới
ý thức hệ, biểu tượng, cảm xúc hay giá trị văn hóa. Trở lại với dụ bông hồng đỏ,
trong một hội Tây phương, hình ảnh ấy thể mang nghĩa liên tưởng tình yêu
lãng mạn, dục tính, niềm đam mê hoặc sự gợi cảm, tùy vào ngữ cảnh. Những nghĩa
này không “nằm sẵn” trong bản thân bông hoa, sản phẩm của diễn giải văn
hóa, vốn có thể khác biệt theo thời gian, không gian và chủ thể tiếp nhận.
Barthes sử dụng mô hình hai cấp độ để lý giải điều này:
Cấp độ 1: denotation = signifier + signified → sign (ý nghĩa từ vựng)
Cấp độ 2: sign (của cấp độ 1) = signifier mới → signified mới = connotation
(ý nghĩa ý thức hệ)
dụ kinh điển của Barthes hình ảnh một người lính da đen mặc quân phục Pháp
đang chào cờ. Denotation của hình ảnh này là: "một người lính thuộc quân đội Pháp
đang thể hiện lòng trung thành." Nhưng connotation Barthes chỉ ra là: tính vĩ đại
của chủ nghĩa đế quốc Pháp nơi các thuộc địa (dù da đen) vẫn trung thành
với mẫu quốc, một thông điệp mang tính chính trị ý thức hệ được “ẩn” trong
hiệu.
Điểm đáng lưu ý , luôn , phụ nghĩa liên tưởng không cố định mở thay đổi
thuộc vào văn hóa, lớp địa vị, thời đại vị trí diễn ngôn của người tiếp nhận. Một
biểu tượng thể gợi ra những nghĩa liên tưởng hoàn toàn trái ngược nhau trong các
ngữ cảnh khác nhau. Đây cũng sở cho các thuyết phân tích diễn ngôn
(discourse analysis) sau này, nơi việc truy xét nghĩa liên tưởng của các hiệu trở
thành công cụ để giải mã các chiến lược quyền lực, ý thức hệ và thao tác truyền thông.
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu hậu cấu trúc (poststructuralist), như , Stuart Hall
cũng mở rộng hình denotation/connotation trong thuyết hóa giải
(encoding/decoding) của mình. Hall cho rằng, ngay cả “nghĩa sở thị” cũng không hoàn
toàn khách quan, luôn bị điều kiện hóa bởi văn hóa bối cảnh sản xuất thông
điệp. Do đó, ranh giới giữa denotation connotation tương đối, cần được nhìn
nhận như một phổ liên tục của quá trình tạo nghĩa hơn là hai tầng nghĩa tách biệt tuyệt
đối.
Tóm lại, sự phân biệt giữa denotation connotation công cụ phân tích hữu hiệu
trong hiệu học, giúp ta hiểu rằng nghĩa của một hiệu không đơn thuần “có
sẵn”, luôn được kiến tạo qua tầng lớp văn hóa, diễn ngôn hội. Đây cũng
nền tảng để hiệu học hiện đại có thể tiếp cận, lý giải và phê phán những hiện tượng
biểu nghĩa trong văn hóa đại chúng, quảng cáo, truyền thông, nghệ thuật, văn học
chính trị đương đại.
[Trong hiệu học, denotation (nghĩa sở thị) connotation (nghĩa liên
tưởng) là hai cấp độ căn bản trong quá trình tạo nghĩa của ký hiệu, đại diện cho
hai order of signification (cấp độ tạo nghĩa), theo cách nói của Louis
Hjelmslev và được hệ thống hóa bởi . Roland Barthes
Nghĩa sở thị (denotation) được hiểu cấp độ nghĩa đầu tiên cấp độ của sự
nhận diện trực tiếp, nghĩa "tự thân", hiển nhiên, hoặc "rõ ràng" nhất của một ký
hiệu. Trong ngôn ngữ học, đây nghĩa từ điển cung cấp; còn trong các
hình ảnh thị giác, theo , đây điều mọi người từ bất kỳ Erwin Panofsky
nền văn hóa nào cũng có thể nhận diện được, chẳng hạn một bức ảnh chụp một
con chó sẽ nghĩa sở thị “con chó”. Tuy vậy, Chandler lưu ý rằng khái
niệm này đã mang tính ngay từ đầu bởi điều được cho “rõ ràng” văn hóa
thường lại được xác định bởi một cộng đồng văn hóa cụ thể. Do đó, cái gọi là
"nghĩa đen", trên thực tế, thường không trung tính như giả định.
Ngược lại, cấp độ nghĩa thứ hai nơi một nghĩa liên tưởng (connotation)
hiệu mang theo những giá trị văn hóa, hội, tâm hoặc ý thức hệ
(ideological), phụ thuộc vào nền tảng tri thức, giới tính, giai tầng, chủng tộc, độ
tuổi… của người giải mã. Connotation nơi nghĩa trở nên mở, hồ
(polysemic) chịu tác động của bối cảnh lịch sử - xã hội. Chẳng hạn, hình ảnh
một chiếc xe hơi không chỉ "một phương tiện giao thông" (denotation),
có thể gợi lên ý niệm về sự giàu sang, tự do, quyền lực (connotation).
Barthes chỉ ra rằng chính connotation là nơi hoạt động ý thức hệ diễn ra. Trong
bài “Rhetoric of the Image”, ông phân tích một quảng cáo Panzani gồm các
thực phẩm Ý đổ ra từ một túi lưới: nghĩa sở thị “một mớ thực phẩm Ý”,
nhưng nghĩa liên tưởng lại “sự tươi mới”, “tính nội trợ”, “chất Ý”
(Italianicity), “mỹ học tĩnh vật”. Những nghĩa này không trong vật thể tự
thân, sản phẩm của các văn hóa ( ) được người đọc cultural codes
hiệu "cài đặt sẵn".
Đi sâu hơn, cho rằng trong khi Saussure nhấn mạnh vào nghĩa sở thị Barthes
bỏ ngỏ nghĩa liên tưởng, thì chính connotation mới cấp độ nghĩa tạo nên
myth một hình thức “ý thức hệ được tự nhiên hóa” (naturalization of
ideology). Nói cách khác, myth chính là sản phẩm của connotation khi nó được
xem như “nghĩa đương nhiên”, như “tự nhiên”, làm cho các giá trị văn hóa
trở thành chân hiển nhiên, không cần giải. Điều này cực kỳ quan trọng
trong việc nhận diện các cấu trúc quyền lực tiềm ẩn trong truyền thông đại
chúng, quảng cáo, văn học, diễn ngôn chính trị...
Quan hệ giữa denotation và connotation cũng không tách biệt rõ ràng. Valentin
Voloshinov phản biện việc phân lập rạch ròi hai cấp độ này, theo ông, mọi
nghĩa đều bị thấm đẫm g trị meaning is always permeated with value
judgment. cũng nhấn mạnh rằng việc hiểu và diễn David Mick Laura Politi
giải không thể tách rời. tổng kết rằng không tồn tại một ký hiệu nào Chandler
thuần denotative, không mang theo connotation – bởi vì mọi hình thức diễn đạt
đều hàm chứa một “ngôn ngữ thứ hai” (second-order signification) gắn liền với
văn hóa và bối cảnh.
hình của Barthes kế thừa cho phép phân tích điều này bằng Hjelmslev
khái niệm : nghĩa connotation được hình thành khi double articulation ký hiệu
sở thị (denotative sign) trở thành signifier (cái biểu đạt) cho một nghĩa cao
hơn. dụ, một bức ảnh chụp một người lính da đen chào quốc kỳ Pháp trong
tạp chí không chỉ mang nghĩa sở thị “một người lính Pháp da Paris-Match
đen đang chào”, còn mang nghĩa connotative “chủ nghĩa đế quốc Pháp
khoan dung bao dung chủng tộc”. Đây cấp độ thứ hai của hiệu học
nơi đã có sẵn. signifier = cả một sign
Chính tính đoán (arbitrary) của mối quan hệ giữa cái biểu đạt cái được
biểu đạt điều kiện nền tảng cho sự vận hành của connotation. không
liên hệ tự nhiên, một ký hiệu có thể được "nạp" vào nhiều nghĩa khác nhau theo
các văn hóa, tạo điều kiện cho sự đa nghĩa, đồng nghĩa những ẩn dụ
phức tạp đặc biệt trong văn học, điện ảnh, quảng cáo, hay phân tích diễn
ngôn.
Do đó, trong thực hành phân tích hiệu, phân biệt giữa nghĩa sở thị
nghĩa liên tưởng một công cụ quan trọng, nhưng không phải là sự phân
lập tuyệt đối. Các cấp độ này thường đan xen, chồng lấn tính lịch sử
nghĩa thay đổi theo thời gian, bối cảnh chế quyền lực. Denotation tạo
bề mặt “hiển nhiên”, trong khi connotation tạo chiều sâu văn hóa cả hai
đều là nơi diễn ra quá trình tạo nghĩa của ký hiệu học.]
Câu 3: Các nguồn tạo hiệu. Nguồn nào vai trò quan trọng, chi phối
văn bản? Tại sao?
Trong phân tích văn bản đa phương thức, các nguồn tạo hiệu (semiotic resources)
đóng vai trò trung tâm, bởi chính chúng phương tiện vật chất biểu hiện qua đó
nghĩa được tạo lập phân bố trong văn bản. Năm nguồn ký hiệu chính thường được
đề cập bao gồm: ngôn ngữ ( ), thị giác ( ), không gian ( ), cử chỉ linguistic visual spatial
(gestural) âm thanh (audio). Mỗi nguồn này không hoạt động độc lập kết hợp
với nhau trong một cấu trúc tổ chức đa phương thức, góp phần sản sinh cấu trúc
hóa nghĩa trong quá trình giao tiếp.
Tuy nhiên, giữa các nguồn hiệu ấy, ngôn ngữ thường được xem là nguồn có vai trò
quan trọng chi phối nhất đối với văn bản, đặc biệt trong các hệ hình văn bản in
ấn, văn bản luận học thuật, hay các thực hành diễn ngôn truyền thống. Điều này
không chỉ do đặc trưng lịch sử - văn hóa của tri thức phương Tây vốn chịu ảnh hưởng
của (trung tâm luận ngôn ngữ), còn ngôn ngữ phương tiện duy logocentrism
nhất trong các nguồn hiệu hệ thống ngữ pháp từ vựng chặt chẽ được quy
chuẩn qua quá trình chuẩn hóa giáo dục. Chính yếu tố này cho phép ngôn ngữ vận
hành như một hệ thống biểu nghĩa khả năng chuyển tải những khái niệm trừu
tượng, phức hợp, đa tầng liên kết chặt chẽ các ý tưởng qua các cấu trúc pháp,
diễn ngữ và cấu trúc văn bản (textual structure).
Trong khuôn khổ phân tích văn bản theo thuyết chức năng hệ thống (Systemic
Functional Linguistics - SFL) của Halliday, ngôn ngữ phương tiện đặc thù thể
triển khai đầy đủ ba siêu chức năng ( ): chức năng ý niệm ( ), metafunctions ideational
chức năng liên nhân ( ) và chức năng văn bản ( ). Từ đây, ngôn ngữ interpersonal textual
không chỉ phản ánh thế giới thực còn tạo lập các mối quan hệ hội tổ chức
thành các cấu trúc văn bản tính logic mạch lạc. dụ, trong một bài bình luận
văn học, chính thông qua ngôn ngữ người viết thể trình bày các hình ảnh biểu
tượng (ideational), thể hiện lập trường đánh giá (interpersonal), tổ chức bố cục lập
luận (textual) – những điều mà các nguồn ký hiệu khác, dù mạnh về biểu cảm hay trực
quan, khó có thể đảm nhiệm ở cấp độ trừu tượng tương đương.
Tuy nhiên, vai trò chi phối của ngôn ngữ không nên được hiểu là phủ định giá trị của
các nguồn hiệu khác. Trong các văn bản hiện đại – chẳng hạn như quảng cáo, phim
tài liệu, infographic, hoặc video ca nhạc – nguồn thị giác, âm thanh, không gian và cử
chỉ đóng vai trò không thể thay thế. Theo quan điểm của Kress & van Leeuwen
(1996), mỗi nguồn hiệu mang tính chất biểu hiện đặc thù, đồng thời đảm nhiệm và
hiện thực hóa các chức năng giao tiếp khác nhau trong văn bản. Trong các văn bản
truyền thông kỹ thuật số, hình ảnh động hoặc bố cục thị giác thể đảm nhiệm chức
năng tổ chức thông tin ( ) hiệu quả hơn ngôn ngữ; âm nhạc compositional metafunction
giọng nói thể triển khai trạng thái tình cảm, thái độ, hoặc thiết lập quan hệ thân
mật giữa người phát người nhận không lời khó thể đạt được. Các nguồn ký
hiệu phi ngôn ngữ còn tạo nên tính tức thì ( ), hiệu ứng trực cảm (immediacy affective
impact) và khả năng tiếp cận rộng rãi hơn về mặt xã hội và văn hóa.
vậy, trong phân tích hiệu học diễn ngôn, ngôn ngữ vẫn thường được coi
trục tham chiếu trung tâm, một phần khả năng liên kết các nguồn ký hiệu khác vào
một văn bản cấu trúc, mặt khác chính ngôn ngữ cũng khả năng phản ánh
siêu nghiệm hóa chính các phương thức biểu đạt khác tức có thể “nói về hình
ảnh”, “mô tả âm thanh”, “bình luận bố cục”, hoặc “tái hóa” các hiệu phi ngôn
ngữ thành văn bản ngôn ngữ. Đây một ưu thế lớn khi triển khai các thao tác phân
tích, lập luận, chú giải và diễn giải trong nghiên cứu học thuật.
Tóm lại, ngôn ngữ – dù không phải là nguồn tạo nghĩa duy nhất – vẫn giữ vai trò quan
trọng, chi phối trong nhiều loại văn bản vì khả năng quy ước hóa, trừu tượng hóa và tổ
chức hóa nghĩa của nó. Tuy nhiên, để phản ánh đầy đủ sự vận hành của nghĩa trong
thực tế giao tiếp, đặc biệt trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện hiện nay, người
nghiên cứu không thể dừng lại việc phân tích ngôn ngữ đơn kênh mà phải mở rộng
ra toàn bộ các nguồn hiệu tham gia, với duy liên ngành và công cụ phân tích đa
tầng, đa phương thức.
Câu 4: Câu một hệ thống hiệu. Tìm phân tích dụ để giải hệ
thống ký hiệu này là sự kết hợp của 2 quan hệ Kết hợp và Đối vị
Trong hiệu học cấu trúc (structuralist semiotics), đặc biệt theo tưởng của
Ferdinand de Saussure, mọi thành tố ngôn ngữ đều mang tính chất hiệu ( ), sign
mỗi hiệu chỉ nghĩa trong quan hệ với các hiệu khác trong cùng hệ thống.
Câu, do đó, không phải là một chuỗi ngẫu nhiên của các từ mà là một hệ thống ký hiệu
được tổ chức theo hai trục bản: quan hệ kết hợp ( ) quan hệ đối vị syntagmatic
(paradigmatic). Sự kết hợp giữa hai trục quan hệ này là nền tảng để tạo nên nghĩa cho
câu, đồng thời sở để ta thể phân tích ngôn ngữ văn chương, diễn ngôn xã
hội, hay bất kỳ văn bản nào dưới góc nhìn ký hiệu học.
Quan hệ kết hợp quan hệ tuyến tính giữa các đơn vị trong một chuỗi: các từ được
sắp xếp tuần tự trong một câu, các câu trong một đoạn, các đoạn trong một văn bản.
Chúng được tổ chức theo một trật tự pháp xác định, chính trình tự này tạo nên
nghĩa cụ thể cho phát ngôn. dụ, trong câu thơ nổi tiếng “Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai” của thiền Mãn Giác, các đơn vị “Xuân – khứ – bách hoa
lạc” được kết hợp trong một chuỗi tuyến tính ổn định về mặt ngữ pháp. Nếu đảo vị
trí các thành tố, như “Bách hoa khứ xuân lạc”, trật tự ngữ pháp bị phá vỡ, đồng
thời, nghĩa cũng thay đổi hoặc trở nên nghĩa. Điều đó cho thấy trong một hệ thống
câu, quan hệ kết hợp chính yếu tố tổ chức pháp, tạo ra tuyến phát ngôn logic và
có ý nghĩa.
Tuy nhiên, nghĩa của một câu không chỉ được kiến tạo từ quan hệ kết hợp còn từ
quan hệ đối vị tức quan hệ lựa chọn trong cùng một trường ngữ nghĩa. Quan hệ
đối vị trục chiều dọc, không biểu hiện trực tiếp trên bề mặt ngữ đoạn, nhưng luôn
hiện diện như một tiềm năng lựa chọn và là yếu tố quyết định sắc thái, tầng nghĩa của
câu. Trong dụ trên, “xuân khứ” và “xuân đáo” tạo nên một cặp đối vị rõ rệt: sự ra đi
sự trở lại. Tương tự, “hoa lạc” và “hoa khai” cũng hình thành cặp đối lập – rụng và
nở. Hai vế của câu thơ vận hành như một hệ thống song hành đối xứng, biểu đạt quy
luật tuần hoàn của thời gian, đồng thời mang giá trị triết lý Thiền sâu sắc về tính biến
dịch thường hằng của vũ trụ. Ở đây, quan hệ đối vị không chỉ giúp tổ chức cấu trúc
câu còn là yếu tố tạo sinh ý nghĩa biểu tượng, tầng bậc triết lý – điều chỉ có thể đạt
tới qua lối phân tích ký hiệu học.
Một dụ khác trong ngôn ngữ đời thường thể minh họa hai trục quan hệ này
câu: “Cô ấy đã đọc cuốn sách đó”. Trong quan hệ kết hợp, câu được cấu tạo bởi các
thành tố: [Cô ấy] [đã đọc] [cuốn sách đó], mỗi yếu tố mang chức năng pháp
riêng chỉ nghĩa đầy đủ khi được đặt trong chuỗi này. Nhưng nếu xét trục đối
vị, người nói hoàn toàn thể thay thế “đã đọc” bằng “đang đọc”, “sẽ đọc” những
thành tố nằm trong trường đối vị thời gian của động từ; hoặc thay thế “cuốn sách đó”
bằng “bài báo kia”, “thư tình”, v.v., những lựa chọn thể thế chỗ cho nhau tại vị trí
đó trong cấu trúc câu. Khi người nói lựa chọn một phương án thay vì những lựa chọn
khác thể có, họ đồng thời tạo nên sự khác biệt nghĩa, lựa chọn mang tính nhấn
mạnh, và hướng dẫn diễn giải.
Như vậy, câu một hệ thống hiệu đúng nghĩa, bởi không phải tập hợp đơn
thuần của các từ, mà là một cấu trúc vận hành theo cơ chế ký hiệu học: mỗi thành tố là
một – có (cái biểu đạt) và (cái được biểu đạt), và nghĩa chỉ xuất sign signifier signified
hiện khi các thành tố được đặt trong quan hệ với các sign khác cả trong chiều kết
hợp lẫn chiều đối vị. Hệ thống này không tĩnh luôn vận động, bởi như Saussure
khẳng định, giá trị của một hiệu chỉ tồn tại trong mối quan hệ của với các
hiệu khác trong cùng hệ thống. Bản thân một từ ngữ không mang nghĩa nếu tách rời
khỏi hệ thống, và một câu cũng không thể tồn tại ngoài cơ chế kết hợp – đối vị.
Phân tích này, khi được mở rộng sang các văn bản văn học hoặc diễn ngôn xã hội, sẽ
cho phép ta nhìn sâu hơn vào cấu trúc tạo nghĩa, vào cách văn bản xây dựng chiều sâu
biểu tượng qua các lựa chọn ngôn ngữ. Từ đó, hiệu học cấu trúc không chỉ giúp
hiểu câu như một cấu trúc ngữ pháp, như một hệ thống hiệu sinh nghĩa nơi
mỗi lựa chọn đều hàm chứa một thế giới nghĩa được tổ chức chặt chẽ theo quy luật
của hai trục cơ bản: kết hợp và đối vị.
Câu 5: Phân tích một số dụ để làm đặc trưng thẩm mỹ của ngôn ngữ
văn chương từ hệ quả của tính võ đoán của ký hiệu ngôn ngữ
Dưới lăng kính của hiệu học, đặc trưng thẩm mỹ của ngôn ngữ văn chương có thể
được giải như một hệ quả tất yếu của nguyên đoán (arbitrariness) trong
quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) cái được biểu đạt (signified) một luận điểm
nền tảng do Ferdinand de Saussure xác lập. Theo Saussure, không mối liên hệ tự
nhiên hay tất yếu nào giữa hình thức âm thanh khái niệm mà nó biểu thị. Chính vì
không bị quy định bởi một ràng buộc vật chất hay bản thể học cố định, ngôn ngữ được
trao một quyền năng đặc biệt: khả năng kiến tạo nghĩa thông qua mạng lưới quan hệ
nội tại, và chính điều đó tạo nên tiềm năng thẩm mỹ trong diễn ngôn văn chương.
Từ nguyên này, Saussure chỉ ra rằng hệ quả của tính đoán cùng đa dạng,
thể hiện việc tín hiệu ngôn ngữ luôn tồn tại dưới dạng các biến thể của cái biểu đạt
cái được biểu đạt. Biến thể của cái biểu đạt tạo ra hiện tượng đồng nghĩa, trong khi
biến thể của cái được biểu đạt tạo ra hiện tượng đồng âm đa nghĩa. Những hiện
tượng này không chỉ tồn tại như một thực tế ngôn ngữ học, trong văn chương,
chúng được chuyển hóa thành chất liệu nghệ thuật, trở thành cơ sở cho các biện pháp
tu từ, cho việc tạo lập hình tượng, cho khả năng diễn đạt tầng sâu của tư tưởng và
cảm xúc.
Chẳng hạn, trong hai câu thơ của Bằng Việt: “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn / Một
ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”, hình ảnh “ngọn lửa” không còn là vật thể vật lý đơn
thuần. Dưới góc nhìn ký hiệu học, “ngọn lửa” là signifier, nhưng không quy chiếu trực
tiếp đến signified nguyên hiện tượng cháy sáng. Thay vào đó, trong ngữ cảnh
thơ, signified được kiến tạo mới – đó là tình cảm ấm áp, bền bỉ, thiêng liêng mà người
dành cho cháu. Quan hệ giữa signifier “ngọn lửa” signified “tình cảm thiêng
liêng” kết quả của một phép ẩn dụ tức một hình thức đồng nghĩa lâm thời, chỉ
ý nghĩa trong văn cảnh cụ thể. Sự tương thích giữa “ngọn lửa” và “lòng bà” chỉ tồn
tại mức độ liên tưởng khi cả hai cùng thể được xem nguồn sinh nhiệt, ánh
sáng hơi ấm. Chính vì sign là võ đoán mà sự tráo đổi quan hệ biểu đạt như vậy mới
thể diễn ra, chính đoán mở ra khả thể cho việc sáng tạo ngôn ngữ
trong thơ.
Cũng tương tự, trong cặp câu đối dân gian: “Kiến đậu cành cam bò quấn quýt / Ngựa
về làng Bưởi chạy lanh chanh”, nghệ thuật ngôn ngữ dựa trên hiện tượng đồng âm lâm
thời một hình thức biểu hiện của biến thể signified. Các từ “quýt” và “chanh” vừa là
thành tố trong các cụm từ cố định “quấn quýt” và “lanh chanh” với nghĩa bóng, vừa là
tên gọi của các loại quả thuộc họ cam – chanh. Người đọc bị dẫn dắt vào một hệ thống
ngữ nghĩa nhiều tầng lớp, nơi một signifier không dẫn tới một signified duy nhất,
mở ra một trường liên tưởng. Theo thuyết về semiosis của Peirce, đây là chuỗi
chuyển tiếp interpretants quá trình diễn giải không bao giờ khép lại. Cũng trong quá
trình ấy, các tầng nghĩa được kiến tạo dựa trên thói quen văn hóa, sự quen thuộc tập
thể, nhưng lại được vận dụng linh hoạt trong những thực hành cụ thể như câu đối, thơ
ca, hay văn chương dân gian.
Một trường hợp khác bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, nơi hiện tượng
đa nghĩa lâm thời được khai thác sâu sắc trong ngữ cảnh phản ánh thân phận nữ giới.
Hình ảnh “thân em” cái biểu đạt quen thuộc trong cấu trúc thơ dân gian, nhưng khi
kết hợp với hình tượng “bánh trôi nước”, signifier ấy không chỉ quy chiếu đến một
thực thể vật chất một món ăn còn mang theo một lớp nghĩa biểu tượng cho
thân phận nổi trôi, mềm yếu nhưng kiên cường của người phụ nữ trong xã hội phong
kiến. Từ “trắng”, “tròn”, “bảy nổi ba chìm”, “tay kẻ nặn” – tất cả đều vừa chỉ tính chất
vật lý, vừa biểu đạt ngầm thân phận bị áp đặt, bị định đoạt, song vẫn mang một “tấm
lòng son” kiên định. Nếu theo Barthes, đây hiện tượng chuyển nghĩa từ denotation
(nghĩa sở thị) sang connotation (nghĩa liên tưởng), chính tầng nghĩa liên tưởng ấy
là nơi văn học kiến tạo nên diễn ngôn phê phán xã hội bằng hình ảnh ẩn dụ.
hiệu học thế giúp giải một cách hệ thống và khoa học cách mà ngôn ngữ văn
học tạo nghĩa không chỉ cấp độ biểu hiện hình thức, còn cấp độ tưởng,
cảm xúc và giá trị. Chính vì ngôn ngữ là võ đoán, nghĩa là không bị ràng buộc bởi mối
liên hệ nội tại tất yếu, nhà văn, nhà thơ thể thực hiện việc kiến tạo lại quan hệ
giữa signifier signified, sử dụng những dấu hiệu lâm thời, bất định nhưng giàu tính
gợi mở biểu tượng. Đó cũng điều hậu cấu trúc luận nhấn mạnh – khi không
mối liên hệ tất yếu nào giữa hình thức nội dung, thì việc kiến tạo nghĩa một
hành vi mang tính diễn giải (interpretative act) không ngừng – và ngôn ngữ văn học là
không gian nơi sự diễn giải đó đạt đến độ cực thịnh của sáng tạo.
Tóm lại, từ nguyên đoán trong quan hệ hiệu học, các hiện tượng như đồng
nghĩa, đồng âm đa nghĩa đặc biệt dạng lâm thời – không chỉ là hiện tượng ngữ
học đơn thuần trở thành công cụ nghệ thuật trong tay người viết. Qua đó, văn học
không chỉ dùng ngôn ngữ để mô tả thế giới, mà còn dùng chính ký hiệu để tái kiến tạo
thế giới, tái định hình ý nghĩa, khơi mở chiều sâu cảm xúc. Chính trong khoảng
cách giữa signifier signified khoảng cách do tính đoán tạo ra ngôn ngữ
văn chương tìm thấy khả thể sáng tạo, khả thể biểu hiện, và khả thể thẩm mỹ.
Câu 6: Câu hỏi mở rộng: Qua những đọc hiểu về tiến trình phát triển của hiệu
học, anh chị nhận định về tính đoán của hiệu, về cái biểu đạt và cái được
biểu đạt
Trong tiến trình phát triển của hiệu học, một trong những nguyên nền tảng
gây tranh luận nhiều nhất quan niệm về tính đoán (arbitrariness) của hiệu,
cùng với mối quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) cái được biểu đạt (signified).
Mặc hai khái niệm này khởi phát như cặp phạm trù trung tâm trong thuyết của
Ferdinand de Saussure, vẫn giữ nguyên tầm quan trọng trong mọi ngành phân tích
hiệu hiện đại, lịch sử tưởng hiệu học cho thấy ràng rằng cách phân chia
lưỡng phân này bản có tính cách mạng – không còn đủ khả năng giải thích
những hiện tượng biểu nghĩa phức tạp trong đời sống xã hội, văn học, truyền thông và
diễn ngôn đương đại. Để thể theo kịp sự vận động không ngừng của hội,
thuyết hiệu học đã liên tục được tái cấu trúc, mở rộng diễn giải lại trên nhiều
cấp độ, từ đó làm nổi bật tính bất toàn của lưỡng phân signifier/signified, cũng như
nhu cầu tư duy lại về bản chất của ký hiệu.
Theo Saussure, hiệu ngôn ngữ sự kết hợp giữa hai yếu tố tâm lý: cái biểu đạt
(signifier) hình thức cảm giác như chuỗi âm thanh hay tự, cái được biểu đạt
(signified) khái niệm hình thức ấy gợi lên trong duy. Điểm mấu chốt trong
quan niệm của ông mối quan hệ giữa signifier signified hoàn toàn mang tính võ
đoán (arbitrary), nghĩa không tồn tại bất kỳ sự tương ứng tự nhiên, tất yếu hay hiển
nhiên nào giữa hình thức nội dung. Saussure nhấn mạnh rằng không cản trở
chúng ta gán bất kỳ một chuỗi âm thanh nào cho bất kỳ một khái niệm nào. Từ "tree"
trong tiếng Anh và "arbre" trong tiếng Pháp đều là những ký hiệu khác nhau cùng biểu
đạt một khái niệm giống nhau, cho thấy tính quy ước hội của việc tạo nghĩa, chứ
không phải một mối liên kết nội tại. Tuy nhiên, Saussure cũng làm rằng tính
đoán này tương đối: ngôn ngữ không phải sản phẩm của sự tùy tiện cá nhân, mà
kết quả của truyền thống hội, giá trị của mỗi hiệu chỉ tồn tại trong mối
quan hệ sai biệt với các hiệu khác trong cùng một hệ thống. Nói cách khác, nghĩa
của hiệu không nằm trong chính bản thân nó, trong hệ thống các khác biệt mà
nó tham dự.
ảnh hưởng sâu rộng, mô hình lưỡng phân của Saussure – với những giả định về
cấu trúc đóng, tính phi vật chất của ký hiệu, và tính tự trị của ngôn ngữ – nhanh chóng
bộc lộ giới hạn khi phải đối diện với các hiện tượng hiệu học vượt khỏi ngôn ngữ
thuần túy. Charles Sanders Peirce, nhà hiệu học người Mỹ, đã đưa ra một mô hình
triadic (ba thành phần) để giải thích tiến trình tạo nghĩa. Theo đó, một hiệu (sign)
bao gồm: representamen (hình thức của hiệu), object (đối tượng hiệu quy
chiếu) interpretant (diễn giải được hình thành trong tâm trí người tiếp nhận). Khác
với signified trong hình Saussure, interpretant không cố định, thể tiếp tục
trở thành representamen cho một interpretant tiếp theo, tạo nên chuỗi semiosis vô tận.
Điều này đặt trọng tâm vào quá trình thay kết quả của việc tạo nghĩa. Nghĩa,
trong duy của Peirce, không phải sự phản ánh, sự sản sinh liên tục trong
ngữ cảnh tri nhận.
Peirce cũng đưa ra một hệ phân loại ký hiệu mang tính ảnh hưởng sâu rộng, chia thành
ba loại hình quan hệ giữa signifier signified: icon (mối quan hệ dựa trên sự tương
đồng), index (dựa trên quan hệ nhân quả hoặc vật lý) và symbol (dựa trên quy ước xã
hội). Trong đó, symbol tương ứng với loại hiệu ngôn ngữ theo Saussure – là cấp
độ trừu tượng cao nhất, nhưng cũng loại duy nhất mang tính quy ước thuần túy.
Việc nhận diện rằng một hiệu thể cùng lúc icon, index symbol cho thấy
rằng bản chất ký hiệu không cố định trong một cấu trúc lưỡng phân, mà luôn dao động
theo mục đích sử dụng, ngữ cảnh tiếp nhận quy chiếu văn hóa. Một tấm bản đồ,
chẳng hạn, vừa tính iconic (do phỏng quan hệ không gian), indexical (chỉ dẫn
phương hướng, vị trí thực tế), vừa mang tính symbolic (dựa trên các quy ước thị giác
và ngôn ngữ được mã hóa).
Các nhà nghiên cứu hậu Saussure đã tiếp tục đẩy xa hơn nữa những giới hạn của mô
hình lưỡng phân. Roland Barthes mở rộng khái niệm sign bằng cách đưa vào lý thuyết
huyền thoại ( ), trong đó sign cấp độ đầu tiên (denotation) lại trở thành signifier myth
cho cấp độ thứ hai (connotation), từ đó hình thành một tầng nghĩa mang tính ý thức
hệ. Jacques Lacan, trong phân tâm học, đảo ngược hướng đi từ signified sang
signifier, cho rằng chính cái biểu đạt – đặc biệt trong mơ – là yếu tố chi phối mạnh mẽ
hơn cả cái được biểu đạt. Jacques Derrida, với công trình , lên án Of Grammatology
chủ nghĩa âm vị trung tâm (phonocentrism) của Saussure phục hồi vai trò của chữ
viết như một hình thức mang tính chất liệu hội nét. Trong khi đó, Valentin
Voloshinov kiên quyết cho rằng không thể xem hiệu như hiện tượng thuần tâm lý,
phải đặt trong vật thể hội cụ thể, nơi ngữ cảnh, ý thức hệ và quyền lực cùng
tác động trong việc hình thành nghĩa.
Một bước ngoặt quan trọng trong việc vượt khỏi hình lưỡng phân là sự ra đời của
social semiotics với đại diện tiêu biểu như Michael Halliday, Gunther Kress Theo
van Leeuwen. Halliday xây dựng hình ba chức năng ngữ nghĩa (metafunctions) –
ideational interpersonal textual, cho phép phân tích cách ngôn ngữ biểu đạt kinh
nghiệm, thể hiện quan hệ hội tổ chức văn bản. Kress & van Leeuwen mở rộng
khái niệm này sang các hệ thống hiệu phi ngôn ngữ như hình ảnh, âm thanh, bố
cục..., khẳng định rằng nghĩa không nằm trong signifier hay signified một cách biệt
lập, nằm trong tương tác giữa người tạo nghĩa, phương tiện biểu đạt và người tiếp
nhận, trong một bối cảnh hội cụ thể. Nghĩa, thế, không thể được “giải mã” như
một thông điệp cố định, mà là sản phẩm của hành vi mang tính chiến lược và xã hội.
Tất cả những chuyển biến nêu trên cho thấy rằng, mặc dù cái biểu đạt và cái được biểu
đạt nền tảng bất khả thiếu cho mọi tư duy ký hiệu học, chúng không thể là mô hình
duy nhất để giải thích các hiện tượng hiệu học hiện đại. Từ truyền thông thị giác,
quảng cáo, cho đến văn học, điện ảnh, chính trị, các quá trình tạo nghĩa không chỉ liên
quan đến cấu trúc nội tại của sign, mà còn đòi hỏi phân tích các yếu tố vật chất, quyền
lực, lịch sử, diễn ngôn chủ thể. hình lưỡng phân do đó không bị bác bỏ,
được tái cấu trúc, đặt trong hệ thống thuyết đa chiều hơn, linh hoạt hơn, mang tính
quy chiếu rộng lớn hơn. hiệu học thế không dừng lại ở việc xác định các thành
phần của nghĩa, chuyển sang nghiên cứu cách nghĩa được sản sinh, lưu hành
tranh chấp trong xã hội.
Tính võ đoán của ký hiệu, trong ánh sáng những phân tích này, không còn là một trạng
thái tĩnh của cấu trúc, kết quả của những lựa chọn tính hội, lịch sử
chiến lược. Nghĩa không tự nhiên sinh ra từ signifier hay signified, từ quá trình
đàm phán liên tục giữa chúng, trong dòng chảy semiosis không ngừng của thực tiễn
ký hiệu.

Preview text:

Câu 1: Giải thích: Luận điểm của Saussure: giá trị (value) của một ký hiệu
chỉ tồn tại trong mối quan hệ giữ nó với các ký hiệu khác trong hệ thống (Saussure, 2005, p.222)
Luận điểm nền tảng của Ferdinand de Saussure về “giá trị” (value) của ký hiệu trong
lý thuyết ký hiệu học cấu trúc chủ trương rằng một ký hiệu chỉ có ý nghĩa trong mối
quan hệ đối lập và hệ thống với các ký hiệu khác trong cùng một ngôn ngữ – chứ
không phải vì bản thân nó mang một nội dung hay bản chất cố định, tự nhiên.
Saussure bác bỏ cách tiếp cận truyền thống vốn xem từ ngữ như những “nhãn dán” lên
thế giới sự vật. Thay vào đó, ông khẳng định rằng ngôn ngữ vận hành như một hệ
thống có cấu trúc, trong đó mỗi đơn vị (ký hiệu) chỉ có thể hiểu được giá trị của mình
thông qua sự phân biệt với các đơn vị khác. Nói cách khác, ý nghĩa không phải là thứ
được “đính kèm” sẵn trong một từ, mà được kiến tạo bởi sự khác biệt của từ đó với những từ còn lại.
Theo Saussure, ký hiệu (sign) bao gồm hai mặt: cái biểu đạt (signifier) và cái được
biểu đạt (signified), và mối liên hệ giữa chúng là tùy hứng (võ đoán – arbitrary) chứ
không mang tính tự nhiên. Tuy nhiên, giá trị của một ký hiệu không đơn thuần là kết
quả của sự kết hợp này, mà là sản phẩm của sự đối lập trong một hệ thống. Saussure
viết: “Trong ngôn ngữ, cũng như trong mọi hệ thống ký hiệu học khác, điều phân biệt
một ký hiệu chính là điều làm cho nó tồn tại.” Ý nghĩa, vì thế, là một sản phẩm của
quan hệ, không phải là thực thể nội tại. Vì nó được kết cấu hoá với những yếu tố mà
"tất cả đều dựa vào những mối quan hệ" tuỳ thuộc lẫn nhau và giá trị của bất cứ một
yếu tố nào cũng đều do "những yếu tố chung quanh quy định". Phải phân tích các mối
quan hệ ấy mới nắm được giá trị các yếu tố của nó. Thí dụ từ "ăn" phát âm có thể khác
và nghĩa có thể khác trong một số trường hợp "ăn cơm" và "ăn ý". Nhưng tại sao vẫn
có thể nhận thấy đó là một từ. Mối liên hệ giữa hai lần cùng dùng một từ ăn dựa vào
đâu? Tất nhiên không phải dựa vào sự đồng nhất về vật chất (âm thanh); cùng không
phải dựa vào sự tương ứng hoàn toàn về nghĩa. Nó chỉ có thể dựa vào các mối quan hệ
với các yếu tố chung quanh làm nên sự đồng nhất, nghĩa là giá trị của nó. Nói cách
khác, sự đồng nhất hay là giá trị của một yếu tố là do sự đối lập của nó với các yếu tố
khác trong kết cấu mà có. Hình ảnh bàn cờ cho chúng ta thấy rõ điều này. Giá trị của
quân cờ là do vị trí của nó trong hệ thống bàn cờ mang lại. Nếu có trường hợp mất con
tốt bằng ngà, ta thoả thuận với nhau thay bằng cục phấn, thì cục phấn ấy vẫn có giá trị
như con tốt bằng ngà: cái vị trí và nước đi của nó (chức năng) vẫn như cũ.
Chính vì lý do đó, Saussure nhấn mạnh rằng “ngôn ngữ là hình thức chứ không phải
chất liệu” (language is form, not substance). Ông đưa ra hàng loạt ví dụ để minh họa
cho luận điểm này, như trường hợp đoàn tàu Geneva–Paris có thể thay đổi đầu máy,
toa xe và người điều khiển nhưng vẫn được gọi là “cùng một chuyến tàu”, bởi tính
chất hệ thống (lịch trình, tuyến đường) được giữ nguyên. Điều này phản ánh cách thức
hoạt động của ngôn ngữ: ký hiệu không quan trọng ở chất liệu vật lý của nó, mà ở
chức năng của nó trong hệ thống phân biệt. Mỗi từ là một phần trong mạng lưới đối
lập tạo nên hệ thống ngôn ngữ; nếu mạng lưới thay đổi, giá trị của từng từ cũng thay
đổi theo. Chính từ đây, Saussure phát triển khái niệm giá trị như một chức năng hoàn
toàn quan hệ, chỉ tồn tại trong tương tác giữa các phần tử trong một cấu trúc.
Tóm lại, luận điểm của Saussure về giá trị của ký hiệu đặt nền tảng cho tư tưởng cấu
trúc luận trong thế kỷ XX. Ông từ chối việc gán cho ký hiệu bất kỳ giá trị tự nhiên
nào, và thay vào đó thiết lập một nguyên lý then chốt: ký hiệu chỉ có nghĩa trong hệ
thống, và nghĩa đó phát sinh từ khác biệt, không phải từ sự tương ứng với một thực
tại khách quan hay từ bất kỳ bản chất nội tại nào của bản thân ký hiệu. Đây chính là
bước ngoặt triết học trong hiểu biết về ngôn ngữ và sự biểu đạt, mở đường cho những
phát triển về sau trong hậu cấu trúc luận và các ngành nhân văn liên ngành khác.
Câu 2: Nghĩa sở thị và nghĩa liên tưởng
Trong ký hiệu học, đặc biệt là trong truyền thống cấu trúc luận khởi nguồn từ
Ferdinand de Saussure và được phát triển bởi Roland Barthes, sự phân biệt giữa nghĩa
sở thị (denotation) và nghĩa liên tưởng (connotation) đóng vai trò then chốt trong
việc phân tích quá trình tạo nghĩa của ký hiệu.
Nghĩa sở thị (denotation) thường được hiểu là nghĩa cơ bản, trực tiếp, phổ quát và
tương đối ổn định của một ký hiệu trong bối cảnh sử dụng thông thường. Đây là tầng
nghĩa đầu tiên, mang tính “tự nhiên”, là kết quả của mối quan hệ quy ước giữa
signifier (cái biểu đạt) và signified (cái được biểu đạt) trong hệ thống ngôn ngữ.
Chẳng hạn, hình ảnh một bông hồng đỏ trong một bức ảnh quảng cáo có nghĩa sở thị
là một bông hoa thuộc loài hoa hồng có màu đỏ – đây là nhận thức cơ bản, mang
tính từ vựng và mô tả khách quan.
Tuy nhiên, ký hiệu không bao giờ dừng lại ở nghĩa sở thị. Khi được đặt trong những
bối cảnh văn hóa – xã hội cụ thể, ký hiệu luôn mang thêm những tầng nghĩa khác –
được gọi là nghĩa liên tưởng (connotation). Barthes khẳng định rằng nghĩa liên
tưởng là tầng nghĩa thứ hai, nơi mà cả signifier lẫn signified của nghĩa sở thị trở
thành một signifier mới, và được gán cho một signified mới – đó chính là tầng nghĩa
ý thức hệ, biểu tượng, cảm xúc hay giá trị văn hóa. Trở lại với ví dụ bông hồng đỏ,
trong một xã hội Tây phương, hình ảnh ấy có thể mang nghĩa liên tưởng là tình yêu
lãng mạn, dục tính, niềm đam mê hoặc sự gợi cảm, tùy vào ngữ cảnh. Những nghĩa
này không “nằm sẵn” trong bản thân bông hoa, mà là sản phẩm của diễn giải văn
hóa, vốn có thể khác biệt theo thời gian, không gian và chủ thể tiếp nhận.
Barthes sử dụng mô hình hai cấp độ để lý giải điều này:
● Cấp độ 1: denotation = signifier + signified → sign (ý nghĩa từ vựng)
● Cấp độ 2: sign (của cấp độ 1) = signifier mới → signified mới = connotation (ý nghĩa ý thức hệ)
Ví dụ kinh điển của Barthes là hình ảnh một người lính da đen mặc quân phục Pháp
đang chào cờ. Denotation của hình ảnh này là: "một người lính thuộc quân đội Pháp
đang thể hiện lòng trung thành." Nhưng connotation mà Barthes chỉ ra là: tính vĩ đại
của chủ nghĩa đế quốc Pháp – nơi các thuộc địa (dù là da đen) vẫn trung thành
với mẫu quốc, một thông điệp mang tính chính trị – ý thức hệ được “ẩn” trong ký hiệu.
Điểm đáng lưu ý là nghĩa liên tưởng không cố định, mà luôn mở và thay đổi, phụ
thuộc vào văn hóa, lớp địa vị, thời đại và vị trí diễn ngôn của người tiếp nhận. Một
biểu tượng có thể gợi ra những nghĩa liên tưởng hoàn toàn trái ngược nhau trong các
ngữ cảnh khác nhau. Đây cũng là cơ sở cho các lý thuyết phân tích diễn ngôn
(discourse analysis) sau này, nơi việc truy xét nghĩa liên tưởng của các ký hiệu trở
thành công cụ để giải mã các chiến lược quyền lực, ý thức hệ và thao tác truyền thông.
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu hậu cấu trúc (poststructuralist), như Stuart Hall,
cũng mở rộng mô hình denotation/connotation trong lý thuyết mã hóa và giải mã
(encoding/decoding) của mình. Hall cho rằng, ngay cả “nghĩa sở thị” cũng không hoàn
toàn khách quan, mà luôn bị điều kiện hóa bởi văn hóa và bối cảnh sản xuất thông
điệp. Do đó, ranh giới giữa denotation và connotation là tương đối, và cần được nhìn
nhận như một phổ liên tục của quá trình tạo nghĩa hơn là hai tầng nghĩa tách biệt tuyệt đối.
Tóm lại, sự phân biệt giữa denotation và connotation là công cụ phân tích hữu hiệu
trong ký hiệu học, giúp ta hiểu rằng nghĩa của một ký hiệu không đơn thuần là “có
sẵn”, mà luôn được kiến tạo qua tầng lớp văn hóa, diễn ngôn và xã hội. Đây cũng là
nền tảng để ký hiệu học hiện đại có thể tiếp cận, lý giải và phê phán những hiện tượng
biểu nghĩa trong văn hóa đại chúng, quảng cáo, truyền thông, nghệ thuật, văn học và chính trị đương đại.
[Trong ký hiệu học, denotation (nghĩa sở thị) và connotation (nghĩa liên
tưởng) là hai cấp độ căn bản trong quá trình tạo nghĩa của ký hiệu, đại diện cho
hai order of signification (cấp độ tạo nghĩa), theo cách nói của Louis
Hjelmslev và được hệ thống hóa bởi Roland Barthes.
Nghĩa sở thị (denotation) được hiểu là cấp độ nghĩa đầu tiên – cấp độ của sự
nhận diện trực tiếp, nghĩa "tự thân", hiển nhiên, hoặc "rõ ràng" nhất của một ký
hiệu. Trong ngôn ngữ học, đây là nghĩa mà từ điển cung cấp; còn trong các
hình ảnh thị giác, theo Erwin Panofsky, đây là điều mà mọi người từ bất kỳ
nền văn hóa nào cũng có thể nhận diện được, chẳng hạn một bức ảnh chụp một
con chó sẽ có nghĩa sở thị là “con chó”. Tuy vậy, Chandler lưu ý rằng khái
niệm này đã mang tính văn
hóa ngay từ đầu – bởi điều được cho là “rõ ràng”
thường lại được xác định bởi một cộng đồng văn hóa cụ thể. Do đó, cái gọi là
"nghĩa đen", trên thực tế, thường không trung tính như giả định.
Ngược lại, nghĩa liên tưởng (connotation) là cấp độ nghĩa thứ hai – nơi một
ký hiệu mang theo những giá trị văn hóa, xã hội, tâm lý hoặc ý thức hệ
(ideological), phụ thuộc vào nền tảng tri thức, giới tính, giai tầng, chủng tộc, độ
tuổi… của người giải mã. Connotation là nơi nghĩa trở nên mở, mơ hồ
(polysemic) và chịu tác động của bối cảnh lịch sử - xã hội. Chẳng hạn, hình ảnh
một chiếc xe hơi không chỉ là "một phương tiện giao thông" (denotation), mà
có thể gợi lên ý niệm về sự giàu sang, tự do, quyền lực (connotation).
Barthes chỉ ra rằng chính connotation là nơi hoạt động ý thức hệ diễn ra. Trong
bài “Rhetoric of the Image”, ông phân tích một quảng cáo Panzani gồm các
thực phẩm Ý đổ ra từ một túi lưới: nghĩa sở thị là “một mớ thực phẩm Ý”,
nhưng nghĩa liên tưởng lại là “sự tươi mới”, “tính nội trợ”, “chất Ý”
(Italianicity), “mỹ học tĩnh vật”. Những nghĩa này không có trong vật thể tự
thân, mà là sản phẩm của các mã văn hóa (cultural codes) được người đọc ký hiệu "cài đặt sẵn".
Đi sâu hơn, Barthes cho rằng trong khi Saussure nhấn mạnh vào nghĩa sở thị
và bỏ ngỏ nghĩa liên tưởng, thì chính connotation mới là cấp độ nghĩa tạo nên
myth – một hình thức “ý thức hệ được tự nhiên hóa” (naturalization of
ideology). Nói cách khác, myth chính là sản phẩm của connotation khi nó được
xem như là “nghĩa đương nhiên”, như “tự nhiên”, làm cho các giá trị văn hóa
trở thành chân lý hiển nhiên, không cần lý giải. Điều này cực kỳ quan trọng
trong việc nhận diện các cấu trúc quyền lực tiềm ẩn trong truyền thông đại
chúng, quảng cáo, văn học, diễn ngôn chính trị...
Quan hệ giữa denotation và connotation cũng không tách biệt rõ ràng. Valentin
Voloshinov phản biện việc phân lập rạch ròi hai cấp độ này, vì theo ông, mọi
nghĩa đều bị thấm đẫm giá trị – meaning is always permeated with value
judgment. David Mick và Laura Politi cũng nhấn mạnh rằng việc hiểu và diễn
giải không thể tách rời. Chandler tổng kết rằng không tồn tại một ký hiệu nào
thuần denotative, không mang theo connotation – bởi vì mọi hình thức diễn đạt
đều hàm chứa một “ngôn ngữ thứ hai” (second-order signification) gắn liền với văn hóa và bối cảnh.
Mô hình của Hjelmslev mà Barthes kế thừa cho phép phân tích điều này bằng
khái niệm double articulation: nghĩa connotation được hình thành khi ký hiệu
sở thị (denotative sign) trở thành signifier (cái biểu đạt) cho một nghĩa cao
hơn. Ví dụ, một bức ảnh chụp một người lính da đen chào quốc kỳ Pháp trong
tạp chí Paris-Match không chỉ mang nghĩa sở thị là “một người lính Pháp da
đen đang chào”, mà còn mang nghĩa connotative là “chủ nghĩa đế quốc Pháp
khoan dung và bao dung chủng tộc”. Đây là cấp độ thứ hai của ký hiệu học –
nơi signifier = cả một sign đã có sẵn.
Chính tính võ đoán (arbitrary) của mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được
biểu đạt là điều kiện nền tảng cho sự vận hành của connotation. Vì không có
liên hệ tự nhiên, một ký hiệu có thể được "nạp" vào nhiều nghĩa khác nhau theo
các mã văn hóa, tạo điều kiện cho sự đa nghĩa, đồng nghĩa và những ẩn dụ
phức tạp – đặc biệt trong văn học, điện ảnh, quảng cáo, hay phân tích diễn ngôn.
Do đó, trong thực hành phân tích ký hiệu, phân biệt giữa nghĩa sở thị và
nghĩa liên tưởng là một công cụ quan trọng, nhưng không phải là sự phân
lập tuyệt đối. Các cấp độ này thường đan xen, chồng lấn và có tính lịch sử –
nghĩa là thay đổi theo thời gian, bối cảnh và cơ chế quyền lực. Denotation tạo
bề mặt “hiển nhiên”, trong khi connotation tạo chiều sâu văn hóa – và cả hai
đều là nơi diễn ra quá trình tạo nghĩa của ký hiệu học.]
Câu 3: Các nguồn tạo ký hiệu. Nguồn nào có vai trò quan trọng, chi phối văn bản? Tại sao?
Trong phân tích văn bản đa phương thức, các nguồn tạo ký hiệu (semiotic resources)
đóng vai trò trung tâm, bởi chính chúng là phương tiện vật chất và biểu hiện qua đó
nghĩa được tạo lập và phân bố trong văn bản. Năm nguồn ký hiệu chính thường được
đề cập bao gồm: ngôn ngữ (linguistic), thị giác (visual), không gian (spatial), cử chỉ
(gestural) và âm thanh (audio). Mỗi nguồn này không hoạt động độc lập mà kết hợp
với nhau trong một cấu trúc tổ chức đa phương thức, góp phần sản sinh và cấu trúc
hóa nghĩa trong quá trình giao tiếp.
Tuy nhiên, giữa các nguồn ký hiệu ấy, ngôn ngữ thường được xem là nguồn có vai trò
quan trọng và chi phối nhất đối với văn bản, đặc biệt là trong các hệ hình văn bản in
ấn, văn bản lý luận học thuật, hay các thực hành diễn ngôn truyền thống. Điều này
không chỉ do đặc trưng lịch sử - văn hóa của tri thức phương Tây vốn chịu ảnh hưởng
của logocentrism (trung tâm luận ngôn ngữ), mà còn vì ngôn ngữ là phương tiện duy
nhất trong các nguồn ký hiệu có hệ thống ngữ pháp và từ vựng chặt chẽ được quy
chuẩn qua quá trình chuẩn hóa và giáo dục. Chính yếu tố này cho phép ngôn ngữ vận
hành như một hệ thống biểu nghĩa có khả năng chuyển tải những khái niệm trừu
tượng, phức hợp, đa tầng và liên kết chặt chẽ các ý tưởng qua các cấu trúc cú pháp,
diễn ngữ và cấu trúc văn bản (textual structure).
Trong khuôn khổ phân tích văn bản theo lý thuyết chức năng hệ thống (Systemic
Functional Linguistics - SFL) của Halliday, ngôn ngữ là phương tiện đặc thù có thể
triển khai đầy đủ ba siêu chức năng (metafunctions): chức năng ý niệm (ideational),
chức năng liên nhân (interpersonal) và chức năng văn bản (textual). Từ đây, ngôn ngữ
không chỉ phản ánh thế giới thực mà còn tạo lập các mối quan hệ xã hội và tổ chức
thành các cấu trúc văn bản có tính logic và mạch lạc. Ví dụ, trong một bài bình luận
văn học, chính thông qua ngôn ngữ mà người viết có thể trình bày các hình ảnh biểu
tượng (ideational), thể hiện lập trường đánh giá (interpersonal), và tổ chức bố cục lập
luận (textual) – những điều mà các nguồn ký hiệu khác, dù mạnh về biểu cảm hay trực
quan, khó có thể đảm nhiệm ở cấp độ trừu tượng tương đương.
Tuy nhiên, vai trò chi phối của ngôn ngữ không nên được hiểu là phủ định giá trị của
các nguồn ký hiệu khác. Trong các văn bản hiện đại – chẳng hạn như quảng cáo, phim
tài liệu, infographic, hoặc video ca nhạc – nguồn thị giác, âm thanh, không gian và cử
chỉ đóng vai trò không thể thay thế. Theo quan điểm của Kress & van Leeuwen
(1996), mỗi nguồn ký hiệu mang tính chất biểu hiện đặc thù, đồng thời đảm nhiệm và
hiện thực hóa các chức năng giao tiếp khác nhau trong văn bản. Trong các văn bản
truyền thông kỹ thuật số, hình ảnh động hoặc bố cục thị giác có thể đảm nhiệm chức
năng tổ chức thông tin (compositional metafunction) hiệu quả hơn ngôn ngữ; âm nhạc
và giọng nói có thể triển khai trạng thái tình cảm, thái độ, hoặc thiết lập quan hệ thân
mật giữa người phát và người nhận mà không lời khó có thể đạt được. Các nguồn ký
hiệu phi ngôn ngữ còn tạo nên tính tức thì (immediacy), hiệu ứng trực cảm (affective
impact) và khả năng tiếp cận rộng rãi hơn về mặt xã hội và văn hóa.
Dù vậy, trong phân tích ký hiệu học và diễn ngôn, ngôn ngữ vẫn thường được coi là
trục tham chiếu trung tâm, một phần vì khả năng liên kết các nguồn ký hiệu khác vào
một văn bản có cấu trúc, mặt khác vì chính ngôn ngữ cũng có khả năng phản ánh và
siêu nghiệm hóa chính các phương thức biểu đạt khác – tức là nó có thể “nói về hình
ảnh”, “mô tả âm thanh”, “bình luận bố cục”, hoặc “tái mã hóa” các ký hiệu phi ngôn
ngữ thành văn bản ngôn ngữ. Đây là một ưu thế lớn khi triển khai các thao tác phân
tích, lập luận, chú giải và diễn giải trong nghiên cứu học thuật.
Tóm lại, ngôn ngữ – dù không phải là nguồn tạo nghĩa duy nhất – vẫn giữ vai trò quan
trọng, chi phối trong nhiều loại văn bản vì khả năng quy ước hóa, trừu tượng hóa và tổ
chức hóa nghĩa của nó. Tuy nhiên, để phản ánh đầy đủ sự vận hành của nghĩa trong
thực tế giao tiếp, đặc biệt trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện hiện nay, người
nghiên cứu không thể dừng lại ở việc phân tích ngôn ngữ đơn kênh mà phải mở rộng
ra toàn bộ các nguồn ký hiệu tham gia, với tư duy liên ngành và công cụ phân tích đa tầng, đa phương thức.
Câu 4: Câu là một hệ thống ký hiệu. Tìm và phân tích ví dụ để lý giải hệ
thống ký hiệu này là sự kết hợp của 2 quan hệ Kết hợp và Đối vị
Trong ký hiệu học cấu trúc (structuralist semiotics), đặc biệt theo tư tưởng của
Ferdinand de Saussure, mọi thành tố ngôn ngữ đều mang tính chất ký hiệu (sign), và
mỗi ký hiệu chỉ có nghĩa trong quan hệ với các ký hiệu khác trong cùng hệ thống.
Câu, do đó, không phải là một chuỗi ngẫu nhiên của các từ mà là một hệ thống ký hiệu
được tổ chức theo hai trục cơ bản: quan hệ kết hợp (syntagmatic) và quan hệ đối vị
(paradigmatic). Sự kết hợp giữa hai trục quan hệ này là nền tảng để tạo nên nghĩa cho
câu, và đồng thời là cơ sở để ta có thể phân tích ngôn ngữ văn chương, diễn ngôn xã
hội, hay bất kỳ văn bản nào dưới góc nhìn ký hiệu học.
Quan hệ kết hợp là quan hệ tuyến tính giữa các đơn vị trong một chuỗi: các từ được
sắp xếp tuần tự trong một câu, các câu trong một đoạn, các đoạn trong một văn bản.
Chúng được tổ chức theo một trật tự cú pháp xác định, và chính trình tự này tạo nên
nghĩa cụ thể cho phát ngôn. Ví dụ, trong câu thơ nổi tiếng “Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai” của thiền sư Mãn Giác, các đơn vị “Xuân – khứ – bách hoa
– lạc” được kết hợp trong một chuỗi tuyến tính ổn định về mặt ngữ pháp. Nếu đảo vị
trí các thành tố, như “Bách hoa khứ xuân lạc”, trật tự ngữ pháp bị phá vỡ, và đồng
thời, nghĩa cũng thay đổi hoặc trở nên vô nghĩa. Điều đó cho thấy trong một hệ thống
câu, quan hệ kết hợp chính là yếu tố tổ chức cú pháp, tạo ra tuyến phát ngôn logic và có ý nghĩa.
Tuy nhiên, nghĩa của một câu không chỉ được kiến tạo từ quan hệ kết hợp mà còn từ
quan hệ đối vị – tức là quan hệ lựa chọn trong cùng một trường ngữ nghĩa. Quan hệ
đối vị là trục chiều dọc, không biểu hiện trực tiếp trên bề mặt ngữ đoạn, nhưng luôn
hiện diện như một tiềm năng lựa chọn và là yếu tố quyết định sắc thái, tầng nghĩa của
câu. Trong ví dụ trên, “xuân khứ” và “xuân đáo” tạo nên một cặp đối vị rõ rệt: sự ra đi
và sự trở lại. Tương tự, “hoa lạc” và “hoa khai” cũng hình thành cặp đối lập – rụng và
nở. Hai vế của câu thơ vận hành như một hệ thống song hành đối xứng, biểu đạt quy
luật tuần hoàn của thời gian, đồng thời mang giá trị triết lý Thiền sâu sắc về tính biến
dịch và thường hằng của vũ trụ. Ở đây, quan hệ đối vị không chỉ giúp tổ chức cấu trúc
câu mà còn là yếu tố tạo sinh ý nghĩa biểu tượng, tầng bậc triết lý – điều chỉ có thể đạt
tới qua lối phân tích ký hiệu học.
Một ví dụ khác trong ngôn ngữ đời thường có thể minh họa hai trục quan hệ này là
câu: “Cô ấy đã đọc cuốn sách đó”. Trong quan hệ kết hợp, câu được cấu tạo bởi các
thành tố: [Cô ấy] – [đã đọc] – [cuốn sách đó], mỗi yếu tố mang chức năng cú pháp
riêng và chỉ có nghĩa đầy đủ khi được đặt trong chuỗi này. Nhưng nếu xét ở trục đối
vị, người nói hoàn toàn có thể thay thế “đã đọc” bằng “đang đọc”, “sẽ đọc” – những
thành tố nằm trong trường đối vị thời gian của động từ; hoặc thay thế “cuốn sách đó”
bằng “bài báo kia”, “thư tình”, v.v., những lựa chọn có thể thế chỗ cho nhau tại vị trí
đó trong cấu trúc câu. Khi người nói lựa chọn một phương án thay vì những lựa chọn
khác có thể có, họ đồng thời tạo nên sự khác biệt nghĩa, lựa chọn mang tính nhấn
mạnh, và hướng dẫn diễn giải.
Như vậy, câu là một hệ thống ký hiệu đúng nghĩa, bởi nó không phải là tập hợp đơn
thuần của các từ, mà là một cấu trúc vận hành theo cơ chế ký hiệu học: mỗi thành tố là
một sign – có signifier (cái biểu đạt) và signified (cái được biểu đạt), và nghĩa chỉ xuất
hiện khi các thành tố được đặt trong quan hệ với các sign khác – cả trong chiều kết
hợp lẫn chiều đối vị. Hệ thống này không tĩnh mà luôn vận động, bởi như Saussure
khẳng định, giá trị của một ký hiệu chỉ tồn tại trong mối quan hệ của nó với các ký
hiệu khác trong cùng hệ thống. Bản thân một từ ngữ không mang nghĩa nếu tách rời
khỏi hệ thống, và một câu cũng không thể tồn tại ngoài cơ chế kết hợp – đối vị.
Phân tích này, khi được mở rộng sang các văn bản văn học hoặc diễn ngôn xã hội, sẽ
cho phép ta nhìn sâu hơn vào cấu trúc tạo nghĩa, vào cách văn bản xây dựng chiều sâu
biểu tượng qua các lựa chọn ngôn ngữ. Từ đó, ký hiệu học cấu trúc không chỉ giúp
hiểu câu như một cấu trúc ngữ pháp, mà như một hệ thống ký hiệu sinh nghĩa – nơi
mỗi lựa chọn đều hàm chứa một thế giới nghĩa được tổ chức chặt chẽ theo quy luật
của hai trục cơ bản: kết hợp và đối vị.
Câu 5: Phân tích một số ví dụ để làm rõ đặc trưng thẩm mỹ của ngôn ngữ
văn chương từ hệ quả của tính võ đoán của ký hiệu ngôn ngữ
Dưới lăng kính của ký hiệu học, đặc trưng thẩm mỹ của ngôn ngữ văn chương có thể
được lý giải như là một hệ quả tất yếu của nguyên lý võ đoán (arbitrariness) trong
quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) – một luận điểm
nền tảng do Ferdinand de Saussure xác lập. Theo Saussure, không có mối liên hệ tự
nhiên hay tất yếu nào giữa hình thức âm thanh và khái niệm mà nó biểu thị. Chính vì
không bị quy định bởi một ràng buộc vật chất hay bản thể học cố định, ngôn ngữ được
trao một quyền năng đặc biệt: khả năng kiến tạo nghĩa thông qua mạng lưới quan hệ
nội tại, và chính điều đó tạo nên tiềm năng thẩm mỹ trong diễn ngôn văn chương.
Từ nguyên lý này, Saussure chỉ ra rằng hệ quả của tính võ đoán là vô cùng đa dạng,
thể hiện ở việc tín hiệu ngôn ngữ luôn tồn tại dưới dạng các biến thể của cái biểu đạt
và cái được biểu đạt. Biến thể của cái biểu đạt tạo ra hiện tượng đồng nghĩa, trong khi
biến thể của cái được biểu đạt tạo ra hiện tượng đồng âm và đa nghĩa. Những hiện
tượng này không chỉ tồn tại như một thực tế ngôn ngữ học, mà trong văn chương,
chúng được chuyển hóa thành chất liệu nghệ thuật, trở thành cơ sở cho các biện pháp
tu từ, cho việc tạo lập hình tượng, và cho khả năng diễn đạt tầng sâu của tư tưởng và cảm xúc.
Chẳng hạn, trong hai câu thơ của Bằng Việt: “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn / Một
ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”, hình ảnh “ngọn lửa” không còn là vật thể vật lý đơn
thuần. Dưới góc nhìn ký hiệu học, “ngọn lửa” là signifier, nhưng không quy chiếu trực
tiếp đến signified nguyên sơ là hiện tượng cháy sáng. Thay vào đó, trong ngữ cảnh
thơ, signified được kiến tạo mới – đó là tình cảm ấm áp, bền bỉ, thiêng liêng mà người
bà dành cho cháu. Quan hệ giữa signifier “ngọn lửa” và signified “tình cảm thiêng
liêng” là kết quả của một phép ẩn dụ – tức là một hình thức đồng nghĩa lâm thời, chỉ
có ý nghĩa trong văn cảnh cụ thể. Sự tương thích giữa “ngọn lửa” và “lòng bà” chỉ tồn
tại ở mức độ liên tưởng – khi cả hai cùng có thể được xem là nguồn sinh nhiệt, ánh
sáng và hơi ấm. Chính vì sign là võ đoán mà sự tráo đổi quan hệ biểu đạt như vậy mới
có thể diễn ra, và chính vì võ đoán mà nó mở ra khả thể cho việc sáng tạo ngôn ngữ trong thơ.
Cũng tương tự, trong cặp câu đối dân gian: “Kiến đậu cành cam bò quấn quýt / Ngựa
về làng Bưởi chạy lanh chanh”, nghệ thuật ngôn ngữ dựa trên hiện tượng đồng âm lâm
thời – một hình thức biểu hiện của biến thể signified. Các từ “quýt” và “chanh” vừa là
thành tố trong các cụm từ cố định “quấn quýt” và “lanh chanh” với nghĩa bóng, vừa là
tên gọi của các loại quả thuộc họ cam – chanh. Người đọc bị dẫn dắt vào một hệ thống
ngữ nghĩa nhiều tầng lớp, nơi mà một signifier không dẫn tới một signified duy nhất,
mà mở ra một trường liên tưởng. Theo lý thuyết về semiosis của Peirce, đây là chuỗi
chuyển tiếp interpretants – quá trình diễn giải không bao giờ khép lại. Cũng trong quá
trình ấy, các tầng nghĩa được kiến tạo dựa trên thói quen văn hóa, sự quen thuộc tập
thể, nhưng lại được vận dụng linh hoạt trong những thực hành cụ thể như câu đối, thơ
ca, hay văn chương dân gian.
Một trường hợp khác là bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, nơi hiện tượng
đa nghĩa lâm thời được khai thác sâu sắc trong ngữ cảnh phản ánh thân phận nữ giới.
Hình ảnh “thân em” là cái biểu đạt quen thuộc trong cấu trúc thơ dân gian, nhưng khi
kết hợp với hình tượng “bánh trôi nước”, signifier ấy không chỉ quy chiếu đến một
thực thể vật chất – một món ăn – mà còn mang theo một lớp nghĩa biểu tượng cho
thân phận nổi trôi, mềm yếu nhưng kiên cường của người phụ nữ trong xã hội phong
kiến. Từ “trắng”, “tròn”, “bảy nổi ba chìm”, “tay kẻ nặn” – tất cả đều vừa chỉ tính chất
vật lý, vừa biểu đạt ngầm thân phận bị áp đặt, bị định đoạt, song vẫn mang một “tấm
lòng son” kiên định. Nếu theo Barthes, đây là hiện tượng chuyển nghĩa từ denotation
(nghĩa sở thị) sang connotation (nghĩa liên tưởng), và chính tầng nghĩa liên tưởng ấy
là nơi văn học kiến tạo nên diễn ngôn phê phán xã hội bằng hình ảnh ẩn dụ.
Ký hiệu học vì thế giúp lý giải một cách hệ thống và khoa học cách mà ngôn ngữ văn
học tạo nghĩa – không chỉ ở cấp độ biểu hiện hình thức, mà còn ở cấp độ tư tưởng,
cảm xúc và giá trị. Chính vì ngôn ngữ là võ đoán, nghĩa là không bị ràng buộc bởi mối
liên hệ nội tại tất yếu, mà nhà văn, nhà thơ có thể thực hiện việc kiến tạo lại quan hệ
giữa signifier và signified, sử dụng những dấu hiệu lâm thời, bất định nhưng giàu tính
gợi mở và biểu tượng. Đó cũng là điều mà hậu cấu trúc luận nhấn mạnh – khi không
có mối liên hệ tất yếu nào giữa hình thức và nội dung, thì việc kiến tạo nghĩa là một
hành vi mang tính diễn giải (interpretative act) không ngừng – và ngôn ngữ văn học là
không gian nơi sự diễn giải đó đạt đến độ cực thịnh của sáng tạo.
Tóm lại, từ nguyên lý võ đoán trong quan hệ ký hiệu học, các hiện tượng như đồng
nghĩa, đồng âm và đa nghĩa – đặc biệt ở dạng lâm thời – không chỉ là hiện tượng ngữ
học đơn thuần mà trở thành công cụ nghệ thuật trong tay người viết. Qua đó, văn học
không chỉ dùng ngôn ngữ để mô tả thế giới, mà còn dùng chính ký hiệu để tái kiến tạo
thế giới, tái định hình ý nghĩa, và khơi mở chiều sâu cảm xúc. Chính trong khoảng
cách giữa signifier và signified – khoảng cách do tính võ đoán tạo ra – mà ngôn ngữ
văn chương tìm thấy khả thể sáng tạo, khả thể biểu hiện, và khả thể thẩm mỹ.
Câu 6: Câu hỏi mở rộng: Qua những gì đọc hiểu về tiến trình phát triển của Ký hiệu
học, anh chị có nhận định gì về tính võ đoán của ký hiệu, về cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Trong tiến trình phát triển của ký hiệu học, một trong những nguyên lý nền tảng và
gây tranh luận nhiều nhất là quan niệm về tính võ đoán (arbitrariness) của ký hiệu,
cùng với mối quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified).
Mặc dù hai khái niệm này khởi phát như cặp phạm trù trung tâm trong lý thuyết của
Ferdinand de Saussure, và vẫn giữ nguyên tầm quan trọng trong mọi ngành phân tích
ký hiệu hiện đại, lịch sử tư tưởng ký hiệu học cho thấy rõ ràng rằng cách phân chia
lưỡng phân này – dù cơ bản và có tính cách mạng – không còn đủ khả năng giải thích
những hiện tượng biểu nghĩa phức tạp trong đời sống xã hội, văn học, truyền thông và
diễn ngôn đương đại. Để có thể theo kịp sự vận động không ngừng của xã hội, lý
thuyết ký hiệu học đã liên tục được tái cấu trúc, mở rộng và diễn giải lại trên nhiều
cấp độ, từ đó làm nổi bật tính bất toàn của lưỡng phân signifier/signified, cũng như
nhu cầu tư duy lại về bản chất của ký hiệu.
Theo Saussure, ký hiệu ngôn ngữ là sự kết hợp giữa hai yếu tố tâm lý: cái biểu đạt
(signifier) – hình thức cảm giác như chuỗi âm thanh hay ký tự, và cái được biểu đạt
(signified) – khái niệm mà hình thức ấy gợi lên trong tư duy. Điểm mấu chốt trong
quan niệm của ông là mối quan hệ giữa signifier và signified hoàn toàn mang tính võ
đoán (arbitrary), nghĩa là không tồn tại bất kỳ sự tương ứng tự nhiên, tất yếu hay hiển
nhiên nào giữa hình thức và nội dung. Saussure nhấn mạnh rằng không có gì cản trở
chúng ta gán bất kỳ một chuỗi âm thanh nào cho bất kỳ một khái niệm nào. Từ "tree"
trong tiếng Anh và "arbre" trong tiếng Pháp đều là những ký hiệu khác nhau cùng biểu
đạt một khái niệm giống nhau, cho thấy tính quy ước xã hội của việc tạo nghĩa, chứ
không phải một mối liên kết nội tại. Tuy nhiên, Saussure cũng làm rõ rằng tính võ
đoán này là tương đối: ngôn ngữ không phải là sản phẩm của sự tùy tiện cá nhân, mà
là kết quả của truyền thống xã hội, và giá trị của mỗi ký hiệu chỉ tồn tại trong mối
quan hệ sai biệt với các ký hiệu khác trong cùng một hệ thống. Nói cách khác, nghĩa
của ký hiệu không nằm trong chính bản thân nó, mà trong hệ thống các khác biệt mà nó tham dự.
Dù có ảnh hưởng sâu rộng, mô hình lưỡng phân của Saussure – với những giả định về
cấu trúc đóng, tính phi vật chất của ký hiệu, và tính tự trị của ngôn ngữ – nhanh chóng
bộc lộ giới hạn khi phải đối diện với các hiện tượng ký hiệu học vượt khỏi ngôn ngữ
thuần túy. Charles Sanders Peirce, nhà ký hiệu học người Mỹ, đã đưa ra một mô hình
triadic (ba thành phần) để giải thích tiến trình tạo nghĩa. Theo đó, một ký hiệu (sign)
bao gồm: representamen (hình thức của ký hiệu), object (đối tượng mà ký hiệu quy
chiếu) và interpretant (diễn giải được hình thành trong tâm trí người tiếp nhận). Khác
với signified trong mô hình Saussure, interpretant không cố định, mà có thể tiếp tục
trở thành representamen cho một interpretant tiếp theo, tạo nên chuỗi semiosis vô tận.
Điều này đặt trọng tâm vào quá trình – thay vì kết quả – của việc tạo nghĩa. Nghĩa,
trong tư duy của Peirce, không phải là sự phản ánh, mà là sự sản sinh liên tục trong ngữ cảnh tri nhận.
Peirce cũng đưa ra một hệ phân loại ký hiệu mang tính ảnh hưởng sâu rộng, chia thành
ba loại hình quan hệ giữa signifier và signified: icon (mối quan hệ dựa trên sự tương
đồng), index (dựa trên quan hệ nhân quả hoặc vật lý) và symbol (dựa trên quy ước xã
hội). Trong đó, symbol – tương ứng với loại ký hiệu ngôn ngữ theo Saussure – là cấp
độ trừu tượng cao nhất, nhưng cũng là loại duy nhất mang tính quy ước thuần túy.
Việc nhận diện rằng một ký hiệu có thể cùng lúc là icon, index và symbol cho thấy
rằng bản chất ký hiệu không cố định trong một cấu trúc lưỡng phân, mà luôn dao động
theo mục đích sử dụng, ngữ cảnh tiếp nhận và quy chiếu văn hóa. Một tấm bản đồ,
chẳng hạn, vừa có tính iconic (do mô phỏng quan hệ không gian), indexical (chỉ dẫn
phương hướng, vị trí thực tế), vừa mang tính symbolic (dựa trên các quy ước thị giác
và ngôn ngữ được mã hóa).
Các nhà nghiên cứu hậu Saussure đã tiếp tục đẩy xa hơn nữa những giới hạn của mô
hình lưỡng phân. Roland Barthes mở rộng khái niệm sign bằng cách đưa vào lý thuyết
huyền thoại (myth), trong đó sign ở cấp độ đầu tiên (denotation) lại trở thành signifier
cho cấp độ thứ hai (connotation), từ đó hình thành một tầng nghĩa mang tính ý thức
hệ. Jacques Lacan, trong phân tâm học, đảo ngược hướng đi từ signified sang
signifier, cho rằng chính cái biểu đạt – đặc biệt trong mơ – là yếu tố chi phối mạnh mẽ
hơn cả cái được biểu đạt. Jacques Derrida, với công trình Of Grammatology, lên án
chủ nghĩa âm vị trung tâm (phonocentrism) của Saussure và phục hồi vai trò của chữ
viết như một hình thức mang tính chất liệu và xã hội rõ nét. Trong khi đó, Valentin
Voloshinov kiên quyết cho rằng không thể xem ký hiệu như hiện tượng thuần tâm lý,
mà phải đặt nó trong vật thể xã hội cụ thể, nơi ngữ cảnh, ý thức hệ và quyền lực cùng
tác động trong việc hình thành nghĩa.
Một bước ngoặt quan trọng trong việc vượt khỏi mô hình lưỡng phân là sự ra đời của
social semiotics với đại diện tiêu biểu như Michael Halliday, Gunther Kress và Theo
van Leeuwen. Halliday xây dựng mô hình ba chức năng ngữ nghĩa (metafunctions) –
ideational, interpersonal và textual – cho phép phân tích cách ngôn ngữ biểu đạt kinh
nghiệm, thể hiện quan hệ xã hội và tổ chức văn bản. Kress & van Leeuwen mở rộng
khái niệm này sang các hệ thống ký hiệu phi ngôn ngữ như hình ảnh, âm thanh, bố
cục..., khẳng định rằng nghĩa không nằm trong signifier hay signified một cách biệt
lập, mà nằm trong tương tác giữa người tạo nghĩa, phương tiện biểu đạt và người tiếp
nhận, trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nghĩa, vì thế, không thể được “giải mã” như
một thông điệp cố định, mà là sản phẩm của hành vi mang tính chiến lược và xã hội.
Tất cả những chuyển biến nêu trên cho thấy rằng, mặc dù cái biểu đạt và cái được biểu
đạt là nền tảng bất khả thiếu cho mọi tư duy ký hiệu học, chúng không thể là mô hình
duy nhất để giải thích các hiện tượng ký hiệu học hiện đại. Từ truyền thông thị giác,
quảng cáo, cho đến văn học, điện ảnh, chính trị, các quá trình tạo nghĩa không chỉ liên
quan đến cấu trúc nội tại của sign, mà còn đòi hỏi phân tích các yếu tố vật chất, quyền
lực, lịch sử, diễn ngôn và chủ thể. Mô hình lưỡng phân do đó không bị bác bỏ, mà
được tái cấu trúc, đặt trong hệ thống lý thuyết đa chiều hơn, linh hoạt hơn, mang tính
quy chiếu rộng lớn hơn. Ký hiệu học vì thế không dừng lại ở việc xác định các thành
phần của nghĩa, mà chuyển sang nghiên cứu cách nghĩa được sản sinh, lưu hành và tranh chấp trong xã hội.
Tính võ đoán của ký hiệu, trong ánh sáng những phân tích này, không còn là một trạng
thái tĩnh của cấu trúc, mà là kết quả của những lựa chọn có tính xã hội, lịch sử và
chiến lược. Nghĩa không tự nhiên sinh ra từ signifier hay signified, mà từ quá trình
đàm phán liên tục giữa chúng, trong dòng chảy semiosis không ngừng của thực tiễn ký hiệu.