



















Preview text:
Các chủ thể văn hóa ở miền Tây Nam Bộ 1/ Vấn đề trang phục :
- Áo bà ba – trang phục truyền thống văn hóa miền Tây:
+ Ở Việt Nam, mỗi vùng miền có trang phục riêng mang đậm nét đặc trưng của vùng
đó, miền Tây cũng không phải là ngoại lệ. Miền Tây Nam Bộ nổi tiếng với hình ảnh
người dân bình dị, hiếu khách và đầy tính mộc mạc, và khi nói tới miền Tây sông nước
chúng ta sẽ nhớ ngay tới những con người quanh năm sống trên sông nước với chiếc áo
bà ba, quần lãnh đen, chiếc khăn rằn và nón lá.
+ Áo bà ba là loại áo có cổ tim hoặc cổ tròn. Thân áo tương tự áo tứ thân miền Bắc
nhưng có chiều dài ngắn hơn, chỉ đến hông. Áo được may bằng chất liệu satin thoáng mát
và ôm vừa vặn cơ thể, tạo cảm giác mềm mại và thoải mái cho người mặc. Phía trước áo
bà ba có hai tà và thường có hai túi nhỏ cho phụ nữ và hai túi lớn phía trước cho nam
giới. Thường kèm theo áo bà ba là quần đen dài đến cổ chân. Để thể hiện phong cách
miền Tây, người dân thường kết hợp áo bà ba với khăn rằn trắng đen và nón lá.
+ Áo có những điểm đặc biệt rất riêng như: áo có 5 hoặc 6 nút, có hai túi ở phần dưới hai
vạt trước. Ngày xưa, người ta thường dùng nút đồng hay nút xương tròn nên đơm khuy
dài. Sau này, người ta thường dùng nút bằng sứ trắng hoặc màu, hay nút nhựa thì có khuy
xẻ. Vật liệu chính của là vải, lụa. Đũi bằng tơ tằm với màu sắc phổ biến nhất là màu đen.
Vào thời kì hội nhập. Có nhiều sự thay đổi như áo được may bằng vải ú, vải sơn đầm, vải
chéo go đe… Qua thời gian, bộ bà ba đã sự cải biến, cách tân. Để phù hợp với yêu cầu
thẩm mỹ của thời đại. Tuy nhiên, những nét cơ bản như: tay dài, có hai vạt trước…vẫn được giữ lại.
+ Hình ảnh chiếc áo đã đi cùng người phụ nữ Việt qua bao năm tháng. Trong giai đoạn
lịch sử, hình ảnh các dì, các mẹ, các anh. Các chú mặc đồ, khăn rằn, nón lá. Vùng lên
mạnh mẽ trong cuộc kháng chiến trường kì. Hay hình ảnh nữ tướng Nguyễn Thị Định (xã
Lương Hòa, huyện Giồng Trôm). Vẫn còn lưu giữ ở bảo tàng với sự giản dị, gần gũi
trong trang phục. Trong sinh hoạt đời thường và trong hành trình hoạt động cách mạng cứu nước.
+ Vẫn chưa có thông tin chính xác về thời điểm ra đời của, có người nói là từ thời Hậu
Lê, có giả thiết khác là thế kỷ 19 do Trương Vĩnh Ký cách tân từ kiểu áo của người Bà
Ba trên đảo Penang – Malaysia. Có giả thiết cho là bộ bà ba được cách tân từ bộ áo ngắn,
quần dài của người dân di cư vào Nam khai khẩn đất hoang. Cũng có người nói là thay
đổi kiểu dáng từ áo dài để phù hợp hơn với việc làm đồng. Dù xuất phát từ đâu thì áo bà
ba đã trở thành biểu tượng của người dân Nam Bộ cho đến ngày nay.
- Khăn rằn- biểu tượng người dân tây nam bộ:
+ Theo lời của những bậc cao niên thì chiếc khăn rằn Nam Bộ bắt nguồn từ khăn krama
của người Khmer, do quá trình cộng cư cùng các dân tộc khác, chiếc khăn đã được thay
đổi cho phù hợp, gần gũi và gắn liền với người dân miền sông nước Nam Bộ. Khi chúa
Nguyễn Hoàng vào phía Nam dãy Hoành Sơn, người ta đã thấy người Khmer đội những
chiếc khăn quấn thành vòng trên đầu. Rồi trong quá trình chung sống ở Nam Bộ, hòa
nhập giữa các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm…, chiếc khăn của người Khmer dần trở nên phổ biến.
+ Khăn thường có hai màu trắng – đen… Hai màu này tạo thành những họa tiết ô vuông
nhỏ đan xen nhau, chạy dọc, chạy ngang khắp mặt khăn, và có lẽ chính các lằn ngang
dọc này mà có tên gọi khăn rằn. Chiếc khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2 m, rộng chừng
40 – 50 cm, không cầu kỳ, sặc sỡ mà rất đỗi bình dị, giản đơn.
+Khăn thường được dùng đội đầu, choàng cổ nên còn gọi “khăn choàng” (người miền
Tây gọi lệch là “khăn chàng”), cư dân vùng sông nước sử dụng khăn rằn khi tắm, quấn
như sà rông để thay đồ nên gọi “khăn chàng tắm”. Dù có nhiều tên gọi nhưng phổ biến
nhất là “khăn rằn Nam Bộ”.
+Lúc đầu, khăn rằn dệt thủ công bằng tay, nên tạo họa tiết caro (là họa tiết đơn giản, dễ
dệt nhất), về sau, bên cạnh dệt thủ công, đã xuất hiện những khung dệt máy. Ngoài 2 màu
sắc trắng – đen truyền thống thì khăn ngày nay còn được dệt phối bằng những màu lạ
mắt, tinh tế như: Hồng – trắng, đen – đỏ, xanh – hồng… Không chỉ vậy, tùy theo thị hiếu
người dùng, sản phẩm mới có nhiều kích thước, được đan dày hơn (2 lớp), 2 đầu khăn
được thắt tếch để hợp thời trang…tuy nhiên, họa tiết caro truyền thống vẫn được bảo lưu
và chiếm vị trí độc tôn cho đến nay.
+ Để làm ra chiếc khăn rằn hoàn chỉnh, người thợ phải tốn nhiều thời gian, bởi trải qua
nhiều công đoạn, từ việc xả những cuộn chỉ lớn thành những búi nhỏ, cho chỉ vào nồi
nhuộm màu rồi phơi trên giàn.
+ Sau đó, đến công đoạn lên bột hồ cho chỉ, quấn chỉ vào những con thoi đưa lên khung
dệt, dệt thành những tấm khăn rằn hoàn chỉnh nối liền nhau, cuối cùng là cắt khăn rằn
thành từng chiếc lẻ (người trong nghề gọi là “xé khăn”).
+ Trong suốt quá trình sản xuất khăn rằn, công đoạn lên hồ (bột hồ được lấy từ bột gạo)
được xem là quan trọng nhất, bởi nó giúp những sợi chỉ cứng hơn, dễ dàng dệt khăn và
khi dệt xong khăn rằn sẽ có độ cứng vừa phải, dễ gấp nếp; nhưng khi sử dụng, giặt qua
nhiều lần lớp hồ trôi đi, khăn sẽ trở nên mềm mại; đó là một trong những đặc điểm vô
cùng độc đáo của những chiếc khăn rằn.
+ Khăn rằn đã kiên cường đồng hành cùng các chiến sĩ giải phóng quân trên khắp các
nẻo đường hành quân diệt thù, bảo vệ Tổ quốc. Khăn che mưa, che nắng, thắm giọt mồ
hôi, gói đựng ít đồ dùng cá nhân, băng bó vết thương, khăn như lời động viên tiếp thêm
sức mạnh lập bao chiến công vang dội, khăn đầy gần gũi yêu thương luôn cùng các các
má, các chị, các “o du kích”… mở đường, phá bom, từ căn cứ ra chiến trường, là món
quà mẹ tặng tiễn chồng, con ra chiến khu, là kỷ vật thân thiết mà các đồng đội gửi tặng
cho nhau bên chiến hào, là lời hẹn ước, kể cả để lau khô dòng nước mắt hay giấu đi một nụ cười
+ Trong phong trào Đồng Khởi, đội quân tóc dài với chiếc áo bà ba và cái khăn rằn đã
bao bao phen gây khiếp đảm cho quân thù “áo bà ba khăn rằn tay không bắt giặc”, khăn
là “đồng đội” được sử dụng như một ám hiệu trong chiến đấu, là vật đánh dấu “phe
mình”. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã trở thành hình ảnh gần gũi với mọi người,
làm nên đặc điểm trang phục của đồng bào Nam Bộ. Cụ thể hơn, nó là biểu tượng cho
người phụ nữ Miền Tây cần cù, mộc mạc mà duyên dáng, cũng như những tấm lòng chân
tình, nồng hậu của con người đất phương Nam. 2/ Vấn đề ẩm thực: a/Hương vị:
-Khác với vị đậm đà của miền Bắc và vị cay nồng của miền Trung, ẩm thực miền Tây
Nam Bộ thiên về vị ngọt thanh người dân sống tại khu vực này rất ưa ngọt nên hầu hết
các món ăn tại đây đều có vị ngọt dịu. Các món chè ngon nổi tiếng như: chè bà ba, chè
đậu, chè bưởi,… cũng có nguồn gốc từ nơi này.
b/ Nguyên liệu chế biến:
-Các món ăn tại đây đều được chế biến từ nguyên liệu thuần tự nhiên và sạch vì miền Tây
Nam Bộ có nguồn thủy hải sản phong phú, cũng như nhiều loại trái cây nổi danh như:
quýt hồng Đồng Tháp, sầu riêng ri6 Vĩnh Long, bưởi da xanh, dừa sáp Trà Vinh,…
-Khi tới đây vào mùa nước nổi, bạn sẽ được thưởng thức các món ăn như canh chua cá
linh, bông súng mắm kho, cua đồng, chuột đồng,… Còn vào mùa nước cạn, bạn sẽ được
thưởng thức món đặc sản được chế biến từ cá lóc, lươn và cá trạch,… c/ Bữa ăn:
-Ở miền Tây Nam bộ, người dân thường ăn cơm ở trên sàn nhà hoặc trên bàn tùy vào
diện tích nhà lớn hay nhỏ. Nếu có khách quý hay tiệc tùng, người ta thường tổ chức ăn
uống ở khu vực ấm cúng sang trọng để thể hiện sự nhiệt tình, hiếu khách. Ngoài ra, các
món ăn như cá lóc nướng trui, khô rắn, thịt chuột đồng nướng được được xem là đặc sản của nơi đây.
d/ Một số món ăn đặc trưng:
- Các món ngon từ Cá Linh ( kho, chiên giòn, nấu với hoa điên điển), bánh xèo bông điên
điển, bông súng mắm kho, lá hẹ nước, lá hẹ nước, cua đồng , chuột đồng, cá lóc nướng
chui, cá rô mề, rắn, lươn ươm rau ngổ, ốc bưu nướng tiêu , lẩu mắm miền tây, lẩu cháo cua đồng,...
- Dưới đây là cách nấu món bánh xèo: Nếu như bánh xèo miền Trung có kích thước bé bé
xinh xinh vừa ăn thì bánh xèo miền Tây lại thuộc hàng… ngoại cỡ.
+ Bột bánh xèo được pha từ bột gạo xay, trộn với bột nghệ để khi chiên bánh có màu
vàng tươi đẹp mắt. Để tăng hương vị cho chiếc bánh, người ta thường pha thêm nước cốt
dừa và hành lá thái nhuyễn vào bột. Vì vậy mà chiếc bánh chiên lên vừa có vị beo béo
của cốt dừa, vừa có mùi thơm của hành lá, khiến người ăn nhớ mãi không quên.
+ Nhân bánh xèo miền Tây vô cùng đa dạng, tùy vào sở thích và nguyên liệu sẵn có mà
người chiên bánh có thể biến tấu một cách linh hoạt. Thường thì mỗi tỉnh sẽ có nguyên
liệu làm nhân khác nhau. Ở Bến Tre, người ta có thể làm nhân bằng củ hũ dừa, nấm mối,
ở một số chỗ người ta còn dùng lõi của đầu trái dứa để chiên bánh. Tuy nhiên, quen thuộc
và thường được sử dụng nhiều nhất là giá, tôm đất, thịt heo.
+ Làm nóng chảo, dùng bẹ chuối chấm một ít mỡ lợn quết đều chảo, sau đó đổ bột vào
tráng thật nhanh để bột dàn đều ra. Cho tôm, thịt, giá hoặc các nguyên liệu khác vào giữa
chiếc bánh, đậy nắp lại khoảng 1-2 phút. Sau khi mở nắp, người ta dùng cái sạn gấp bánh
lại làm đôi rồi xúc ra để lên lá chuối sạch.
+ Bánh xèo miền Tây được ăn kèm với các loại rau vườn, thường thấy nhất là đọt xoài
non, cải xanh, xà lách,… Người ta ra vườn, thấy rau nào non tươi ăn được là hái vào,
không nhất thiết bắt buộc phải là loại này loại kia.
Hình ảnh một số món ăn ở miền tây : Ốc xào bơ tỏi Lẩu cá mắm Cua nướng Chuột đồng nướng 3/ Văn hóa nhà ở: -Kiểu nhà không có cửa
+ Nghe thật lạ vì nhà nhưng lại không có cửa ra
vào. Không phải nhà ở nào ở miền Tây cũng
vậy nhưng đây chính là đặc trưng không nơi nào có. Kiến trúc nhà không cửa tạo cảm
giác thoáng đãng và có sự kết nối, cũng giống như tấm lòng hào phóng của người dân nơi đây vậy.
+ Nhà không cửa vốn xuất phát từ thói quen rằng trước đây vốn nhiều tôm cá, ai cũng lo
làm ăn, không có hiện tượng trộm cắp nên người dân khá thoải mái, không đề phòng.
-Trước nhà đặt bàn thờ ông Thiên: Thờ cúng ông Thiên là tín ngưỡng phổ biến ở miền
Tây, nên hầu như nhà nào cũng có bàn thờ phía trước. Bàn thờ có thể làm bằng gỗ hoặc
bê tông, không quá to; trên bàn luôn đặt lư hương và vài ly nước nhỏ. Đây là đặc trưng
rất dễ nhìn thấy khi đến các ngôi nhà ở quê miền Tây.
- Nhà theo địa vị xã hội
+ Không riêng gì miền Tây mà ở các vùng, địa phương khác, sự giàu nghèo trước đây
được phân hóa khá rõ nét thông qua nhà ở. Tại miền Tây, người giàu, có chức quyền
sống trong những căn nhà rộng rãi, bề thế, hay còn gọi là nhà cổ của giới điền chủ. Nhà
được làm từ gỗ quý hiếm, chạm khắc hoa văn tinh xảo, cấu trúc cũng thường là kiểu nhà
truyền thống 3 gian 2 chái chữ Đinh.
+Trong khi đó, người dân lại sống chủ yếu trong các căn nhà lá, nhà tranh đơn sơ,... Tất
cả đều hình thành nên các mẫu nhà đặc trưng của nhà miền Tây mà chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn dưới đây.
-Các dạng nhà đặc trưng: Nhà lá ở miền Tây
Nếu xem các bộ phim xưa thì nhà lá chính là hình ảnh quen thuộc nhất - mộc mạc, bình
dị như chính con người. Mặc cho bao nhiêu kiến trúc hiện đại mọc lên, con người vẫn
dành tình cảm nhất định cho ngôi nhà lá, còn ví von như một món “đặc sản”.
Vật liệu chính là lá dừa nước, vừa cách nhiệt tốt, vừa phù hợp với khí hậu, thời tiết. Tuy
nhiên, vì là tự nhiên nên vài năm người ta lại phải thay lá một lần. Có thể nói, nhà lá
chính là kết tinh của văn hóa người dân miền Tây Nam Bộ. Nhà sàn miền Tây
Chống nước, chống lũ, người dân miền Tây cũng có cho mình những căn nhà sàn. Tuy
nhiên, nhà sàn miền Tây lại khác so với nhà sàn ở vùng núi. Nhà được làm khá đơn giản
nhưng vẫn có nét đặc sắc riêng, được dựng nổi ngay bên những dòng kênh, bờ ruộng,...
Nhà sàn miền Tây dựng bằng cọc gỗ, cọc bê tông, khá cao, rộng rãi và thoáng mát.
Gian chính ngôi nhà đặt bàn bàn thờ gia tiên rồi mới đến các gian phụ. Tường có thể làm
bằng gỗ, gạch hoặc mái tôn,... Ở nhiều nơi, những vùng hay xảy ra lũ, người ta có thể bắt
gặp những ngôi nhà sàn với chi chít cọc lớn nhỏ chống đỡ phía dưới. Đây cũng là một nét đặc trưng riêng.
Ngày nay, nhà sàn đã được làm theo hướng hiện đại, kiên cố hơn so với trước, nhiều
thiết kế đẹp, độc đáo. Nhà bè trên sông
Là vùng sông nước nên nhiều gia đình an cư, sinh sống ngay trên mặt nước. Cũng
chính vì vậy mà nhà bè ra đời, như một cách thích nghi. Nhà bè được chia làm 02 phần:
Phía trên là nơi để ở, gia đình sinh hoạt, buôn bán,...Phía dưới được quây lại để làm chuồng nuôi cá.
Mỗi căn nhà bè được chọn làm từ các loại gỗ tốt nhất, có độ bền từ 40 - 50 năm hoặc
cũng có những ngôi nhà bè tạm bợ. Nhà bè san sát nhau trên mặt nước nhìn từ xa như
một thành phố trên sông. Nhà cấp 4 miền Tây
Theo nhịp phát triển, người dân miền Tây có tài chính cũng đã bắt đầu thay đổi sang
những mẫu nhà hiện đại. Nhà cấp 4 là một trong các lựa chọn phổ biến. Nhìn chung, nhà
cấp 4 ở miền Tây cũng tương tự như những nơi khác nhưng người dân có xu hướng chọn
các màu sơn xanh, trắng,...; hoặc xây cao ráo với bậc thang di chuyển lên nhà, hoặc xây
dạng nhà sàn bê tông nếu ở gần khu vực nước lên,...
4/ Một số nét văn hóa đặc trưng khác : a/ Văn hóa chợ nổi :
Tây Nam Bộ là vùng châu thổ phù sa. Nơi đây trước kia là vùng hoang vắng, trũng
thấp, là vùng đất mới nổi, rất nhiều đầm lầy, kênh rạch chằng chịt, sông ngòi dày đặc,
nhiều lượng phù sa do sông Mê Kông cung cấp. Nhờ vậy, đồng ruộng phì nhiêu, cây trái
tốt tươi, trĩu quả. Chính từ đặc điểm tự nhiên này đã hình thành nên văn hóa sông nước – văn hóa miệt vườn.
Chợ nổi là một loại hình buôn bán trao đổi hàng hóa trên sông . Những người đi chợ
thường sử dụng ghe , xuồng , thuyền để di chuyển và trưng bày hàng hóa. Việc buôn bán
được diễn da ngay trên mặt nước nên có lẽ vì vậy mà cái tên ” chợ nổi” cũng ra đời .
Những cái tên như chợ nổi Cái Bè (tỉnh Tiền Giang), chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong
Điền (Cần Thơ), chợ nổi Ngã Bảy (Phụng Hiệp – Cần Thơ), chợ nổi Ngã Năm (Thạnh
Trị – Sóc Trăng), chợ nổi Sông Trẹm (Thới Bình – Cà Mau)… luôn là cái tên được nhiều
người biết đến khi đi du lịch miền Tây. Nhưng có lẽ lớn nhất và nổi tiếng nhất chính là
chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ.
Ở chợ trên sông này, bạn cũng có thể tìm ăn các món ăn dân dã mang đậm chất Nam
bộ như bánh tét, bánh nếp lá dừa, bánh cam, đậu hũ, bánh phồng… với giá bình dân mà lạ miệng.
b/ Văn hóa cưới hỏi “có một không hai”
Theo truyền thống xưa, lễ cưới ở Nam Bộ cũng như miền Tây sẽ gồm có 6 lễ gọi là
lục lễ, bao gồm: Lễ giáp lời, lễ thông gia, lễ cầu tân, lễ hỏi, lễ cưới và lễ phản bái. So với
những vùng văn hoá khác, phong tục cưới hỏi truyền thống ở miền Tây Nam Bộ là một
trong những nơi có nhiều nghi lễ chính nhất. Ngày nay cuộc sống hiện đại hơn, mọi thứ
đều được tinh giản nên hầu như chỉ còn giữ lại ba lễ chính đó là lễ giáp lời, lễ hỏi và lễ cưới.
Vào ngày cưới, nhà trai sẽ treo bảng vu quy còn nhà trai sẽ là bảng tân hôn, rạp cưới
cũng được dựng lên rất hoành tráng trước sân nhà, nhất là phần cổng cưới. Theo đó,
người miền Tây thường dùng cây chuối, lá dừa, đủng đỉnh, hoa cau, cây tre để làm cổng
và rạp, nhìn rất đơn sơ và mộc mạc nhưng vô cùng đẹp mắt.
Bên cạnh đó, miền Tây vốn nổi tiếng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt,
đời sống người dân gắn liền với văn hóa sông nước và trong ngày cưới hỏi cũng vậy.
Trước khi giao thông phát triển, bà con chỉ có thể rước dâu bằng tàu ghe.
Ngày nay, mặc dù đường lộ phát triển nhưng nhiều cặp đôi vẫn lựa chọn rước dâu
bằng những chiếc ghe mộc mạc, vừa độc đáo thú vị, đồng thời góp phần gìn giữ giá trị
văn hóa của miền sông nước. Đặc biệt, những chiếc tàu ghe rước dâu được trang trí bắt
mắt với hoa, bong bóng, trên đường đi mọi người cùng nhau hát hò khuấy động cả vùng sông nước thanh bình.