














Preview text:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH I. Mở đầu:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, một lãnh tụ cách mạng. Tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh rất sâu sắc, phong phú cả về lý luận và thực tiễn, đã trở thành một
bộ phận vô giá của văn hóa dân tộc và nhân loại, một sức mạnh to lớn làm nên mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Ngày nay chính tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang tiếp tục
soi đường cho Đảng và dân tộc ta. II.
Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
1. Chủ nghĩa yêu nước
Là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Đó là động
lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại qua mọi khó khăn trong quá trình dựng
nước và giữ nước mà phát triển. Chủ nghĩa yêu nước là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát
và động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác
– Lênin con đường cứu nước.
Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã hun đúc lên
truyền thống yêu nước. Coi đó là giá trị truyền thống nổi bật nhất, là dòng chủ lưu trong
nền văn hóa Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn
yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị
xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,
nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì độc
lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Không có gì quý hơn độc lập,
tự do là chân lý lớn của thời đại đã được Hồ Chí Minh khẳng định.
2. Yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung
trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang; tinh thần cần cù,
dũng cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa thương người
Con người là vốn quý giá nhất, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng, dân là
gốc của nước. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh là luôn gắn chặt yêu nước với thương
dân, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân và luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân.
Hồ Chí Minh cho rằng, tinh thần đoàn kết là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của cả
dân tộc, quyết định đến sự tồn vong của đất nước. Người chỉ rõ: “Sử ta dạy cho ta bài học
này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc
nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Hơn nữa, đoàn kết dân tộc gắn liền
với đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải nhiều lần chống sự xâm lược, thống trị của các
nước lớn. Nhưng sau mỗi lần chiến thắng, dân tộc Việt Nam đều nêu cao chủ nghĩa nhân
đạo, giữ quan hệ hòa hiếu, thân thiện với những quốc gia đã từng xâm lược thống trị mình.
3. Niềm tự hào về lịch sử, trân trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập
quán và những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc
Đây là cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của Hồ Chí Minh. Với chủ trương văn
hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc, đồng thời
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa mới của Việt Nam.
Lòng tự hào, tự tôn dân tộc luôn là nền tảng tinh thần để mỗi người Việt Nam có trách
nhiệm với vận mệnh của dân tộc mình. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến lịch sử dân tộc và
tự hào với truyền thống văn hóa dân tộc. Người đã khẳng định văn hóa là động lực, là
mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Người nêu rõ yêu cầu văn hóa phải soi đường cho
quốc dân đi; đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ,...
Văn hóa tạo sức mạnh vật chất, tinh thần thắng ngoại xâm theo tinh thần văn minh thắng
bạo tàn. Nếu kinh tế nâng cao đời sống vật chất, thì văn hóa có tác dụng nâng cao đời
sống tinh thần của nhân dân.
III. Tinh hoa văn hóa nhân loại:
1. Tinh hoa văn hóa phương Đông: Cuô b
c đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời đạo đức cách mạng để toàn
dân noi theo. Suốt đời, Người đă b c biê b
t quan tâm đến giáo dục, rèn luyện đạo đức cách
mạng cho cán bộ, đảng viên. Quan niê b
m coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng có cô b
i nguồn từ truyền thống văn hóa Đông phương mà Người được giáo dục, hấp thụ từ khi còn rất nhe.
Tinh hoa văn hóa, tư tưởng phương Đông kết tinh trong ba học thuyết lớn là Nho giáo,
Phật giáo, Lão giáo. Đó là những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Đông và ở Việt Nam trước đây. a. Nho giáo:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò Nho giáo và người lập ra nó là Khổng
Tử và đặc biệt khai phá những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo. Hồ Chí Minh phân
tích “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều
không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học...” ( Hồ Chí Minh,2011)
Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có
những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân
tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta
“nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra
truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mei”.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã
hội. Kế thừa và phát triển quan niệm của Nho giáo về việc xây dựng một xã hội công
bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để có thể đi đến một thế giới
hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan hệ hữu nghị và hợp tác. b. Phật giáo:
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến
khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng của con người và chân lý;
khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước…
Những nét đặc trưng của giáo lý Phật giáo.
-Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người
như thể thương thân - một tình yêu bao la không chỉ dành cho con người mà
dành cho cả chim muông, cây cỏ.
Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định giá trị trong đạo đức Phật giáo thể hiện ở mục tiêu
thiêng liêng là đưa lại hạnh phúc và an lạc cho chúng sinh. Nguyên tắc chung của Phật
giáo là dạy cho chúng sinh tự lực phấn đấu, đề cao long từ bi, vô ngã, vị tha, làm điều
thiện, tránh điều ác. Phật giáo luôn khuyến khích chúng sinh “tự độ độ tha, tự giác
giác tha”. Trong Thư gửi Đại hội lần thứ III Hội Phật giáo Thống nhất Việt nam ngày
28/9/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi mong rằng đồng bào Phật giáo hãy thực
hiện lời Phật dạy “lợi lạc quần sinh, vô ngã, vị tha, là tất cả vì lợi ích mọi người,
không cá nhân chủ nghĩa”.
-Thứ hai là, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.
Xuất phát từ cái tâm cao thượng như trong đạo Phật, Người luôn hành động sáng
tạo quên mình vì đất nước, vì Tổ quốc, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Bên
cạnh đó, với lập trường Mác xít Người cũng chú trọng tiếp thu tinh hoa văn hóa
truyền thống dân tộc và của nhân loại đạt đến “đức hiếu sinh”, không chỉ xây dựng
cơ sở pháp lý và thể chế để hiện thực hóa cái đúng, cái thiện, cái đẹp ngăn chặn
việc ác mà còn “làm cho phần thiện trong mỗi con người nảy nở”.
Chữ “chính” trong giáo lý nhà Phật luôn được nhấn mạnh trong suốt quá trình tu
hành, đức “chính” toàn diện từ tư duy đến hành động, từ lời nói đến việc làm,
nhằm hướng thiện, loại be cái tà, cái ác… Hiểu rõ điều đó Hồ Chí Minh nói: “Đức
Phật dạy tín đồ, con người thông hiểu, tu hành từ muôn vàn giáo lý, đặng kết đọng
hướng tới sống theo đức hạnh cao nhất: “Hãy gấp làm điều thiện, ngăn tâm làm
điều ác” và khẳng định: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo
đức cao quý của con người.
-Thứ ba là, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi
phân biệt đẳng cấp.
Hồ Chí Minh nhận thức về các lý tưởng tự do bình đẳng trong Phật giáo. Khát
vọng về công bằng xã hội, về con đường giải thoát và tự tại nơi trần thế, Đức Phật
đã nêu lên như một quy luật, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng và mang tính “vượt
thời gian”: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đe, không có đẳng cấp trong
giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca
(tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ”.
-Thứ tư là đề cao lao động, chống lười biếng. Phật giáo khi vào Việt Nam, gặp
chủ nghĩa yêu nước, đã hình thành nên chủ trương sống không xa rời, lẩn
tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng
đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.
Khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện
chính sách kỳ thị tôn giáo, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, Chủ tịch Hồ Chí
Minh kêu gọi Tăng Ni, Phật tử: “Hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện
mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín
ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ – Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết
dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”. Bên cạnh đó, Hồ Chí
Minh cũng đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của tăng ni, tín đồ Phật giáo
trong hai cuộc kháng chiến cứu nước.
Thực tiễn trong cách mạng Việt Nam đã chứng minh, bất cứ ở đâu và khi nào mà
những người lãnh đạo có trách nhiệm quán triệt theo tư tưởng Hồ Chí Minh quan
tâm giải quyết thea đáng hai nhu cầu vật chất và tinh thần thì đồng bào tôn giáo nói
chung, đồng bào Phật giáo nói riêng sẽ an tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước, sẽ sống và hành đạo đúng đắn.
Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử nhất là từ khi thành lập tổ chức thống nhất
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh với phương
châm “đoàn kết, hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giáo hội; hoằng
pháp, lợi sanh, thực hiện phương châm đạo pháp dân tộc” đã góp phần khẳng định
giá trị đoàn kết, hòa hợp của Phật giáo Việt Nam.
Mặt tích cực: Phật giáo đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia
đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần
đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đã được chủ tịch Hồ Chí Minh vận
dụng sáng tạo để đoàn kết đồng bào, đoàn kết toàn dân vì nước Việt Nam hòa bình, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh.
Trong thư gửi Hội Phật từ năm 1947, Người viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu
nạn, muốn chúng sinh ra khei khổ nạn, người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Nay
đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan
thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khei khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập
cuat Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến
để đưa giống nòi ra khei cái khổ ải nô lệ” ( Hồ Chí Minh, 2010)
c. Lão giáo (Đạo giáo):
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, khuyên con người nên
sống gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo vệ môi
trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân trồng cây, tổ chức “Tết trồng cây” để
bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú ý kết thừa tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh
lợi trong Lão giáo. Người khuyên cán bộ, đảng viên liên chính, chí công vô tư.
d. Các tư tưởng khác:
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chú ý kế thừa, phát triển nhiều ý tưởng của các trường phái
khác nhau trong các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại khác như Quản Tử, Mặc Tử, Hàn Phi,…
Người cũng chú ý tìm hiểu những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ,
Trung Quốc như chủ nghĩa Gandhi, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn,…. Pháp trị:
Tư tưởng Pháp trị chủ yếu là từ Hàn Phi, một triết gia thời Chiến quốc, sau Khổng Tử
khoảng hơn 200 năm. Ông không phải là người đầu tiên nêu lên học thuyết này mà trước
đó Quản Trọng, Thương Ưởng, Thân Bất Hại...
Tư tưởng của Hàn Phi đối nghịch với tư tưởng của Nho giáo (vốn cho rằng để quản lý xã
hội thì dùng Nhân trị và Đức trị), ông cho rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng
pháp luật: “Pháp luật không hùa theo người sang... Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn
cũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh của kẻ đại
thần, thưởng cái đúng không be sót của kẻ thất phu”. Ông không bàn đến nhân nghĩa,
cũng không trọng lễ như Tuân Tử, mà đề cao phương pháp dùng luật của pháp gia để trị nước
!Nho giáo và Pháp trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
► Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai vấn đề Đạo đức và Pháp luật có mối quan hệ mật
thiết với nhau, người không đề cao hay tuyệt đối hóa vấn đề nào.
► Pháp luật là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức; ngược lại đạo đức
là những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng
chi phối, điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác, nhưng nhiều khi rất
cần sự hỗ trợ của pháp luật. Đạo đức, tư tưởng trong mô b
t hoàn cảnh nhất định, sẽ tạo cho
con người sức mạnh vô song.
► Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Hồ Chí Minh đã thực thi triệt để vấn đề “Đức trị”
với “Pháp trị” trên cơ sở cách mạng, khoa học và nhân nghĩa, nói đi đôi với làm vì hạnh
phúc của nhân dân. Không tuyê b t đối hóa mô b
t lĩnh vực nào. Người dành tâm huyết cho viê b
c cốt lõi là tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân và coi việc giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập và làm
theo tấm gương đạo đức chủ tịch Hồ Chí Minh là tiền đề. Cùng với đó phải hoàn thiện hệ
thống phát luật, xây dựng cơ chế quản lý công khai, minh bạch.
2. Tinh hoa văn hoá phương Tây:
Ngay từ khi còn học ở Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở Thành phố Vinh (năm 1905), Hồ
Chí Minh đã quan tâm tới khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cách mạng Pháp năm 1789: Tự do
- Bình đẳng - Bác ái. Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh đã
sống và hoạt động thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa nhân
loại tại những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn lớn ở các cường quốc như Mỹ,
Anh, Pháp…bằng chính ngôn ngữ của các nước đó.
Người đã trực tiếp nghiên cứu tư tưởng nhân văn, dân chủ và nhà nước pháp quyền của
các nhà khai sáng phương Tây như Vônte, Rútxô, Môngtexkiơ, thích đọc sách văn học
của William Shakespeare bằng tiếng Anh, Hugo và Zola bằng tiếng Pháp. Trong Trong đó
2 nhà văn Anatole France và Léon Tolstoi có thể nói là những người đỡ đầu văn học cho
Hồ Chí Minh. Trên hành trình bôn ba ở phương Tây, Người luôn quan tâm tìm hiểu đến
những khẩu hiệu nổi tiếng trong các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ.
-Tại Mỹ: Bác Hồ đã tiếp thu ý chí và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Mỹ
Thời gian dừng chân ở Mỹ khoảng cuối năm 1912, Người đã ở Brooklyn, đến thăm
khu da đen Harlem, đã chiêm ngưỡng tượng nữ thần tự do…Xứ sở mới mẻ này đã
gây cho Người bao ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc.
Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người khâm phục ý chí
của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oasinhtơn, Jepphecxơn,
Lincôn, nhưng đồng thời Người cũng phát hiện những nghịch lý: đằng sau những
lời lẽ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu
người lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn phân biệt
chủng tộc ghê gớm mà người đã thấy sau khi đọc trong bài nói về “Đảng 3k” (Ku Klux Klan),vv…
-Tại Anh: Người đã được rèn luyện bản lĩnh chính trị trong phong trào công nhân.
Vào năm 1913, Người sang Anh, nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh giành độc lập
của nhân dân Airơlen. Chính ở Anh, Người đã đi những bước đầu tiên trong cuộc
đời hoạt động chính trị của mình, gia nhập công đoàn thủy thủ và cùng giai cấp
công nhân Anh tham gia các cuộc biểu tình, đình công bên bờ sông Thames…
-Tại Pháp: Tiếp xúc với nhiều tác phẩm của các nhà tư tưởng tiến bộ.
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh sang Pháp, việc Người chuyển đến sống và
hoạt động ở thủ đô nước Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, mở ra một thời
kỳ mới trong cuộc đời của Người. Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng
chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa và tiến bộ của nước Pháp.
Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong
cách dân chủ của mình trong thực tiễn. Ở đây, Nguyễn Ái Quốc có thể hoạt động và đấu
tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình (thông qua
vai trò to lớn của báo chí). Người có thể tự do hội họp, tham gia đảng phái, ra báo, phát
biểu ý kiến, trình bày quan điểm của mình trước dư luận Pháp, có thể viết bài phê phán
bọn quan lại, vua chúa nước mình, phê phán cả thống sứ, toàn quyền ở thuộc địa như A.Xarô, Liôtây, Varen...
Hồ Chí Minh cũng luôn tìm ra cách làm việc sao cho khoa học và hợp lý, Người tranh thủ
thời gian từng giờ từng phút để học ngoại ngữ, để đọc sách, trau dồi thêm vốn tri thức,
đồng thời hoà mình vào cuộc sống và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động.
Trên hành trình tìm đường cứu nước ấy, Người đã kế thừa và phát huy những quan điểm
nhân quyền, dân quyền trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ, bản Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Pháp. Ngoài ra Người cũng đã đề xuất quan
điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc của các dân tộc. Có thể khẳng định Hồ
Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại theo 3 cách:
-Kế thừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ.
-Cải biến những tư tưởng chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng thành phù hợp hơn.
-Người cũng kiên quyết bải be, loại trừ những tư tưởng độc hại cho cách mạng.
Ví dụ: Bác tiếp thu những tư tưởng tiến bộ chính là việc trong bản Tuyên ngôn độc lập
khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bằng việc trích dẫn 2 câu trong Tuyên ngôn
bất hủ của Pháp và Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng, tạo hóa
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hồ Chí Minh đã khái quát từ
quyền con người lên thành quyền dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do”. Như vậy, Hồ Chí Minh đã dùng tuyên ngôn của tư sản để khẳng
định quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa, biến quyền tự do cá nhân theo kiểu tư
sản thành quyền độc lập, tự do, hạnh phúc cho tất cả các dân tộc, không phân biệt màu da,
chủng tộc. Đây được xem là lời cổ vũ, khích lệ tinh thần to lớn để các nước thuộc địa có
thể nổi dậy đấu tranh giải phóng dân tộc.
IV. Chủ nghĩa Mác – Lênin:
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ Chí
Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác -
Lênin một cách cơ bản, hệ thống. Theo Người: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên
cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Và trong suốt quá
trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khei
C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là
“cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng
tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có
tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh mới thực sự được xác lập và phát triển.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ tịch
Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng”
những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc.
Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thời kỳ tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản
(1911 - 1920). Tháng 7-1911, Hồ Chí Minh đặt chân lên đất Pháp. Tiếp đó Người còn đến
nhiều nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh và các nước đế quốc như Mỹ,
Anh để nghiên cứu và tìm lời giải đáp cho câu hei lúc ra đi. Cuộc hành trình vạn dặm ấy
đã giúp Người tìm ra mọi cội nguồn những khổ đau của nhân loại là các nước đế quốc “chính quốc”.
Giữa lúc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở vào thời kỳ ác liệt cuối năm 1917, Người từ
nước Anh trở lại nước Pháp. Ngày 11-1917, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười nổ
ra và thắng lợi, Hồ Chí Minh có cảm tình sâu sắc với cuộc cách mạng ấy và với lãnh tụ Lênin.
Chiến tranh kết thúc năm 1919, các nước đế quốc họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Thực
chất của hội nghị là các nước thắng trận chia lại thuộc địa được dấu dưới những lời lẽ “tự
do”, “công bằng”, “nhân đạo”, theo chương trình 14 điều của Uynxơn - Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ.
Thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến
hội nghị “Yêu sách của nhân dân An Nam” đòi các cường quốc thừa nhận quyền tự do,
dân chủ, bình đẳng cho dân tộc Việt Nam. Qua hội nghị Vécxây, Hồ Chí Minh rút ra kết
luận: “Chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn”; các dân tộc muốn được giải
phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình. Nhờ nhận thức rút ra từ thực tiễn
gần 10 năm lăn lộn tìm đường cứu nước nên khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (7-1920), Hồ Chí Minh tìm thấy
những lời giải đáp đầy thuyết phục cho những câu hei của mình. Người viết: “Luận cương
của Lênin làm cho tôi rất cảm động phấn khởi, sáng te, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng
đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần
chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta” . Đến đây, Hồ Chí Minh khẳng định con đường
cứu nước của mình: giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, gắn giải phóng
dân tộc với giải phóng giai cấp vô sản. Hồ Chí Minh rời be Đảng Xã hội theo quan điểm
Đệ nhị quốc tế để đến với Quốc tế III - Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập (3-1919).
Tháng 12-1920, đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp gắn liền với việc Hồ Chí Minh
trở thành người cộng sản đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển tư tưởng và cuộc
đời hoạt động cách mạng của Người - chủ nghĩa yêu nước chân chính đã gặp chủ nghĩa
quốc tế vô sản chân chính.
Nhận xét: Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là để tìm đường cứu nước, giải
phóng dân tộc, tức là từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Chính Người đã viết:
“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin
theo Lênin ,tin theo Quốc tế III”. Nhờ Lênin, người đã tìm thấy “Con đường giải phóng
chúng ta” và từ Lênin, Người đã trở lại nghiên cứu Mác sâu sắc hơn.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phương pháp nhận thức mácxít, cốt
nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất chứ không tự trói buộc trong cái ve ngôn từ. Người vận
dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để tự tìm ra
những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, từng thời kỳ cụ
thể của cách mạng Việt Nam chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển. V.
Theo Anh (chị), cơ sở lý luận nào trong giá trị văn hóa phương
Tây khi xây dựng bộ máy nhà nước mà Hồ Chí Minh tiếp nhận
đến nay vẫn còn nguyên giá trị? Tại sao?
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu nhiều giá trị văn hóa phương Tây trong xây dựng bộ máy nhà nước, bao gồm:
-Học thuyết tam quyền phân lập: là học thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước tư sản
do Lôckơ, Môngtexkiơ, Ruxô sáng lập dựa trên quan điểm cho rằng phải hạn chế
sự độc quyền bằng việc không tập trung quá nhiều quyền lực nhà nước vào tay một
cơ quan nhất định, bằng sự kiểm soát và khống chế lẫn nhau giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau.
-Các học thuyết dân chủ: nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong công cuộc xây dựng
và vận hành nhà nước, được thể hiện qua việc quyền lực nhà nước thuộc về tay
nhân dân, quyền tự do ngôn luận,...
-Nhân quyền: tôn trọng và bảo vệ quyền con người, coi con người là trung tâm của
sự phát triển, thể hiện qua bình đẳng trước pháp luật, quyền sống, quyền tự do cá
nhân, quyền tự do tôn giáo,...
Các giá trị trên được tiếp thu và vẫn còn nguyên giá trị đến hiện nay vì:
-Phù hợp với xu hướng sự phát triển của thời đại: thuyết tam quyền phân lập, các
học thuyết dân chủ và các giá trị về nhân quyền là những giá trị chung của thế giới,
của nhân loại, được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, thể hiện xu hướng phát
triển chung của thời đại về nhà nước pháp quyền, dân chủ, văn minh.
-Phù hợp với sự phát triển của Việt Nam: việc áp dụng những giá trị này phù hợp
với yêu cầu phát triển của Việt Nam trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế,
hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân.
-Được cụ thể hóa trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta: các giá trị trên được cụ
thể hóa trong Hiến pháp 2013 và trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thể hiện tính
pháp lý, tính bắt buộc và được Nhà nước bảo vệ.
Các giá trị trên được chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, chắt lọc trong việc xây dựng nhà
nước Việt Nam, và cho đến hiện nay các giá trị vẫn được tiếp thu, sáng tạo sao cho phù
hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. VI. Lời kết:
Từ những cơ sở lý luận hình thành lên tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể thấy tư tưởng Hồ
Chí Minh là một tư tưởng được hình thành trên nhiều yếu tố như: truyền thống, khoa học
và cả thực tiễn. Một tư tưởng mang cả tính khoa học, tính dân tộc và tính nhân văn. Tư
tưởng Hồ Chí Minh còn là kim chỉ nam cho sự nghiệp Cách mạng của Đảng và nhân dân
ta, đó còn là nguồn động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là di sản
tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. PHỤ LỤC
Bùi Ngọc Thanh (2023). Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng nhà nước pháp quyền. Cổng
thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
https://quochoi.vn/hoatdongcuaquochoi/cackyhopquochoi/quochoikhoaXIII/Pages/
danh-sach-ky-hop.aspx?ItemID=79475&CategoryId=0
Bùi Thị Ngọc Lan (2021). Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Tạp chí Cộng Sản.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/
2018/824161/gia-tri-tu-tuong-ho-chi-minh-trong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-
xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-hien-nay.aspx
Đàm Thế Vinh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị truyền thống dân tộc và việc giáo dục
giá trị đó cho thế hệ trẻ.
http://vci.vnu.edu.vn/upload/15022/pdf/576364317f8b9a8e938b4568.pdf
Đặng Thị Minh Nguyệt. (2022). Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa
và nâng tầm văn hóa Việt Nam. Tạp chí Cộng sản.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/826302/mot-so-
quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-van-hoa-va-nang-tam-van-hoa-viet-nam.aspx
Đỗ thị Hòa Hới (2021). TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁ TRỊ PHẬT GIÁO.
https://frs.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/tac-gia-tac-pham/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-gia-tri- phat-giao-52.html
Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB Chính trị Quốc gia sự thật
Hoàng Chí Bảo (2017). “Tam quyền phân lập” không phải là sự lựa chọn mô hình tổ
chức nhà nước Việt Nam. Tạp chí Quốc phòng toàn dân. http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-
bai-chien-luoc-dbhb/tam-quyen-phan-lap-khong-phai-la-su-lua-chon-mo-hinh-to-chuc-
nha-nuoc-cua-viet-nam/10566.html
Hồ Văn Chiểu (2015). Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân
loại. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hệ thống tư liệu- Văn kiện Đảng.
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/
nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/ho-chi-minh-ke-thua-va-phat-trien-gia-tri-van-hoa-dan-toc- va-nhan-loai-2249
Khánh Vân Vân (2023). Một số cơ sở lý luận hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Lê Thị Chiên (2023). Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng.
https://nhandan.vn/chu-nghia-mac-lenin-la-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-post751080.html
Nhóm sinh viên UFM (2021). “Phân tích những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại đã
được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển để hình thành nên tư tưởng của mình”.
Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh (2015).
https://hochiminh.vn/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/nguon-goc-hinh-thanh/nguon-goc-
qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-tu-tuong-ho-chi-minh-21
Tô Thị Phương Dung (19/05/2024). Phân tích về nguồn gốc, cơ sở hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh. https://luatminhkhue.vn/dinh-nghia-nguon-goc-co-so-hinh-thanh-tu-tuong-
ho-chi-minh.aspx#23-chu-nghia-mac-%E2%80%93-lenin
Trần Duy (2015). Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: Chắt lọc từ tinh hóa văn hóa phương
Đông. Báo Khánh Hòa Online
https://baokhanhhoa.vn/baoxuan/201502/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh-chat-loc-tu-tinh-
hoa-van-hoa-phuong-dong-2371091/
Vietnam.net (2021). Toàn văn Bản Tuyên ngôn độc lập. VietNamNet.
https://vietnamnet.vn/toan-van-ban-tuyen-ngon-doc-lap-771240.html
Vũ Hoàng Sơn & Tạ Quang Đạo (2020). Không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin.
https://dangcongsan.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/khong-the-tach-roi-tu-tuong-
ho-chi-minh-voi-chu-nghia-mac-lenin-571714.html