



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61457685
ĐỀ CƯƠNG NHÂN HỌC ĐẠI CƯƠNG
Câu 1: Định nghĩa Nhân học? Đối tượng, nhiệm vụ của Nhân học. -
Khái niệm: Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người
trên các phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của nhóm người , các cộng đồng dân tộc khác nhau,
cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay. -
Đối tượng: con người tìm cách lí giải những nguyên nhân, tác động từ môi trường, tất cả các
yếu tố xung quanh để tạo nên 1 cơ thể sinh học. Điều đó được thể hiện trên 4 phương diện : Sinh
học (Nhân học hình thể), Văn hóa của đời sống con người như ăn, mặc, ở, ma chay, … (Nhân học
văn hóa), Quá khứ của con người: thông qua hiện vật tái hiện cuộc sống quá khứ (Khảo cổ học), Tư
duy con người: ngôn ngữ ảnh hưởng tư duy của con người (Nhân học ngôn ngữ), Nhân học ứng dụng
+ Con người với tư cách là thực thể sinh học-XH là khách thể, không phải là đối tượng nghiên cứu
riêng của từng ngành KH: con người tạo ra các khoa học
+ Con người xét tổng thể là khách thể, chưa là đối tượng nghiên cứu riêng của từng ngành khoa học
+ Nhân học nghiên cứu: toàn diện con người, về con người tự nhiên và con người xã hội.
+ Đối tượng nghiên cứu của Nhân học không chỉ bó hẹp trong nghiên cứu phương diện sinh học của
con người mà cả văn hóa và xã hội của con người -
Chức năng, nhiệm vụ : Thông qua việc tìm hiểu để ý giải hiện tượng liên quan tới con người
thông qua Khoa học, Nhân học hướng tới sử dụng những tri thức đó để phục vụ cho mục đích sinh tồn của con người.
* Với Con người xã hội, nhiệm vụ nghiên cứu là: nhân học văn hóa xã hội.
- Nhân học văn hóa xã hội được chia thành 3 chuyên ngành nhỏ hơn: Khảo cổ học, Nhân họcngôn ngữ, Dân tộc học.
- Khảo cổ học: nghiên cứu các di vật còn lại của con người thời cổ để làm sáng tỏ các nền văn hóa cổ.
- Nhân học ngôn ngữ: tìm hiểu ngôn ngữ một cách toàn diện trong tương quan với bối cảnh về văn
hóa, lịch sử và sinh học.
- Dân tộc học: nghiên cứu văn hóa - xã hội của các dân tộc.
* Với Con người sinh học, nhiệm vụ nghiên cứu là: nhân học hình thể
- Nhân học hình thể được chia thành 3 chuyên ngành nhỏ hơn: Cổ nhân học, Linh trưởng học,Chủng tộc học.
- Cổ nhân học: nghiên cứu các hóa thạch của con người để tái hiện lại sự tiến hóa của con người.
- Linh trưởng học: nghiên cứu những động vật có họ hàng gần gũi nhất với con người - loài linh trưởng.
- Chủng tộc học: nghiên cứu các chủng tộc khác nhau trên thế giới khi tiến hành phân loại cư dân
trên thế giới thành 4 đại chủng: Ơrôpôit, Môngôlôit, Nêgrôit, Oxtralôit.
* Những năm gần đây, Nhân học phát triển thêm một chuyên ngành mới là Nhân học ứng dụng.
Nhân học ứng dụng bao gồm cả nghiên cứu ứng dụng và can thiệp. Phân ngành này tập hợp các nhà lOMoAR cPSD| 61457685
khoa học làm việc trong các lĩnh vực khác nhau và họ tìm cách ứng dụng các lý thuyết Nhân học
vào giải thích và giải quyết các vẫn đề thực tế như: đô thị, y tế, du lịch, giáo dục, nông nghiệp,....
- Quan điểm nghiên cứu của nhân học
+ Toàn diện: tích hợp thành tựu của các ngành khoa học để nghiên cứu con người trong tính toàn
diện của nó => nhân học là một ngành toàn diện (holistic) => tính toàn diện là đặc điểm trung tâm
của quan điểm nhân học. VD:
+ Đối chiếu, so sánh: Nhân học là khoa học mang tính so sánh đối chiếu để tìm hiểu sự đa dạng về
mặt sinh học và văn hóa của các nhóm dân cư, dân tộc khác nhau trên thế giới. VD:
+ Phạm vi không gian, thời gian: nhân học có phạm vi rộng lớn hơn cả về tính địa lý và tính lịch sử.
Trước đây: phạm vi không gian và thời gian, nhân học chỉ nghiên cứu các dân tộc ngoài châu âu
trong quá khứ => hiện nay, nghiên cứu tất cả các dân tộc trên thế giới ở mọi giai đoạn lịch sử. Hay
trước đây chỉ nghiên cứu các xã hội truyền thống thì hiện nay, nhân học nghiên cứu cra xã hội truyền
thống và xã hội hiện đại.
Câu 2: Trình bày các phương pháp nghiên cứu của nhân học, nội
dung của phương pháp quan sát tham dự, phương pháp phỏng vấn sâu,
vấn đề đạo đức trong nghiên cứu nhân học? -
Các phương pháp nghiên cứu của nhân học:
+ Phương pháp quan sát tham dự.
+ Phương pháp phỏng vấn.
• Phương pháp quan sát tham dự : -
Là phương pháp mà theo đó nhà nghiên cứu thâm nhập và nhóm, cộng đồng thuộc vào đối
tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là một thành viên của nhóm hay cộng đồng. Khái
niệm tham sự ở đây được hiểu theo nhiều mức độ khác nhau: từ quan sát tham dự một phần
vào các hoạt động đến sự hòa nhập hoàn toàn của người quan sát: họ là người quan sát đồng
thời cũng là người tham gia vào các hoạt động của cộng đồng. Quan sát tham dự thường là
quan sát với nhiều đối tượng khác nhau được lặp đi lặp lại trong quá trình chung sống cộng
đồng trong một thời gian dài đến hàng tháng, hàng năm để chắc chắn rằng những thông tin
thu thập được là tiêu biểu của các ý tưởng được bày tỏ của cộng đồng diện rộng. Như vậy
quan sát tham dự của người nghiên cứu khác với một người khách du lịch đến với cộng đồng
như là một người bên ngoài để tìm hiểu nền văn hóa của người khác với sở thích và nhu cầu
của họ. Khách du lịch thường là những người quan sát không tham dự vì họ không thể trở
thành thành viên của cộng đồng. - Ưu điểm:
+ Do sự tham gia của người nghiên cứu về các hoạt động của người được quan sát và khắc phục
được những hạn chế do trình độ tri giác thụ động gây ra. lOMoAR cPSD| 61457685
+ Sự tham dự cho phép người quan sát đi sâu và cảm nhận được, hiểu biết toàn bộ tình cảm và những
hành động của đối tượng được quan sát. Từ đó giúp cho việc thâm nhập vào thế giới nội tâm cảu
người được quan sát, để hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về những nguyên nhân, động cơ của những hành động được quan sát.
+ Cung cấp cho chúng ta những thông tin mà khi sử dụng các phương pháp khác khó mà có được.
+ Khi người quan sát trở thành thành viên của cộng đồng sữ dễ dàng nhận thấy được những gì là
thuộc tính vốn có trong bối cảnh văn hóa của mỗi người trong nhóm hoặc cộng đồng. - Hạn chế:
+ Phải có thời gian, kĩ năng quan sát nghề nghiệp tốt, phải am hiểu và có kiến thức về ngôn ngữ địa
phương, thích nghi với môi trường mới.
+ Kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào cả tính cách, độ tuổi, sự thân thiện, các khía cạnh đạo đức tâm
lý của nhà nghiên cứu khi chung sống với cộng đồng.
+ Tham gia vào cộng đồng quá lâu khiến cho người quan sát ít quan tâm đến những sự khác biệt và
đa dạng văn hóa của cộng đồng, làm cho người quan sát không giữ được cái nhìn khách quan và
ảnh hưởng đến kết quả quan sát được.
• Phương pháp phỏng vấn: - Khái niệm : -
Phỏng vấn là phương pháp trong đó người được phỏng vấn sẽ trả lời một số câu hỏi người
phỏng vấn đặt ra nhằm mục đích thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên
cứu. Là công việc trò chuyện giữa nhà nghiên cứu với người dân , vì vậy nhà nhân học có
kiến thức ngôn ngữ địa phương sẽ gặp nhiều điều kiện thuận lợi hơn khi tiếp xúc với cộng đồng. -
Phỏng vấn sâu là những cuộc phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia hoặc đi sâu tìm hiểu vấn đề
chính trị, kinh tế, xã hội, hay tìm hiểu về cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người
cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy. -
Mục đích của phỏng vấn con người là để tìm thấy những gì đang diễn ra trong suy nghĩ và
tình cảm của họ về một điều gì đó. -
Có 3 loại phỏng vấn và trong thực tế, cả ba loại này thường đan xen với nhau: phỏng vấn ko
có cấu trúc, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn có cấu trúc . -
Có 6 loại hình câu hỏi phỏng vấn là : Câu hỏi về các thông tin cá nhân: Câu hỏi về kiến thức;
Câu hỏi về kinh nghiệm/hành vi; Câu hỏi về quan điểm, giá trị; Câu hỏi về cảm xúc; Câu hỏi về cảm giác. -
Đối tượng phỏng vấn: tùy theo vấn đề nghiên cứu mà chúng ta chọn đối tượng phỏng vấn
khác nhau. Nếu nghiên cứu những vấn đề phong tục tập quán truyền thống, chúng ta phỏng
vấn những người già, trí thức dân tộc. Nếu như nhiên cứu hôn nhân gia đình chúng ta phải
phỏng vấn cả nam, nữ, người già và trẻ. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kinh tế - xã
hội và sự phát triển cộng đồng thì lại phỏng vấn những già làng, trí thức, dân tộc, chức năng
tôn giáo, cán bộ quản lí địa phương. Có những vấn đề nghiên cứu phải lấy ý kiến của cộng
đồng thì lại cần tổ chức thảo luận nhóm tập trung -
Ưu và nhược điểm của phương pháp phỏng vấn : lOMoAR cPSD| 61457685 -
Ưu điểm: o Thu thập thông tin 1 cách trực tiếp có thể loại bỏ sai số trung gian o Giảm tỉ
suất rơi rụng thông tin xuống mức thấp nhất do gợi ý của người phỏng vấn o Quá trình phỏng
vấn có thể thu thập nhiều thông tin khác nhau (cả thông tin bề nổi và thông tin chiều sâu) o
Chức năng của câu hỏi kiểm tra phát huy tốt nhất và có thể biết thông tin nhờ phương
pháp quan sát - Nhược điểm: o
Để tiến hành phỏng vấn, những cán bộ điều tra phải được đào tạo và làm chủ đc lOMoAR cPSD| 61457685
những kĩ thuật của phỏng vấn do đó chi phí đào tạo khá tốn kém o
Trong một thời gian nhất định, nhà nghiên cứu chỉ có thể phỏng vấn một lượng hạn
chế nhất định của những người được điều tra o
Thái độ phỏng vấn ko khéo léo dẫn đến những mâu thuẫn , ko đồng tình với người
phỏng vấn từ đó họ sẽ trả lời không chính xác o
Thái độ của người phỏng vấn sẽ dẫn đến ảnh hưởng cuộc điều tra o Xử lí
thông tin phức tạp và tốn kém
•Vấn đề đạo đức được đặt ra : -
Khác với các ngành khoa học khác, đối tượng nghiên cứu của nhân học là con
người, vì vậy đạo đức trong nghiên cứu nhân học là rất quan trọng
+ Trước hết, những báo cáo khoa học của chúng ta không thể bị sử dụng để làm phương hại đến
cuộc sống của cộng đồng mà chúng ra đã điều tra, không được xúc phạm và làm tổn hại đến phẩm
chất và lòng tự trọng của những người bản địa được biết đến.
+ Phải giữ bí mật cho những người cung cấp thông tin, nhất là những thông tin thuộc về những vấn
đề nhạy cảm trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng.
+ Phải đảm bảo tính trong sáng trong tiến trình nghiên cứu và sự trung thực đối với các giá trị của
đề tài để kết quả của công trình nghiên cứu là hợp lí nhằm phục vụ lợi ích cho những đối tượng được đặt ra -
Những quy tắc thực hiện trong nghiên cứu:
+ Tuân thủ các quy định yêu cầu sự chấp thuận và được thông tin đầy đủ của đối tượng tham gia nghiên cứu
+ Tôn trọng sự bảo mật và riêng tư +
Quản lí dữ liệu nghiên cứu
Kết luận :Lợi ích của hoạt động NCKH là điều không ai có thể nghi ngờ, nhưng những lợi ích ấy
chỉ có thể đạt được trong một môi trường nghiên cứu lành mạnh, một môi trường bảo đảm cho quá
trình tìm kiếm tri thức được thực hiện với mức độ khả tín cao nhất và phản ánh những giá trị nền
tảng của xã hội mà mọi tổ chức, cá nhân đều có trách nhiệm gìn giữ. Trong bối cảnh các nước đang
phát triển như Việt Nam, nhu cầu tăng trưởng nhanh trong NCKH phải gắn với việc xây dựng nền
tảng văn hóa học thuật vững mạnh; không có cái nền đó thì những thành tựu đạt được chỉ là những lâu đài xây trên cát.
Câu 3: Trình bày các lĩnh vực nghiên cứu của nhân học : nhân học văn
hóa, nhân học tôn giáo, nhân học ứng dụng, vai trò của nhân học trong
việc giải quyết những vấn đề của đời sống đương đại. ⇨
Nhân học văn hóa
- Khái niệm: Nhân học văn hóa là phương pháp nghiên cứu văn hóa chủ yếu dựa vào sự phân bố
chủng người và thổ ngữ. Bằng cách gắn các phẩm chất văn hóa với chủ thể – người (vừa là vật
mang, vừa là chủ thể, vừa là kết quả của văn hóa), phương pháp này đã khắc phục việc lệ thuộc
vào hoàn cảnh địa lý, khi tiến hành lý giải các hiện tượng văn hóa lOMoAR cPSD| 61457685
- Các lĩnh vực nghiên cứu: Các nhà nhân học văn hóa sử dụng các lý thuyết và phương pháp nhân
học để nghiên cứu văn hóa. Họ nghiên cứu nhiều chủ đề khác nhau, bao gồm danh tính, tôn giáo,
quan hệ họ hàng, nghệ thuật, chủng tộc, giới tính, giai cấp, nhập cư, cộng đồng, tình dục, toàn cầu
hóa, các phong trào xã hội và nhiều chủ đề khác. Tuy nhiên, bất kể chủ đề nghiên cứu cụ thể của
họ là gì, các nhà nhân học văn hóa tập trung vào các khuôn mẫu và hệ thống tín ngưỡng, tổ chức
xã hội và thực hành văn hóa.
- Một số câu hỏi nghiên cứu được các nhà nhân học văn hóa xem xét bao gồm:
+ Cách hiểu về giới tính, chủng tộc, tình dục và khuyết tật khác nhau giữa các nhóm văn hóa như thế nào?
+ Những hiện tượng văn hóa nào xuất hiện khi các nhóm khác nhau tiếp xúc, chẳng hạn như thông
qua di cư và toàn cầu hóa?
+ Các hệ thống quan hệ họ hàng và gia đình khác nhau như thế nào giữa các nền văn hóa khác nhau?
+ Làm thế nào để các nhóm khác nhau phân biệt giữa các thực hành cấm kỵ và các chuẩn mực chính thống?
+ Các nền văn hóa khác nhau sử dụng nghi lễ như thế nào để đánh dấu quá trình chuyển đổi và các giai đoạn cuộc sống? ⇨
Nhân học tôn giáo -
Khái niệm : Là ngành nhân học nghiên cứu tôn giáo dưới chiều kích của thời gian và cả
không gian, đặc biệt nghiên cứu tôn giáo, phân tích sắc thái tôn giáo đặc trưng của từng tộc người,
từng dân tộc, từng cộng đồng cư dân chứ không phải tôn giáo nói chung. -
Các lĩnh vực nghiên cứu : Nghiên cứu vấn đề tôn giáo, một bộ phận đặc thù của văn hóa
tinh thần- cần được đặt trong mối tương quan với các vấn đề văn hóa nói chung-là đối tượng của
nhân học tôn giáo, đồng thời cũng cần thấy được tính riêng biệt của nó trong từng khu vực, từng
dân tộc, từng tộc người. Nói cách khác, nhân học tôn giáo nghiên cứu bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã
hội, nơi mà thời điểm tôn giáo xuất hiện trong những cộng đồng tộc người cụ thể, nghiên cứu vì sao
cộng đồng cư dân này chấp nhận tôn giáo ấy trong khi các cộng đồng cư dân khác không chấp
nhận... Điều quan trọng là quan điểm của các nhà khoa học, các nhà nhân học nói chung đã xếp tôn
giáo trong nội dung văn hóa, bởi vì theo họ, tôn giáo là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội và
văn hóa, gắn liền văn hóa với lối sống, là tôn giáo của từng dân tộc, từng khu vực. ⇨
Nhân học ứng dụng - Khái niệm:
+ Nhân học ứng dụng là một chuyên ngành của nhân học mới được phát triển trong những năm gần
đây. Các nhà nhân học sử dụng thông tin và và kiến thức của các ngành nhân học khác để giải quyết
những vấn đề thực tế, thường là phục vụ cho các cơ quan ngoài học thuật. Nhân học ứng dụng bao
gồm cả nghiên cứu ứng dụng và can thiệp.
+ Vai trò của nhà nhân học được thể hiện là người biện hộ cho những nhóm xã hội và các dân tộc bị
thiệt thòi; là người xúc tiến, thúc đẩy các chính sách liên quan đến con người; là người cung cấp
thông tin cho những nhà hoạch định chính sách về con người; là người phân tích tư liệu về con
người và là người trung gian giữa chính sách và người nhận chính sách.
Ví dụ: Nhà nghiên cứu nhân học thể chất sử dụng kết quả nghiên cứu của mình về y học để phục vụ
sức khỏe cộng đồng...Nhà nhân học ngôn ngữ có thể sử dụng kết quả nghiên cứu vào trong các
chương trình đào tạo giáo dục; nhà nhân học văn hóa nghiên cứu tri thức địa phương trong canh tác lOMoAR cPSD| 61457685
nông nghiệp, trong bảo vệ môi trường, luật tục và các thiết chế xã hội truyền thống để phục vụ cho
công cuộc phát triển nông thôn vừa duy trì văn hóa truyền thống đồng thời cũng kế thừa những tri
thức này cho việc phát triển cộng đồng. Các lĩnh vực mang tính ứng dụng rộng rãi là: nhân học đô
thị, nhân học y tế, nhân học du lịch.
- Các lĩnh vực nghiên cứu: Sơ đồ trình bày mối quan hệ giữa các lĩnh vực nghiên cứu của ngành
nhân học cả về quá khứ và hiện tại Quá khứ xa xưa
Quá khứ gần và hiện tại Hình thể Cổ nhân học Sự đa dạng của con người
Văn hóa Nhân học ngôn ngữ Ngôn ngữ lịch sử Ngôn ngữ cấu trúc hay miêu tả Khảo cổ học Lịch sử văn hóa Nhân học VH- XH
Sư đa dạng văn hóa ( Dân tộc học)
Câu 4: Khái niệm cú sốc văn hóa là gì? Mối quan hệ giữa khách thể và
chủ thể, ( nêu khái niệm khách thể, chủ thể, quy trình diền dã dân tộc
học, cho vị dụ, cú sốc văn hóa
Cú sốc văn hóa:
- Điền dã dân tộc học là quá trình nghiên cứu của nhà nhân học về đối tượng tìm hiểu của mình về
một chủ đề nhất định, cũng là dịp mà người nghiên cứu học hỏi về những điều mình chưa biết
được về một nền văn hóa khác. Điền dã dân tộc học cũng là cuộc hành trình gặp gỡ giữa các truyền
thống văn hóa, văn hóa của người nghiên cứu và văn hóa của cộng đồng được nghiên cứu. Sự khác
biệt về ngôn ngữ và phong tục tập quán dễ dẫn đến những cú sốc văn hóa mà đôi khi nhà nhân học
chauw thể tiên liệu được. Các nhà nhân học dùng từ cứ sốc văn hóa để chỉ cảm giác bất ngờ, khó
chịu thường xảy ra khi ta tiếp xúc với nền văn hóa xa lạ. Cú sốc văn hóa là một cảm giác khó chịu
vì nó đăht thành nghi vấn những hiểu biết đã có của chúng ta về cách vận hành của thế giới, nhưng
nó tạo ra một khung cảnh mới cho sự học hỏi và khám phá. Nghiên cứu điền dã đã đưa con người
từ nhiều truyền thống văn hóa khác nhau lại với nhau một cách có chủ ý. Từ những cuộc va chạm
này, nghiên cứu điền dã mang lại phần lớn những kiến thức mà các nhà nhân học có được về những
xã hội khác nhau và các nền văn hóa khác.
- Ví dụ: Có thể lấy ví dụ trong nghiên cứu điền dã ở Tây Nguyên. Cư dân bản địa TN có phong tục
uống rượu cần như một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, theo truyền thống, đồng bào các dân tộc ở
TN rất kính trọng người già và khách quý. Vì vậy khi uống rượu cần người ta thường mời già làng
và khách uống trước để tỏ lòng kính trọng. Nếu họ mời chúng ta – một nhà nhân học đang nghiên
cứu tham dự tại cộng đồng mà chúng ta lại từ chối với sự khiêm tốn và nhường nhịn theo ứng xử
văn hóa của người Việt thì sẽ làm mất lòng họ, khi chúng ta khước từ lòng tốt của họ. Và như thế
trường hợp này sẽ gây tổn thương sự giao hảo giữa chủ và khách.
•Khách thể và chủ thể: - Khái niệm: lOMoAR cPSD| 61457685
+ chủ thể: là quan điểm của người bên trong (người bản địa) đưa ra thế giới quan và quan niệm của
họ về những đặc trưng riêng về thế giới của họ.
+ khách thể: là quan điểm của người bên ngoài (người nghiên cứu) khi quan sát cung cách ứng xử
của cá thể hoặc nhóm người trong cuộc phát biểu.
- Mối quan hệ: là mối quan hệ giữa người bên trong (người cung cấp thông tin – thành viên cộng
đồng) và người bên ngoài (nhà nghiên cứu).
- Quy trình điền dã dân tộc học: trong thực tế nghiên cứu điền dã dân tộc học thường diễn ra tình
trạng, nhà nhân học quan sát văn hóa đối tượng từ quan điểm etic (con mắt của người ngoài cuộc)
tiếp đến trải nghiệm văn hóa từ đối tượng bằng quan điểm emic (con mắt của người trong cuộc)
sau đó trở lại quan điểm etic để ghi chép.
- Ví dụ: trường hợp Barbara Ward một nhà nhân học làm việc trong làng chài Trung Hoa ở Hồng
Công, bà thấy rằng, cần phải xây dựng một laoij hình của cái gọi là “mẫu hình hữu thức” để hiểu
những người mà bà nghiên cứu. Thường thường khi bà hỏi người dân trong làng tại sao họ lại
theo phong tục riêng, thì họ trả lời “bởi vì chúng tôi là người Trung Hoa”. Bà ấy nói đây là mẫu
hình hệ thống xã hội hữu thức của họ àm họ đã mang trong tâm trí nhằm giải thích và minh định
cung cách ứng xử của họ như thể là người Trung Hoa. Nhưng khi khảo sát ngườ dân ở nhiều nơi
trên TQ thì lại có rất nhiều ý kiến khác nhau về người Trung Hoa. Mỗi nhóm có những mình hình
hữu thúc trực tiếp khác nhau không giống với mẫu hình có phần lí tưởng hóa do giới trí thức
truyền thống đề xướng. Theo War, người duy nhất có thể quan sátđược những sự khác biệt giữa
các mẫu hình thức trực tiếp là những ngươi bên ngoài (hoặc những nhà khoa học xã hội) và một
mẫu hình Trung Hoa chỉ có thể cây dựng từ một quan điểm khách thể.
Câu 5: Thế nào là phương pháp quan sát tham dự ?
- Khái niệm : Là dạng quan sát mà ở đó người đi quan sát trực tiếp tham gia vào các hoạt động của
những người được quan sát. - Ưu điểm
+ Cho kết quả cao hơn so với quan sát không tham dự do sự tham gia của điều tra viên vào hoạt
động của người được quan sát nên đã khắc phục được những hạn chế do quá trình tri giác thụ động
gây ra và đưa tính hiệu quả, độ sâu sắc và sức mạnh của quan sát đến đặc tính logic của nó. + Sự
tham dự đó cho phép người quan sát đi sâu vào thế giới nội tâm của người được quan sát, để hiểu
sâu hơn đầy đủ hơn những nguyên nhân, động cơ của những hành động được quan sát. + Quan sát
tham dự còn cung cấp cho ta những thông tin, mà khi sử dụng những phương pháp khác khó có thể
thu nhận được. Đó là những thông tin liên quan đến hoạt động của nhóm. - Nhược điểm
+ Không phải lúc nào nhà nghiên cứu cũng có khả năng tham dự vào hoạt động được quan sát. Để
tham dự được vào các hoạt động của người được quan sát, điều tra viên phải nắm bắt được ở một
mức độ nào đó những nghề nghiệp phù hợp hay am hiểu những hành động của người được quan sát.
+ Sự tham gia yêu cầu một thời gian dài quan sát hơn để điều tra viên thích ứng hơn với môi trường
mới. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, thời gian để thích ứng làm quen với môi trường mới của điều tra viên
cũng kéo dài hàng tuần, hàng tháng, tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào tính cách của người đi
quan sát cùng với đặc trưng về giới tính tuổi tác của anh ta.
Ngoài ra cũng còn phụ thuộc vào bầu không khí tâm lý, đạo đức. lOMoAR cPSD| 61457685
+ Đôi khi sự tham dự quá tích cực, lâu dài của người quan sát vào đời sống của nhóm người được
quan sát sẽ dẫn đến kết quả là người quan sát quen với thái độ, hành động của các thành viên trong
nhóm đến mức coi tất cả những cái đó như là hiển nhiên và không để ý đến chúng nữa.
+ Sự tham dự quá tích cực, lâu dài trong hoạt động, tiếp xúc hàng ngày, người đi quan sát không giữ
được thái độ trung lập, bày tỏ công khai thái lOMoAR cPSD| 61457685
độ của mình, sự ưa thích của mình hoặc đứng về phía ai đó hay phê phán một ý kiến, hành vi
nào đóđều là sự nguy hại đến kết quả quan sát.
Câu 6: Trình bày và phân tích mối quan hệ giữa nhân học với các
ngành khoa học xã hội .
Nhân học khác với các ngành khoa học là nó có hướng tích hợp các thành tựu nghiên cứu của
các ngành khoa học để nghiên cứu con người trong tính toàn diện của nó với một phạm vi
rộng lớn hơn cả về mặt lịch sử và địa lí. Vì vậy, việc xác định đối tượng của nhân học giúp cho
chúng ta xác định rõ vị trí của nhân học trong hệ thống các khoa học và mối quan hệ giữa chúng
với các ngành khoa học khác cả về mặt đối tượng, nhiệm vụ, cả lí thuyết và phương pháp nghiên cứu
a. Nhân học và triết học : Suy luận
- Triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Mối quan hệ giữa 1 ngành cụ thể với thế giới quan khoa học
- Vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở lý luận để nghiên cứu con người
- Nhân học thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể để giải đáp những
vấn đề thực tiễn sinh động đến con người .
b. Nhân học và sử học : Hệ thống -
Nhân học có mối quan hệ chặt chẽ với sử học bởi nhân học nghiên cứu con người về các
phương diện sinh học, văn hóa, xã hội thường tiếp cận từ góc độ lịch sử (theo lịch đại) - Những
vấn đề nghiên cứu của nhân học ko thể tách rời bối cảnh lịch sử cụ thể cả về không gian và
thời gian lịch sử. Thiếu tri thức lịch sử, nhà nhân học ko thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả.
Ngược lại, các nhà sử học sử dụng tài liệu của nhân học để soi sáng những vấn đề lịch sử và văn hóa. -
Mối quan hệ nhân học và sử học là ở chỗ nhân học thường sử dụng phương pháp nghiên
cứu của sử học. VD: phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại. -
Sự khác nhau giữa nhân học và sử học là ở chỗ nhân học sử dụng tư liệu từ nghiên cứu
tham dự sâu tại cộng đồng còn sử học chủ yếu sử dụng tư liệu viết bằng văn bản để tái tạo lại
những sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ.
c. Nhân học và xã hội học : Điều tra xã hội -
Các nhà nhân học thường vận dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp để thu thập
miêu tả, so sánh phân tích bối cảnh, tình huống và đặc điểm chung của xã hội với tư cách là
một chỉnh thể trọn vẹn. -
Các nhà xã hội học nghiên cứu các sự kiện, bằng chứng xảy ra trong bối cảnh xã hội đã
cho, tức là trong chỉnh thể xã hội hiện có. -
Về phương pháp nghiên cứu, các nhà nhân học hướng tới việc sử dụng phương pháp
nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng, sưu tập những dữ liệu định tính và tiến hành so sánh
đối chiếu xuyên văn hóa -
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu, nhân học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
của xã hội học và phương pháp khác . Ngược lại các nhà xã hội học sử dụng khá quen thuộc lOMoAR cPSD| 61457685
những phương pháp nghiên cứu của nhân học như phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu.
d. Nhân học với địa lý học : Liên hệ môi trường -
Nhân học và địa lý học có mối quan hệ gắn bó với nhau hình thành lĩnh vực nghiên cứu
nhân học sinh thái( bao gồm sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn )nhằm giải quyết mối quan
hệ tương tác giữa con người với môi trường xã hội và nhân văn. -
Nhân học sinh thái liên quan với địa lý kinh tế trong việc phân vùng lãnh thổ mà các tộc
người sinh sống, địa- văn hóa để có cái nhìn tổng thể trong mối quan hệ đa chiều : tự nhiêncon
người - kinh tế- văn hóa và hành vi ứng xử.
e. Nhân học và kinh tế học : Cơ sở tồn tại hình thành nên nhân học kinh tế -
Nhân học kinh tế vận dụng một số quan niệm, phạm trù lý thuyết của kinh tế học và công tác
nghiên cứu của mình; ví dụ lý thuyết về vốn con người , vốn xã hội, vốn tự nhiên, thị trường v.v…
- Nhân học không đi nghiên cứu các quy luật của kinh tế học mà tập trung tiếp cận trên bình
diện văn hóa- xã hội của quá trình hoạt động kinh tế như cách thức chế tạo công cụ, hình thức
tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng mang yếu tố văn hóa tộc người, địa phương,
nghề nghiệp phản ánh truyền thống văn hóa tộc người.
f. Nhân học và tâm lý học : Phức hợp xuất hiện lĩnh vực nghiên cứu nhân học tâm
lý hay tâm lý tộc người -
Trong tâm lý học, sự quan tâm chủ yếu dành cho việc phân tích những nét tâm lý của cá
nhân trong những kinh nghiệm nghiên cứu xuyên văn hóa; còn nhân học tập trung nghiên cứu
tính cách dân tộc, ý nghĩa của tính tộc người với tư cách là tâm lý học cộng đồng tộc người lại có ý nghĩa to lớn. -
Mối quan hệ giữa nhân học và tâm lý thể hiện xu hướng tâm lý trong nghiên cứu văn hóa
và các lý thuyết văn hóa theo xu hướng nhân học tâm lý trong những thập niên gần đây.
g. Nhân học và luật học : Luật, tục, định chế hình thành lĩnh vực nghiên cứu nhân học luật pháp -
Khác với luật học nghiên cứu các chuẩn mực và quy tắc hành động do cơ quan thẩm
quyền chính thức của nhà nước đề ra, nhân học luật pháp nghiên cứu những nhân tố văn hóa-
xã hội tác động đến luật pháp trong các nền văn hóa và các tộc người khác nhau. -
Nhân học luật pháp nghiên cứu đến luật tục là hiện tượng phổ quát của nhân loại trong
thời kì phát triển tiền công nghệ -
Mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp để từ đó vận dụng luật tục và luật pháp trong quản
lý xã hội và phát triển cộng đồng
h. Nhân học và tôn giáo học : Văn hóa tâm linh hình thành lĩnh vực nhân học tôn giáo -
Tôn giáo đc coi như là một thành tố văn hóa tộc người, dĩ nhiên nhân học ko thể ko nghiên cứu tôn giáo -
Cộng đồng tộc người và cộng đồng tôn giáo là 2 dạng thức khác nhau của cộng đồng
người và có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình phát triển lOMoAR cPSD| 61457685
Câu 7: Chủng tộc là gì? Nêu đặc điểm của 4 chủng tộc : Úc, Phi,
Âu, Á. Nguyên nhân hình thành chủng tộc, thuyết phân biệt chủng tộc.
• Chủng tộc là quần thể (hoặc tập hợp các quần thể) đặc trưng bởi những đặc điểm di truyền
về hình thái, sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình thành của chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định. -
Nhận thức chủng tộc trên cơ sở quần thể (chứ ko phải cá thể ) là một bước tiến quan trọng
trong lý thuyết nhân chủng và sinh học. -
Các chủng tộc rất phong phú, các dạng trung gian do hỗn chủng sinh ra ngày càng nhiều
-> làm thay đổi và xóa nhòa ranh giới giữa các chủng tộc. -
Như vậy khái niệm “Chủng tộc” là một khái niệm khoa học phản ánh sự tồn tại khách
quan của một thực tại sinh học hoàn toàn xác định. Nhận thức chủng tộc trên cơ sở quần thể
(chứ không phải cá thể) là một bước tiến quan trọng trong lí thuyết nhân chủng và sinh học.
Các chủng tộc loài người rất phong phú, những dạng trung gian do hỗn chủng sinh ra ngày
càng nhiều tiến tới làm thay đổi và xóa nhòa ranh giới giữa các chủng tộc đã được hình thành.
• Đặc điểm nhân chủng các đại chủng : Căn cứ vào hình thái bên ngoài của cơ thể (màu da,
mái tóc, mắt, mũi...), các nhà khoa học đã chia dân cư thành ba chủng tộc chính: Môn-gô-lô-it
(thường gọi là người da vàng), Nê-grô-it (người da đen) và Ơ-rô-pê-ô-it (người da trắng). -
Đặc điểm nhân chủng của đại chủng Ôtxtralôit hay thổ dân da đen châu Úc
Da rất sẫm màu (đen hoặc nâu đen), mắt đen; tóc đen uốn làn sóng; lông trên người rậm
rạp, đặc biệt là râu phát triển mạnh; mặt ngắn và hẹp; mũi rộng, lỗ mũi to, sống mũi gầy; môi
dày, môi trên vẩu; đầu thuộc loại đầu dài hay rất dài; chiều cao trung bình khoảng 150cm. -
Đặc điểm nhân chủng của đại chủng Nêgrôit hay người da đen châu Phi
Gọi là Nêgrôit vì màu da của đại chủng này đen sẫm. Đặc điểm hình thái điển hình của đại
chủng Nêgrôit là: da đen, tóc xoăn tít, lông trên thân rất ít, trán đứng, gờ trên ổ mắt ít phát
triển,cánh mũi rất rộng làm cho mũi bè ngang, sống mũi không gãy, môi rất dày nhưng hẹp. Ở
một số loại hình mông rất phát triển. Về đặc điểm huyêt học thì các nhóm máu A1, A2 và R có tần số cao. -
Đặc điểm nhân chủng của đại chủng Ơrôpôit hay người da trắng châu Âu
Gọi là đại chủng Ơrôpôit vì đại chủng này sống tập trung ở châu Âu. Từ Ơrôpôit có nguồn
gốc từ tiếng La tinh nghĩa là châu Âu. Đặc điểm hình thái chủ yếu là: da thay đổi từ màu sáng
trắng tới nâu tối; lông trên thân rất phát triển đặc biệt là râu; tóc thường uốn sóng; mặt thường
dô ra phía trước đặc biệt là phần mặt giữa; mặt hẹp và dài không vẩu; màu mắt thường xanh,
xám hay nâu nhạt, không có nếp mi góc, mũi cao và hẹp; môi mỏng, cằm dài và vểnh, đầu
thường là tròn; đặc biệt có núm Carabeli ở răng hàm trên. Nhóm máu giống người Phi. -
Đặc điểm nhân chủng của dại chủng Môngôlôit hay người da vàng châu Á
Đại chủng Môngôlôit về nhiều đặc điểm thường có vị trí trung gian giữa Ơrôpôit và
Ôtxtralôit . Đặc điểm chung là da sáng màu có ánh vàng hoặc ngăm đen; mắt và tóc đen, hình
tóc thẳng và cứng; lông trên thân ít phát triển; mặt bẹt vì hai xương gò má rất phát triển; mũi
rộng trung bình, sống mũi không dô, gốc mũi thấp; môi dày trung bình, hàm trên hơi vẩu; nếp
mi mông cổ tỷ lệ cao; đặc biệt có răng cửa hình xẻng là một đặc trưng của đại chủng này. lOMoAR cPSD| 61457685
Thường có nhóm máu Diêgô mà không có ở các đại chủng khác. Không có nhóm A2 và rất ít nhóm R.
Nguyên nhân hình thành chủng tộc: -
Sự thích nghi với điều kiện môi trường địa lí, hoàn cảnh tự nhiên
+ Tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong qua trình hình thành đặc điểm chủng tộc. Nhiều đặc
điểm chủng tộc là kết quả sự chọn lọc tự nhiên và sự thích nghi với môi trường, vì lúc bấy giờ
sức sản xuất thấp và những thiết kế của con người chưa được hoàn chỉnh, chưa đủ sức chống
chọi lại những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên.
+ Màu da là một ví dụ rõ ràng vè sự thích ứng tự nhiên. Màu da người đâm nhạt là do lượng
sắc tố mêlanin trong da quyết định. Săc tố meelanin có khả năng hấp thụ tia tử ngoại mặt trời,do
đó có tác dụng bảo vệ các kết cấu quan trọng của da. Người da đen sống ở vùng xích đạo Châu
Phi và Tây Thái Binh Dương quanh năm ánh sáng chói chang tất nhiên phải có nhiều mêlanin
trong da và da phải đen. Tóc người da đen thường xoăn, là một hình thức thích ứng để chấp
nhận với môi trường đó.
+ Người Mongôlôit (Mông Cổ) khe mắt nhỏ thường là mắt một mí hay mí góc che hạch nước
mắt. Những đặc điểm đó có liên quan với điều kiện sống trong vùng nhiều gió cát ở Trung Á
và Xibia. Cũng cần nói thêm rằng, hoàn cảnh tự nhiên chỉ có tác dụng đối với quá trình hình
thành chủng tộc, khi kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phát triển thì sự thích ứngtự nhiên
không còn là nguyên nhân xuất hiện chủng tộc nữa. -
Sự trao đổi hôn nhân, sự lai giống giữa các nhóm người
+ Là nguyên nhân quan trọng và là yếu tố để hình thành, hợp nhất các chủng tộc. Thời kỳ đầu,
những đặc điểm chủng tộc được hình thành do sự thích nghi với môi trường địa lý, nhưng về
sau khi các điều kiện kinh tes xã hội phát triển thì các yếu tố có tính chất xã hội ngày càng
được tăng cường, sự lai giống ngày một đẩy mạnh, đóng vai trò quan trọng để hìnhthành các
loại hình nhân chủng mới. -
Sự sống biệt lập với nhóm người
+ Do dân số ít, mỗi quần thể ban đầu chỉ vài trăm người ở môi trường khác nhau đã tạo nên sự
khác biệt về một số đặc điểm cấu tạo bên ngoài cơ thể. Theo các nhà dân tộc học, do sựu sống
biệt lập, họ tiến hành nội hôn trong nhóm, điều đó đóng vai trò to lớn trong việc hình thành
chủng tộc. Di truyền học cho biết nếu lấy nhau trong nội bộ thì khoảng 50 thế hệ, mỗi thế hệ
khoảng 25 năm thì 1250 năm mới có thể làm biến đổi một số đặc điểm của chủng tộc ban đầu.
• Thuyết phân biệt chủng tộc -
Thuyết phân biệt chủng tộc đã phân chia loài người thành những chủng tộc thượng đẳng
có khả năng phát triển trí tuệ về mọi mặt, là người xây dựng nền văn minh nhân loại, đối lập
với những chủng tộc hạ đẳng bị xem là người hèn kém dốt nát, cần phải có sự khai hóa của
chủng tộc thượng đẳng, khi cần thiết để bảo vệ họ, để bảo vệ nền văn minh có thể hi sinh chủng
tộc hạ đẳng. Những người theo thuyết phân biệt chủng tộc lợi dụng những đặc điểm khác nhau
của đặc trưng nhân học giữa các chủng tộc, phóng đại nó lên để biến thành những khác biệt có
ý nghĩa bản chất và bất biến. -
Thuyết phân biệt chủng tộc đầu tiên với lập luận sai lầm của nhưng mang dáng vẻ khoa
học do giáo sư y học người Đức J.F. Blumenbach đưa ra. Quan điểm này một lần nữa được tán lOMoAR cPSD| 61457685
đồng bỏi nhà nhân chủng học Pháp G. Buffon, đưa thêm vào các chuẩn sinh học và các đặc
điểm cơ thể lẫn đặc điểm tâm lý. -
Thế kỷ 19, những đặc điểm chủng tộc được coi là cội nguồn của số phận con người.
Những năm 70 cảu thế kỷ 20, không ít người đã tin rằng, tội phạm là một hiện tượng sinh học.
Thuyết phân biệt chủng tộc đã gây không biết bao tai hại ở các nước tư bản phương Tây, gieo
rắc không biết bao tai họa cho loài người. -
Những tai hại và đau thương của thuyết phân biệt chủng tộc phải kể đến những nạn nhân
của nước Mỹ ngay sau khi mới thành lập những nhà tư bản Mỹ, Đức Quốc Xã dưới quyền
thống trị của Hitler, chủ nghĩa Apacthai,..
Câu 8: Trình bày khái niệm tộc người, dân tộc, dân tộc thiểu số
•KHÁI NIỆM TỘC NGƯỜI (ETHNICITY) -
Theo Từ điển nhân học( Thomas Barfield 1998): Nhóm tộc người, tộc người là những
thuậtngữ được dùng lần đầu tiên trong nhân học dùng để chỉ một dân tộc được xem là thuộc
veef cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc biệt, cùng một ngôn ngữ một nền
vănhóa và ngôn ngữ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không thay đổi. Thuật ngữ này
bắ đầu được sử dụng từ sau Chiến tranh thế giới II nhằm thay thế những từu cổ hơn như “bộ
lạc” và “chủng tộc” theo cách dùng của người Anh. -
Ở Pháp, tộc người (ethnos) là một nhóm cá nhân liên kết với nhau bởi một phức hợp các
tính chất chung- về mặt nhân chủng, chính trị - lịch sử..v..v mà sự kết hợp các tính chất đó làm
thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa chủ yếu: một nền văn hóa.
Như thế tộc người được xem là một tập thể hay đúng hơn là một cộng đồng gắn bó với nhau
bởi nền văn hóa riêng biệt. -
Các nhà nhân tộc học ở Việt Nam: “tộc người là một tập đoàn người ổn định hoặc tương
đốiổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh
hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thể hiện bằng một tộc danh chung.
•Dân tộc: Dân tộc là vương quốc theo nghĩa rộng, gồm hội đồng người dân cùng nhau sinh
sống trên một chủ quyền lãnh thổ to lớn, được quản lý và vận hành bởi sự quản trị của cỗ máy
nhà nước, trong một dân tộc thì hoàn toàn có thể gồm nhiều tộc người, mỗi tộc người lại có
những nét văn hóa truyền thống và ngôn từ khác nhau tạo ra nét nhiều mẫu mã, độc lạ . Ngoài
ra dân tộc còn được hiểu là những nhóm người cùng sinh sống với nhau trên một khu vực địa
lý nhất định trong chủ quyền lãnh thổ, mang những đặc thù riêng không liên quan gì đến nhau
như về ngôn từ, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán …
•Dân tộc thiểu số: Từ điển Bách khoa (Trung tâm biên soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam
1995) đưa ra định nghĩa: Dân tộc thiểu số là dân tộc có dân cư ít, cư trú trong một quốc gia
thống nhất đa dân tộc, trong đó có một dân tộc chiếm dân số động. Trong quốc gia có nhiều
thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về tổ quốc mình sinh sống và lOMoAR cPSD| 61457685
ý thức dân tộc mình sinh sống và ý thức về dân tộc mình. Các dân tộc thiểu số có thể cư trú tập
trung hoặc rải rác, xen kẽ nhau, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện
phát triển kinh tế-xã hội còn khó khăn, vì vậy Nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách
bình đẳng dân tộc nhằm xóa bỏ những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế- xã hội giữa các
dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số.
Câu 9: Các tiêu chí của tộc người *
Khái niệm tộc người: tộc người là một tập đoàn người ổn định hoặc tương đối
ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ,
sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác tộc người thể hiện bằng một danh từ chung. *
Các tiêu chí tộc người gồm: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người. * Ngôn ngữ
- Là dấu hiệu cơ bản xem xét sự tồn tại một dân tộc và để phân biệt các dân tôc khác nhau.
- Vai trò của ngôn ngữ đối với tộc người: + Hệ thống giao tiếp
+ Cố kết nội bộ tộc người
+ Tiếng mẹ đẻ lưu truyền các giá trị văn hóa
+ Bảo vệ ngôn ngữ là bảo vệ sự tồn tại dân tộc, tộc người.
- Một tiêu chuẩn cơ bản để xác định tộc người
- Không phải là quan trọng nhất : một tộc người có thể có nhiều ngôn ngữ (đa ngữ, song ngữ) * Văn hóa
- Văn hóa được coi là một tiêu chí quan trọng để xác định tộc người. Trong nghiên cứu văn
hóa cần phân biệt văn hóa của tộc người và văn hóa tộc người.
+ Văn hóa của tộc người: là tổng thể những thành tựu văn hóa thuộc về một tộc người nào đó,
do tộc người đó sáng tạo ra hay tiếp thu vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch sử.
+ Văn hóa tộc người: là tổng thể các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể giúp phân biệt tộc
người này với tộc người khác. Văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức
tự giác tộc người. Văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và
đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người này với tộc người khác.
* Ý thức tự giác tộc người -
Ý thức tự giác tộc người là ý thức tự coi mình thuộc về một dân tộc nhất định được thể
hiệntrong hàng loạt yếu tố:
+ Sử dụng một tên gọi tộc người chung thống nhất (tộc danh)
+ Có ý niệm chung về nguồn gốc lịch sử, huyền thoại về tổ tiên và vận mệnh lịch sử của tộc người lOMoAR cPSD| 61457685
+ Ý thức tộc người được thể hiện qua việc cùng tuân theo phong tục tập quán, lối sống của tộc người
+ Cộng đồng các giá trị và biểu tượng văn hóa dân tộc
Câu 10: Trình bày khái niệm quá trình tộc người, những quá trình tộc
người: quá trình phân ly và hợp nhất; trình bày quá trình hợp nhất,
chỉ ra 3 loại hình hợp nhất tộc người ( cố kết, đồng hóa, hòa hợp tộc người)
•Quá trình tộc người: -
Cộng đồng tộc người là một hệ thống động và sự thay đổi của chúng tạo nên thực chất
của lịch sử tộc người của nhan loại. Để phát hiện những nét đặc trưng của nó, việc xem xét có
sự thay đổi của dộng đôồng tộc người hay nói cách khác là quá trình tộc người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. -
Khái niệm: sự thay đổi bất kỳ của một thành tố tộc người này hay tộc người khác được
diễn ra trong quá trình và có thể coi như quá trình tộc người. Bên cạnh việc hiểu theo nghĩa
rộng, theo quan điểm của chúng ta, qua trình tộc người như là hiện tượng trong sự thay đổi cả
ý thức tộc người. Với ý nghĩa thực tiễn, quá trình tộc người ghi nhận chủ yếu như sự thay đổi
những thuộc tính tộc người, trường hợp thứ nhất phản ánh sự thay đổi mang tính tiến hóa tộc
người, trường hợp thứ 2 là quá trình quá độ chuyển sang trạng thái tộc người hoàn toàn mới.
•Những quá trình tộc người: như dã chỉ ra, việc nghiên cứu lịch sử các toojc người trên thế
giới có hai kiểu loại hình cơ bản của quá trình tộc người là quá trình phân ly tộc người và quá
trình hợp nhất tộc người.
a. Quá trình phân ly tộc người: quá trình phân ly tộc người (tộc người cùng nguồn gốc) lại
được chia ra làm hai loại hình cơ bản: quá trình chia nhỏ và quá trình chia tách. -
Thuộc loại hình thứ nhất, một tộc người thống nhất được chia ra làm nhiều bộ phận khác
nhau, những bộ phận này trở thành những tộc người mới trong quá trình phân li. -
Trường hợp thứ hai là từ một bộ phận nhỏ tộc người gốc nào đó được chia tách ra dần
dần trở thành một tộc người độc lập. Nếu như trong trường hợp thứ nhất, tộc người xuất phát
ngừng sự tồn tại của mình thì trong trường hợp thứ hai tộc người gốc vẫn tiếp tục được giữ lại.
Loại hình chia tách tộc người được chia ra làm hai tiểu loại hình phụ thuộc vào những nhân tố
tạo nên sự phân ly tộc người, một bộ phận ngỏ tách khỏi tộc người gốc do quá trình di cư đến
một vùng đất mới gọi là quá trình chia tách tộc người di cư. Nếu như nhân tố ảnh cơ bản của
quá trình chia tách tộc người là sự phân chia số đông tộc người giữa các quốc gia thì gọi là sự
phân ly tộc người chính trị. -
Quá trình phân ly tộc người là đặc điểm vốn có của xã hội nguyên thủy. Dạng cơ bản của
quá trình phân ly này là sự phân chia cảu các bộ lạc do sự đông lên của các thành viên và sự
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên thường diễn ra dưới hình thức chia tách tộc người, chính quá
trình phân ly này là cơ sở của sự phân cưu cảu con người đến vùng khác nhau trên trái đất từ
khu vực hình thành người Hôm sapinens. Trong các xã hội có giai cấp, quá trình phân chia tộc
người gắn liền với sự di cư số đông là cơ sở cho sự xuất hiện của các tộc người khác nhau. Với
sự xuất hiện của các quốc gia, biên giới chính trị đóng vai trò là nhân tố phân ly tộc người. (ví lOMoAR cPSD| 61457685
dụ: trong quá trình phân chia tộc người của người Nga cổ đã hình thành ba tộc người là Nga.
Ucraina, Bêlơrútxia. Cộng đồng người Việt:Việt, Mường, Chứt. Quá trình chai
tách khá phổ biến ở Việt Nam và Đông Nam Á. Từ cộng đồng Thái ở Vân Nam , Quý Châu
TQ, các bộ phận họ trong quá trinh diw cư đến
Lào, Thái Lan, Việt Nam hình thành các tộc người Thái ở TL, Lào ở Lào, Thái ở Việt Nam.
Việt Nam đã tách ra hình thành nhwunxg nhóm địa phương những vẫn coi mình Cũng có những
tộc người do quá trình di cư đến thuộc về
tộc goocd. Đó là trường hợp các nhóm địa phương của người Nùng, Dao, H’mông. Ở người do sự phân chia ranh
Chăm quá trình phân ly tộc người do sự khác biệt về tôn giáo của các nhóm dân cư: nhóm
Chăm theo Hồi giáo ở HCM, nhóm Chăm theo Bà La Môn ở Ninh Thuận Bình Thuận. Người
Stiêng ở Bình Phước Việt Nam bị tách khỏi khối người Stieng ở bên kia biên giới Campuchia
giới chính trị giữa hai nước.) -
Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sự phân chia một bộ phân từ một tộc người gốc đến sự
hình thành các tộc người khác do quá trình di cư đến các vùng đất thuộc người Anh – Úc, người Anh ở Mỹ... -
Hiện nay trên thế giới do sự phát triển của chủ nghãi dân tộc, sự khác biệt tôn giáo vẫn
thấy tình trạng có những dân tộc tuy cùng chung một nguồn gốc lịch sử nhưng muốn tách ra
để hình thành các quốc gia và dân tộc riêng biệt. b.
Quá trình hợp nhất tộc người:
Xu hướng hợp nhất tộc người và đặc trưng chiếm ưu thế cho các thời kì lịch sử khi chế độ công
xã nguyên thủy tan rã cho tới hiện nay. Quá trình này phản ánh xu hướng tiến bộ mang tính
quy luật lịch sử nói chung dẫn tới sự củng cố các tộc người.
Xu hướng hợp nhất tộc người được chia ra làm ba loại hình riêng: quá trình cố kết hay kết hợp
(consolation), quá trình đồng hóa (asimilation) và quá trình hòa hợp (intergration).
•Quá trình cố kết tộc người ( consolation): -
Quá trình cố kết tộc người được chia ra hai loại: cố kết trong nội bộ từng người và cố kết
giữa các tộc người gần gũi về mặt ngôn ngữ và văn hóa để đến hình thành một cộng đồng tộc người lớn hơn. -
Cố kết trong nội bộ tộc người là sự tăng cường kết gắn chặt chẽ một tộc người bằng cách
gạt bỏ dần sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm địa phương, củng cổ ý thức tự
giác tộc người nói chung. -
Cùng với quá trình cố kết tộc trong nội bộ tộc người là quá trình cố kết giữa các tộc người
vốn có chung nguồn gốc từ cộng đồng ngôn ngữ văn hóa trong quá khứ. Sự phát triển của quá
trình cố kết giữa các tộc người trong nhiều trường hợp là sự phủ định biện chứng qua trình
phân ly tộc người trước đây. lOMoAR cPSD| 61457685
•Quá trình đồng hóa tộc người. (asimilation) -
Quá trình đồng hóa tộc là quá trình hòa tan (mất đi) của một dân tộc hoặc một bộ phận
của nó vào môi trường của một dân tộc khác. Nói cách khác, đồng hóa là quá trình mất đi hoàn
toàn hay gần hết thuộc tính của một tộc người (nhóm) xuất phát vào một dân tộc khác. - Khác
với quá trình cố kết, quá trình đồng hóa tộc người thường diễn ra ở các tộc người khác nhau về
nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa. Quá trình đồng hóa thường xảy ra ở các dân tộc nhỏ, hoặc
những nhóm nhỏ của tộc ngời có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn bị đồng hóa bởi
tộc người đông hơn, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn. -
Quá trình thường diễn ra lúc đầu họ tiếp thu một số yếu tố ngôn ngữ văn hóa của dân tộc
khác, sau là đồng hóa văn hóa. Về mặt ngôn ngữ, lúc đầu họ tư duy từ tình trạng song ngữ sau
chuyển sang ngôn ngữ của tộc người khác mà họ chịu ảnh hưởng. Về mặt ý thức tự giác, tên
gọi dân tộc người dần dần mất đi để chuyển sang tên gọi mới của dân tộc chịu ảnh hưởng.
Trong quá trình đồng hóa có đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức: -
Đồng hóa tự nhiên là quá trình giao lưu tiếp xúc thường xuyên của một bộ phận hay của
cả tộc người với tộc người bên cạnh tường là có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn, có
số dân đông hơn. Quá trình giao lưu tiếp xúc lâu dài về mặt ngôn nhữ và văn hóa từ thế hệ này
sang thế hệ khác cũng như những cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa các dân tộc đã đóng vai trò quan
trọng trong quá trình này. Họ có nguyện vọng được trở thành thành viên của dân tộc lớn hơn
mà họ chịu ảnh hưởng. Khái niệm đồng hóa lâu nay được hiểu theo nghĩa xấu thể hiện sự thốn
tính lẫn nhau. Nhưng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lenin không những không phản
đối mà họ còn cho đồng hóa là một sự tiến bộ xã hội của các quan
hệ triển làm một bước cao hơn.
V.I.Lenin chi ra rằng “đồng hóa tự nhiên là khuynh giữa các dân tộc quá độ từ dân tộc này
sang dân tộc kia, phát hướng có tính chất toàn thế giới của chủ
nghĩa tư bản nhằm đập tan mọi coản trở dân tộc, nhằm xóa bỏ mọi sự khác biệt dân tộc, nhằm
đồng hóa dân tộc...”. “Khynh hướng này ngày càng mạnh mẽ và làm thành một động lực vĩ đại
nhất, biến chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội...”. Giai cấp vô sản không những không đấu
tranh giữ lại sự phát triển riêng của mỗi dân tộc, mà còn chào mừng bất cứ sự đồng hóa dân
tộc nào, trừ đồng hóa dựa trên độc quyền và đồng hóa cưỡng bức. - Đồng hóa cưỡng bức là
quá trình đồng hóa mà chính sách của nhà nước đa dân tộc đóng một vai trò vô cùng quan
trọng. Bằng nhwunxg biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khi công khai, khi tinh vi
nhằm thúc đẩy quá trình đồng hóa bằng cách ngăn cản sự duy trì, phát triển ngôn ngữ, chữ viết,
văn hóa, phong tục tập quán của những dân tộc thiểu số. -
Trong quá tình đồng hóa, trước đây người ta còn dùng thuật ngữ diệt chủng để nói về sự
biến mất khỏi vuc đài lịch sử của một dân tộc nào đó, còn sự tiêu diệt văn hóa của một dân tộc
người ta dùng thuật ngữ ethnocisme.
•Quá trình hòa hợp giữa các tộc người: -
Quá trình hòa hợp giữa các tộc người thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về ngôn
ngữ văn hóa, nhưng do kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch sử đã
xuất hiện những yếu tố văn hóa chủng bên cạnh đó vẫn giữ lại những đặc trưng văn hóa của
tộc người. Quá trình này thường diễn ra ở các khu vực lịch sử - văn hóa hay trong phạm vi một lOMoAR cPSD| 61457685
quốc gia đa dân tộc. Đây cũng là biểu hiện trình xích lại và hợp nhất các dân tộc mà các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nêu lên. -
Quá trình hòa hợp tộc người là xu thế lịch sử do sự giao lưu tiếp xúc kinh tế, văn hóa –
xã hội ngày càng đẩy mạnh ở các vùng, các quốc gia và cả khu vực. Đây cũng là sự phủ định
biện chứng quá trình phân ly tộc người để tạo nên tính thống nhất chung. -
Ở VN quá trình hòa hợp giữa các tộc người diễn ra theo hai khuynh hướng: 1 là sự hòa
hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi của một vùng lịch sử - văn hóa; 2 là sự hòa hợp
giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi ca nước. -
Sự hòa hợp giữa các tộc người thường diễn ra trong các vùng lịch sử - văn hóa. Do cùng
chung sống lâu dài trong một không gian địa lý giữa các dân tộc đã diễn ra quá trình giao lưu
tiếp xúc văn hóa dẫn tới hình thành những đặc điểm văn hóa cung của cả vùng bên cạnh những
đặc trưng văn hóa của từng tộc người. Những đặc điểm văn hóa đó thể hiện qua phương thức
mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và ý thức cộng đồng khu vực. Quá trình hòa hợp
giữa các tộc người có thể nhận thấy ở các vùng như: miền núi Việt Bắc và Đông Bắc, miền núi
Tây Bắc và Thanh – NGhệ, Trường Sơn – Tây Nguyên, Nam Bộ,...
* Quá trình tộc người diễn ra ở VN như thế nào?
Diễn ra theo 2 khuynh hướng -
Sự hòa hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi của một vùng lịch sử - văn hóa: Do
cùng chung sống lâu dài trong ột vùng địa lý giữa các dân tộc đã diễn ra quá trình giao lưu tiếp
xúc văn hóa dẫn tới hình thành các đặc điểm văn hóa chung của cả vùng bên cạnh những đặc
trưng văn hóa của từng tộc người. Những đặc điểm văn hóa đó thể hện qua phương thức mưu
sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và ý thức cộng đồng khu vực.
Qúa trình hòa hợp giữa các tộc người có thể nhận thấy ở các vùng như: miền núi Việt Bắc và
Đông Bắc, miền núi Tây Bắc và Thanh - Nghệ, Trường Sơn - Tây Nguyên,... VD: -
Sự hòa hợp tộc người diễn ra trong phạm vi cả nước: Sự tham gia vào quá trình dựng
nước và giữ nước của các dân tộc ở nước ta là cơ sở nền tảng cho sự hòa hợp giữa các dân tộc
tạo nên tính thống nhất của cộng đồng các dân tộc VN.
VD: Lòng yêu nước là cơ sở của ý thức và tư tưởng về Tổ quốc VN, dân tộc VN. Là người VN
ai cũng tự hào về truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước
Câu 11: Tôn giáo là gì, nêu và phân tích những đặc trưng của tôn giáo
. Phân tích chức năng tâm lí và chức năng xã hội của tôn giâos. Lấy vd cụ thể
• Khái niệm : Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý:
- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến
vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế
giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình. lOMoAR cPSD| 61457685
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã
hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà
còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiến, mang tính “Hoàng
kim nguyên thủy” một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm
hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống
trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải
=> Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng,
được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn
đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc
vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng
tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng
đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
• Đặc trưng tôn giáo:
- Tôn giáo được xem như là niềm tin và các hành vi của con người sử dụng để giải quyết những
khó khăn trong cuộc sống - khó khăn ko thể giải quyết bằng kinh tế hay công nghệ công nghệ
hướng tới thế lực siêu nhiên .Ví dụ : thờ cúng các vị thần thông qua các hình thức khác nhau
như cầu nguyện, hát xướng, vũ điệu, hiến tế,… để giải quyết khó khăn
- Có các yếu tố thần thánh : các vị thần thánh, những điều thiêng liêng, tín ngưỡng. Ví dụ : thánh Ala trong Hồi giáo
- Có các hoạt động tôn giáo : có thể bao gồm các nghi lễ, bài giảng, lễ kỉ niệm hay biểu hiện
sự tôn kính, tế tự,lễ hội, dịch vụ tang lễ, dịch vụ hôn nhân, thiền, cầu nguyện, âm nhạc, nghệ
thuật, múa, dịch vụ công cộng, hoặc các khía cạnh khác của văn hóa con người. Ví dụ : Đại lễ Phật Đản
- Có kinh sách thiêng liêng: có thể được bảo tồn trong các sách vở, ghi chép. Tôn giáo có thẻ
chứa những câu chuyện tượng trưng, đôi khi được những người tin theo cho là đúng, có mục
đích phụ là giải thích nguồn gốc của sự sống, vũ trụ và những thứ khác.Ví dụ : kinh Phật
- Có các vật thiêng : thánh tích, thần vật, các biểu tượng. Ví dụ : Thánh Gióng
- Có các cá nhân là người đại diện : đó là những người được coi là am hiểu, thành thạo trong
vai trò là trung gian để tiếp xúc với các lực lượng siêu phàm, giúp đỡ các thành viên khác
thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Ví dụ : các thầy phù thủy
* Chức năng tâm lý
Là chỗ dựa tinh thần của con người, an ủi tinh thần cho con người
Làm giảm sự lo lắng, bất an cho con người, cho họ niềm tin để đối mặt với thực tại.
VD: Đang đau ốm bệnh tật nhưng con người tin rằng Chúa sẽ che chở, giúp họ vượt qua =>
họ bớt lo lắng, bất an.
* Chức năng xã hội
Quan trọng nhất là chức năng liên kết các thành viên trong cộng đồng.
Củng cố các quy tắc, chuẩn mực luân lý đạo đưc trong ứng xử của mỗi các nhân trong cộng
đồng => giúp xã hội cân bằng và ổn định.