



















Preview text:
HỌC PHẦN LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI 2
Câu 1: Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc đã làm thay đổi tương quan lực lượng
như thế nào? Mối quan tâm chính của các cường quốc (Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp) là gì? Vì sao?
● Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc đã làm thay đổi tương quan lực lượng như sau:
- Các cường quốc châu Âu suy yếu: Chiến tranh làm châu Âu kiệt quệ (thành
phố đổ nát, sản xuất đình trệ, ngân khố cạn, phải dựa nhiều vào nguồn lực bên
ngoài để tái thiết lập). Một ví dụ điển hình là việc Mỹ triển khai một số chương
trình viện trợ phục hồi châu Âu (Marshall Plan/ European Recovery Program)
nhằm khôi phục hạ tầng kinh tế và ổn định chính trị khu vực => Anh và Pháp
suy yếu đã khiến vị thế của họ trong quan hệ quốc tế giảm, quyền lực dịch
chuyển sang chủ thể khác
- Mỹ và Liên Xô nổi lên thành hai siêu cường:
+ Liên Xô: Với chiến thắng quyết định trên mặt trận phía Đông, trở thành
một cường quốc quân sự hàng đầu trên thế giới. Liên Xô kiểm soát một
khu vực rộng lớn ở Đông Âu, hình thành một hệ thống các nước xã hội
chủ nghĩa, tạo nên một cực đối trọng với phương Tây
+ Mỹ: Mỹ lợi dụng chiến tranh để làm giàu nhanh chóng với 114 tỷ USD
lợi nhuận. Trở thành nước mạnh nhất về kinh tế (chiếm 52% tổng sản
phẩm xã hội (GNP) của thế giới), đồng thời Mỹ cũng là chủ nợ lớn nhất
khi riêng về vũ khí thì các nước đồng minh châu Âu đã nợ Mỹ đến
41,751 tỷ USD và nắm trong tay một lợi thế khiến các nước khác phải
kiêng nể, e dè: độc quyền về vũ khí hạt nhân. Từ đây, Mỹ trở thành một
cực đối trọng với Liên Xô
- Hình thành trật tự thế giới 2 cực (Mỹ - Liên Xô): Thế giới chia thành 2 phe rõ
rệt do Mỹ và Liên Xô đứng đầu. Mối quan hệ giữa hai siêu cường này nhanh
chóng chuyển từ đồng minh chống phát xít sang đối đầu căng thẳng => dẫn đến Chiến tranh Lạnh
● Mối quan tâm chính của cường quốc Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp và vì sao
- Mỹ: Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc nắm ưu thế vượt trội về tiềm
lực kinh tế, khoa học, kỹ thuật và độc quyền hạt nhân. Vì vậy, mối quan tâm
chính của Mỹ là thiết lập và duy trì một trật tự thế giới mới có lợi cho mình,
đồng thời ngăn chặn sự mở rộng của CNXH. Mỹ đã lôi kéo, tập hợp các nước
tư bản Tây Âu và Nhật Bản đi theo mình để củng cố vai trò lãnh đạo của mình
trong hệ thống quốc tế và xây dựng các liên minh quân sự - chính trị
+ Vì: Vì sau Chiến tranh Thế giới 2 Mỹ có đủ điều kiện nguồn lực để mở
rộng ảnh hưởng của mình ra toàn cầu nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế - chính
trị của mình. Đồng thời sự lớn mạnh của Liên Xô cũng là mối đe dọa
trực tiếp đối với vị thế và lợi ích của CNTB, điều đó buộc Mỹ phải chủ
trương kiềm chế và đối đầu với Liên Xô trong trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới 2
- Liên Xô: Liên Xô đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia,
ngăn chặn nguy cơ chiến tranh mới và xây dựng một vành đai an ninh ở châu
Âu. Đồng thời, Liên Xô mong muốn mở rộng và củng cố hệ thống XHCN, ủng
hộ phong trào cách mạng và giải phóng dân tộc, qua đó tạo thế cân bằng với Mỹ trong trật tự mới
+ Vì: Liên Xô là nước chịu nhiều tổn thất nặng nề sau chiến tranh thế giới
2, và từng nhiều lần bị xâm lược từ phía Tây nên Liên Xô đặc biệt coi
trọng vấn đề an ninh. Đồng thời, thắng lợi trong chiến tranh 2 đã tạo
điều kiện để Liên Xô nâng cao vị thế quốc tế và tạo điều kiện thúc đẩy
sự ra đời của các nước XHCN ở Đông Âu
- Anh và Pháp: Mối quan tâm hàng đầu của 2 quốc gia này là khôi phục kinh tế,
ổn định xã hội và duy trì vị thế cường quốc của mình. Anh và Pháp tìm cách
dựa vào Mỹ để tái thiết đất nước, đồng thời cố gắng giữ lại hoặc khôi phục ảnh
hưởng của mình ở các nước thuộc địa.
+ Vì: Chiến tranh thế giới 2 đã làm Anh và Pháp suy kiệt nghiêm trọng về
kinh tế, tài chính và sức ảnh hưởng toàn cầu. Cùng với đó là hệ thống
thuộc địa của 2 nước này nhanh chóng tan rã và không còn đủ tiềm lực
để tự mình duy trì vị thế cường quốc nên phải dựa vào sự viện trợ và hậu thuẫn của Mỹ
Câu 2: Ba hội nghị Yalta (2/1945), San Francisco (4/1945) và Potsdam (8/1945) đã
thoả thuận về những vấn đề chủ chốt gì? Những toan tính của các cường quốc thể
hiện như thế nào thông qua ba Hội nghị đó?
Ngay từ giai đoạn cuối của cuộc chiến, các hội nghị ngoại giao giữa các
nguyên thủ quốc gia Liên Xô, Anh, Mỹ và sau đó có thêm Pháp liên tiếp được tổ thức.
Ba hội nghị quan trọng nhất là Yalta (tháng 2/1945), San Francisco (tháng 4/1945), và
Potsdam (8/1945) đều được diễn ra trong năm 1945, trong đó hội nghị Yalta được coi
là quan trọng nhất vì tính biểu tượng, bởi các vấn đề được bàn tới trong hội nghị này
tạo ra cơ sở cho các hội nghị tiếp theo.
● Khái quát về 3 hội nghị (không trình bày)
- Hội nghị Yalta (4/11/2/1945) được tổ chức với đại diện ba nước Liên Xô, Anh,
Mỹ tham dự trong bối cảnh Liên Xô đã tràn qua các nước Đông Âu và trên
đường tiến về Berlin, Mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương đã mở; Cục diện
thắng lợi thuộc về phe Đồng Minh trên chiến trường châu Âu. Mục tiêu của hội
nghị là các vấn đề cơ bản để kết thúc chiến tranh; Tổ chức lại thế giới sau chiến
tranh mà trọng tâm là vấn đề Đức.
- Hội nghị San Francisco (25/4/1945) với Liên Xô, Mỹ, Anh và 47 nước đồng
minh chống phát xít tham gia, trong bối cảnh chiến tranh ở châu Âu sắp bước
vào hồi kết, quân đội Liên Xô đã bao vây hoàn toàn Berlin và liên quân Anh –
Mỹ đã tiến tới bờ sông Elbe (Đức), nước Đức sắp sửa đầu hàng. Mục tiêu của
hội nghị nhằm dự thảo và thông qua hiến chương Liên Hợp Quốc.
- Hội nghị Potsdam (17/7 - 2/8/1945) với Liên Xô, Mỹ, Anh và sau có Pháp
tham gia, trong bối cảnh Đức đầu hàng, chiến tranh ở châu Âu kết thúc, Liên
Xô, Anh - Mỹ đều có mặt ở châu Âu, mặt trận Châu Á - Thái Bình dương còn
khoảng 5 triệu quân Nhật, Mỹ vừa cho thử thành công quả bom nguyên tử đầu
tiên, trở thành cường quốc duy nhất có khả năng sản xuất bom nguyên tử. Mục
tiêu của hội nghị nhằm tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.
Ý 1: Nội dung của các hội nghị này xoay quanh việc bàn về các vấn đề chủ chốt:
- Kết thúc chiến tranh: các nước tham dự với toan tính nhằm đạt được lợi ích tối
đa, thiệt hại tối thiểu.
- Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.
- Quyết định số phận của các nước phát xít, mà một trong những nội dung chủ
yếu của Hội nghị này là bàn về số phận của nước Đức.
Những vấn đề chính này được hiện hữu trong nội dung của từng hội nghị: - Hội nghị Yalta:
+ Bàn về vấn đề Đức: phân chia lãnh thổ Đức, việc giải giáp vũ khí và tiêu
diệt Chủ nghĩa phát xít, việc trừng phạt và bồi thường chiến tranh.
+ Bàn về vấn đề Ba Lan: vấn đề lãnh thổ và nền độc lập của Ba Lan.
+ Bàn về Nhật Bản: thỏa thuận về việc Liên Xô sẽ tham gia chống Nhật
sau khi chiến tranh ở châu Âu chấm dứt từ 2 - 3 tháng với một vài điều
kiện có lợi cho Liên Xô.
+ Vấn đề Liên Hợp Quốc: Thống nhất về việc thành lập Liên Hợp quốc và
thỏa thuận về nguyên tắc nhất trí trong Hội đồng Bảo an và những vấn đề khác.
- Hội nghị San Francisco: Dự thảo và thông qua Hiến chương Liên Hợp quốc.
- Hội nghị Potsdam: Bàn về vấn đề Đức, Ba Lan và kết thúc chiến tranh với Nhật.
Ý 2 : Toan tính của các cường quốc thông qua ba Hội nghị.
● Hội nghị Yalta (4-11/2/1945).
- Mỹ: Đây là thời điểm nước này vươn lên vị trí cường quốc mạnh nhất thế giới
cả về kinh tế lẫn quân sự, đặc biệt là ở châu Âu, nơi quân đội Mỹ hiện diện với
lực lượng đông đảo. Mỹ muốn xây dựng một trật tự thế giới mới do mình dẫn
dắt, khác với trật tự cũ vốn do Anh và Pháp chi phối trước chiến tranh. Để thực
hiện điều đó, Mỹ chủ trương sử dụng các tổ chức quốc tế, tiêu biểu là việc đề
xuất thành lập Liên Hợp Quốc, nhằm vừa tranh giành lợi ích vừa kiểm soát ảnh
hưởng của Liên Xô. Đồng thời, Mỹ đưa ra ý tưởng về chế độ thác quản đối với
các thuộc địa cũ, qua đó từng bước làm suy yếu hệ thống thuộc địa truyền thống của Anh và Pháp.
- Liên Xô: Liên Xô tham dự hội nghị trong tư thế của một nước đã chịu tổn thất
nặng nề trong chiến tranh nhưng lại có sức mạnh quân sự và tinh thần rất lớn.
Lục quân Liên Xô khi đó là lực lượng lớn nhất thế giới và đang tiến nhanh tới
thắng lợi trước phát xít Đức.
+ Liên Xô đặc biệt quan tâm đến vấn đề Đức, với mục tiêu làm suy yếu
hoàn toàn quốc gia này để ngăn chặn nguy cơ Đức phục hồi và đe dọa
an ninh trong tương lai. Vì vậy, Liên Xô yêu cầu phá hủy công nghiệp
chiến tranh của Đức, hạn chế sản xuất công nghiệp trong nhiều năm và
chuyển phần lớn máy móc, thiết bị công nghiệp nặng cho mình để phục
vụ công cuộc tái thiết sau chiến tranh.
+ Bên cạnh đó, Liên Xô cũng muốn mở rộng phạm vi ảnh hưởng tại Đông
Âu, Ba Lan, Viễn Đông và giành lại các quyền lợi đã mất sau chiến
tranh Nga – Nhật năm 1905.
+ Trong vấn đề Liên Hợp Quốc, Liên Xô lo ngại tổ chức này sẽ trở thành
công cụ của phương Tây, nên yêu cầu đưa Ukraine và Belarus – hai
nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết – trở thành thành viên sáng lập
nhằm gia tăng tiếng nói của mình.
- Anh: Anh bước vào hội nghị Yalta với vị thế suy yếu rõ rệt do chiến tranh tàn
phá nặng nề. Vì vậy, Anh phần lớn đi theo Mỹ và cố gắng bảo vệ những lợi ích
còn lại, đặc biệt là hệ thống thuộc địa. Anh phản đối mạnh mẽ đề xuất thác
quản của Mỹ vì lo ngại điều này sẽ làm suy yếu trật tự quốc tế mà Anh từng
xây dựng và duy trì trước đó.
● Hội nghị San Francisco (25/4/1945).
Hội nghị San Francisco được triệu tập với mục tiêu chính là thành lập Liên Hợp Quốc
và thông qua Hiến chương của tổ chức này. Mặc dù bề ngoài các nước đều thống nhất
về sự cần thiết của một tổ chức quốc tế nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới,
nhưng trên thực tế, mỗi cường quốc đều có toan tính riêng nhằm biến Liên Hợp Quốc
thành công cụ phục vụ lợi ích của mình.
- Liên Xô: Ủng hộ việc thành lập một tổ chức quốc tế với những phương tiện
thực chất và đấu tranh chống xâm lược, một tổ chức quốc tế trong đó các thành
viên hoạt động với tinh thần tôn trọng lẫn nhau, thỏa thuận và hợp tác với nhau
trên tinh thần bình đẳng.
+ Đặc biệt chú trọng vào việc đấu tranh để đạt được những điều lệ có lợi
khi thông qua các nghị quyết của Liên hợp quốc, giành được một số đặc
quyền trong Hội đồng Bảo an (trở thành 5 ủy viên thường trực của Hội
đồng Bảo an; sử dụng nguyên tắc đồng thuận, quyền phủ quyết) thay vì đa số phiếu).
+ Tập trung vào việc giữ gìn ảnh hưởng ở Liên Hợp quốc.
- Các nước phương Tây, trước hết là Mỹ, Anh: mong muốn xây dựng một tổ
chức quốc tế nằm trong tầm kiểm soát của họ, qua đó duy trì vai trò lãnh đạo
thế giới sau chiến tranh. Mỹ không chỉ muốn thể hiện sức mạnh quân sự mà
còn muốn dẫn dắt trật tự quốc tế thông qua các thể chế và luật chơi do mình định hình.
- Anh, Pháp, Trung Quốc: toan tính giữ gìn / khôi phục / khẳng định vị thế của
mình: trở thành 1 trong 5 ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an – cơ quan
quyền lực cao nhất, có quyền quyết về áp dụng lệnh trừng phạt với một quốc gia nào đó.
● Hội nghị Potsdam (17/7 - 2/8/1945).
Toan tính chung: Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh. - Mỹ:
+ Gây áp lực với Liên Xô trước khi hội nghị bắt đầu và tạo ra nhiều lợi thế
cho mình trên bàn đàm phán: Thử thành công quả bom nguyên tử đầu
tiên, trở thành cường quốc duy nhất có khả năng sản xuất vũ khí hạt
nhân; triển khai 2 quả bom nguyên tử chống Nhật Bản trong chiến tranh Thái Bình Dương.
+ Hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô tại châu Âu, đặc biệt là ở Đức: Phản
đối và cho rằng khoản bồi thường chiến phí mà Liên Xô nhận được là
quá mức (bởi bồi thường chiến phí là ràng buộc các nước nợ tiền dưới
vai trò chủ nợ); ủng hộ Đức không bị phá hủy hoàn toàn, để tái thiết, ổn định châu Âu.
+ Suy giảm sức mạnh của Liên Xô: Yêu cầu Liên Xô tham chiến chống
Nhật ở mặt trận Thái Bình Dương.
+ Áp đặt trật tự hậu chiến theo hướng có lợi cho Mỹ. - Liên Xô:
+ Thu khoản bồi thường chiến phí tối đa từ Đức để tái thiết cũng như
nhằm suy giảm sức mạnh của Đức: Liên Xô nhận được 50% khoản bồi
thường chiến phí, và 25% số thiết bị được tháo gỡ ở các lãnh thổ được
giải phóng. Lãnh thổ phía Đông Đức bị cắt một phần cho Liên Xô.
+ Tiêu diệt phát xít Nhật ở Viễn Đông: Bí mật ký cam kết sẽ tham gia chiến tranh chống Nhật.
+ Mở rộng ảnh hưởng và lãnh thổ, đảm bảo vành đai an ninh quốc gia:
Xác định đường biên giới mới giữa Ba Lan và Đức, khu vực Konigsberg
được chuyển giao cho Liên Xô.
- Anh: Toan tính cân bằng quyền lực ở khu vực châu Âu, thể hiện bằng việc:
+ Phản đối và cho rằng khoản bồi thường chiến phí mà Liên Xô nhận được là quá mức.
+ Ủng hộ Mỹ trong việc kiềm chế Liên Xô.
+ Đồng ý với chương trình 4 điểm, kiểm soát và phi quân sự hóa Đức.
Câu 3: Cục diện thế giới mới (1945 - 1947) được hình thành như thế nào? Vì sao
hình thành cấu trúc trật tự Hai cực?
Ý 1: Cục diện thế giới mới (1945 - 1947).
- Sự hình thành nền chính trị siêu cường: Trong giai đoạn này đã xuất hiện 2
siêu cường trong tương quan với các cường quốc khác sau Thế chiến II là Liên Xô và Mỹ.
- Sự thay đổi tương quan lực lượng trong Quan hệ quốc tế:
+ Các cường quốc châu Âu suy yếu: Chiến tranh làm châu Âu kiệt quệ
(thành phố đổ nát, sản xuất đình trệ, ngân khố cạn, phải dựa nhiều vào
nguồn lực bên ngoài để tái thiết lập). Một ví dụ điển hình là việc Mỹ
triển khai một số chương trình viện trợ phục hồi châu Âu (Marshall
Plan/ European Recovery Program) nhằm khôi phục hạ tầng kinh tế và
ổn định chính trị khu vực => Anh và Pháp suy yếu đã khiến vị thế của
họ trong quan hệ quốc tế giảm, quyền lực dịch chuyển sang chủ thể khác
+ Mỹ và Liên Xô nổi lên thành hai siêu cường:
+ Liên Xô: Với chiến thắng quyết định trên mặt trận phía Đông, trở thành
một cường quốc quân sự hàng đầu trên thế giới. Liên Xô kiểm soát một
khu vực rộng lớn ở Đông Âu, hình thành một hệ thống các nước xã hội
chủ nghĩa, tạo nên một cực đối trọng với phương Tây
+ Mỹ: Mỹ lợi dụng chiến tranh để làm giàu nhanh chóng với 114 tỷ USD
lợi nhuận. Trở thành nước mạnh nhất về kinh tế (chiếm 52% tổng sản
phẩm xã hội (GNP) của thế giới), đồng thời Mỹ cũng là chủ nợ lớn nhất
khi riêng về vũ khí thì các nước đồng minh châu Âu đã nợ Mỹ đến
41,751 tỷ USD và nắm trong tay một lợi thế khiến các nước khác phải
kiêng nể, e dè: độc quyền về vũ khí hạt nhân. Từ đây, Mỹ trở thành một
cực đối trọng với Liên Xô
+ Hình thành trật tự thế giới 2 cực (Mỹ - Liên Xô): Thế giới chia thành 2
phe rõ rệt do Mỹ và Liên Xô đứng đầu. Mối quan hệ giữa hai siêu cường
này nhanh chóng chuyển từ đồng minh chống phát xít sang đối đầu căng
thẳng => dẫn đến Chiến tranh Lạnh
Ý 2: Nguyên nhân hình thành cấu trúc trật tự Hai cực.
- Chiến tranh thế giới thứ hai với sự sụp đổ của trật tự thế giới cũ:
+ Trước khi chiến tranh nổ ra, thế giới được điều chỉnh bởi trật tự
Versailles – Washington, được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ
nhất. Tuy nhiên, trật tự này tồn tại nhiều bất cập, không giải quyết triệt
để các mâu thuẫn giữa các cường quốc, đặc biệt là những bất mãn của
các nước bại trận và các quốc gia muốn mở rộng ảnh hưởng. Vì vậy, nó
không đủ khả năng ngăn chặn xung đột và duy trì hòa bình lâu dài
+ Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, những điểm yếu của trật tự
Versailles – Washington bộc lộ rõ ràng và nhanh chóng dẫn tới sự tan rã
hoàn toàn của trật tự thế giới cũ. Sự sụp đổ này đã đặt ra yêu cầu tất yếu
sau chiến tranh: thế giới cần phải xây dựng một trật tự quốc tế mới, phù
hợp hơn với tương quan lực lượng và bối cảnh lịch sử mới.
- Thay đổi tương quan lực lượng với sự trỗi dậy của 2 cường quốc Liên Xô và Mỹ:
+ Mỹ bước ra khỏi chiến tranh với tư cách là phe thắng lợi, không bị chiến
tranh tàn phá mà còn giàu lên nhanh chóng, vừa có sức mạnh tiềm lực
về kinh tế lớn, vừa có các lực lượng hải, lục, không quân lớn mạnh. Mỹ
là nước đứng đầu, nắm quyền lãnh đạo trong thế giới tư bản chủ nghĩa
+ Liên Xô cũng là một nước thắng trận, dù bị chiến tranh tàn phá nặng nề
nên tiềm lực kinh tế không lớn bằng Mỹ, song Liên Xô có bộ máy quân
sự lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Quốc gia này sau chiến tranh đã trở
thành một cường quốc có uy tín và ảnh hưởng rất lớn, ngày càng trở
thành một nhân tố không thể thiếu trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế.
+ Các cường quốc phương Tây bao gồm cả nước bại trận và nước thắng
trận lúc này đang trong tình trạng bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh và
kiệt quệ về mặt kinh tế.
- Các hội nghị quốc tế nhằm thiết lập một trật tự thế giới mới: Ngay từ giai
đoạn cuối của cuộc chiến, các hội nghị ngoại giao giữa các nguyên thủ quốc gia
Liên Xô, Anh, Mỹ và sau đó có thêm Pháp liên tiếp được tổ thức. Ba hội nghị
quan trọng nhất là Yalta (tháng 2/1945), San Francisco (tháng 4/1945), và
Potsdam (8/1945) đều được diễn ra trong năm 1945, trong đó hội nghị Yalta
được coi là quan trọng nhất vì tính biểu tượng, bởi các vấn đề được bàn tới
trong hội nghị này tạo ra cơ sở cho các hội nghị tiếp theo. Nội dung các hội
nghị tập trung bàn về các vấn đề cốt lõi như: Kết thúc chiến tranh, tổ chức lại
thế giới sau chiến tranh, quyết định số phận của các nước phát xít, mà một
trong những nội dung chủ yếu của Hội nghị này là bàn về số phận của nước Đức.
+ Những nội dung được thỏa thuận tại đây, từ việc phân chia ảnh hưởng
sau chiến tranh, số phận Đức, Ba Lan, Đông Âu tới cuộc chiến chống
Nhật và việc thành lập Liên Hợp Quốc, đã tạo nên khung cơ bản cho
việc tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, đồng thời chứa đựng những
mầm mống đầu tiên của trật tự hai cực Xô – Mỹ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh.
Câu 4: Những đặc điểm của Trật tự Hai cực Yalta? Vũ khí hạt nhân đóng vai trò
như thế nào trong trật tự này?
Ý 1: Đặc điểm của trật tự hai cực yalta
- Trật tự Hai cực Yalta hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai, dựa trên sự
vượt trội toàn diện của Mỹ và Liên Xô cùng sự đối kháng sâu sắc về chính trị –
tư tưởng giữa hai mô hình: “TBCN” và “XHCN”. Đây là trật tự lưỡng cực,
trong đó hai siêu cường giữ vai trò trung tâm chi phối quan hệ quốc tế.
- Khác với các trật tự trước đó (Westphalia hay Versailles – Washington), trật tự
Yalta không được xây dựng trên nền tảng hiệp định – pháp lý quốc tế bền vững.
Những thỏa thuận làm cơ sở chủ yếu là thỏa thuận miệng, bí mật hoặc các
tuyên bố chính trị; Hội nghị Yalta và Potsdam đều không dẫn tới các hiệp ước quốc tế chính thức.
- Đặc trưng nổi bật của trật tự này là đối đầu là chủ đạo, xen kẽ hòa hoãn, hay
được gọi là Chiến tranh Lạnh”. Dù căng thẳng, trật tự vẫn được duy trì ở mức
độ kiểm soát cao nhờ sự đồng thuận ngầm giữa hai siêu cường, đặc biệt trong
việc không để quyền lực rơi vào tay một “bên thứ ba”.
- Trật tự hai cực Yalta là cuộc cạnh tranh chiến lược toàn cầu mang tính đối
kháng, dựa trên tư duy “thắng – thua”, “bạn – thù”, trong đó an ninh và quốc
phòng được đặt lên hàng đầu. Hầu hết các quốc gia đều bị cuốn vào thế đối đầu
Xô – Mỹ và buộc phải lựa chọn lập trường, ít nhất trong giai đoạn đầu.
- Một đặc điểm quan trọng khác là “cân bằng quyền lực dựa trên nỗi sợ hãi”,
xuất hiện trong bối cảnh kỷ nguyên vũ khí hạt nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử
tồn tại hai dạng cân bằng gần như độc lập: cân bằng hạt nhân Xô – Mỹ và cân
bằng nội bộ NATO. Trật tự này chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự, đặc biệt là
ưu thế hạt nhân của Mỹ trong giai đoạn đầu.
- Bên cạnh đó, trật tự Yalta chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và các
lực lượng “thứ ba”: phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh; sự ra
đời của Phong trào Không liên kết; nỗ lực theo đuổi chính sách đối ngoại độc
lập của Pháp và Trung Quốc, làm xói mòn dần tính tuyệt đối của trật tự hai cực.
Đây cũng là giai đoạn sức mạnh mềm và chiến tranh truyền thông ngày càng
đóng vai trò quan trọng, bên cạnh sức mạnh quân sự.
Ý 2: Vai trò của vũ khí hạt nhân trong Trật tự Hai cực Yalta
- Vũ khí hạt nhân giữ vai trò nền tảng chiến lược của trật tự hai cực Yalta. Trước
hết, chúng quy định cơ chế “cân bằng quyền lực dựa trên nỗi sợ hãi”, khi khả
năng hủy diệt lẫn nhau khiến các siêu cường không thể tiến hành chiến tranh
trực tiếp, thay vào đó là răn đe và kiềm chế.
- Sự xuất hiện và phổ biến của vũ khí hạt nhân làm thay đổi căn bản tương quan
quyền lực quốc tế, trở thành tiêu chí then chốt để xác lập vị thế cường quốc.
Việc Mỹ độc quyền hạt nhân năm 1945 giúp nước này chiếm ưu thế ban đầu;
đến năm 1949, Liên Xô sở hữu vũ khí hạt nhân đã tái lập thế cân bằng hạt
nhân, củng cố mô hình lưỡng cực. Sau đó, Anh, Pháp và Trung Quốc gia nhập
“câu lạc bộ hạt nhân”, qua đó gia tăng tiếng nói quốc tế.
- Vũ khí hạt nhân đồng thời tạo nên trạng thái “chiến tranh không thể, hòa bình
không trọn vẹn”, làm thay đổi tư duy chiến tranh truyền thống và kéo dài Chiến
tranh Lạnh. Nỗi sợ chiến tranh hủy diệt ngăn chặn xung đột trực tiếp, nhưng lại
duy trì đối đầu lâu dài thông qua chiến tranh ủy nhiệm và chạy đua vũ trang.
- Tuy nhiên, vũ khí hạt nhân cũng là nguồn gốc của nhiều bất ổn: nguy cơ tính
toán sai lầm, khủng hoảng hạt nhân, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và bất
bình đẳng chiến lược giữa các quốc gia. Do đó, hòa bình trong trật tự Yalta là
hòa bình mong manh, dựa trên sợ hãi hơn là lòng tin, khiến quan hệ quốc tế
thường xuyên rơi vào căng thẳng và khủng hoảng
Câu 5: “Chiến tranh Lạnh” là gì? Vì sao có sự ra đời của Chiến tranh Lạnh? Theo
em, với cục diện thế giới 1945 - 1947 thì có thể tránh được cuộc Chiến tranh Lạnh hay không?
- Khái niệm “Chiến tranh Lạnh”: Chiến tranh Lạnh là trạng thái đối đầu căng
thẳng, lâu dài giữa hai khối đối lập do Mỹ đứng đầu khối TBCN và Liên Xô
đứng đầu khối XHCN. Cuộc đối đầu này không dẫn đến chiến tranh quân sự
trực tiếp giữa 2 siêu cường, nhưng thể hiện qua sự cạnh tranh gay gắt trên mọi
lĩnh vực như chính trị, quân sự, kinh tế, tư tưởng, khoa học - kĩ thuật… Hai bên
thiết lập các liên minh quân sự - chính trị, chạy đua vũ trang và tiến hành nhiều
cuộc chiến tranh cục bộ, chiến tranh uỷ nhiệm ở nhiều khu vực trên thế giới.
- Vì sao có sự ra đời của Chiến tranh Lạnh:
+ Thứ nhất, do sự đối lập về mục tiêu và hệ tư tưởng giữa hai hệ thống xã
hội: Sau chiến tranh thế giới 2, Mỹ và Liên Xô trở thành hai cường quốc
hàng đầu, nhưng đại diện cho hai con đường phát triển hoàn toàn khác
nhau là CNTB và CNXH. Chính sự khác biệt về lợi ích, mục tiêu chiến
lược và ý thức hệ đã khiến quan hệ giữa hai nước nhanh chóng chuyển
từ đồng minh chống phát xít thời chiến chuyển sang đối đầu
+ Thứ hai, do tham vọng thiết lập trật tự thế giới theo lợi ích của mỗi bên:
Mỹ muốn vươn lên xác lập vai trò lãnh đạo thế giới tư bản, mở rộng sự
ảnh hưởng của mình ra toàn cầu và ngăn chặn sự phát triển của CNXH.
Thì Liên Xô mong muốn bảo vệ CNXH, mở rộng và củng cố hệ thống
XHCN, đảm bảo sự an ninh trước các nước tư bản. Sự khác biệt trong
cách nhìn nhận và tổ chức trật tự thế giới khiến hai bên bước vào thế đối đầu lâu dài.
+ Thứ ba, do sự tác động của cục diện quốc tế sau chiến tranh thế giới 2:
Sau chiến tranh thế giới 2, các nước tư bản châu Âu và Nhật Bản bị suy
yếu nặng nề, trong khi Mỹ và Liên Xô vươn lên mạnh mẽ, hình thành
cục diện hai cực chi phối quan hệ quốc tế lúc bấy giờ. Trong bối cảnh đó
quan hệ quốc tế bị phân hoá sâu sắc, quyền lực nằm hoàn toàn trong tay
hai cường quốc Mỹ và Liên Xô. Vì thế khi mâu thuẫn giữa hai cường
quốc này xảy ra thì sẽ không có bên thứ 3 có đủ khả năng, quyền lực
điều hoà hay ngăn chặn sự xung đột.
+ Thứ tư, Chiến tranh Lạnh bùng nổ trực tiếp do Mỹ phát động. Từ năm
1947, Mỹ công khai thực hiện chính sách chống Liên Xô và các nước
XHCN, tiêu biểu là việc Mỹ đưa ra “Học thuyết Truman” và “kế hoạch
Marshall”, thành lập khối quân sự NATO, triển khai chiến lược bao vây,
ngăn chặn và chống phá phong trào cách mạng trên thế giới. Những
hành động này đã chính thức mở đầu thời kì Chiến tranh Lạnh
- Theo em, với cục diện thế giới 1945 - 1947 thì có thể tránh được cuộc
Chiến tranh Lạnh hay không
=> Theo em cục diện thế giới 1945 - 1947 không thể tránh khỏi được cuộc Chiến tranh Lạnh, vì:
+ Thế giới giai đoạn 1945 - 1937 đã có sự đối lập về mục tiêu, hệ tư tưởng
giữa CNTB và CNXH do Mỹ và Liên Xô đứng đầu.
+ Cục diện thế giới sau chiến tranh thế giới 2 là điều kiện khách quan
khiến sự đối đầu là không thể tránh khỏi. Quyền lực tập trung vào hai
cường quốc này mà các cơ chế hợp tác quốc tế hay các quốc gia khác
như Anh, Pháp lại không đủ mạnh để hoá giải mâu thuẫn hay cân bằng quyền lực
+ Tham vọng của Mỹ quá lớn khi theo đuổi mục tiêu thiết lập trật tự thế
giới do mình chi phối. Do đó, sự phát triển của CNXH đã trở thành “cái gai” trong mắt CNTB.
Câu 6: Phân tích những đặc điểm chính của các giai đoạn Chiến tranh Lạnh?
Những nhân tố nào tác động làm thay đổi các giai đoạn của Chiến tranh Lạnh?
● Những đặc điểm chính của các giai đoạn Chiến tranh Lạnh
- Giai đoạn 1947 - 1962
+ Đặc điểm: Chiến tranh Lạnh trong trạng thái đối đầu căng thẳng và gay gắt
+ Phân tích: Chiến tranh Lạnh giai đoạn này mang đặc trưng nổi bật là sự
đối đầu toàn diện và quyết liệt giữa hai khối CNTB - Mỹ và CNXH -
Liên Xô. Hai bên thiết lập các liên minh quân sự - chính trị đối lập, tiến
hành chạy đua vũ trang, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, làm cho thế giới
luôn trong trạng thái căng thẳng. Mỹ và Liên Xô không trực tiếp tiến
hành chiến tranh với nhau mà đối đầu thông qua các cuộc chiến tranh
cục bộ và chiến tranh uỷ nhiệm ở nhiều khu vực như châu Á, châu Phi…
Đồng thời, Chiến tranh Lạnh diễn ra trên mọi lĩnh vực: chính trị, quân
sự, kinh tế, ngoại giao và tư tưởng - Giai đoạn 1962 - 1969
+ Đặc điểm: Mâu thuẫn giữa hai khối Mỹ và Liên Xô có sự giảm
+ Phân tích: Giai đoạn này hai bên bắt đầu điều chỉnh chính sách, chuyển
từ đối đầu gay gắt sang đối thoại và thỏa hiệp trong một số vấn đề quan
trọng. Sự hoà hoãn này thể hiện qua việc ký kết các hiệp định hạn chế
vũ khí chiến lược, mở rộng quan hệ ngoại giao và kinh tế giữa các nước
thuộc hai khối => Chiến tranh Lạnh vẫn chưa kết thúc mà chỉ tạm thời
lắng dịu, do mâu thuẫn cơ bản giữa hai bên vẫn còn tồn tại.
- Giai đoạn cuối 1969 - 1985
+ Đặc điểm: Tái diễn đối đầu và căng thẳng
+ Phân tích: Các thỏa thuận hòa hoãn trước đó ký kết bị suy yếu, hai bên
lại tiếp tục chạy đua vũ trang và can thiệp vào nhiều khu vực chiến lược.
Mỹ giai đoạn này theo đuổi chính sách đối ngoại cứng rắn, đẩy mạnh
đối đầu quân sự, khiến nguy cơ xung đột (đặc biệt - xung đột hạt nhân) lại gia tăng.
- Giai đoạn giữa 1980 - 1991
+ Đặc điểm: Chiến tranh Lạnh suy yếu và đi đến kết thúc
+ Phân tích: Xu thế hoà hoãn, đối thoại và chấm dứt đối đầu là đặc điểm
nổi bật trong giai đoạn này. Mỹ và Liên Xô từng bước giảm căng thẳng,
tăng cường hợp tác và giải trừ quân bị. Sự suy yếu này gắn liền với việc
Liên Xô tiến hành cải tổ, thay đổi tư duy đối ngoại, chấm dứt đối đầu
với phương Tây. Chiến tranh Lạnh chính thức chấm dứt, đánh dấu sự
sụp đổ của thế giới hai cực.
● Những nhân tố nào tác động làm thay đổi các giai đoạn của Chiến tranh Lạnh
- Thứ nhất, sự thay đổi tương quan lực lượng đã khiến hai cường quốc Mỹ và
Liên Xô bị suy giảm. Bởi vì các nước Tây Âu và Nhật Bản phục hồi và vươn
lên mạnh mẽ. Quan hệ quốc tế không còn bị chi phối hoàn toàn bởi hai cực Mỹ
- Liên Xô, vì thế hai bên buộc phải thay đổi chính sách đối ngoại từ gay gắt
sang hòa hoãn or hợp tác trong từng giai đoạn nhất định
- Thứ hai, các cuộc chạy đua vũ trang (đặc biệt - vũ khí hạt nhân) đã tiêu tốn
nguồn kinh tế khổng lồ, gây sức ép kinh tế lên đời sống xã hội. Từ đó Mỹ và
Liên Xô đã nỗ lực hạn chế vũ khí và giảm căng thẳng
- Thứ ba, sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của hai cường quốc Mỹ và Liên
Xô đã tác động trực tiếp đến mức độ căng thẳng của Chiến tranh Lạnh: chính
sách đối ngoại cứng rắn - căng thẳng, chính sách đối ngoại thỏa hiệp và hợp tác
- giảm căng thẳng or suy yếu
- Thứ tư, sự phát triển của các phong trào hòa bình, xu hướng hợp tác, hội nhập
quốc tế đã tạo sức ép nhằm kiềm chế hành động cực đoan của các cường quốc.
Cùng với đó là thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình.
Câu 7: Phân tích các vấn đề nổi bật trong giai đoạn 1 của Chiến tranh Lạnh (1947
- 1962)? Đâu là các sự kiện vượt ngoài “tầm kiểm soát” của hai siêu cường Mỹ và Liên Xô? Vì sao?
Ý 1: Các vấn đề nổi bật trong giai đoạn 1 của Chiến tranh Lạnh (1947 - 1962).
- Trước hết, Chiến tranh Lạnh bùng nổ từ mâu thuẫn ý thức hệ, được biểu tượng
hóa bằng khái niệm “Bức màn sắt”. Thuật ngữ này phản ánh sự chia cắt châu
Âu thành hai khối Đông – Tây, trong đó các nước Trung và Đông Âu ngày
càng chịu ảnh hưởng và kiểm soát của Liên Xô. Cùng với đó thì sự ra đời của
Học thuyết Truman (1947) – chính sách “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” của
Mỹ – đã đánh dấu Chiến tranh Lạnh chính thức bắt đầu.
- Thứ hai, hai siêu cường đối đầu gay gắt về chính trị, ngoại giao và kinh tế,
thông qua việc thiết lập các khối liên minh đối lập. Phía Mỹ đứng đầu khối tư
bản với Kế hoạch Marshall, OEEC và NATO; phía Liên Xô tổ chức khối xã hội
chủ nghĩa với SEV và Hiệp ước Vác-xa-va. Điều này hình thành một địa –
chính trị toàn cầu mới, chia thế giới thành hai phe đối đầu rõ rệt.
- Thứ ba, giai đoạn này chứng kiến chạy đua vũ trang, đặc biệt là vũ khí hạt
nhân, với hàng nghìn vụ thử nghiệm, đạt đỉnh cao vào đầu thập niên 1960. Vũ
khí hạt nhân trở thành công cụ răn đe chiến lược, làm xuất hiện chiến lược “đu
đưa bên miệng hố chiến tranh”, vừa ngăn chiến tranh trực tiếp, vừa đẩy thế giới
vào trạng thái bất ổn thường trực.
+ Mỹ thử nghiệm thành công bom nguyên tử năm 1945, trong khi Liên Xô
phá thế độc quyền hạt nhân của Mỹ vào năm 1949, mở ra kỷ nguyên cân bằng hạt nhân.
- Thứ tư, Chiến tranh Lạnh còn được thể hiện rõ qua các xung đột trên thực địa,
nơi hai siêu cường tránh đối đầu trực tiếp nhưng can dự gián tiếp.
+ Tiêu biểu là phong tỏa Berlin (1948–1949) khi Liên Xô tìm cách buộc
phương Tây rút khỏi Tây Berlin nhưng thất bại trước chiến dịch không
vận của Mỹ và đồng minh.
+ Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953) là cuộc xung đột quân sự lớn đầu
tiên giữa hai phe, suýt leo thang thành chiến tranh hạt nhân.
+ Chiến tranh Đông Dương cho thấy sự đối đầu thông qua các cuộc chiến ủy nhiệm.
+ Căng thẳng tiếp tục gia tăng với khủng hoảng Berlin và việc xây dựng
Bức tường Berlin năm 1961, trước khi lên tới đỉnh điểm trong Khủng hoảng tên lửa
+ Cuba năm 1962, khi Mỹ và Liên Xô đối đầu trực tiếp, đẩy thế giới tới
sát bờ vực chiến tranh hạt nhân.
- Bên cạnh đó, hai siêu cường còn cạnh tranh gay gắt trong khoa học – kỹ thuật,
nhất là lĩnh vực không gian, mở đầu bằng sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh
Sputnik (1957) và đưa con người vào vũ trụ (1961).
● Ý 2: Các sự kiện vượt ngoài “tầm kiểm soát” của Mỹ và Liên Xô và nguyên nhân
- Trong giai đoạn này, hai sự kiện lớn tại châu Á được xem là vượt ngoài tầm
kiểm soát của cả Mỹ và Liên Xô: sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa (1949) và Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953).
+ Thứ nhất, sự ra đời của CHND Trung Hoa (1949) không nằm trong toan
tính ban đầu của hai siêu cường. Cả Mỹ và Liên Xô đều mong muốn
một Trung Quốc “vùng đệm”, để bảo đảm lợi ích chiến lược của mình.
Tuy nhiên, cuộc nội chiến Trung Quốc kết thúc bằng thắng lợi hoàn toàn
của Đảng Cộng sản đã phá vỡ phương án này. Sự kiện này làm thay đổi
sâu sắc cục diện địa – chính trị châu Á, buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến
lược khu vực, đồng thời đặt nền móng cho những bất đồng Xô – Trung sau này.
+ Thứ hai, Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953) vượt ngoài kiểm soát vì cả
Mỹ và Liên Xô đều chủ trương duy trì trạng thái chia cắt bán đảo Triều
Tiên như một “vùng đệm”, trong khi Bắc và Nam Triều Tiên đều theo
đuổi mục tiêu thống nhất bằng vũ lực, mang đậm tính dân tộc chủ nghĩa.
Cuộc chiến nhanh chóng quốc tế hóa, có nguy cơ leo thang thành chiến tranh hạt nhân.
Câu 8: Phân tích những nhân tố tác động đến giai đoạn “hoà hoãn tạm thời”
(1962-1969) của Chiến tranh Lạnh? Những biểu hiện cụ thể của giai đoạn này?
Ý 1: Nhân tố đưa tới giai đoạn 2 “hòa hoãn tạm thời” của Chiến tranh Lạnh (1962–1969)
Giai đoạn 2 của Chiến tranh Lạnh mang đặc trưng “ổn định trong thế đối đầu”: Mỹ –
Liên Xô vẫn cạnh tranh toàn diện nhưng chuyển từ đối đầu dễ bùng nổ sang kiểm soát
xung đột, đồng thời trật tự hai cực Yalta bắt đầu xói mòn do sự xuất hiện của các lực
lượng “cực thứ ba”, đặc biệt là mâu thuẫn Trung – Xô.
● Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962) tạo “cú sốc” buộc hai siêu cường phải kiềm chế
- Cuba 1962 là đỉnh điểm của chiến lược “đu đưa bên miệng hố chiến tranh”, khi
nguy cơ chiến tranh hạt nhân trở nên hiện hữu.
- Khủng hoảng cho thấy cấu trúc lưỡng cực dựa trên răn đe hạt nhân có thể đẩy
thế giới tới bờ vực “chiến tranh thế giới thứ ba”.
- Vì vậy, sau 1962 hai bên chuyển sang tạm thời hòa hoãn và xây dựng cơ
chế“nguyên tắc cùng tồn tại”, hạn chế những hành động có thể làm xung đột vượt khỏi kiểm soát.
● Nhận thức lại về “an ninh thế giới” trong bối cảnh cân bằng hạt nhân và
phổ biến hạt nhân
- Khi tương quan hạt nhân tiến tới thế cân bằng, khả năng “đánh phủ đầu” trở
nên kém khả thi vì rủi ro hủy diệt lẫn nhau.
- Đồng thời, nhiều nước khác đã/đang sở hữu hạt nhân (Mỹ 1945, Liên Xô 1949,
Anh 1952, Pháp 1960, Trung Quốc 1964) khiến môi trường an ninh phức tạp
hơn, buộc Mỹ – Xô phải thận trọng hơn - Mỹ:
+ Điều chỉnh từ tư duy dựa chủ yếu vào ưu thế hạt nhân/đe dọa phủ đầu
sang hướng “phản ứng linh hoạt”: dùng nhiều công cụ (quân sự thường,
kinh tế, ngoại giao…), không phụ thuộc tuyệt đối vào hạt nhân. - Liên Xô:
+ Có xu hướng chuyển từ “ganh đua đối đầu” sang thừa nhận nguyên
trạng toàn cầu (đặc biệt ở châu Âu) và quan tâm hơn tới các thỏa thuận hạn chế vũ khí.
+ Lý do thực tiễn: gánh nặng kinh tế và nghĩa vụ “anh cả” với Đông Âu
khiến Liên Xô có động lực giảm căng thẳng.
● Sức ép nội bộ và mâu thuẫn trong hệ thống đồng minh của mỗi bên
- Ở Mỹ và khối Tây:
+ Tây Âu phục hồi mạnh, xuất hiện xu hướng ly tâm với Mỹ, nổi bật là
Pháp của De Gaulle theo đuổi “tự chủ chiến lược”, phản đối một số
chính sách của Mỹ; Pháp rút khỏi bộ chỉ huy quân sự NATO (1966).
+ Chiến tranh Việt Nam làm Mỹ sa lầy, gây tổn thất lớn và kích hoạt
phong trào phản chiến, thúc Mỹ cần giảm căng thẳng với Liên Xô và
điều chỉnh tiếp cận với Trung Quốc.
- Ở Liên Xô và khối Đông:
+ Dấu hiệu trì trệ kinh tế và bất ổn xã hội gia tăng.
+ Cải cách và phong trào đòi tự do ở Đông Âu lên cao, đỉnh điểm là “Mùa
xuân Praha” (1968); Liên Xô can thiệp quân sự, làm lộ mâu thuẫn nội bộ
khối Warsaw và tạo thêm áp lực chính trị – hình ảnh.
● Sự xói mòn hai cực do “cực thứ ba”: mâu thuẫn Trung – Xô lên đỉnh cao
- Trung Quốc ngày càng bất đồng với Liên Xô về lợi ích, đường lối và cả vấn đề
hạt nhân (TQ thử hạt nhân 1964).
- Căng thẳng biên giới và đối đầu Xô–Trung làm cấu trúc hai cực biến đổi, tạo
không gian để Mỹ khai thác thế “tam giác” trong quan hệ quốc tế (dù bước đột
phá Mỹ–Trung rõ hơn sau 1969).
Ý 2: Biểu hiện tiêu biểu của xu thế hòa hoãn (gắn với các nhân tố trên)
● Thiết lập cơ chế kiểm soát khủng hoảng và kiểm soát vũ khí
- 1963: thiết lập đường dây nóng Washington – Moscow để tránh tính toán sai trong khủng hoảng
- 1963: ký Hiệp ước cấm thử hạt nhân hạn chế (LTBT) (cấm thử trong khí quyển,
vũ trụ và dưới nước), phản ánh nhu cầu kiềm chế chạy đua.
- 1968: ký Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) – công cụ quan trọng
nhằm hạn chế lan truyền hạt nhân và duy trì ổn định chiến lược.
● Mâu thuẫn Xô–Trung sâu sắc hơn, mở đường cho dịch chuyển chiến lược
- Từ đầu thập niên 1960, bất đồng Xô – Trung không chỉ dừng ở mức tư tưởng
mà mở rộng sang lợi ích chiến lược và vấn đề an ninh, đặc biệt sau khi Trung
Quốc trở thành cường quốc hạt nhân năm 1964. Liên Xô chủ trương “chung
sống hòa bình” với Mỹ, trong khi Trung Quốc phản đối mạnh mẽ đường lối này
và theo đuổi chiến lược đối đầu triệt để với phương Tây, đồng thời muốn khẳng
định vai trò lãnh đạo thế giới xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn leo thang thành xung
đột quân sự trực tiếp ở biên giới Xô – Trung năm 1969, cho thấy khối xã hội
chủ nghĩa không còn thống nhất và trật tự hai cực Yalta bắt đầu rạn nứt. Sự đối
đầu Xô – Trung đã hình thành logic “cực thứ ba”, tạo điều kiện để Mỹ điều
chỉnh chiến lược, khai thác mâu thuẫn giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, từ đó
thúc đẩy xu hướng hòa hoãn và tái cân bằng trong quan hệ quốc tế cuối thập niên 1960.
Câu 9: Phân tích những nhân tố tác động tới giai đoạn “Căng thẳng trở lại” của
Chiến tranh Lạnh (1969 - 1985) và sự sụp đổ của trật tự hai cực Yalta (1980 -
1991)? Những biểu hiện cụ thể của giai đoạn này?
Ý 1: Những nhân tố tác động đưa tới giai đoạn 3 “Căng thẳng trở lại” (1969 -
1985) của Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Trật tự Hai cực Yalta (1980 - 1991).
● Vấn đề nội bộ của hai siêu cường.
- Phía Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
+ Liên Xô: Lục đục, bất ổn về tình hình chính trị trong nước Gorbachev
lên nắm quyền, đưa ra các cải tổ về kinh tế và chính trị nhưng lại càng
gây thêm nhiều hỗn loạn cho đất nước, góp phần dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô.
+ Giai đoạn trước, kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa phát triển khá nhanh
và đều, nhưng tới giai đoạn nay, đã xuất hiện những hiện tượng trì trệ,
khoảng cách giữa Liên Xô với các nước công nghiệp hóa ở phương Tây
ngày càng mở rộng. Nguyên nhân của sự trì trệ này nằm ở ngay trong cơ
chế quản lý của nền kinh tế chỉ huy kém hiệu quả, và sự chạy đua vũ
trang kết sức tốn kém của Liên Xô.
+ Khó khăn và khủng hoảng về kinh tế là một trong những nguyên nhân
dẫn tới bất ổn định chính trị, xã hội đối với các nước Liên Xô và Đông Âu.
+ Căng thẳng Xô - Trung càng được đẩy lên cao trào do sự phân liệt trong cùng một ý thức hệ.
- Phía Mỹ và các nước tư bản chủ nghĩa:
+ Khủng hoảng kinh tế: Nền kinh tế thế giới tư bản cũng bước vào thời kỳ
khủng hoảng và trì trệ kéo dài do sự sa lầy của Mỹ ở cuộc chiến tranh
Việt Nam, cùng với đó là sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton-Woods.
“Ngoại giao dầu mỏ” của OPEC gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng
1973, càng làm tình hình thêm hỗn loạn và bất ổn.
+ Mâu thuẫn trong thế giới tư bản: Sự suy yếu tương đối của Mỹ cùng sự
đi lên của Nhật Bản và Tây Âu làm cho thế giới tư bản chia làm 3 trung
tâm lớn chứ không còn sự độc quyền của Mỹ nữa. Sự xuống dốc tương
đối và từ từ của nền kinh tế Mỹ làm cho quan hệ kinh tế Mỹ với Tây Âu
và Nhật Bản luôn luôn căng thẳng.
● Sự thay đổi chiến lược của Liên Xô.
- Trước cơ hội vàng khi Mỹ đang mất đi ảnh hưởng ở Đông Âu và Việt Nam,
Liên Xô đã đưa ra chiến lược “Chiến lược quân sự biển mới” - cạnh tranh khu
vực ngoại vi, và tăng cường mở rộng các khu vực châu Á, Mỹ Latin, châu Phi,
can thiệp quân sự vào Afghanistan. Sự hiện diện quân sự của Liên Xô ở các
khu vực này trong bối cảnh Mỹ đang có những mâu thuẫn với các nước Arab
khiến mối quan hệ giữa 2 siêu cường bắt đầu có dấu hiệu căng thẳng trở lại.
● Các nhân tố khác.
- Trung quốc và “cực thứ ba”
- Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước.
- Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đã tạo điều kiện cho xu thế toàn cầu hóa
ra đời từ những năm 1980, theo đó, làm xói mòn xu thế đối đầu căng thẳng,
thay bằng xu thế hợp tác cùng phát triển.
Ý 2: Những biểu hiện cụ thể của giai đoạn này.
● Căng thẳng Xô - Mỹ.
- Phía Mỹ: Từ đầu thập niên 1970, quan hệ Xô – Mỹ có dấu hiệu căng thẳng trở
lại, gắn liền với biến động năng lượng toàn cầu và sự thay đổi tương quan ảnh
hưởng chiến lược. Khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, do “ngoại giao dầu mỏ”
của OPEC, đã làm lung lay nghiêm trọng vị thế kinh tế – chính trị của Mỹ và
phương Tây. Tiếp đó, thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (1975) và
Cách mạng Iran năm 1979 khiến Mỹ mất đi các đồng minh chiến lược quan
trọng ở châu Á và Trung Đông, làm suy giảm đáng kể ảnh hưởng toàn cầu của nước này.
- Phía Liên Xô: Trước cơ hội vàng khi Mỹ đang mất đi ảnh hưởng ở Đông Âu và
Việt Nam, Liên Xô đã đưa ra chiến lược “Chiến lược quân sự biển mới” - cạnh
tranh khu vực ngoại vi, và tăng cường mở rộng các khu vực châu Á, Mỹ Latin,
châu Phi, can thiệp quân sự vào Afghanistan. Sự hiện diện quân sự của Liên Xô
ở các khu vực này trong bối cảnh Mỹ đang có những mâu thuẫn với các nước
Arab khiến mối quan hệ giữa 2 siêu cường bắt đầu có dấu hiệu căng thẳng trở
lại. Mục tiêu của Moscow là nâng cao ảnh hưởng chiến lược, nhất là tại các
khu vực then chốt liên quan tới tuyến vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông – lợi
ích sống còn của Mỹ và phương Tây.
=> Sự mở rộng ảnh hưởng quân sự của Liên Xô tại các địa bàn chiến lược đã làm gia
tăng lo ngại ở Mỹ, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ đang gặp khó khăn trong quan hệ với
các nước Arab. Washington nghi ngờ Liên Xô có ý đồ đe dọa quyền kiểm soát nguồn
năng lượng Trung Đông, từ đó dẫn tới phản ứng cứng rắn hơn. Tháng 1/1980, Mỹ
công bố Học thuyết Carter, tuyên bố khu vực Vịnh Ba Tư là lợi ích sống còn của Mỹ;
đồng thời tăng cường liên minh Mỹ – Trung và khởi động lại chạy đua vũ trang dưới thời Tổng thống Reagan.
=> Cuộc chạy đua quân sự mới không tập trung vào vũ khí hạt nhân chiến lược mà
chủ yếu là tên lửa tầm trung và vũ khí thông thường hiện đại. Năm 1983, Mỹ triển
khai tên lửa Pershing tại Tây Âu nhằm đáp trả việc Liên Xô triển khai tên lửa SS-20,
gây ra khủng hoảng tên lửa châu Âu và làm gia tăng căng thẳng Đông – Tây. Cuộc đối
đầu này tạo sức ép nặng nề cho cả hai phía, đặc biệt là Liên Xô khi vừa sa lầy tại
Afghanistan vừa phải dồn nguồn lực cho cạnh tranh quân sự, góp phần đẩy quan hệ
Xô – Mỹ vào giai đoạn đối đầu gay gắt mới
● Châu Á: Căng thẳng giữa Trung Quốc và Liên Xô ngày càng gay gắt.
- Từ đầu thập niên 1960, bất đồng Xô – Trung không chỉ dừng ở mức tư tưởng
mà mở rộng sang lợi ích chiến lược và vấn đề an ninh, đặc biệt sau khi Trung
Quốc trở thành cường quốc hạt nhân năm 1964. Liên Xô chủ trương “chung
sống hòa bình” với Mỹ, trong khi Trung Quốc phản đối mạnh mẽ đường lối này
và theo đuổi chiến lược đối đầu triệt để với phương Tây, đồng thời muốn khẳng
định vai trò lãnh đạo thế giới xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn leo thang thành xung
đột quân sự trực tiếp ở biên giới Xô – Trung năm 1969, cho thấy khối xã hội
chủ nghĩa không còn thống nhất và trật tự hai cực Yalta bắt đầu rạn nứt. Sự đối
đầu Xô – Trung đã hình thành logic “cực thứ ba”, tạo điều kiện để Mỹ điều
chỉnh chiến lược, khai thác mâu thuẫn giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, từ đó
thúc đẩy xu hướng hòa hoãn và tái cân bằng trong quan hệ quốc tế cuối thập niên 1960.
● Sự sụp đổ của Trật tự Hai cực (1989 - 1991).
- Cuối thập niên 1980, cuộc cải tổ ở Liên Xô đã vượt khỏi mục tiêu ban đầu và
dẫn tới sự sụp đổ dây chuyền của các chế độ xã hội chủ nghĩa Đông Âu, khiến
khối Đông tan rã. Năm 1990, nước Đức thống nhất; năm 1991, Hiệp ước
Warsaw và SEV giải thể, đánh dấu sự chấm dứt của khối xã hội chủ nghĩa ở
châu Âu. Tại Liên Xô, sau khi Gorbachev lên cầm quyền (1985) và tiến hành
cải tổ chính trị – kinh tế, vai trò kiểm soát của trung ương suy yếu, dẫn tới Liên
Xô tan rã năm 1991, 15 nước cộng hòa tuyên bố độc lập.
- Nguyên nhân chủ yếu là những hạn chế nội tại của mô hình Xô viết: ưu tiên
chạy đua vũ trang, hiệu quả kinh tế thấp, mức sống thua kém phương Tây và
khủng hoảng kéo dài trong thập niên 1970–1980, làm bùng phát phong trào
phản kháng ở Đông Âu. Trên bình diện quốc tế, Liên Xô bình thường hóa quan
hệ Đông – Tây, ký các hiệp ước cắt giảm vũ khí với Mỹ, rút quân khỏi
Afghanistan và chấm dứt trấn áp nội khối, tạo điều kiện cho sự tan rã diễn ra
hòa bình. Trong bối cảnh đó, Chiến tranh Lạnh chính thức kết thúc tháng 12/1989
Câu 10: Vấn đề hạt nhân đóng vai trò và diễn tiến như thế nào trong suốt tiến
trình của cuộc Chiến tranh Lạnh (1947 - 1991)? Sự thay đổi của “vấn đề hạt nhân”
Hậu Chiến tranh Lạnh như thế nào?
● Vấn đề hạt nhân đóng vai trò như thế nào trong Chiến tranh Lạnh (1947-1991)
- Trong suốt Chiến tranh Lạnh, vấn đề hạt nhân giữ vai trò trung tâm trong quan
hệ quốc tế và trở thành nhân tố cốt lõi chi phối sự đối đầu giữa hai cường quốc
Mỹ và Liên Xô. Vũ khí hạt nhân không chỉ là công cụ quân sự mà còn là
phương tiện răn đe chiến lược, quyết định tương quan lực lượng và hình thức
đối đầu giữa hai khối
- Sự tồn tại của vũ khí hạt nhân đã tạo ra thế cân bằng giữa hai cực Mỹ - Liên
Xô, khiến chiến tranh thế giới mới không thể bùng nổ do hai bên đều có khả
năng hủy diệt lẫn nhau. Vì vậy, đối đầu giữa hai cường quốc chủ yếu diễn ra
dưới hình thức chạy đua vũ trang, đối đầu chính trị, quân sự và ý thức hệ
- Tuy nhiên vấn đề hạt nhân cũng làm gia tăng mức độ nguy hiểm của Chiến
tranh Lạnh, đẩy thế giới đứng trước nguy cơ chiến tranh hạt nhân (tiêu biểu là
cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba). Chính mối đe doạ huỷ diệt toàn cầu từ vũ khí
hạt nhân đã buộc Mỹ và Liên Xô chuyển từ đối đầu căng thẳng sang đối thoại,
hoà hoãn nhằm kiểm soát và cắt giảm vũ khí.
● Diễn tiến của vấn đề hạt nhân trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh
- Giai đoạn độc quyền hạt nhân của Mỹ (1947 - 1949): Ngay sau chiến tranh thế
giới 2, Mỹ là quốc gia duy nhất sở hữu vũ khí hạt nhân. Ưu thế này giúp Mỹ
giữ vị trí đứng đầu về quân sự trong những năm đầu hình thành trật tự thế giới
hai cực. Trong giai đoạn này, vũ khí hạt nhân trở thành công cụ để Mỹ tạo sức
ép chính trị, quân sự với các quốc gia khác (đặc biệt là Liên Xô)
- Giai đoạn hình thành đối đầu hạt nhân Mỹ - Xô (1949 - đầu 1960s): Năm 1949,
Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử, chấm dứt thế độc quyền về vũ
khí hạt nhân của Mỹ. Từ đây, hai siêu cường bước vào chạy đua vũ trang hạt
nhân quyết liệt, phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Vấn đề hạt nhân đã
đẩy Chiến tranh Lạnh lên mức căng thẳng cực độ.
- Giai đoạn đỉnh cao căng thẳng hạt nhân ( đầu 1960s - cuối 1960s): Trong giai
đoạn này, kho vũ khí hạt nhân của hai bên đã đạt mức lớn, thiết lập thế cân
bằng răn đe hạt nhân. Khủng hoảng tên lửa Cuba 1962 đã đánh dấu thời điểm
nguy hiểm nhất của Chiến tranh Lạnh, khi chiến tranh hạt nhân có nguy cơ bùng nổ.
- Giai đoạn hoà hoãn và kiểm soát kiểm soát vũ khí hạt nhân (cuối 1960s - cuối
1970s): Trước nguy cơ hủy diệt toàn cầu của vũ khí hạt nhân, Mỹ và Liên Xô
chuyển sang đối thoại, hòa hoãn và ký kết các hiệp định hạn chế và kiểm soát vũ khí hạt nhân.
- Giai đoạn giải trừ hạt nhân và kết thúc Chiến tranh Lạnh (đầu 1980s - 1991):
Xu thế giảm đối đầu và cắt giảm vũ khí hạt nhân được đẩy mạnh thông qua các
hiệp ước quan trọng giữa Mỹ và Liên Xô. Việc thu hẹp chạy đua hạt nhân gắn
liền với sự suy yếu của trật tự hai cực và kết thúc Chiến tranh Lạnh năm 1991, khi Liên Xô tan rã.
● Sự thay đổi của “vấn đề hạt nhân” Hậu Chiến tranh Lạnh như thế nào
- Thứ nhất, vai trò của vũ khí hạt nhân giảm dần so với thời kỳ Chiến tranh
Lạnh. Với sự tan rã của trật tự hai cực Mỹ - Xô và sự chấm dứt đối đầu hạt
nhân của hai siêu cường như. Hậu Chiến tranh Lạnh, các quốc gia chuyển trọng
tâm sang phát triển kinh tế, hợp tác và toàn cầu hoá. Vì vậy mà vũ khí hạt nhân
không còn giữ vai trò trung tâm tuyệt đối trong qhqt
- Thứ hai, vấn đề hạt nhân đã từ dùng để răn đe, chạy đua vũ trang thành cắt
giảm, kiểm soát và hạn chế nhằm ổn định và bảo vệ an ninh thế giới
- Thứ ba, vấn đề hạt nhân trở thành vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Thay vì
là chuyện riêng của Mỹ - Xô thì vấn đề hạt nhân giờ đây là vấn đề chung của
toàn cầu, bởi sự gia tăng số lượng các quốc gia sở hữu.
Câu 11: Có những xu hướng tập hợp lực lượng nào trong Chiến tranh Lạnh? Mục
tiêu chính của những xu hướng tập hợp đó là gì?
● Những xu hướng tập hợp lực lượng nào trong Chiến tranh Lạnh
- Xu hướng tập hợp quan trọng nhất - sự phân chia thế giới thành 2 phe đối lập
+ Phe CNTB: Gồm Mỹ (đứng đầu) cùng với các nước tư bản phát triển ở
Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Phe này liên kết chặt chẽ với nhau về
kinh tế, chính trị, quân sự nhằm bảo vệ lợi ích chung, và kìm hãm sự phát triển của phe CNXH.
+ Phe CNXH: Gồm Liên Xô (dẫn đầu) cùng với các nước XHCN ở Đông
Âu, châu Á và một số khu vực khác. Phe CNXH liên kết với nhau chặt
chẽ về nhiều mặt và coi đoàn kết là điều kiện sống còn để bảo vệ hệ
thống XHCN đã và đang hình thành, và chống lại những hành động gây
sức ép từ phe đối lập. Đồng thời, phe này cũng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc.
- Xu hướng tập hợp lực lượng - các nước mới giành độc lập (châu Á, châu Phi và
Mĩ Latinh): Sau chiến tranh, làn sóng giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ,
nhiều quốc gia thoát khỏi ách thống trị của các nước thực dân cũ. Những quốc
gia này đứng trước nguy cơ bị lôi kéo hoặc phụ thuộc vào một trong hai phe
lớn. Vì vậy, họ có xu hướng liên kết với nhau, giữ khoảng cách nhất định với
cả Mỹ và Liên Xô, nhằm bảo vệ quyền tự quyết và lợi ích dân tộc của mình ● Mục tiêu
- Phe CNTB >< CNXH: Mục tiêu cơ bản là mở rộng và bảo vệ phạm vi ảnh
hưởng của mình trên thế giới. Mỹ và các nước đồng minh tìm cách duy trì vị trí
chi phối trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, đồng thời ngăn chặn sự lan rộng của
chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa hướng tới
việc củng cố hệ thống xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh của mình và ủng hộ các
lực lượng đấu tranh chống áp bức trên thế giới. Cả hai bên đều coi việc tập hợp
lực lượng là điều kiện quan trọng để giữ thế cân bằng và tạo ưu thế trước đối phương.
- Phe các nước mới giành độc lập: Mục tiêu của xu hướng không liên kết và hợp
tác giữa các nước mới độc lập là giữ vững hòa bình, bảo vệ độc lập dân tộc và
tạo điều kiện phát triển đất nước. Những quốc gia này không muốn trở thành
chiến trường hay công cụ trong sự đối đầu giữa các cường quốc. Việc liên kết
với nhau giúp họ có tiếng nói chung trong quan hệ quốc tế, giảm bớt sức ép từ
các nước lớn và góp phần làm cho cục diện thế giới trở nên đa dạng hơn, không
hoàn toàn bị chi phối bởi hai phe đối lập.
Câu 12: Vì sao độc lập dân tộc và chủ quyền lại trở thành vấn đề trọng tâm trong
quan hệ quốc tế từ năm 1945?
● Thứ nhất, do sự thay đổi căn bản của trật tự thế giới sau năm 1945
Trước năm 1945, trật tự thế giới bị chi phối bởi chủ nghĩa đế quốc, trong đó các nước
lớn như Anh, Pháp mở rộng ảnh hưởng bằng xâm lược và chiếm đóng lãnh thổ, tước
đoạt độc lập và chủ quyền của các quốc gia nhỏ, yếu. Quan hệ quốc tế lúc này chủ yếu
tồn tại hai xu hướng: các nước thực dân đế quốc và các nước thuộc địa, phụ thuộc.
Trong bối cảnh đó, độc lập dân tộc và chủ quyền không được thừa nhận như một giá
trị, thậm chí bị phủ nhận.
=> Khi trật tự đế quốc sụp đổ sau 1945, việc xác lập lại độc lập và chủ quyền cho các
dân tộc trở thành vấn đề cấp thiết của quan hệ quốc tế, từ đó đưa vấn đề này lên vị trí trung tâm.
● Thứ hai, do sự hình thành trật tự hai cực Yalta và vai trò của Liên Xô – Mỹ
Sau năm 1945, trật tự hai cực Yalta được thiết lập với hai siêu cường Liên Xô và Mỹ
giữ vai trò trung tâm. Trong cạnh tranh vị trí lãnh đạo thế giới, hai siêu cường này đề
cao các giá trị và quan điểm mới, trong đó có việc công nhận độc lập và chủ quyền
của các quốc gia dân tộc. Thông qua việc thành lập và hoạt động của Liên Hợp Quốc,
độc lập dân tộc và chủ quyền được xác lập thành nguyên tắc nền tảng của quan hệ quốc tế.
=> Khi các siêu cường và các thể chế quốc tế đặt độc lập – chủ quyền làm nguyên tắc
chung, vấn đề này trở thành tiêu chuẩn trung tâm để tổ chức và điều chỉnh quan hệ quốc tế sau 1945.
● Thứ ba, do sự trỗi dậy của các quốc gia mới giành độc lập và phong trào
Không liên kết