
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1. Môi trường:
1.1. Khái niệm
Theo nghĩa rộng, môi trường chỉ tất cả những gì xung quanh, có ảnh hưởng đến một vật
thể, sự kiện hay quá trình.
Chương trình môi trường Liên hiệp Quốc (UNEP) định nghĩa “Môi trường là tập hợp các
yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”.
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật
chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến
đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”.
Môi trường gắn với con người có thể là:
- Môi trường tự nhiên - bao gồm các yếu tố tự nhiên (không khí, đất, nước, động thực
vật,...) tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người
- Môi trường nhân tạo - gồm các yếu tố vật chất do con người tạo nên và làm thành những
tiện nghi cho cuộc sống của con người (ô tô, nhà ở, đô thị, công viên,...)
- Môi trường xã hội - tổng thể các mối quan hệ giữa người và người như luật lệ, thể chế,
cam kết, quy định... ở các cấp khác nhau.
1.2. Các thành phần cơ bản của MT tự nhiên
(1) Khí quyển
- Khí quyển: phần không khí từ bề mặt đất lên đến khoảng không gian giữa các hành tinh
- Khí quyển có cấu trúc phân tầng dựa vào sự biến thiên nhiệt độ theo độ cao, từ dưới lên
gồm các tầng:
+ Tầng đối lưu (Troposphere)
+ Tầng bình lưu (Stratosphere)
+ Tầng trung gian (Mesosphere)
+ Tầng nhiệt (Thermosphere)
+ Tầng ngoài (Exosphere) - -
Thành phần hóa học khí quyển: thay đổi theo độ cao. Không khí khô ở tầng đối lưu chứa
78% N2 và 21% O2 (theo thể tích), cùng lượng nhỏ các khí khác như Ar, CO2, CH4,...
Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại lớp không khí có nồng độ O3 cao, gọi là
lớp ozon hay tầng ozon. Lớp ozon có vai trò quan trọng là bảo vệ sự sống trên Trái Đất bằng cách
hấp thụ hầu hết bức xạ tử ngoại nguy hiểm với con người và sinh vật.
(2) Thủy quyển
- Lớp nước ở trên hay gần bề mặt Trái Đất, gồm nước dạng lỏng và đóng băng trên bề mặt,
nước ngầm và hơi nước trong khí quyển.
- Tổng lượng nước trên Trái Đất ước khoảng 1,385 tỉ km3, 97% trong đó là nước biển và
đại dương (phủ 71% diện tích bề mặt Trái Đất). Chỉ khoảng 0,01% tổng lượng nước là sẵn cho
con người có thể sử dụng làm nước ăn uống sinh hoạt.
- Đặc trưng quan trọng của thủy quyển là chu trình nước (Water cycle), tạo thành bởi các
quá trình bốc hơi, ngưng tụ, mưa, chảy tràn... Nhờ có chu trình nước mà tài nguyên nước được tái
tạo.
(3) Thạch quyển
- Thạch quyển là phần vỏ rắn của Trái Đất, gồm lớp vỏ và một phần lớp phủ trên
- Độ dày thạch quyển thay đổi theo vị trí địa lý (50~100 km), thành phần không đồng nhất.

Đất: là lớp ngoài cùng của thạch quyển; hình thành từ đá mẹ dưới tác động tổng hợp của
địa hình, nước, không khí, sinh vật; nơi con người sinh sống và có các hoạt động sản xuất.
(4) Sinh quyển
- Toàn bộ các dạng sống tồn tại bên trong, bên trên và phía trên Trái Đất
- Một số nơi có điều kiện khắc nghiệt (Bắc Cực) chỉ có 1 số vi khuẩn, bào tử nấm, chim di
cư
- Phân bố sinh vật thay đổi theo chiều cao: càng lên cao số loài càng giảm
- Sự sống hình thành trên Trái Đất khoảng gần 3 tỷ năm trước, bắt đầu từ đại dương, sau đó
phát triển trên cạn và tiến hóa như ngày nay.
Môi trường tự nhiên hiện nay được phân loại như sau:
• Môi trường không khí: Bao gồm tất cả không khí bao xung quanh trái đất như tầng khí
quyển và tương tác của không khí với bề rắn hay lỏng của trái đất.
• Môi trường nước: Bao gồm tổng lượng nước ở trên một hành tinh, trong đó có cả ở bề
mặt hành tinh, dưới lòng đất, trên không và cũng có thể là chất lỏng, hơi hay băng.
• Môi trường sinh vật: Là tất các các loài vật sinh sống và tồn tại ở trên trái đất.
• Môi trường đất: Là phần rắn và ở bên ngoài của trái đất, môi trường đất còn được biết đến
là thạch quyển, gồm phần trên của lớp phủ và lớp vỏ cùng các lớp ngoài cùng của cấu trúc trái
đất.
• Môi trường biển: Hay còn có tên gọi khác là môi trường đại dương, đây là khu vực sinh
thái hoặc môi trường của một hoặc nhiều động vật biển sinh sống.
• Môi trường chân không: Đây là loại môi trường không có bất kỳ loại không khí hay áp
suất nào.
• Môi trường vi mô: Hay còn được gọi là môi trường sống, nó bao gồm những yếu tố như
độ ẩm, nhiệt độ tối thiểu
• Môi trường vĩ mô: Bao gồm tất cả các điều kiện vật lý và sinh học bao bọc xung quanh
bên ngoài sinh vật hoặc cá thể, đơn cử như là môi trường xã hội.
1.3. Vai trò của môi trường đối với con người và sinh vật (Các chức năng cơ bản của môi
trường).
Với sinh vật nói chung và con người nói riêng, môi trường có các chức năng cơ bản sau:
(1) Là không gian sinh sống cho con người và sinh vật;
(2) Là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người;
+ Trồng lúa cần có đất nông nghiệp, ngành xây dựng cần vật liệu xây dựng thô như đất, đá
và các vật liệu xây dựng qua chế biến như xi măng, sắt, thép...;
+ Rừng tự nhiên phục mụ chức năng cung cấp nước, gỗ, bảo vệ sự đa dạng sinh học và
thông qua đó cải thiện môi trường chung của hệ sinh thái;
+ Biển cung cấp các nguồn hải sản, nước... phụ vụ nhu cầu sinh tồn của con người....
+ Động vật và thực vật cung cấp nguồn lương thực dồi dào trực tiếp phụ vụ đời sống của
con người.
+ Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió... là nguồn cung cấp điện năng, sự sống trực
tiếp cho con người.
Do vậy, có thể thấy rằng con người phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp vào môi trường. Không
có môi trường sẽ không có sự sống của con người.
(3) Là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và sản xuất;
Trong quá trình sinh sống, còn người gần như đảo thải tất cả các chất rác thải, phế thải
vào môi trường. Các chất này dưới tác động của ác vi sinh vật sẽ phân hủy, biến đổi theo các quá
trình sinh địa hóa rất phức tạp khác nhau. Qua các quá trình biến đổi tự nhiên các chất thải có

thể tái sử dụng dưới các dạng thức khác nhau và một phần tạo thành các độc tố gây hại cho môi
trường sống.
(4) Làm giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật;
Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con
người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có
nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời.
(5) Lưu trữ và cung cấp các thông tin cho con người
Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Bởi vì
chính môi trường trái đất là nơi:
- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật,
lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người.
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm các
hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống
trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động
đất, núi lửa...
- Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh
thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và
văn hoá khác.
2. Tài nguyên thiên nhiên:
2.0. Tài nguyên thiên nhiên
2.0.1. Khái niệm
Tài nguyên thiên nhiên được hiểu cơ bản chính là nguồn của cải vật chất nguyên khai, tài
nguyên thiên nhiên được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng được
để nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống (cụ thể chúng ta có thể kể đến như rừng
cây, các động thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu khí,…). Tài nguyên
thiên nhiên cũng là một bộ phận thiết yếu của môi trường, tài nguyên thiên nhiên cũng có quan hệ
chặt chẽ với môi trường.
2.0.2. Thuộc tính
+ Phân bố không đồng đều giữa các vùng trên Trái đất; trên cùng một lãnh thổ có thể tồn
tại nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự ưu đãi của tự nhiên với từng vùng lãnh thổ, từng
quốc gia.
+ Phần lớn tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao được hình thành qua quá trình lâu
dài của tự nhiên và lịch sử.
=> Từ 2 thuộc tính trên tạo nên tính quý hiếm của TNTN và lợi thế phát triển của quốc gia giàu
tài nguyên.
2.0.3. Phân loại tài nguyên thiên nhiên theo khả năng tái tạo
- Theo phương thức và khả năng tái tạo, tài nguyên được chia thành 02 loại: tài
nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo.
+ Tài nguyên tái tạo như: nước ngọt, đất, sinh vật,… là loại tài nguyên mà sau một chu
trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu. Tài nguyên tái tạo có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một
cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, có thể bị
suy thoái không thể tái tạo được. Ví dụ: nước có thể bị ô nhiễm; đất có thể bị mặn hóa, sa mạc
hóa,….
+ Tài nguyên không tái tạo: là dạng tài nguyên bị biến đổi, giảm dần về số lượng và mất
đi sau quá trình khai thác và sử dụng của con người. Ví dụ: khoáng sản sẽ cạn kiệt theo thời gian;
tài nguyên gen di truyền của các loại sinh vật quý hiếm có thể mất đi cùng với sự khai thác quá
mức và các thay đổi về môi trường sống….

2.1. Tài nguyên rừng:
2.1.1. Vai trò
- Về mặt sinh thái – môi trường:
+ Điều hoà khí hậu: Rừng ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển
và có ý nghĩa điều hoà khí hậu. Rừng cũng góp phần làm giảm tiếng ồn. Rừng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng làm cân bằng lượng O2 và CO2 trong khí quyển.
+ Đa dạng sinh học cao, lưu trữ nguồn gen: Rừng là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học
cao nhất ở trên cạn, nhất là rừng ẩm nhiệt đới. Là nơi cư trú của hàng triệu loài động vật và vi
sinh vật, rừng được xem là ngân hàng gen khổng lồ, lưu trữ các loại gen quý.
+ Hấp thụ CO2: Rừng là “lá phổi xanh” hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho
khu vực. Trung bình một ha rừng tạo nên 16 tấn oxy/năm.
+ Bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn: Thảm thực vật có chức năng quan trọng trong việc
ngăn cản một phần nước mưa rơi xuống đất và có vai trò phân phối lại lượng nước này. Rừng làm
tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, hạn chế dòng chảy trên mặt. Tầng thảm mục rừng có
khả năng giữ lại lượng nước bằng 100 - 900% trọng lượng của nó. Tán rừng có khả năng giảm
sức công phá của nước mưa đối với lớp đất bề mặt. Lượng đất xói mòn vùng đất có rừng chỉ bằng
10% vùng đất không có rừng,
+ Thảm mục rừng là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng, mùn và ảnh hưởng lớn đến độ
phì nhiêu của đất. Đây cũng là nơi cư trú và cung cấp chất dinh dưỡng cho vi sinh vật, nhiều loại
côn trùng và động vật đất, tạo môi trường thuận lợi cho động vật và vi sinh vật đất phát triển và
có ảnh hưởng đến các quá trình xảy ra trong đất.
- Về cung cấp tài nguyên:
+ Lương thực, thực phẩm: Năng suất trung bình của rừng trên thế giới đạt 5 tấn chất
khô/ha/năm, đáp ứng 2 - 3% nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người
+ Nguyên liệu: Rừng là nguồn cung cấp gỗ, chất đốt, nguyên vật liệu cho công nghiệp…
+ Cung cấp dược liệu: nhiều loài thực vật, động vật rừng là các loại thuốc chữa bệnh
2.1.2. Nguyên nhân gây mất rừng ở Việt Nam
Cô QA: Nguyên nhân chính của sự thu hẹp rừng ở nước ta là do
- Nạn du canh, du cư, phá rừng đốt rẫy làm nông nghiệp, trồng cây xuất khẩu, lấy gỗ củi,
mở mang đô thị, làm giao thông, khai thác mỏ.... (trong tổng số diện tích rừng bị mất hàng năm
thì khoảng 40 – 50% là do đốt nương làm rẫy. Ở Đắc Lắc trong thời gian từ 1991 – 1996 mất
trung bình 3.000 – 3.500 ha rừng/ năm, trong đó trên 1/2 diện tích rừng bị mất do làm nương rẫy;
đặc biệt là phá rừng để trồng các cây công nghiệp như cà phê ở Tây Nguyên chiếm 40 – 50%
diện tích rừng bị mất trong khu vực.)
- Hậu quả của chiến tranh hóa học do Mỹ thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua để lại
cho rừng là không nhỏ (trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam hơn 80 triệu lít
thuốc diệt cỏ đã phá hủy khoảng 2 triệu ha rừng tự nhiên.)
- Sức ép dân số và nhu cầu về đời sống, về lương thực và thực phẩm, năng lượng, gỗ dân
dụng … đang là mối đe doạ đối với rừng còn lại ở nước ta.
- Khai thác quá mức vượt khả năng phục hồi tự nhiên của rừng.
- Do khai thác không có kế hoạch, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm lãng phí tài nguyên rừng.
- Do cháy rừng, nhất là các rừng tràm, rừng thông, rừng khộp rụng lá.
2.1.3. Giải pháp bảo vệ tài nguyên rừng
*Để bảo vệ và phát triển rừng cần tiến hành các giải pháp sau:
- Bảo vệ nguyên trạng một số khu vực rừng đặc biệt có giá trị;
- Khai thác sử dụng hợp lí tài nguyên rừng;

- Hạn chế ô nhiễm môi trường; - Phòng chống cháy rừng;
- Trồng và bảo vệ rừng;
- Hạn chế, thay đổi mô hình tiêu thụ và giảm lãng phí gỗ rừng;
- Phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là cho các cộng đồng địa phương có rừng;
- Hợp tác quốc tế, hỗ trợ nguồn tài chính bảo vệ rừng cho khu vực các cộng đồng nghèo,
các quốc gia đang phát triển, đền bù những thiệt hại kinh tế liên quan tới hạn chế khai thác rừng
thuộc lãnh thổ của họ vì mục đích sinh thái, môi trường.
*Các vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Việt Nam được trình bày trong Luật bảo
vệ và phát triển rừng năm 1991 và các văn bản pháp quy khác, bao gồm các nội dung sau:
- Trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc.
- Bảo vệ rừng phòng hộ, các vườn quốc gia và các khu dự trữ tự nhiên
- Khai thác hợp lý rừng sản xuất, hạn chế khai hoang chuyển rừng thành đất nông nghiệp,
hạn chế di dân tự do.
- Đóng cửa rừng tự nhiên.
2.2. Tài nguyên nước:
2.2.1. Đặc điểm các nguồn nước ngọt chính trên trái đất
Nước là hợp chất hóa học của oxy và hidro gồm hai nguyên tử hidro và một nguyên tử oxy,
có công thức hóa học là H2O.
Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng
môi trường sống.
Nước là tài nguyện tái tạo được, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái Đất và cần
thiết cho mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người.
Tài nguyên nước là toàn bộ lượng nước có trong các khu vực có nước trên Trái Đất mà con
người có thể sử dụng được trong cuộc sống hằng ngày, để tồn tại, phát triển, phát triển nền kinh
tế xã hội,…
- Nguồn nước mưa: phân bố không đều trên Trái đất, nhìn chung là nguồn nước tương đối
sạch, đáp ứng được các tiêu chuẩn dùng nước.
- Nguồn nước mặt: có mặt thoáng tiếp xúc với không khí và thường xuyên được bổ sung
bởi nước mặt, nước ngầm tầng nông và nước thải từ khu dân cư.
- Nguồn nước ngầm: tồn tại trong các khoảng trống dưới đất, trong các khe nứt, các mao
quản, thấm trong các lớp đất đá,...và có thể tập trung thành từng bể, bồn, dòng chảy dưới lòng
đất.
2.2.2. Vai trò của nước
CÔ QA: *Vai trò: nước là tài nguyên quan trọng nhất của loài người và sinh vật:
- Trong tự nhiên, nước không ngừng vận động và chuyển đổi trạng thái tạo nên chu trình
nước, thông qua đó nước thông qua tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, đồng thời điều
hòa các yếu tố của khí hậu, đất đai và sinh vật.
- Nước cần cho nhu cầu sống của mọi cơ thể và chiếm tới 80 - 90% trọng lượng sinh vật
sống trong môi trường nước và 60-70% trọng lượng cơ thể con người.
- Nước đáp ứng các yêu cầu đa dạng của con người: tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất
công nghiệp, tạo ra điện năng và tô thêm vẻ đẹp cho cảnh quan, đường giao thông,...
2.2.3. Các vấn đề về tài nguyên nước ở Việt Nam.
+ Tình trạng thiếu nước mùa khô, lũ lụt mùa mưa đang xảy ra tại nhiều địa phương với
mức độ ngày càng nghiêm trọng. Vào mùa lũ, lượng nước dòng chảy chiếm tới 80%, còn mùa
khô chỉ có 20%. Nguyên nhân chính là do rừng đầu nguồn bị chặt phá.

+ Tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm, xâm nhập mặn và ô nhiễm nước ngầm đang diễn
ra ở các đô thị lớn và các tỉnh đồng bằng. Nguyên nhân chính là do khai thác quá mức, thiếu quy
hoạch, nước thải không xử lý.
+ Sự ô nhiễm nước mặt đã xuất hiện trên một số sông, kênh rạch thuộc một số đô thị lớn
(sông Tô Lịch, sông Nhuệ - Đáy, sông Thị Vải, sông Đồng Nai, Sài Gòn,....) đến mức báo động.
Một số hồ ao có hiện tượng phú dưỡng nặng, một số vùng cửa sông có dấu hiệu ô nhiễm dầu,
thuốc trừ sâu, kim loại nặng. Nguyên nhân là do nước thải, chất thải rắn chưa được thu gom, xử
lý thích hợp.
+ Sự xâm nhập mặn vào sông xảy ra với quy mô ngày càng gia tăng (thời gian dài hơn, lên
xa phía thượng lưu hơn) ở nhiều sông miền Trung. Nguyên nhân do giảm rừng đầu nguồn, khí
hậu thay đổi bất thường.
2.3.4. Giải pháp cho các vấn đề môi trường liên quan đến tài nguyên nước
Giải pháp cho các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước phải mang tính tổng thể, bao gồm:
1- Quản lý phát triển và sử dụng tài nguyên nói chung và tài nguyên nước nói riêng theo
lưu vực sông;
2- Sử dụng tài nguyên nước trong phạm vi khả năng tái tạo và không làm tổn thương các
điều kiện cần cho khả năng tái tạo cả về lượng và về chất.
2.3. Tài nguyên sinh học:
2.3.1. Giá trị của tài nguyên sinh học đối với con người
- Những giá trị kinh tế trực tiếp:
+ Giá trị cho tiêu thụ:
Cung cấp lương thực, thực phẩm (cây trồng, vật nuôi, thủy sản).
Dược liệu, thảo mộc, sản phẩm thiên nhiên phục vụ sức khỏe.
Nguyên liệu sinh hoạt (gỗ, tre, sợi tự nhiên, da, lông).
+ Giá trị sử dụng cho sản xuất:
Nguồn gen để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao.
Nguyên liệu cho công nghiệp chế biến (gỗ, cao su, dầu thực vật, thủy sản).
Đa dạng sinh học giúp duy trì nguồn nguyên liệu bền vững cho sản xuất.
- Những giá trị kinh tế gián tiếp:
+ Khả năng sản xuất của hệ sinh thái:
Hệ sinh thái cung cấp đất màu mỡ, nước sạch, chu trình dinh dưỡng cho nông nghiệp.
+ Điều hòa khí hậu:
Rừng hấp thụ CO , giảm hiệu ứng nhà kính, điều hòa nhiệt độ và lượng mưa.₂
+ Phân hủy các chất thải:
Vi sinh vật và các loài trong đất phân hủy rác hữu cơ, làm sạch môi trường.
+ Những mối quan hệ giữa các loài:
Quan hệ cộng sinh, cạnh tranh, chuỗi thức ăn giữ cân bằng sinh thái.
Giúp kiểm soát sâu bệnh tự nhiên, giảm phụ thuộc vào hóa chất.
+ Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái:
Cảnh quan thiên nhiên, đa dạng loài thu hút du lịch, tạo nguồn thu kinh tế.
+ Giá trị giáo dục và khoa học:
Nguồn tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, khám phá khoa học.
Cung cấp kiến thức để phát triển công nghệ sinh học, y học.
+ Quan trắc môi trường:
Các loài sinh vật chỉ thị (ví dụ: địa y, tảo, cá) phản ánh chất lượng môi trường.
+ Giá trị lựa chọn cho tương lai:
Lưu giữ nguồn gen và tiềm năng chưa khai thác.

Đảm bảo cơ hội phát triển bền vững cho các thế hệ sau.
=> Đa dạng sinh học vừa mang lại lợi ích trực tiếp cho đời sống và sản xuất, vừa có giá trị gián
tiếp trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và mở ra tiềm năng cho tương lai.
2.3.2. Nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam.
- Sự mở rộng đất nông nghiệp
- Khai thác gỗ, củi
- Khai thác các sản phẩm ngoài gỗ
- Cháy rừng
- Xây dựng cơ bản
- Chiến tranh
- Buôn bán các loài động thực vật quý hiếm
- Ô nhiễm môi trường
- Ô nhiễm sinh học
2.3. 3. Giải pháp bảo vệ/ bảo tồn TN sinh học (đa dạng sinh học)
*Các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học:
- Chiến lược bảo tồn tại chỗ: Chiến lược tốt nhất nhằm bảo tồn đa dạng sinh học là bảo tồn
các quần xã và quần thể ngay trong điều kiện tự nhiên, một phương thức thường được nói đến là
bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn nguyên vị (in situ; on-site preservation). Chỉ trong tự nhiên, các loài
mới có khả năng tiếp tục quá trình thích nghi tiến hóa đối với môi trường đang thay đổi trong các
quần xã tự nhiên của chúng.
- Chiến lược bảo tồn chuyển chỗ: đối với nhiều loài hiếm thì bảo tồn tại chỗ chưa phải là
giải pháp khả thi trong điều kiện những áp lực của con người ngày càng gia tăng. Nếu quần thể
còn lại là quá nhỏ để tiếp tục tồn tại, hoặc nếu tất cả những cá thể còn lại được tìm thấy ở ngoài
khu bảo vệ thì bảo tồn tại chỗ sẽ không có hiệu quả. Trong những trường hợp này, giải pháp duy
nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là bảo tồn các cá thể trong những điều kiện nhân tạo.
Đối với động vật bao gồm vườn thú, trang trại nuôi động vật, thủy cung và các chương trình nhân
giống động vật. Thực vật thì được bảo tồn trong các vườn thực vật, vườn cây gỗ và các ngân
hàng hạt giống.
3. Ô nhiễm môi trường
4.1. Ô nhiễm nước:
4.1.1. Các nguồn gây ô nhiễm nước
- Nguồn tự nhiên: nhiễm mặn, nhiễm phèn, thối rữa xác động thực vật,...
- Nguồn nhân tạo: nước thải từ các khu dân cư (nước thải sinh hoạt), nước thải công
nghiệp,...
* Có thể phân tác nhân gây ô nhiễm nước thành các nhóm cơ bản:
- Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (ví dụ: đường, protein...)
- Các chất hữu cơ bền vững (ví dụ: thuốc trừ sâu DDT, dioxin…)
- Dầu mỡ -Các chất vô cơ (ví dụ: muối amoni, nitrit, nitrat, phosphat,…)
- Các kim loại nặng (ví dụ: Pb, Cu, Hg, As,...)
- Các chất phóng xạ
- Các sinh vật gây bệnh (ví dụ: vi khuẩn gây tả, lỵ, thương hàn; virus gây tiêu chảy,…)
- Các chất rắn
- Các khí hòa tan (ví dụ: H2S, NH3,...)
4.1.2. Các tác động của ô nhiễm nước
*Các nguồn gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo:

- Nguồn tự nhiên: nhiễm mặn, nhiễm phèn, thối rữa xác động thực vật,...
- Nguồn nhân tạo: nước thải từ các khu dân cư (nước thải sinh hoạt), nước thải công
nghiệp,...
(1) Tác động đến các hệ sinh thái nước:
- Yếu tố môi trường thay đổi kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển một số loài sinh vật
- Các chất ô nhiễm độc hại làm một số hoặc tất cả sinh vật bị tiêu diệt thay đổi cấu trúc
quần xã, suy giảm đa dạng sinh học hoặc hủy diệt HST
- Ô nhiễm gây xáo trộn hay hủy diệt không gian sống của sinh vật
- Ô nhiễm lâu dài gây tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học chất ô nhiễm qua chuỗi thức
ăn
(2) Tác động đến sức khỏe con người:
- Ô nhiễm nước tác động đến sức khỏe con người thông qua 2 con đường:
+ trực tiếp: sử dụng nước cho ăn uống hay các hoạt động tiếp xúc (bơi lội, tắm, giặt,..)
+ gián tiếp: tiêu thụ thực phẩm mà trong quá trình nuôi trồng, chế biến đã sử dụng nước bị
ô nhiễm
=> Làm gia tăng dịch bệnh và gia tăng số người tử vong
- Tác động cụ thể của một số tác nhân ô nhiễm trong nước:
+ Nitrat (NO3-): có thể gây chứng rối loạn máu ở trẻ em (hội chứng methemoglobinemia
hay “em bé màu xanh”); nitrit (NO2-) có thể gây ung thư cho con người.
+ Các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd, Zn, Hg, As…): dù ở nồng độ rất nhỏ (dạng vết) rất độc
đối với con người.
Ví dụ: uống nước nhiễm độc thủy ngân có thể gây nên các triệu chứng tê cứng tứ chi, điếc,
đau đầu, loạn thần kinh,…
+ Các hợp chất cơ-clo như DDT, PCB, dioxins và furans….: rất độc, ảnh hưởng đến hệ thần
kinh, miễn dịch, gây ung thư, khuyết tật sinh sản, tổn thương di truyền…. Đặc biệt, các hợp chất
này bền vững trong môi trường, có thể tích lũy trong cơ thể sinh vật và khuêch đại sinh học qua
chuỗi thức ăn.
+ Nhiều VSV gây bệnh lan truyền trong nước ô nhiễm và có thể gây bùng phát dịch, ví dụ:
vi khuẩn Salmonella typhi - bệnh thương hàn, vi khuẩn Vibrio cholera - dịch tả, Rotavirus - bệnh
tiêu chảy, Hepatitis A - viêm gan A, động vật nguyên sinh Entamoeba histolytica - bệnh lỵ amip,
…
(3) Tác động đến phát triển kinh tế – xã hội:
- Gia tăng chi phí khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường
- Gia tăng chi phí khám chữa bệnh, tổn thất ngày công lao động do nghỉ ốm,...
- Ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất và dịch vụ như nông nghiệp, công nghiệp, du lịch.
VD: thiệt hại mùa màng, giảm sản lượng và chất lượng sản phẩm do ô nhiễm nước.
4.1.3. Giải pháp bảo vệ môi trường nước.
- Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn nước:
Giảm lãng phí trong sinh hoạt (khóa vòi khi không dùng, tái sử dụng nước mưa).
Ứng dụng công nghệ tiết kiệm nước trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.
- Xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường:
Nước thải sinh hoạt và công nghiệp cần được xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra sông, hồ,
biển.
Đầu tư hệ thống lọc nước đầu nguồn để loại bỏ kim loại nặng, tạp chất.

- Giảm thiểu rác thải nhựa và hóa chất độc hại:
Hạn chế sử dụng túi nilon, chai nhựa dùng một lần.
Khuyến khích dùng vật liệu thân thiện môi trường.
Quản lý chặt chẽ việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học trong nông nghiệp.
- Phát triển nông nghiệp xanh:
Áp dụng mô hình canh tác hữu cơ, tuần hoàn.
Sử dụng phân bón sinh học, giảm hóa chất gây ô nhiễm nguồn nước.
- Phân loại và xử lý rác thải đúng cách:
Phân loại rác tại nguồn để giảm lượng rác thải ra môi trường nước.
Nâng cao chất lượng hệ thống xử lý rác thải đô thị.
- Nâng cao ý thức cộng đồng:
Tuyên truyền, giáo dục về tầm quan trọng của nước sạch.
Khuyến khích người dân tham gia các hoạt động bảo vệ nguồn nước (dọn vệ sinh sông hồ,
trồng cây ven sông).
- Ứng dụng công nghệ và quản lý hiện đại
Sử dụng hệ thống quan trắc chất lượng nước để phát hiện sớm ô nhiễm.
Áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến (lọc sinh học, màng lọc nano).
4.2. Ô nhiễm không khí:
4.2.1. Các nguồn gây ô nhiễm không khí
Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể ở dạng rắn (bụi, bồ hóng, muội than), ở dạng giọt
(sương mù quang hóa) hay dạng khí (SO2, NO2, CO, ...). Các tác nhân ô nhiễm không khí chủ
yếu: bụi, CO, NOx, SO2, các hydrocarbon.
Về bản chất, phân biệt hai nhóm nguồn ô nhiễm không khí:
- Nguồn thiên nhiên: bão cát, núi lửa phun, cháy rừng, xác sinh vật thối rữa…
- Nguồn nhân tạo: do các hoạt động con người, gồm:
+ Sản xuất công nghiệp: ống khói nhà máy nhiệt điện, hoá chất, luyện kim,...; đặc điểm là
có nồng độ chất độc hại cao và tập trung.
+ Giao thông vận tải: khí xả từ xe ô tô, xe máy, máy bay,...; đặc điểm là di động, phân tán
rộng
+ Sinh hoạt: bếp đun, lò sưởi, đốt rác,…; đặc điểm là quy mô nhỏ nhưng tác động cục bộ
trực tiếp trong mỗi gia đình nên có thể để lại hậu quả lớn về lâu dài.
4.2.2. Giải pháp bảo vệ môi trường không khí
- Giảm khí thải từ giao thông:
Ưu tiên phương tiện công cộng: xe buýt, tàu điện giúp giảm số lượng xe cá nhân.
Khuyến khích xe điện, xe đạp thay cho xe máy, ô tô chạy xăng dầu.
Quản lý khí thải phương tiện bằng kiểm định định kỳ, loại bỏ xe cũ nát.
- Kiểm soát hoạt động công nghiệp:
Xử lý khí thải nhà máy bằng công nghệ lọc bụi, lọc khí độc hại.
Di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Áp dụng sản xuất sạch hơn để giảm phát thải.
- Trồng cây xanh và phủ xanh đô thị:
Cây xanh hấp thụ CO , cung cấp oxy, giảm bụi mịn.₂
Phủ xanh đồi núi, công viên, đường phố tạo không gian trong lành.
- Tiết kiệm và sử dụng năng lượng sạch:
Sử dụng năng lượng tái tạo: điện mặt trời, gió, thủy điện.
Tiết kiệm điện trong sinh hoạt và sản xuất để giảm khí thải từ nhà máy điện.
Khuyến khích hệ thống hòa lưới điện năng lượng mặt trời.
- Quản lý chất thải và xây dựng:

Hạn chế đốt rác, đốt phụ phẩm nông nghiệp gây khói bụi.
Kiểm soát bụi từ công trình xây dựng bằng che chắn, phun nước giảm bụi.
- Nâng cao ý thức cộng đồng
Tuyên truyền giáo dục về tác hại ô nhiễm không khí và lợi ích bảo vệ môi trường.
Khuyến khích lối sống xanh: hạn chế đồ nhựa, tiết kiệm năng lượng, tham gia trồng cây.
4.2.3. Hiệu ứng nhà kính và sự ấm lên toàn cầu (khái niệm, nguyên nhân, biểu hiện, tác động
đến con người và hệ sinh thái, giải pháp giảm thiểu).
* Khái niệm
Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng không khí của trái đất nóng lên do bức xạ sóng ngắn của
Mặt trời xuyên qua tầng khí quyển và chiếu xuống mặt đất.
* Biểu hiện:
- Nồng độ khí CO2 thải vào khí quyển ngày càng tăng, làm bức xạ bị giữ lại nhiều hơn nên
nhiệt độ trung bình của trái đất ngày càng tăng lên. Đó là hiện tượng "ấm lên toàn cầu" được các
nhà môi trường học quan tâm nhiều trong thời gian gần đây. Ước tính trong vòng 100 năm qua,
nhiệt độ trung bình Trái đất đã tăng lên khoảng 0,5 - 0,6oC
* Nguyên nhân:
(1) Hoạt động sản xuất, nông nghiệp
+ Một trong những nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính chính là việc sản xuất của con
người. Một số lĩnh vực như sản xuất công nghiệp đã tạo ra một lượng lớn CO2 trong bầu khí
quyển. Có những hoạt động công nghiệp khác tạo ra khi methane, N2O,…
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp, khi con người sử dụng các loại phân bón hoá học cũng thải
ra các khí nitrous oxit. Chăn nuôi gia súc gây ra khí methane từ quá trình tiêu hoá của động vật.
Cả 2 loại khí này đều thêm vào với CO2 khiến cho quá trình diễn ra nhanh hơn.
(2) Hoạt động khai thác
Với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng thì các loại khí đốt tự nhiên cũng đang khai thác nhiều
hơn. Việc khai thác than, dầu hay các khí đốt tự nhiên không chỉ khiến cho các tài nguyên bị cạn
kiệt dần mà còn thải ra một lượng lớn khi CO2. Trong quá trình vận chuyển cũng sẽ thải ra khí
này. Các hoạt động khai thác khoáng sản, kim loại quý cũng có tác động không ít.
(3) Hoạt động chặt phá rừng
Rừng và cây xanh đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ khí CO2 và thải ra khi O2 tốt
cho con người. Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, con người bắt đầu khai thác rừng, Rừng cây
bị khai thác vì 2 mục đích:
+ Lấy gỗ và khai thác các loại cây quý hiếm.
+ Khai phá rừng mở rộng đất để phục vụ cho hoạt động nông nghiệp hoặc các mục đích
thương mại, du lịch khác.
Việc chặt phá cây, hoặc đốt cây đều giải phóng ra không khí một lượng lớn CO2 và các loại
khí khác. Không chỉ vậy, việc giảm diện tích rừng khiến cho một số sinh vật bị mất môi trường
sống, giảm đa dạng sinh học cho hệ sinh thái,… từ đó gây ra hiệu ứng nhà kính.
(4) Hoạt động đô thị hoá
Ngoài ra, hiệu ứng nhà kính có thể gây ra bởi quá trình đô thị hoá.

+ Một số thành phố lớn xây dựng các toà nhà cao tầng, đường sá hay các cơ sở hạ tầng
khác đòi hỏi việc tiêu tốn các nhiên liệu, tạo ra khí thải CO2.
+ Thêm vào đó, các phương tiện giao thông di chuyển trên đường như oto, xe máy cũng
làm tăng nồng độ CO2 và các khí thải. Các đô thị cũng là khu vực thiếu cây xanh, nên khi CO2
thải ra không được hấp thụ lại. Chính vì thế hiệu ứng nhà kính càng trở nên trầm trọng hơn.
Một số nguyên nhân khác có thể là do rác thải hoặc các hoá chất. Hiệu ứng nhà kính ngày
càng mở rộng tại nhiều khu vực khác không chỉ riêng tại các thành phố lớn.
* Tác động đến con người và hệ sinh thái:
- Đối với con người
+ Hiệu ứng nhà kính ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, nhiều bệnh dịch
mới bùng phát, hệ miễn dịch của con người cũng bị suy giảm.
+ Đặc biệt, sử thay đổi nhiệt độ và nắng mưa thất thường khiến các vi khuẩn và mầm bệnh
lạ xuất hiện..
- Đối với động thực vật
+ Sự nóng lên của toàn cầu khiến hệ sinh thái, động thực vật bị thay đổi điều kiện sống.
Nhiệt độ tăng cao ảnh hưởng đến môi trường sống, khiến nhiều loại đồng vật không thích ứng
được và dần dần bị tuyệt chủng
+ Thời tiết khô hạn làm nạn cháy rừng càng tăng cao, dẫn đến tài nguyên rừng ngày càng
cạn kiệt.
- Tài nguyên biển
+ Hiệu ứng nhà kính khiến Trái đất nóng lên, băng ở hai cực tan khiến nước biển dâng cao,
diện tích đất quanh biển bị thu hẹp, nhiều làng mạc bị nhấn chìm.
- Đối với nguồn nước
+ Số lượng cũng như chất lượng nguồn nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vào mùa khô,
nắng nóng kéo dài gây ra hạn hán, cạn kiệt nguồn nước ngầm, con người không có nguồn nước
để sinh hoạt, tưới tiêu, sản xuất,... Mùa mưa thì lũ lụt thất thường, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống
và kinh tế.
* Giải pháp giảm thiểu:
- Giảm phát thải khí nhà kính:
Sử dụng năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, thủy điện).
Tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và sinh hoạt.
- Phát triển giao thông xanh (xe điện, phương tiện công cộng).
- Bảo vệ và phục hồi rừng: tăng khả năng hấp thụ CO .₂
- Ứng dụng công nghệ sạch: lọc khí thải, sản xuất tuần hoàn (tái sử dụng các chất thải, phụ phẩm:
nhựa, kim loại, rơm rạ, … cho quá trình sản xuất mới, thay vì thải bỏ).
- Nâng cao nhận thức cộng đồng: giáo dục về biến đổi khí hậu, khuyến khích lối sống xanh.
4.2.4. Hiện tượng mưa acid (khái niệm, nguyên nhân, tác động, giải pháp giảm thiểu).
* Khái niệm
Nước mưa bình thường chỉ có tính acid hơi nhẹ, không có tác hại gì. Tuy nhiên, các khí
thải như SO2, NO2 do con người thải vào khí quyển đã phản ứng với hơi nước tạo thành các acid
(H2SO4, HNO3), chúng làm cho nước mưa có tính acid mạnh hơn.
* Nguyên nhân
+ Khí thải công nghiệp: đốt than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên sinh ra SO và NOₓ.₂
+ Phương tiện giao thông: động cơ đốt trong thải ra NOₓ.
+ Hoạt động nông nghiệp: sử dụng phân bón hóa học, đốt phụ phẩm.
+ Núi lửa và cháy rừng tự nhiên cũng có thể góp phần tạo ra khí SO và NOₓ.₂

* Tác động đến con người và hệ sinh thái:
- Đối với hệ sinh thái:
+ Mưa axit gây hậu quả nghiêm trọng cho các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên.
+ Cây cối và rừng bị tổn thương, cháy lá, rụng lá, giảm sinh khối, năng suất, chất lượng, giảm đa
dạng sinh học.
+ Đất bị chua hoá mất khả năng tái tạo và giảm độ màu mỡ.
+ Các hệ sinh thái hồ bị tổn thương, thậm chí chết hẳn.
- Đối với con người:
+ Gián tiếp gây bệnh hô hấp do không khí ô nhiễm; Tăng nguy cơ mắc bệnh về mắt, da khi tiếp
xúc lâu dài.
+ Mưa axit làm cho kim loại nhanh chóng bị rỉ mòn, ảnh hưởng tới tuổi thọ và chất lượng của các
công trình xây dựng bằng bê tông cốt thép, đường dây điện, huỷ hoại tượng đài, kiến trúc,...
* Giải pháp giảm thiểu:
- Giảm phát thải SO và NOₓ:₂
Sử dụng năng lượng sạch (điện gió, mặt trời, thủy điện).
Lắp đặt hệ thống lọc khí thải trong nhà máy, xí nghiệp.
Khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông thân thiện môi trường.
- Quản lý và giám sát môi trường:
Quan trắc chất lượng không khí, cảnh báo sớm hiện tượng mưa axit.
Ban hành quy định nghiêm ngặt về khí thải công nghiệp.
- Phủ xanh và bảo vệ rừng:
Trồng cây xanh để hấp thụ CO và cải thiện chất lượng không khí.₂
- Nâng cao nhận thức cộng đồng:
Giáo dục về tác hại của mưa axit.
Khuyến khích tiết kiệm năng lượng, giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
4. Giáo dục môi trường và GDMT ở bậc Tiểu học:
4.1. Khái niệm GDMT
GDMT là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại
giữa con người với MT tự nhiên và xã hội bao quanh con người. Hơn nữa, GDMT đòi hỏi hình
thành ở người học khả năng quyết định, thái độ và những hành động giải quyết các vấn đề MT,
bảo vệ và cải thiện MT.
4.2. Các phương pháp tiếp cận trong giáo dục môi trường
(1) Giáo dục về MT: cung cấp những kiến thức về MT. Cụ thể:
- Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó
- Cung cấp những hiểu biết tác động của con người tới MT
(2) Giáo dục trong MT: sử dụng môi trường như một nguồn lực trong giáo dục, đó chính là
việc áp dụng các hình thức và PP dạy học trong MT. Là cách tiếp cận coi trọng kinh nghiệm trực
tiếp, sự tiếp xúc trực tiếp với MT của HS. Với cách tiếp cận này, môi trường sẽ trở thành “phòng
thí nghiệm thực tế” đa dạng, sinh động cho người dạy và người học.
(3) Giáo dục vì MT: coi việc cải thiện chất lượng MT như một mục tiêu thực tế của GD.
- Hướng tới mối quan tâm thực sự đối với chất lượng môi trường
- Đề cao trách nhiệm của con người trong công tác bảo vệ môi trường.
- Hình thành đạo đức môi trường với những quan niệm, lối sống hòa hợp và thân thiện với môi
trường

4.3. Các nguyên tắc về phương pháp GDMT
Phương pháp GDMT cần chú ý trước hết vào quá trình học tập của đối tượng được giáo
dục, xem quá trình dạy là để phục vụ cho quá trình học. Nói cách khác là trân trọng và khuyến
khích sử dụng các phương pháp học tích cực, huy động sự chủ động tham gia của người học,
tránh kiểu nghe và tiếp cận nội dung giảng của người dậy một cách thụ động, một chiều. Các
nguyên tắc về phương pháp GDMT bao gồm 9 điểm sau:
(1) Giảm bớt thuyết giảng, tăng cường thảo luận, tranh luận
(2) Giảm giờ giảng trong lớp, tăng giờ học ngoài hiện trường và ở trong phòng thí nghiệm
(3) Giảm bớt nhớ thuộc lòng, tăng cường khảo sát, nghiên cứu
(4) Giảm trả lời theo sách, tăng độc lập tư duy, giải quyết vấn đề
(5) Vận dụng nguyên lý, tránh tiếp nhận xuôi chiều lý thuyết sẵn có
(6) Tập trung xem xét hệ thông tin có hệ thống, tránh sa vào hiện tượng vụn vặt
(7) Chú ý kinh nghiệm thực tế và khả năng vận dụng
(8) Tăng cường làm việc tập thể
(9) Chú ý khóa luận, dự án và đề tài khảo sát nghiên cứu
4.4. Vai trò, vị trí của giáo dục môi trường ở bậc Tiểu học
Ở nước ta, trong chiến lược GDMT, giai đoạn đầu tiên là tập trung vào GDMT cho HS ở
trường phổ thông. HS phổ thông là thế hệ trẻ đang trong quá trình phát triển nhận thức và hành
vi, là đội ngũ đông đảo trong cộng đồng dân cư. Sự thành đạt của các em trong tương lai phụ
thuộc vào phát triển bền vững hơn bất kỳ nhóm dân cư nào khác. Vì vậy, GDMT cho HS không
chỉ đem lại kết quả trước mắt mà còn có hiệu quả lâu dài. Biện pháp GDMT cho thế hệ trẻ một
cách có hiệu quả nhất là thông qua hệ thống trường học vì trường học có khả năng thực hiện
chương trình học tập theo khuôn khổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức.
Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc đào tạo các em trở
thành các công dân tốt cho đất nước - “cái gì (về nhân cách) không làm được ở cấp Tiểu học thì
khó làm được ở các cấp học sau”. Mục đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường không
chỉ làm cho các em hiểu rõ tầm quan trọng của bảo vệ môi trường mà quan trọng là phải hình
thành thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường. Nếu ở cấp học này các em
chưa hình thành được tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới
xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó có thể bù đắp được. Vì
vậy, nội dung và cách thức bảo vệ môi trường trong trường tiểu học mang tính quyết định đối với
việc hình thành những phẩm chất đó.
Số lượng HS tiểu học rất đông chiếm khoảng gần 10% dân số. Vì vậy, hàng chục triệu trẻ
em một khi được chuẩn bị đầy đủ hành trang về nhận thức, tri thức về BVMT, sẽ là lực lượng
hùng hậu, đóng vai trò nòng cốt trong mọi hoạt động cải thiện MT, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
của toàn xã hội.
4.5. Nhiệm vụ của giáo dục môi trường ở bậc Tiểu học
GDMT là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và hành
vi đúng đắn cho HS đối với MT, do đó nó có nhiệm vụ:
- Làm cho HS: hiểu biết về MT nói chung và MT Việt Nam nói riêng, nhận thức rõ mối
quan hệ khăng khít và sự tác động tương hỗ giữa con người với các yếu tố của MT và tầm quan
trọng của MT đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
- Trang bị cho HS một số biện pháp và kĩ năng bảo vệ MT để HS có thể thực hành các
nhiệm vụ bảo vệ MT ở địa phương.
- Trên cơ sở những hiểu biết, giáo dục cho HS ý thức quan tâm thường xuyên đến MT, dần
dần hình thành lòng yêu thiên nhiên, muốn được bảo vệ MT sống, các phong cảnh đẹp, các di

tích văn hóa lịch sử của đất nước, và cuối cùng là làm cho việc bảo vệ MT trở thành phong cách,
nếp sống của HS.
4.6. Mục tiêu của GDMT ở Tiểu học
Bộ GD và ĐT đã đưa ra mục tiêu GDMT chung cho các trường phổ thông như sau:
“GDTM trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi trẻ được trang bị
một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng biết đánh giá vẻ
đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách được khắc sâu bởi một nền tảng đạo lý về môi
trường”.
Với đối tượng học sinh tiểu học, do nhận thức, kĩ năng, vốn sống của các em còn hạn chế
nên mục tiêu GDMT trong trường tiểu học nhằm giúp HS:
(1) Có một số kiến thức cơ bản, thiết thực về:
- Các thành phần MT: đất, nước, không khí, ánh sáng, động, thực vật và quan hệ giữa
chúng
- Mối quan hệ giữa con người và các thành phần MT
- Sự ô nhiễm và suy thoái MT
- Biện pháp bảo vệ MT xung quanh: nhà ở, lớp, trường học, thôn xóm, bản làng.
(2) Từng bước phát triển những tình cảm và thái độ:
- Tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên; yêu quý gia đình, trường lớp, quê hương, đất
nước - Thái độ thân thiện với MT
- Có ý thức quan tâm các vấn đề MT xung quanh, giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh MT
xung quanh
(3) Bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng, hành vi:
- Sống ngăn nắp, vệ sinh; sống hòa nhã, gần gũi với tự nhiên
- Tham gia các hoạt động trồng và chăm sóc cây xanh, làm cho MT xanh sạch đẹp
- Sống tiết kiệm, chia sẻ và hợp tác.
5. Dạy học tích hợp giáo dục môi trường trong các môn học ở trường tiểu học
5.1. Khái niệm Tích hợp và dạy học tích hợp giáo dục môi trường trong các môn học ở trường
tiểu học
Tích hợp (Intergration) là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm
quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên
hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó.
Tích hợp GDMT là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức
môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ
về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong bài học.
Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành. Vì vậy, việc lựa chọn phương thức
tích hợp giáo dục BVMT trong các môn học và hoạt động là một lựa chọn đúng. Với hình thức
này, không cần thêm thời lượng và sắp xếp lại khung chương trình. Nội dung giáo dục BVMT
được tích hợp trong các môn học thông qua các chương bài cụ thể. Thông qua kiến thức của các
bộ môn giúp cho HS hiểu sâu hơn về khoa học môi trường. Mặc khác, việc thực hiện tích hợp nội
dung MT còn làm phong phú, mở rộng kiến thức của môn học và làm tăng thêm tính thực tiễn,
hiệu quả của giáo dục.
Tích hợp không chỉ đơn thuần là sự tổng hợp hay phép cộng các bộ phận cấu thành mà cần
phải hiểu là “bức tranh tổng thể” (Clark, 1975). Cách tiếp cận tích hợp là đặc trưng trong GDMT,
là cách tiếp cận xuyên môn học, đề cao tính bao quát, tổng thể, toàn thể, và tính liên quan của vấn
đề nghiên cứu. GDMT cần giúp cho người học hiểu được bức tranh tổng thể về nguyên nhân làm
nảy sinh các vấn đề MT cụ thể (Meadows, 1990). Như vậy, để hiểu các nguyên nhân làm này sinh
các vấn đề MT cần xem xét không chỉ các yếu tố tự nhiên mà cả những yếu tố thẩm mĩ, xã hội,

kinh tế, lịch sử, văn hóa,.. Cần phải giáo dục cách tư duy đề cao sự tích hợp, có khả năng tham
gia và đánh giá cao mối quan hệ qua lại chứ không phải cách nhìn phiến diện (Miller, 1981).
5.2. Sự cần thiết của việc tích hợp nội dung GDMT trong dạy học các môn học cấp tiểu học.
+ Việc lựa chọn phương thức tích hợp giáo dục BVMT trong các môn học và hoạt động là
một lựa chọn đúng. Với hình thức này, không cần thêm thời lượng và sắp xếp lại khung chương
trình.
+ Nội dung giáo dục BVMT được tích hợp trong các môn học thông qua các chương bài cụ
thể. Thông qua kiến thức của các bộ môn giúp cho HS hiểu sâu hơn về khoa học môi trường.
+ Mặc khác, việc thực hiện tích hợp nội dung MT còn làm phong phú, mở rộng kiến thức
của môn học và làm tăng thêm tính thực tiễn, hiệu quả của giáo dục.
+ Cách tiếp cận tích hợp là đặc trưng trong GDMT, là cách tiếp cận xuyên môn học, đề cao
tính bao quát, tổng thể, toàn thể, và tính liên quan của vấn đề nghiên cứu.
5.3. Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp GDMT trong dạy học.
Quá trình khai thác các cơ hội để GDMT cần phải đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản sau:
- Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, không biến bài học của bộ môn thành bài
học GDMT.
- Khai thác nội dung GDMT có chọn lọc, có tính tập trung vào những chương mục nhất
định, không tràn lan, tùy tiện.
- Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của học sinh và các kinh nghiệm thực tế
các em đã có, tận dụng tối đa mọi khả năng để cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường.
5.4. Các hình thức/mức độ tích hợp. Ví dụ?
Tích hợp giáo dục BVMT vào các môn học cấp tiểu học có 3 mức độ:
- Mức độ toàn phần: Khi mục tiêu, nội dung của bài phù hợp hoàn toàn với mục tiêu, nội
dung của giáo dục BVMT.
- Mức độ bộ phận: Khi chỉ có một bộ phận bài học có mục tiêu, nội dung phù hợp với giáo
dục BVMT.
- Mức độ liên hệ: Khi mục tiêu, nội dung của bài có điều kiện liên hệ một cách lôgic với
nội dung giáo dục BVMT.
Theo đó, có thể phân biệt 3 loại bài học khác nhau cho phép tiến hành GDMT:
- Loại 1 - Dạng bài học tích hợp: Toàn bài có nội dung GDMT
Ví dụ:
+ Môn Tự nhiên xã hội lớp 3, chủ đề Gia đình, nội dung Giữ gìn vệ sinh xung quanh nhà
với yêu cầu cần đạt là
(1) Kể tên và làm được một số việc phù hợp để giữ vệ sinh xung quanh nhà,
(2) Giải thích được một cách đơn giản tại sao cần phải giữ vệ sinh xung quanh nhà.
+ Môn Khoa học lớp 5, nội dung Vai trò của môi trường đối với sinh vật nói chung và con
người nói riêng với yêu cầu cần đạt là trình bày được các chức năng cơ bản của môi trường đối
với sinh vật nói chung và con người nói riêng: Cung cấp chỗ ở, thức ăn và những nhu cầu sống
thiết yếu khác, Nơi chứa đựng các chất thải do con người và sinh vật tạo ra trong quá trình sống,
Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài.
Loại 2 - Dạng bài học lồng ghép (bộ phận): Bài học có một số nội dung lồng ghép với
GDMT
Ví dụ:
+ Hoạt động trải nghiệm lớp 3, nội dung Hoạt động chăm sóc gia đình với yêu cầu cần đạt
gồm

(1) Thể hiện được lòng biết ơn, sự quan tâm, chăm sóc đến bố mẹ, người thân bằng lời nói,
thái độ và việc làm cụ thể,
(2) Biết tiết kiệm khi sử dụng điện, nước trong gia đình,
(3) Tham gia vào các hoạt động trang trí nhà cửa,
(4) Tìm hiểu được thu nhập của các thành viên trong gia đình.
+ Môn Lịch sử - Địa lý lớp 4, nội dung về Văn Miếu – Quốc Tử Giám với yêu cầu cần đạt
gồm
(1) Xác định được một số công trình tiêu biểu: Khuê Văn Các, nhà bia tiến sĩ, Văn Miếu,
Quốc Tử Giám trên sơ đồ khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám,
(2) Đọc tư liệu lịch sử, mô tả được kiến trúc và chức năng của một trong các công trình Văn
Miếu, Quốc Tử Giám, nhà bia tiến sĩ,
(3) Bày tỏ được cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam,
(4) Đề xuất được ở mức độ đơn giản một số biện pháp để giữ gìn các di tích lịch sử.
Loại 3 - Dạng bài học liên hệ: Bài học có một hoặc nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ
sung thêm kiến thức về MT.
Ví dụ:
+ Môn Công nghệ lớp 3, nội dung Sử dụng đèn học với các yêu cầu cần đạt là
(1) Nêu được tác dụng và mô tả được các bộ phận chính của đèn học,
(2) Nhận biết được một số loại đèn học thông dụng,
(3) Xác định vị trí đặt đèn; bật, tắt, điều chỉnh được độ sáng của đèn học,
(4) Nhận biết và phòng tránh được những tình huống mất an toàn khi sử dụng đèn học.
Khi dạy GV có thể liên hệ thêm nội dung về GDMT như lựa chọn loại đèn tiết kiệm năng
lượng, sử dụng đèn học như thế nào để tiết kiệm điện,...
+ Hoạt động trải nghiệm lớp 4, nội dung Hoạt động tìm hiểu về nghề nghiệp với các YCCĐ
là
(1) Tìm hiểu được những thông tin cơ bản về nghề truyền thống ở địa phương,
(2) Trải nghiệm một số công việc của nghề truyền thống ở địa phương và thể hiện được
hứng thú với nghề truyền thống của địa phương,
(3) Biết giữ an toàn trong lao động khi làm nghề truyền thống. Khi dạy GV có thể liên hệ
thêm nội dung về GDMT như vấn đề ô nhiễm môi trường (nước thải, khí thải, rác thải) và các
biện pháp bảo vệ môi trường (xử lý nước thải, khí thải; quản lý rác thải) ở các làng nghề.
5.5. Các lưu ý khi dạy các dạng bài học tích hợp nội dung GDMT.
- Đảm bảo các yêu cầu cần đạt chương trình môn học.
- Không làm quá tải nội dung chương trình môn học, không phá vỡ nội dung môn học,
không biến nội dung môn học thành nội dung giáo dục BVMT. Việc tích hợp thêm nội dung giáo
dục BVMT làm cho môn học trở nên hấp dẫn, sinh động và có nghĩa hơn.
- Việc tích hợp giáo dục BVMT vào chương trình môn học, vào bài dạy phải tự nhiên,
không gò ép; lựa chọn những nội dung có khả năng tích hợp; vận dụng phương pháp dạy học phù
hợp để bài dạy thêm hấp dẫn.
- Tích hợp giáo dục BVMT, cần chú trọng tới liên hệ với thực tiễn địa phương. Hay giáo
dục BVMT cần có tư duy toàn cầu, hành động địa phương; chỉ cần giáo dục HS ý thức, hành
động BVMT địa phương sẽ góp phần BVMT toàn cầu.
6. Các phương pháp giáo dục môi trường ở bậc tiểu học:
Khái niệm về PP, vai trò/tác dụng của việc sử dụng PP trong giáo dục môi trường cho HS
Tiểu học, ví dụ về 1 nội dung/tình huống có thể sử dụng PP cùng các bước chính thực hiện PP để
giáo dục nội dung đó.
6.1. Phương pháp quan sát

* Khái niệm:
Phương pháp quan sát là phương pháp›dạy học giáo viên tổ chức cho hoc sinh sử dụng các
giác›quan›khác nhau để tri giác các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội một cách trực tiếp,
có mục đích, có kế hoạch và trọng tâm, qua đó rút ra được những kết luận khoa học.
Đối tượng quan sát là các sự vật, hiện tượng, các yếu tố của MT tự nhiên và xã hội gần gũi
xung quanh.
* Vai trò/tác dụng
Việc quan sát trực tiếp MT xung quanh có tác dụng:
+ Hình thành ở HS những biểu tượng sinh động, đầy đủ, chính xác và chân thực về các sự
vật và hiện tượng.
+ Việc quan sát giúp HS hình thành những hiểu biết về MT xung quanh mình và qua đó còn
có thể hiểu về MT chung.
+ Ngoài ra nó còn làm cho các em thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên hay hiện trạng và các
vấn đề về MT.
Đây là cơ sở quan trọng cho việc giáo dục tình cảm và ý thức muốn giải quyết các vấn đề
MT, cải thiện hiện trạng và bảo vệ MT sống của mình.
* Ví dụ/tình huống
Để tiến hành phương pháp này, việc quan sát cần phải có định hướng vào những vấn đề cụ
thể của MT (chặt phá cây, bụi, tiếng ồn, các bãi đổ rác công cộng, nước hồ bị nhiễm bẩn...).
Trong khi quan sát cần phải chú ý nhiều hơn đến những dấu hiệu nổi bật bên ngoài để từ đó đi
sâu tìm tòi, khám phá. Quan sát phải có ghi chép chính xác địa điểm, thời gian, các tình trạng sự
vật vào thời điểm tiến hành quan sát.
Khi tổ chức cho HS học tập theo PP này cần huy động mọi giác quan của các em để những
biểu tượng thu được đầy đủ và trọn vẹn về các sự vật, hiện tượng.
Khoa học lớp 4: bài 3 Sự ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước. Một số cách làm sạch nước
- HS quan sát hình ảnh
- HS ghi chép và chỉ ra những dấu hiệu cho thấy nước bị ô nhiễm
- Từ đó học sinh rút ra nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước và nguyên nhân nào do con
người trực tiếp gây ra
6.2. Phương pháp điều tra
* Khái niệm
Phương pháp điều tra là quá trình thu thập và phân tích thông tin để nghiên cứu, giải quyết vấn
đề hoặc trả lời câu hỏi.
* Vai trò/tác dụng
Khi tiến hành điều tra, HS không chỉ thông qua quan sát mà còn có thể phỏng vấn, thu thập
và sưu tầm thêm các tư liệu, sách báo, hiện vật,... để có những thông tin tương đối bao quát về
một vấn đề nào đó. Sau đó, bằng các thao tác tư duy như so sánh, tổng hợp, phân tích, khái

quát,... để nêu lên được một bức tranh tổng thể về vấn đề học tập, rút ra nhận xét và nêu ra giải
pháp, kiến nghị.
* Ví dụ/tình huống
Ví dụ: Khoa học 4 – Bài 3: Sự ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước. Một số cách làm sạch nước.
- Điều tra để tìm hiểu về tình hình ô nhiễm các con sông ở địa phương em, từ đó đề ra
những biện pháp làm sạch sông.
*Các bước thực hiện:
- GV cho HS xác định mục đích điều tra: Vấn đề ô nhiễm sông.
- GV hướng dẫn HS xây dựng bảng câu hỏi, phiếu ghi chép về đối tượng cần điều tra.
- HS quan sát thực tế, ghi chép, chụp ảnh hoặc phỏng vấn người dân về vấn đề ô nhiễm sông.
- HS tổng hợp thông tin, thảo luận nhóm, tìm ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp làm sạch
sông.
- HS báo cáo kết quả điều tra theo nhóm.
- GV và HS đánh giá kết quả báo cáo và rút ra kết luận của bài học.
6.3. Phương pháp đóng vai
* Khái niệm
Đóng vai là PP dạy học gây hứng thú và phát huy vai trò sáng tạo, chủ động của HS vì các
em có thể được tự do diễn xuất, ứng xử để giải quyết các tình huống đặt ra.
* Vai trò/tác dụng
Khi tổ chức đóng vai các em HS được tham gia giải quyết một tình huống của nội dung học
tập gắn liền với cuộc sống thực tế bằng cách diễn xuất. Cách diễn xuất này có thể theo ngẫu
hứng, không cần kịch bản hoặc luyện tập trước.
Đóng vai là PP dạy học gây hứng thú và phát huy vai trò sáng tạo, chủ động của HS vì các
em có thể được tự do diễn xuất, ứng xử để giải quyết các tình huống đặt ra. Ngoài ra, đóng vai
còn giúp các em được xâm nhập vào đời sống thực tế để tìm ra cách giải quyết vấn đề nên sẽ góp
phần hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề cho HS.
* Ví dụ/tình huống
- Khi gặp một người đang có hành vi vứt rác bừa bãi bạn sẽ ứng xử thế nào?
- Khi gặp 1 bạn cùng lứa tuổi đang bẻ cành cây ở sân trường hay nơi công cộng thì bạn sẽ
làm gì?
*Các bước thực hiện:
- GV nêu tình huống.
- HS thảo luận nhóm, phân vai và chuẩn bị lời thoại.
- HS diễn tình huống.
- GV và HS đánh giá kết quả xử lí tình huống qua đóng vai của các nhóm và rút ra kết luận của
bài học.
6.4. Phương pháp thảo luận
* Khái niệm
PP thảo luận là PP trong đó GV tổ chức đối thoại giữa GV và HS hoặc giữa HS và HS
nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết một vấn đề do môn học đặt ra hoặc một vấn đề do
thực tế cuộc sống đòi hỏi nhằm tìm hiểu hoặc đưa ra giải pháp, kiến nghị, quan niệm mới. Trong
PP thảo luận, HS giữ vai trò chủ động, đề xuất ý kiến, thảo luận, tranh luận. GV giữ vai trò nêu
vấn đề, gợi ý khi cần thiết và tổng kết thảo luận.
* Vai trò/tác dụng

Khi tiến hành thảo luận, HS được trao đổi ý kiến với nhau để từ đó các em có thể nhận thức
rõ các vấn đề MT, đào sâu tư duy và đây cũng là cơ hội tốt để các em có thể thay đổi cách sống
của mình có lợi cho MT.
Thảo luận có tác dụng bồi dưỡng cho HS khả năng giải thích, trình bày cho người khác hiểu
và chấp nhận ý kiến của mình. Đây là những cơ sở quan trọng cho việc hình thành năng lực hợp
tác.
* Ví dụ/tình huống
Đề tài thảo luận có thể là một hành động, thói quen nào đó có ảnh hưởng đến MT như thế nào,
làm thế nào để thay đổi cách sống của cá nhân để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên? (Hành động xả
rác ảnh hưởng đến MT như thế nào? Làm thể nào để ngăn mọi người không xả rác ra MT tự nhiên?
Làm sao có thể tuyên truyền mọi người không xả rác bừa bãi?).
*Các bước thực hiện:
- GV nêu câu hỏi thảo luận.
- HS làm việc nhóm, trao đổi ý kiến.
- Đại diện nhóm trình bày.
- GV và HS đánh giá kết quả các nhóm trình bày và rút ra kết luận của bài học.
6.5. Phương pháp thí nghiệm
* Khái niệm
Thí nghiệm là PP dạy học bằng cách dùng các dụng cụ để tái tạo lại các hiện tượng đã xảy
ra trong thực tế cho HS quan sát hoặc sử dụng các dụng cụ để đo đạc, xác định tính chất của các
84 sự vật, hiện tượng. Qua quan sát những hiện tượng, biến đổi xảy ra trong thí nghiệm, HS sẽ rút
ra kết luận.
* Vai trò/tác dụng
+ Giúp HS hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng.
+ Rèn kỹ năng quan sát, phân tích, tư duy khoa học.
+ Tạo hứng thú học tập qua trải nghiệm thực tế.
* Ví dụ: Khoa học 4_KNTT: Bài 15: Thực vật cần gì để sống?
Hoạt động: HS làm thí nghiệm chứng minh cây xanh cần không khí để sống.
- Các bước thực hiện:
+ GV chuyển giao nhiệm vụ: Chuẩn bị 2 chậu cây nhỏ, một chậu đặt ngoài không khí, một chậu
đặt trong hộp kín. Sau đó, quan sát và ghi chép sự phát triển của 2 chậu cây trong vài ngày.
+ HS tiến hành chuẩn bị đồ vật theo yêu cầu của GV, thực hiện quan sát và ghi chép.
+ HS tổng hợp thông tin, thảo luận nhóm và kết luận về sự phát triển của 2 chậu cây.
+ Đại diện HS báo cáo kết quả.
+ GV và HS đánh giá kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận của bài học.
6.6. Phương pháp thực hành
* Khái niệm
PP thực hành là PP trong đó GV tổ chức cho HS thao tác trên đối tượng, nhằm giúp HS
hiểu rõ và vận dụng lý thuyết vào thực hành, luyện tập, hình thành kỹ năng.
* Vai trò/tác dụng
+ Tạo sự hứng thú cho HS khi khám phá tự nhiên.
+ Rèn luyện tính kiên nhẫn, nhẫn nại, sự khéo léo của đôi tay, … hình thành thói quen tốt.
+ Gắn lý thuyết với thực tế, giúp HS biết hành động cụ thể.
+ Tạo ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường ngay từ nhỏ.
* Ví dụ: Tự nhiên & Xã hội lớp 3 (KNTT): Bài 7: Giữ vệ sinh và an toàn ở trường
Hoạt động: HS thực hành phân loại rác, bỏ rác đúng nơi quy định.

- Các bước thực hiện:
+ GV nêu ý nghĩa của việc phân loại rác.
+ GV hướng dẫn HS phân biệt rác hữu cơ, rác tái chế.
+ HS thực hành phân loại rác vào thùng đúng loại (GV tổ chức).
+ GV và HS kiểm tra, đánh giá kết quả.
+ GV khuyến khích HS duy trì thói quen phân loại rác hằng ngày.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.