



















Preview text:
lOMoARc PSD|58729800
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC.
Câu 1: Lý luận của chủ nghĩa Mác-lênin về nội dung sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân?Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quy
định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?.................................................1
Câu 2: Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam và nội dung sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam?..............................................5
Câu 3: Lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin về tính tất yếu và đặc điểm của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Đặc điểm và thực chất của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội?................................................................9
Câu 4: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về đặc trưng của chủ nghĩa
xã hội? Quan điểm của Đảng cộng sản về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam?..................................................................................................................12
Câu 5: Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất của nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa? Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam?.......................................................................................................14
Câu 6: Lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về tính tất yếu của liên minh
giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Nội dung của
liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam?.................................................................................................18
Câu 7: Nội dung Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin? Đặc
điểm dân tộc Việt Nam và chính sách dân tộc của nhà nước Việt Nam hiện
nay?....................................................................................................................21
Câu 8: Nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin trong giải quyết vấn đề
tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Đặc điểm tôn giáo ở Việt
Nam và chính sách tôn giáo của nhà nước Việt Nam hiện nay?...........24 Câu
9: Cơ sở xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Sự
biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội?.....................................................................................................27
Câu 1: Lý luận của chủ nghĩa Mác-lênin về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân?Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan quy định sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân?
*Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng
nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử. lOMoARc PSD|58729800
Sứ mệnh lịch sử là sự tổng quát của giai cấp công nhân thông qua chính đảng tiền phong, giai
cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột
người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp công nhân nhân dân lao động khỏi mọi sự
áp bức, nghèo nàn, lạc hậu xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân cần phải trải qua hai bước.
Bước thứ nhất: giai cấp công nhân biến thành giai cấp thống trị và giành lấy chính quyền nhà
nước vào tay giai cấp mình.
Bước thứ hai: giai cấp công nhân dùng sự thống trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư
bản trong tay giai cấp tư sản để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước
từ đó tiến hành tổ chức xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Hai bước này quan hệ chặt chẽ
với nhau, giai cấp công nhân không thực hiện được bước thứ nhất thì cũng không thực hiện
được bước thứ hai nhưng bước thứ hai là quan trọng nhất để giai cấp công nhân hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình.
GCCN là giai cấp lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh nhằm thực hiện bước chuyển từ CNTB
lên CNXH và CNCS, cụ thể: Nội dung kinh tế
Là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hôi hóa cao, giai cấp công nhân cũng là đại ̣
biểu cho quan hê sản xuất mới, tiên tiến nhất dựa trên chế độ công hữu về tư liệ u
sản xuất, ̣ đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bô nhất thuộ
c về xu thế phát triển của lịch sử xã hộ i.̣
Vai trò chủ thể của giai cấp công nhân, trước hết là chủ thể của quá trình sản xuất vât chất để ̣
sản xuất ra của cải vât chất ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người ̣
và xã hôi. Bằng cách đó, giai cấp công nhân tạo tiền đề vậ t chất - kỹ thuật cho sự ra đời của ̣ xã hôi mới.̣
Mặt khác, tính chất xã hôi hóa cao của lực lượng sản xuất đòi hỏi mộ t quan hệ sản
xuất mới, ̣ phù hợp với chế đô công hữu các tư liệ u sản xuất chủ yếu của xã hộ i là nền
tảng, tiêu biểu ̣ cho lợi ích của toàn xã hôi. Giai cấp công nhân đại biểu cho lợi ích chung của xã hộ i.̣
Chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất không có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu. Nó
phấn đấu cho lợi ích chung của toàn xã hôi. Nó chỉ tìm thấy lợi ích chân chính của mình khi ̣
thực hiên được lợi ích chung của cả xã hộ i.̣
Ở các nước xã hôi chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệ p hóa và
thực ̣ hiên “mộ t kiểu tổ chức xã hộ i mới về lao độ
ng” để tăng năng suất lao độ ng
xã hộ i và thực ̣ hiên các nguyên tắc sở hữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát
triển sản xuất, ̣ thực hiên tiến bộ
và công bằng xã hộ i.̣
Trên thực tế, hầu hết các nước xã hôi chủ nghĩa lại ra đời từ phương thức phát triển rút ngắn, ̣
bỏ qua chế đô tư bản chủ nghĩa. Do đó, để thực hiệ n sứ mệ
nh lịch sử của mình về nộ
i dung ̣ kinh tế, giai cấp công nhân phải đóng vai trò nòng cốt trong quá trình giải phóng lực
lượng sản xuất (vốn bị kìm hãm, lạc hâu, chậ
m phát triển trong quá khứ), thúc đẩy lực
lượng sản ̣ xuất phát triển để tạo cơ sở cho quan hê sản xuất mới, xã hộ i chủ nghĩa ra đời.̣ 2 lOMoARc PSD|58729800 Công nghiêp hóa là mộ
t tất yếu có tính quy luậ
t để xây dựng cơ sở vậ t
chất - kỹ thuậ t của chủ ̣ nghĩa xã hôi. Thực hiệ n sứ mệ
nh lịch sử của mình, giai
cấp công nhân phải là lực lượng đi ̣ đầu thực hiên công nghiệ p hóa, cũng như hiệ n
nay, trong bối cảnh đổi mới và hộ
i nhậ p quốc ̣ tế, yêu cầu mới đặt ra đòi hỏi phải gắn
liền công nghiêp hóa với hiệ n đại hóa, đẩy mạnh công ̣ nghiêp hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ
tài nguyên, môi trường.̣
Nội dung chính trị - xã hội
Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao đông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộ ng sản,
tiến ̣ hành cách mạng chính trị để lât đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ
bóc lộ t, ̣ áp bức của chủ nghĩa tư bản, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao đông. Thiết lậ
p nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền
dân chủ ̣ xã hôi chủ nghĩa, thực hiệ n quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hộ
i của ̣ tuyêt đại đa số nhân dân lao độ ng.̣
Giai cấp công nhân và nhân dân lao đông sử dụng nhà nước của mình, do mình làm chủ như ̣ môt công cụ có hiệ
u lực để cải tạo xã hộ i cũ và tổ chức xây dựng xã hộ i mới, phát
triển kinh ̣ tế và văn hóa, xây dựng nền chính trị dân chủ - pháp quyền, quản lý kinh tế - xã hôi
và tổ ̣ chức đời sống xã hôi phục vụ quyền và lợi ích của nhân dân lao độ ng, thực hiệ n
dân chủ, ̣ công bằng, bình đẳng và tiến bô xã hộ
i, theo lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hộ i.̣
Nội dung văn hóa, tư tưởng Thực hiên sứ mệ
nh lịch sử của mình, giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng cải
tạo xã ̣ hôi cũ và xây dựng xã hộ
i mới trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng cần phải tậ p trung xây dựng hệ
̣ giá trị mới: lao đông; công bằng; dân chủ; bình đẳng và tự do.̣
Hê giá trị mới này là sự phủ định các giá trị tư sản mang bản chất tư sản và phục vụ cho giai ̣
cấp tư sản; những tàn dư các giá trị đã lỗi thời, lạc hâu của các xã hộ i quá khứ,. Hệ giá
trị mớị thể hiên bản chất ưu việ
t của chế độ mới xã hộ
i chủ nghĩa sẽ từng bước
phát triển và hoàn ̣ thiên.̣
Giai cấp công nhân thực hiên cuộ
c cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tạo cái cũ
lỗị thời, lạc hâu, xây dựng cái mới, tiến bộ trong lĩnh vực ý thức tư tưởng, trong tâm lý, lối
sống ̣ và trong đời sống tinh thần xã hôi. Xây dựng và củng cố ý thức hệ tiên tiến của giai
cấp công ̣ nhân, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh để khắc phục ý thức hê tư sản và các
tàn dư còṇ sót lại của các hê tư tưởng cũ. Phát triển văn hóa, xây dựng con người mới xã hộ
i chủ nghĩa, ̣ đạo đức và lối sống mới xã hôi chủ nghĩa là mộ t trong những nộ i
dung căn bản mà cách mạng ̣ xã hôi chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng đặt ra đối với sứ mệ
nh lịch sử của giai cấp ̣ công nhân hiên đại.̣
*Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân có những nội dung sứ mệnh lịch sử nêu trên là donhững điều kiện khách quan sau đây quy định:
Địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản
Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất và luôn vận động
phát triển do sự thay đổi không ngừng của công cụ lao động ở trình độ ngày càng cao. Nhưng lOMoARc PSD|58729800
trình độ của công cụ lao động thay đổi được là kết quả của hoạt động sáng tạo của con
người.Trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng
phát triển, giai cấp công nhân trở thành bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất trong các yếu
tố cấu thành lực lượng sản xuất. Lao động sống của giai cấp công nhân tạo ra phần lớn của cải
vật chất cho xã hội và đóng vai trò có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Trong chủ nghĩa tư bản, do không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, giai cấp công nhân buộc
phải bán sức lao động trở thành người làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột
nặng nề. Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản chỉ có thể bóc lột được giai cấp công nhân khi
họ nắm giữ, chi phối tư liệu sản xuất của xã hội. Do vậy, bằng mọi giá, giai cấp tư sản phải duy
trì chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặt khác, giai cấp công nhân cũng chỉ được giải
phóng khỏi mọi sự áp bức, bóc lột khi xoá bỏ được chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
và thay thế vào đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Giai cấp tư sản bóc lột, song giai cấp công nhân là đối tượng bị bóc lột trực tiếp và nặng nề
nhất. Do vậy, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập trực tiếp với lợi ích cơ bản của giai
cấp tư sản.Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của đại đa số nhân dân
lao động, bởi vì muốn giải phóng mình khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, giai cấp công nhân phải
đấu tranh xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nếu điều này trở thành hiện thực
thì giai cấp công nhân không chỉ giải phóng mình mà còn giải phóng toàn xã hội khỏi mọi sự
áp bức, bóc lột. Hơn nữa, do điều kiện làm việc và điều kiện sống chủ yếu là ở các khu công
nghiệp tập trung và ở các thành phố lớn, nên giai cấp công nhân có khả năng tập hợp lực lượng,
đoàn kết với các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động khác trong cuộc đấu tranh chống lại giai
cấp tư sản để giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội.
Đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp công nhân
Do địa vị kinh tế - xã hội quy định khiến cho giai cấp công nhân có những đặc điểm chính trị
– xã hội mà những giai cấp và tầng lớp khác không thể có được. Đó là những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Giai cấp công nhân có tính tiên phong và tinh thần cách mạng triệt để nhất.
Tính tiên phong của giai cấp công nhân thể hiện ở việc nó đại diện cho phương thức sản xuất
tiên tiến của thời đại. Do yêu cầu khách quan của việc đổi mới liên tục công nghệ của sản xuất
công nghiệp, nên giai cấp công nhân phải không ngừng học tập, rèn luyện trau dồi tri thức
chuyên môn kỹ thuật, nâng cao tay nghề ở trình độ ngày càng cao.Giai cấp công nhân có hệ tư
tưởng độc lập, được trang bị bởi lý luận tiền phong là chủ nghĩa Mác-Lênin và là lực lượng đi
đầu trong mọi phong trào cách mạng xoá bỏ áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới tiến bộ vì
hạnh phúc của con người.
Giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để nhất bởi vì lợi ích của họ mâu thuẫn trực
tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản. Lợi ích của giai cấp công nhân chỉ thực sự được đảm bảo
khi xoá bỏ triệt để chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và các hình thức tư hữu khác.
Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ được giải phóng khi đồng thời
giải phóng toàn xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột. Tính triệt để cách mạng của giai cấp công
nhân còn được thể hiện trong tiến trình cách mạng không ngừng cho tới khi xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế giới. 4 lOMoARc PSD|58729800
Thứ hai: Giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao.Sản xuất công nghiệp
hiện đại theo dây chuyền và tính chuyên môn hoá cao độ đã khách quan rèn luyện cho giai cấp
công nhân có tính tổ chức kỷ luật cao trong quá trình lao động sản xuất. Đồng thời, bản thân
cuộc đấu tranh một mất một còn của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản đã tôi luyện
cho giai cấp công nhân phải có ý thức tổ chức cao.
Thứ ba: Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế. Bản chất quốc tế của giai cấp công nhân thể
hiện ở địa vị kinh tế – xã hội, ở nội dung sứ mệnh lịch sử của họ giống nhau trên toàn thế giới.
Bản chất quốc tế của giai cấp công nhân có được còn xuất phát từ yêucầu khách quan của sản
xuất công nghiệp hiện đại ngày nay đã mang tính quốc tế hoá và toàn cầu hoá rộng rãi. Hơn
nữa, vì mục tiêu lợi nhuận, giai cấp tư sản ở các nước phải liên kết với nhau trên phạm vi quốc
tế. Do vậy, muốn chiến thắng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân ở các
nước phải đoàn kết lại tạo thành phong trào đấu tranh mạnh mẽ và trở thành lực lượng quốc tế hùng mạnh.
*Điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng -
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng giai cấp công
nhân hiện đại, đảm bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình. +
Chất lượng công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một giai
cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với
lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. -
Là giai cấp đại diện tiêu biển cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng giai cấp
công nhân còn phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuậ và công nghệ
hiện đại, nhất là trong điều kiện hiện nay.
Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện
thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. -
Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò lãnh
đạo cuộc cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư
cách là giai cấp cách mạng. -
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của
Đảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ tham mưu
chiến đấu của giai cấp.
+ Đảng Cộng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và xã hội. -
Đảng Cộng sản đề ra đường lối, tuyên truyền đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống; tổ
chức thực hiện và gương mẫu thực hiện đường lối.
Sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao
động khác (trí thức, tiểu thương,. . . ) do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của
nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo
→ Chỉ duy nhất giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, từng bước xây
dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Câu 2: Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam và nội dung sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân Việt Nam?
*Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam: lOMoARc PSD|58729800
Tại Hôi nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta đã xác định: “Giai ̣
cấp công nhân Viêt Nam là mộ t lực lượng xã hộ
i to lớn, đang phát triển, bao gồm
những ̣ người lao đông chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất
kinh ̣ doanh và dịch vụ công nghiêp hoặc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có tính chất công nghiệ p”.̣
Giai cấp công nhân Viêt Nam ra đời và phát triển gắn liền với chính sách khai thác thuộ c
địa ̣ của thực dân Pháp ở Viêt Nam. Giai cấp công nhân Việ t Nam mang những đặc điểm chủ yếu ̣ sau đây:
- Giai cấp công nhân Viêt Nam ra đời trước giai cấp tư sản vào đầu thế kỷ XX, là giai cấp ̣ trực
tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp và bè lũ tay sai của chúng. Giai cấp công nhân Viêt
Nam phát triển chậ m vì nó sinh ra và lớn lên ở mộ t nước thuộ c địa, nửa phong
kiến, ̣ dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
- GCCN VN có tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, đoàn kết.
- Trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp, trong cuôc đấu tranh chống tư bản thực dân ̣
đế quốc và phong kiến để giành đôc lậ
p chủ quyền, xóa bỏ ách bóc lộ t và thống
trị thực dân, ̣ giai cấp công nhân đã tự thể hiên mình là lực lượng chính trị tiên phong để lãnh đạo cuộ
c đấụ tranh giải phóng dân tôc, giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộ c
Việ t Nam với đế quốc ̣ thực dân và phong kiến thống trị, mở đường cho sự phát triển của
dân tôc trong thời đại cách ̣ mạng vô sản. Giai cấp công nhân Viêt Nam không chỉ thể hiệ
n đặc tính cách mạng của mình ̣ ở ý thức giai cấp và lâp trường chính trị mà còn thể hiệ n tinh thần dân tộ
c, giai cấp công nhâṇ Viêt Nam gắn bó mậ t thiết với nhân dân, với dân tộ
c có truyền thống yêu nước, đoàn kết và ̣ bất khuất chống xâm lược.
- Tuy số lượng giai cấp công nhân Viêt Nam khi ra đời còn ít, những đặc tính của công nhân ̣
với tư cách là sản phẩm của đại công nghiêp chưa thậ
t sự đầy đủ, lại sinh trưởng trong
mộ t xã ̣ hôi nông nghiệ p còn mang nhiều tàn dư của tâm lý tiểu nông nhưng giai cấp công nhân Việ
t ̣ Nam sớm được tôi luyên trong đấu tranh cách mạng chống thực dân
đế quốc nên đã trưởng ̣ thành nhanh chóng về ý thức chính trị của giai cấp, sớm giác ngô lý
tưởng, mục tiêu cách ̣ mạng, tức là giác ngô về sứ mệ
nh lịch sử của giai cấp mình, nhất
là từ khi Đảng ra đời. Lịch ̣ sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và của Đảng cũng
như phong trào công nhân Viêt Nam do Đảng lãnh đạo gắn liền với lịch sử và truyền thống
đấu tranh của dân tộ c, nổi ̣ bât ở truyền thống yêu nước và đoàn kết đã cho thấy giai cấp công nhân Việ
t Nam trung ̣ thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, với Đảng Công sản, với lý tưởng,
mục tiêu cách mạng độ
c ̣ lâp dân tộ c và chủ nghĩa xã hộ i. Giai cấp công nhân có
tinh thần cách mạng triệ
t để và là giai ̣ cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đôi tiên phong của mình là Đảng Cộ ng sản.̣
- Giai cấp công nhân Viêt Nam gắn bó mật thiết với các tầng lớp nhân dân trong xã hộị
. Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích dân tôc gắn chặt với nhau, tạo thành độ ng
lực thúc ̣ đẩy đoàn kết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tôc trong mọi thời kỳ đấu tranh cách
mạng, tự̀ cách mạng giải phóng dân tôc đến cách mạng xã hộ i chủ nghĩa, trong xây
dựng chủ nghĩa xã ̣ hôi và trong sự nghiệ p đổi mới hiệ n nay.̣ Đại bô phậ n công nhân Việ
t Nam xuất thân từ nông dân và các tầng lớp lao độ ng
khác, cùng ̣ chung lợi ích, cùng chung nguyên vọng và khát vọng đấu tranh cho độc lậ p tự
do, để giải ̣ phóng dân tôc và phát triển dân tộ
c Việ t Nam, hướng đích tới chủ nghĩa
xã hộ i nên giai cấp ̣ công nhân Viêt Nam có mối liên hệ tự nhiên, chặt chẽ với giai cấp 6 lOMoARc PSD|58729800
nông dân và các tầng lớp ̣ lao đông trong xã hộ
i. Đặc điểm này tạo ra thuậ n lợi để giai
cấp công nhân xây dựng khối ̣ liên minh giai cấp với giai cấp nông dân, với đôi ngũ trí thức
làm nòng cốt trong khối đại ̣ đoàn kết toàn dân tôc. Đó cũng là cơ sở xã hộ i rộ ng lớn để thực hiệ n các nhiệ
m vụ cách ̣ mạng,thực hiên sứ mệ
nh lịch sử của giai cấp
công nhân Việ t Nam, trước đây cũng như hiệ n ̣ nay.
- Trong điều kiện lịch sử của VN, GCCN chưa được rèn luyện trong môi trường của nền
côngnghiệp hiện đại, trình độ học vấn và tay nghề chưa cao, còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tâm
lý, tác phong của người sản xuất nhỏ.
Những đặc điểm nêu trên bắt nguồn từ lịch sử hình thành và phát triển giai cấp công nhân
Viêt Nam với cơ sở kinh tế - xã hộ i và chính trị ở đầu thế kỷ XX.̣
Ngày nay, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, những đặc điểm đó của giai cấp công
nhân đã có những biến đổi do tác đông của tình hình kinh tế - xã hộ i trong nước và
những tác ̣ đông của tình hình quốc tế và thế giới. Bản thân giai cấp công nhân Việ t
Nam cũng có những ̣ biến đổi từ cơ cấu xã hôi - nghề nghiệ p, trình độ học vấn và tay nghề bậ
c thợ, đến đời sống, ̣ lối sống, tâm lý ý thức. Đôi tiên phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộ ng sản đã có mộ
t ̣ quá trình trưởng thành, trở thành Đảng cầm
quyền, duy nhất cầm quyền ở Viêt Nam, đang nỗ ̣ lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ngang tầm nhiêm vụ.̣
Có thể nói tới những biến đổi đó trên những nét chính sau đây: -
Giai cấp công nhân Viêt Nam hiệ
n nay đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng, là
giai cấp ̣ đi đầu trong sự nghiêp đẩy mạnh công nghiệ p hóa, hiệ n đại hóa, gắn với
phát triển kinh tế tri ̣ thức, bảo vê tài nguyên và môi trường.̣ -
Giai cấp công nhân Viêt Nam hiệ
n nay đa dạng về cơ cấu nghề nghiệ p, có mặt
trong mọi ̣ thành phần kinh tế nhưng đôi ngũ công nhân trong khu vực kinh tế nhà nước là tiêu
biểu, ̣ đóng vai trò nòng cốt, chủ đạo. -
Công nhân tri thức, nắm vững khoa học - công nghê tiên tiến, và công nhân trẻ được
đào tạọ nghề theo chuẩn nghề nghiêp, học vấn, văn hóa, được rèn luyệ n trong thực tiễn
sản xuất và ̣ thực tiễn xã hôi, là lực lượng chủ đạo trong cơ cấu giai cấp công nhân, trong lao độ
ng và ̣ phong trào công đoàn.
Trong môi trường kinh tế - xã hôi đổi mới, trong đà phát triển mạnh mẽ của cách mạng công ̣
nghiêp lần thứ 4, giai cấp công nhân Việ
t Nam đứng trước thời cơ phát triển và những
thách ̣ thức nguy cơ trong phát triển.
Để thực hiên sứ mệ nh lịch sử của giai cấp công nhân Việ t Nam trong bối cảnh hiệ n
nay, cùng ̣ với viêc xây dựng, phát triển giai cấp công nhân lớn mạnh, hiệ n đại, phải đặc biệ
t coi trọng ̣ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng lãnh đạo, cầm quyền thực sự
trong sạch vững mạnh. Đó là điểm then chốt để thực hiên thành công sứ mệ nh lịch sử
của giai cấp công ̣ nhân ở Viêt Nam.̣
*Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam:
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định vai trò giai cấp công nhân và sứ mênh lịch sử to ̣
lớn của giai cấp công nhân ở nước ta. lOMoARc PSD|58729800
“Trong thời kỳ đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có sứ mênh lịch sử to lớn: là giai cấp lãnḥ
đạo cách mạng thông qua đôi tiên phong là Đảng Cộ ng sản Việ t Nam; giai cấp đại diệ
n cho ̣ phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiêp xây dựng chủ
nghĩa xã ̣ hôi, lực lượng đi đầu trong sự nghiệ p công nghiệ p hóa, hiệ n đại hóa
đất nước vì mục tiêu dân ̣ giàu, nước mạnh, xã hôi công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng
nòng cốt trong liên minh ̣ giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đôi ngũ trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng”.̣ Thực hiên sứ mệ
nh lịch sử to lớn đó, giai cấp công nhân Việ t Nam phát huy vai trò của mộ
t ̣ giai cấp tiên phong, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tôc dưới sự lãnh đạo
đúng đắn, ̣ sáng suốt của Đảng để giải quyết các nhiêm vụ cụ thể thuộ c nộ i dung sứ mệ
nh lịch sử của ̣ giai cấp công nhân.
Về kinh tế: Giai cấp công nhân Viêt Nam với số lượng đông đảo công nhân có cơ cấu ngành ̣
nghề đa dạng, hoạt đông trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công nghiệ p ở mọi thành
phần ̣ kinh tế, với chất lượng ngày môt nâng cao về kỹ thuậ t và công nghệ sẽ là nguồn nhân
lực lao ̣ đông chủ yếu tham gia phát triển nền kinh tế thị trường hiệ n đại, định hướng xã hộ
i chủ ̣ nghĩa, lấy khoa học - công nghê làm độ
ng lực quan trọng, quyết định tăng năng
suất lao ̣ đông, chất lượng và hiệ
u quả. Đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiệ n tiến bộ
và ̣ công bằng xã hôi, thực hiệ
n hài hòa lợi ích cá nhân - tậ p thể và xã hộ i.̣
Giai cấp công nhân phát huy vai trò và trách nhiêm của lực lượng đi đầu trong sự nghiệ p
đẩy ̣ mạnh công nghiêp hóa, hiệ
n đại hóa đất nước. Đây là vấn đề nổi bậ t nhất đối
với việ c thực ̣ hiên sứ mệ
nh lịch sử giai cấp công nhân Việ t Nam hiệ n nay. Thực hiệ
n thắng lợi mục tiêu ̣ công nghiêp hóa, hiệ n đại hóa, làm cho nước ta trở thành mộ t nước công nghiệ
p theo hướng ̣ hiên đại, có nền công nghiệ p hiệ n đại, định hướng
xã hộ i chủ nghĩa trong mộ t, hai thậ
p kỷ ̣ tới, với tầm nhìn tới giữa thế kỷ XXI (2050)
đó là trách nhiêm của toàn Đảng, toàn dân mà ̣ giai cấp công nhân là nòng cốt. Công nghiêp hóa, hiệ n đại hóa ở Việ
t Nam phải gắn liền với ̣ phát triển kinh tế tri thức, bảo
vê tài nguyên và môi trường. ̣ Thực hiên sứ mệ
nh lịch sử của giai cấp công nhân trên lĩnh vực kinh tế gắn liền với việ
c phát ̣ huy vai trò của giai cấp công nhân, của công nghiêp, thực hiệ n khối liên minh
công - nông - ̣ trí thức để tạo ra những đông lực phát triển nông nghiệ p - nông thôn và
nông dân ở nước ta ̣ theo hướng phát triển bền vững, hiên đại hóa, chủ độ ng hộ i nhậ p quốc tế, nhất là hộ
i nhậ p ̣ kinh tế quốc tế, bảo vê tài nguyên và môi trường sinh thái.
Như vậ y, đẩy mạnh công nghiệ
p ̣ hóa, hiên đại hóa là mộ
t quá trình tạo ra sự phát
triển và trưởng thành không chỉ đối với giai ̣ cấp công nhân mà còn đối với giai cấp nông dân,
tạo ra nôi dung mới, hình thức mới để nâng ̣ cao chất lượng, hiêu quả khối liên minh công -
nông - trí thức ở nước ta.̣
Về chính trị - xã hội: Cùng với nhiêm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì ̣
nhiêm vụ “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu ̣
của cán bô đảng viên” và “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy ̣
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nôi bộ
” là ̣ những nôi dung chính yếu, nổi bậ t, thể hiệ n sứ mệ nh lịch sử giai cấp
công nhân về phương ̣ diên chính trị - xã hộ i. Thực hiệ
n trọng trách đó, độ i ngũ cán bộ
đảng viên trong giai cấp công ̣ nhân phải nêu cao trách nhiêm tiên phong, đi đầu, góp
phần củng cố và phát triển cơ sở chínḥ trị - xã hôi quan trọng của Đảng đồng thời giai cấp công 8 lOMoARc PSD|58729800
nhân (thông qua hệ thống tổ chức ̣ công đoàn) chủ đông, tích cực tham gia xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, làm cho Đảng thực sự ̣ trong sạch vững mạnh, bảo vê Đảng, bảo vệ chế độ xã hộ
i chủ nghĩa để bảo vệ nhân dân - đó ̣ là trọng trách lịch sử thuôc về sứ mệ nh của giai cấp công nhân Việ t Nam hiệ n nay.̣
Về văn hóa tư tưởng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Viêt Nam tiên tiến, đậ m đà bản ̣ sắc dân tôc có nộ
i dung cốt lõi là xây dựng con người mới xã hộ i chủ nghĩa, giáo
dục đạo đức ̣ cách mạng, rèn luyên lối sống, tác phong công nghiệ p, văn minh, hiệ n đại, xây dựng hệ
giá trị ̣ văn hóa và con người Viêt Nam, hoàn thiệ n nhân cách - Đó là nộ
i dung trực tiếp về văn hóa ̣ tư tưởng thể hiên sứ mệ nh lịch sử cửa giai cấp công nhân,
trước hết là trọng trách lãnh đạo ̣ của Đảng. Giai cấp công nhân còn tham gia và cuôc đấu
tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý ̣ luân để bảo vệ
sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là nền ̣ tảng tư tưởng của Đảng, chống lại những quan điểm sai
trái, những sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng đôc lậ p dân tộ
c và chủ ̣ nghĩa xã hôi. Muốn thực hiệ n được sứ mệ
nh lịch sử này, giai cấp công nhân Việ
t Nam phải ̣ thường xuyên giáo dục cho
các thế hê công nhân và lao độ
ng trẻ ở nước ta về ý thức giai cấp,̣ bản lĩnh chính trị, chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, củng cố mối liên hê mậ
t thiết ̣ giữa giai cấp công
nhân với dân tôc, đoàn kết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tộ
c và đoàn ̣ kết quốc tế. Đó
là sự kết hợp sức mạnh dân tôc với sức mạnh thời đại trong thời đại Hồ Chí ̣ Minh.
Câu 3: Lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin về tính tất yếu và đặc điểm của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội?
*Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH:
Một là, bất kỳ quá trình chuyển biến từ một xã hội này lên một xã hội khác đều nhất định phải
trải qua một hời kỳ gọi là thời kỳ quá độ. Đó là thời kỹ còn có sự đan xen lẫn nhau giữa các
yếu tố mới và cũ trong cuộc đấu tranh với nhau. Có thể nói đây là thời kỳ của cuộc đấu tranh
“ai thắng ai” giữa cái cũ và cái mới mà nói chung theo tính tất yếu phát triển lịch sử thì cái mới
thường chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu. Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không là ngoại
lệ lịch sử. Hơn nữa, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một bước nhảy lớn và căn bản
về chất so với các quá trình thay thế từ xã hội cũ lên xã hội mới đã từng diễn ra trong lịch sử
thì thời kỳ quá độ lại càng là một tất yếu, thậm chí có thể kéo dài. Nhất là đối với những nước
còn ở trình độ tiền tư bản thực hiện thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì “những cơn đau đẻ”
này còn có thể rất dài với nhiều bước quanh co.
Hai là, sự ra đời của một xã hội mới bao giờ cũng có những sự kế thừa nhất định từ những
nhân tố do xã hội cũ tạo ra. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa đối với chủ nghĩa tư
bản, đặc biệt là trên phương diện kế thừa cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra bởi sự phát
triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội
mặc dù cũng là nền sản xuất đại công nghiệp nhưng đó là nền sản xuất đại công nghiệp xã hội
chủ nghĩa chứ không phải là nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Do đó nó cũng cần phải có
thời kỳ quá độ của bước cải tạo, kế thừa và tái cấu trúc nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
Đối với những nước chưa từng trải qua quá trình công nghiệp hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội,
thời kỳ quá độ cho việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội càng có thể kéo
dài với nhiệm vụ trọng tâm của nó là tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Đó là một
nhiệm vụ vô cùng to lớn và đầy khó khăn, không thể “đốt cháy giai đoạn” được. lOMoARc PSD|58729800
Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư
bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình
thành các quan hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, đo vậy cũng cần phải có thời gian nhất định để
xây dựng và phát triển những quan hệ đó.
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp.
Với tư cách là người chủ của xã hội mới, giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể
ngay lập tức có thể đảm đương được công việc ấy, nó cần phải có thời gian nhất dịnh.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau
có thể diễn ra khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau. Đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa
tư bản phát triển ở trình độ cao khi tiến lên chủ nghĩa xã hội thì thời kỳ quá độ có thể tương đối
ngắn. Những nước đã trải qua giai đoạn phát triển chĩ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình, đặc
biệt là những nước còn ở trình độ phát triển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì thời kỳ quá
độ thường kéo dài với rất nhiều khó khăn, phức tạp. *Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội:
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá dộ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại những
yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa
thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
+ Trên lĩnh vực kinh tế:
Thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu còn tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần trong một hệ
thống kinh tế quốc dân thông nhất, trong đó có những tp KT đối lập với KT XHCN. Đây là
bước quá độ trung gian tất yếu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể dùng ý
chí để xóa bỏ ngay kết cấu nhiều thành phần của nền kinh tế, nhất là đối với những nước còn
ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được xác lập trên cơ
sở khách quan của sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất với những hình thức tổ
chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn hợp và tương ứng với nó là những hình thức phân phối khác
nhau, trong đó hình thức phân phối theo lao động tất yếu ngày càng giữ vai trò là hình thức phân phối chủ đạo.
+ Trên lĩnh vực chính trị:
Nhà nước chuyên chính vô sản được thiết lập, củng cố và ngày càng hoàn thiện., Trong thời kỳ
quá độ lên CNXH, GCCN sử dụng quyền lực NN thực hiện dân chủ đới với nhân dân, tổ chức
xây dựng và bảo vệ CĐ mới, chuyên chính với những phần tử phản CM, đi ngược lại với lợi
ích của GCCN và nhân dân lao động.
+ Trên lĩnh vực XH:
Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đa dạng, phức tạp, nên kết cấu giai
cấp của xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng phức tạp, thể hiện ở sự tồn tại nhiều GC, tầng
lớp XH, trong đó có cả những GC mà có lợi ích đối lập nhau. Nói chung, thời kỳ này thường
bao gồm: giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp
tư sản và một số tầng lớp xã hội khác tuỳ theo từng điều kiện cụ thể của mỗi nước. Các giai
cấp, tầng lớp này vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. 10 lOMoARc PSD|58729800
+ Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng và văn hoá khác
nhau. Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tâm lý tiểu
nông, V.V.. Theo V.I. Lênin, tính tự phát tiểu tư sản là “kẻ thù giấu mặt hết sức nguy hiểm, nguy
hiểm hơn so với nhiều bọn phản cách mạng công khai”. Trên lĩnh vực văn hoá cũng tồn tại các
yếu tố văn hoá cũ và mới, chúng thường xuyên đấu tranh với nhau.
=> Thực chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ diễn
ra cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản đã bị đánh bại không còn là giai cấp thống trị và
những thế lực chống phá chủ nghĩa xã hội với giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao
động. Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong điều kiện mới là giai cấp công nhân đã nắm được
chính quyền nhà nước, quản lý tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Cuộc đấu tranh giai cấp với
những nội dung, hình thức mới, diễn ra trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa,
bằng tuyên truyền vận động là chủ yếu, bằng hành chính và luật pháp.
*Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam:
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua
việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.
Với điểm xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế - xã hội rất thấp, quá trình đó tất yếu phải qua
một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường.
Tổng kết 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (1991 - 2011) và 25 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu
rõ: Xã hội, xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: "Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ công bằng văn minh”.
Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng
kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp,
tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ
nay đến giữa thế kỷ XXI toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở
thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
C.Mác. Ph.Ănghen, V.I.Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình vận động, phát
triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có hai con đường quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Con đường thứ nhất là quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những
nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở trình độ cao. Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ
nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, hoặc như V.l.Lênin cho rằng,
những nước có nền kinh tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng
có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được trong điều kiện cụ thể nào đó nhất là trong điều kiện đảng
kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành đảng cầm quyền) và được một hay
nhiều nước tiên tiến giúp đỡ.
Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt Nam. Hồ Chí
Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hòan
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, quan niệm lOMoARc PSD|58729800
Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quan niệm về một hình thái
quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu
sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính ở nội dung cụ thể này. Hồ
Chí Minh đã cụ thể và làm phong phú thêm lý luận Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta có đặc điểm lớn
nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không
Phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác,
thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn.
Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu
thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - xã
hội quá thấp kém của nước ta.
Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình cải
biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Thực chất của quá trình cải tạo
và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong điều
kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng
trong nước và quốc tế đã có những biến đổi. Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện các hình
thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các thế lực đi ngược lại
con đường xã hội chủ nghĩa. Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài.
Câu 4: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội?
Quan điểm của Đảng cộng sản về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
*Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội:
Chủ nghĩa xã hội giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc giải phóng xã hội, giải phóng con
người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, khi du báo về xã hội tương lai, xã hội cộng
sản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Angghen đã khẳng định: “Thay thế cho xã hội tư sản cũ vói
cáccgiai cấp và những sự đối lập giai cấp của nó sẽ là một khôi liên hiệp, trong đó sự phát triển
tự do của mỗi người là điều kiện củasự phát triển tự do của tất cả mọi người khi đó "con người,
cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó làm chủ tự nhiên, làm chù cả
bản thân mình, trỏ thành người tự do”.
・Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái kinh tế - xã hội cộng Asản chủ nghĩa so vói các
hình thái kinh tế - xã hội ra đời trước, thể hiện ở bản chất nhân văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải
phóng giaicấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
Đây là đặc trưng về phương diện kinh tế của chủ nghĩa xã hội.Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa
xã hội là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội có
nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ 12 lOMoARc PSD|58729800
công hữu về tư liệu sản xuất, được tổ chức, quản lý có hiệu quả, năng suất lao động cao và
phân phổi chủ yếu theo lao động. V.I. Lênin cho rằng: Từ chủ nghĩa tư bản, nhân loại chỉ có
thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nghĩa là lên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất và chế
độ phân phối sản phẩm theo lao động của mỗi người
Chủ nghĩa xã hội là chế độ xă hội do nhân dân lao động ỉàm chủ.
Dây là đặc trưng thể hiện thuộc tính bản chất của chủ nghĩaxã hội, xã hội vì con người và do
con người; nhân dân làm nòng cốt là nhân dân lao động là chủ thể của xã hội thực hiện quyền
làm chủ ngày càng rộng rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Chủ nghĩa xã hội là một chế độ chính trị dân chủ, nhà nước xã hội chủ nghĩa vói hệ thống pháp
luật và hệ thống tổ chức ngày càng hoàn thiện sẽ quản lý xã hội ngày càng hiệu quả.
Chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới mang bản chất giaicấp công nhân, đại biêu cho
lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã khẳng đinh:trong chủ nghĩa xã hội phải thiết
lập nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân,
đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Theo V.L Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sảnlà một chính quyền đo giai cấp
vô sản giành được và duy trì bằngbạo lực đốì với giai cấp tư sản. Chính quyền đó chính là nhà
nước kiểu mới thực hiện dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc
lột, bọn áp bức nhân dân, thực chất của sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế
thừa và phát huy những giấ trị của van hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Tính ưu việt, sự ổn định và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa không chỉ thể hiện ở lĩnh
vực kinh tế, chính trị mà còn ở lĩnh vực văn hóa - tinh thần của xã hội. Trong chủ nghĩa xã
hội,văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu, động lực của phát triển xã hội, trọng tâm
là phát triển kmh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh con người, biến con
người thành con người chân, thiện, mỹ.
Chủ nghĩa xã hội bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa cácdân tộc và có quan hệ hữu nghị,
hợp tác vối nhân dân các nước trên thế giới.
Vấn đề giai cấp và dân tộc, xây dựng một cộng đồng dân tộc,giai cấp bình đẳng, đoàn kết, hợp
tác, hữu nghị với nhân dân các nưóc trên thế giối luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạch
định và thực thi chiến lược phát triển của mỗi dân tộc và mỗi quốc gia. Theo quan điểm của
các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề giai cấp và dân tộc có quan hệ biện
chứng,bởi vậy, giải quyết vấn đề dân tộc, giai cấp trong chủ nghĩa xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng.
*Quan điểm của Đảng cộng sản về mô hình chủ nghĩa xã hội ở VN:
Đúng như đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định, "Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các
nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không
có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định" . Nhưng đứng trước tình hình cải
tổ của Liên Xô có những biểu hiện chệch hướng XHCN, Đảng ta sớm nhận ra phải xây dựng
một mô hình CNXH Việt Nam. Trên cơ sở đó Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) ra đời và đề ra mô hình CNXH Việt Nam gồm sáu đặc trưng .
Tổng kết thực tiễn 10 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển) lOMoARc PSD|58729800
đã bổ sung, phát triển thành tám đặc trưng CNXH Việt Nam theo đó mô hình xã hội chủ nghĩa ở VN thể hiện như sau
Thứ nhất, khẳng định đặc trưng hàng đầu là xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh. Chủ nghĩa xã hội phải là dân giàu, nước mạnh. Dân có giàu nước
mới mạnh, nước mạnh tạo điều kiện cho dân giàu có chính đáng. Dân giàu không chỉ giàu về
của cải vật chất mà giàu cả về trí tuệ, văn hóa, tinh thần, đạo đức. Sức mạnh của đất nước bắt
nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Nước mạnh dựa trên nền tảng kinh tế phát triển cao, chế độ
chính trị tiến bộ, dân chủ, ổn định quốc phòng, an ninh vững mạnh, xã hội đoàn kết, đồng thuận,
trong ấm ngoài êm, không gây thù oán trong quan hệ quốc tế. Nước mạnh còn thể hiện ở ý chí
độc lập, tự lực, tự cường, ở bản lĩnh vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức.
Thứ hai, đề cao dân chủ, nội dung dân chủ được đặt lên trước công bằng, văn minh. Đây là
một điểm mới trong nhận thức và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. Dân chủ là
bước tiến, là khát vọng của con người, của mỗi dân tộc. Dân chủ tư sản là bước tiến bộ so với
chế độ phong kiến. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phát triển chưa từng có, giải phóng triệt để
con người khỏi mọi áp bức, bất công để tạo dựng một xã hội tốt đẹp.
Thứ ba, điểm nhấn mới trong đặc trưng về kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Có
nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp. Nói quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất hiện đại là phản ánh
đúng quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp đặt ra nhiệm vụ phải không ngừng hoàn thiện
quan hệ sản xuất với sự đồng bộ của tất cả các yếu tố (chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, chế độ
quản lý và chế độ, phương thức phân phối sản phẩm), chứ không chỉ về chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Thứ tư, có nền VH tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc:
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực của quá trình phát triển. Giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp luôn được phát huy kết họp với những tinh hoa văn hóa của nhân loại luôn
được giao lưu, tiếp biến tạo thành một chỉnh thể nền văn hóa đậm bản sắc, đa dạng về biểu hiện
ứng với mồi tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khi văn hóa được đặt đúng vị
trí là nền tảng tinh thần của xã hội, sẽ trở thành động lực của quá trình phát triển, văn hóa cho
phát triển và phát triển có văn hóa chính là đường nét phản ánh sự khác biệt giữa các quốc gia.
Với Việt Nam, phát triển với động lực văn hóa cũng chính là hướng xã hội tới trình độ văn
minh, góp phần hiện thực hóa hệ giá trị cốt lõi của mô hình CNXH ở VN.
Thứ năm, về vấn đề xã hội và con người:
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) diễn đạt khái quát: Con người có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Việc xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công chỉ
là giải pháp để đạt tới mục đích vì cuộc sống tốt đẹp của con người. Mục tiêu xây dựng, phát
triển con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa cần xác định con người, nhân dân Việt Nam là
chủ thể xây dựng, tạo dựng xã hội tốt đẹp và được hưởng chính những thành quả đó. Con người
trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là những người năng động, có trí tuệ, học vấn cao,
vươn tới đỉnh cao của tri thức nhân loại.
Thứ sáu, các dt trong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển 14 lOMoARc PSD|58729800
Thứ bảy, có NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do ĐCS lãnh
đạo: Tinh thần XHCN phản ánh trong chế độ chính trị ở Việt Nam là Nhà nước của dân, do
dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nd được đảm bảo về quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Bao nhiêu lợi ích là của dân, hoạt động của bộ máy quyền lực là vì
dân, do dân. Với những nguyên tắc này, phản ánh đặc trưng cơ chế vận hành, phương thức hình
thành và phát triển của hệ thống chính trị mang đặc trưng XHCN Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo
của ĐCS VN sẽ mang lại nhiều điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa,xã hội,…
Thứ tám, có quan hệ hợp tác và hữu nghị với các nước trên TG.
Câu 5: Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất của nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa? Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam?
*Bản chất của nền Dân chủ xã hội chủ nghĩa:
Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bô lịch sử tiến hóa của dân chủ, ̣ dân chủ xã hội chủ nghĩa
có bản chất cơ bản sau: -
Bản chất chính trị: Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Bản chất chính trị của nền dân chủ
xã hôi chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với ̣
toàn xã hôi, nhưng không phải chỉ để thực hiệ
n quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp
công ̣ nhân, mà chủ yếu là để thực hiên quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, trong đó có
giai ̣ cấp công nhân. Do vậy DCXHCN mang bản chất GCCN, tính nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc.
Nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa do đảng Cộ ng sản lãnh đạo - yếu tố quan trọng để đảm bảo ̣
quyền lực thực sự thuôc về nhân dân, bởi vì, đảng Cộ
ng sản đại biểu cho trí tuệ , lợi
ích của ̣ giai cấp công nhân, nhân dân lao đông và toàn dân tộ
c. Với nghĩa này, dân chủ
xã hộ i chủ ̣ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị. Sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
thông qua đảng Công sản đối với toàn xã hộ i về mọi mặt V.I.Lênin gọi là sự thống trị chính trị. ̣
Trong nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa, nhân dân lao độ
ng là những người làm chủ những
quan ̣ hê chính trị trong xã hộ i. Họ có quyền giới thiệ
u các đại biểu tham gia vào bộ
máy chính ̣ quyền từ trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính
sách, pháp luât, xây dựng bộ máy và cán bộ
, nhân viên nhà nước. Quyền được tham
gia rộ ng rãi vào ̣ công viêc quản lý nhà nước của nhân dân chính là nộ i dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị.̣ -
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hộ i về
những tư ̣ liêu sản xuất chủ yếu của toàn xã hộ
i đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của
lực lượng sản ̣ xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghê hiệ n đại nhằm thỏa mãn ngày càng
cao những nhu ̣ cầu vât chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao độ ng.̣
Bản chất kinh tế đó chỉ được bôc lộ đầy đủ qua mộ
t quá trình ổn định chính trị, phát
triển sản ̣ xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hôi, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác - Lênin
và quản ̣ lý, hướng dẫn, giúp đỡ của nhà nước xã hôi chủ nghĩa. Trước hết đảm bảo quyền làm
chủ củạ nhân dân về các tư liêu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh lOMoARc PSD|58729800
doanh, ̣ quản lý và phân phối, phải coi lợi ích kinh tế của người lao đông là độ ng lực cơ
bản nhất có ̣ sức thúc đẩy kinh tế - xã hôi phát triển.̣
Khác với nền dân chủ tư sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa là thực hiệ
n ̣ chế độ công hữu về tư liêu sản xuất chủ yếu và thực hiệ n chế độ phân phối lợi ích theo kết ̣
quả lao động là chủ yếu.
Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội: Nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng
Mác - ̣ Lênin - hê tư tưởng của giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức
xã hộ i ̣ khác trong xã hôi mới. Đồng thời nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền
thống ̣ dân tôc; tiếp thu những giá trị tư tưở ng - văn hóa, văn minh, tiến bộ xã hộ i…
mà nhân loại đã ̣ tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tôc… Trong nền dân chủ xã hộ i chủ nghĩa,
nhân dân được ̣ làm chủ những giá trị văn hoá tinh thần; được nâng cao trình đô văn hoá, có điều kiệ
n để pháṭ triển cá nhân. Dưới góc đô này dân chủ là mộ t thành tựu văn hoá, mộ
t quá trình sáng tạo văn ̣ hoá, thể hiên khát vọng tự do được sáng tạo và phát triển của con người.̣
Trong nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về ̣
lợi ích giữa cá nhân, tập
thể và lợi ích của toàn xã hội. Nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa ra sức độ ng viên, thu hút
mọi tiềm ̣ năng sáng tạo, tính tích cực xã hôi của nhân dân trong sự nghiệ p xây dựng xã hộ i mới.̣
=> Với những bản chất nêu trên, dân chủ xã hôi chủ nghĩa trước hết và chủ yếu được thực ̣ hiên
bằng nhà nước pháp quyền xã hộ
i chủ nghĩa, là kết quả hoạt độ ng tự giác của
quần ̣ chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ
có được với điều kiên tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sảṇ
. Bởi lẽ, nhờ nắm vững hê tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và đưa
nó ̣ vào quần chúng, Đảng mang lại cho phong trào quần chúng tính tự giác cao trong quá trình
xây dựng nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa; thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục của mình, ̣
Đảng nâng cao trình đô giác ngộ chính trị, trình độ
văn hóa dân chủ của nhân dân để
họ có ̣ khả năng thực hiên hữu hiệ
u những yêu cầu dân chủ phản ánh đúng quy luậ t phát triển xã hộ
i.̣ Chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Công sản, nhân dân mới đấu tranh có hiệ
u quả chống lại mọi ̣ mưu đồ lợi dụng dân chủ vì những đông cơ đi ngược lại lợi ích
của nhân dân.̣ * Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: a.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân
Thứ nhất, NNPQXHCN Việt Nam là nhà nước của Nhân dân. Ở Việt Nam, chính quyền và
Nhà nước ngay từ đầu đã thể hiện tính chất nhân dân và cách mạng sâu sắc, bởi vì nó chính là
thành quả trực tiếp của Cách mạng tháng Tám do nhân dân thực hiện thành công dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là chính quyền Nhà nước của
nhân dân ta, do nhân dân giành được.Về mặt pháp lý, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
đã được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp, khẳng định Nhà nướclà thiết chế quyền lực
do nhân dân ta tự giác bầu ra trên cơ sở sử dụng quyền bầu cử của những công dân hoàn toàn
tự do của một đất nước hoàn toàn độc lập
Thứ hai, NNPQXHCN Việt Nam là nhà nước do Nhân dân. Nhân dân thông qua quyền bầu cử
thành lập nên Quốc Hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, từ đó Quốc Hội- với tư cách là
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân thành lập nên các cơ quan khác của
Nhà nước như Chủ tịch nước, Chính Phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Ở địa 16 lOMoARc PSD|58729800
phương, người dân cũng bầu nên Hội đồng nhân dân- cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, hội đồng
nhân dân sẽ bầu ra Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Như vậy, thông qua phương thức trực tiếp và
gián tiếp, nhân dân đã thành lập nên Nhà nước.
Thứ ba, NNPQXHCN Việt Nam là nhà nước vì nhân dân, mọi chính sách và hoạt động của
nhà nước đều hướng đến mục tiêu là đảm bảo lợi ích của người dân. Nhân dân giao cho nhà
nước một phần quyền lực của mình để Nhà nước thực hiện quản lý xã hội hướng đến mục tiêu
vì quyền lợi của chính nhân dân. Với tư cách như vậy, trong Nhà nước pháp quyền, mối quan
hệ giữa Nhà nước và nhân dân phải là mối quan hệ tương hỗ trách nhiệm. Nhà nước phải đảm
bảo quyền, lợi ích chính đáng của người dân, chịu trách nhiệm với nhân dân đối với mọi hoạt
động của mình và ngược lại, nhân dân cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước
và chịu trách nhiệm với những hành vi vi phạm pháp luật của mình- đây cũng là yếu tố để đảm
bảo chức năng quản lý xã hội, bảo vệ quyền lợi cho người dân của Nhà nước. b.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở Hiến pháp và Pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội.
Cũng như các nhà nước pháp quyền khác, NNPQXHCN Việt Nam đảm bảo tính tối thượng của
Hiến pháp, pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Pháp luật là yếu tố điều chỉnh quan hệ
xã hội, điều chỉnh hành vi của cá nhân và của tập thể, pháp luật bảo đảm để mọi người có ngang
quyền với nhau trong việc thực hiện những nhu cầu về quyền lựa chọn hành vi, thực hiện trách
nhiệm. Nhà nước tuy là chủ thể làm ra luật, ban hành pháp luật nhưng phải chịu dự ràng buộc
về thẩm quyền và trách nhiệm trước pháp luật, trong khuôn khổ các quy định của pháp luật.
Phục tùng pháp luật là phục tùng ý chí và lợi ích của nhân dân. Điều này thể hiện ở tổ chức và
hoạt động của Nhà nước phải theo quy định của pháp luật, các cơ quan Nhà nước đều phải tuân
theo các quy định của pháp luật về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, trên cơ sở “bình đẳng
trước pháp luật” mà thiết lập không chỉ mối quan hệ phối hợp (giữa các cơ quan Nhà nước với
nhau) mà còn cả các quan hệ trên - dưới (mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương). c.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm quyền con người, quyền công dân, coi con ng là chủ thể, là trung tâm của sự phát triển.
Điều 3 Hiến pháp 2013 đã khẳng định vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với việc tôn trọng,
bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân, ví dụ như: “Nhà nước
tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” (khoản 2 Điều 24), “Nhà nước, xã hội
và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã
hội” (khoản 2 Điều 26), “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã
hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân (khoản
2 Điều 28); “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát
huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 37)… Đồng thời, Hiến pháp
2013 đã bổ sung các thiết chế độc lập nhằm tăng cường cơ chế thực hiện quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, như hiến định Hội đồng Bầu cử quốc gia (Điều 117)
và bổ sung quy định “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” (đoạn 2, khoản 2 Điều 119). d.
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong quá trình thực
hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp lOMoARc PSD|58729800
Nguyên tắc này là kết quả của quá trình tìm tòi, kế thừa những hạt nhân hợp lý trên phương
diện tổ chức bộ máy nhà nước cả ở trong nước và nước ngoài; là bước phát triển quan trọng cả
về phương diện nhận thức lý luận và tổ chức thực tiễn trong quá trình tìm tòi, sáng tạo để xây
dựng được mô hình tổ chức quyền lực nhà nước ngày càng phù hợp với tình hình đất nước.
Xuất phát từ bản chất nhà nước là của nhân dân, nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực
nhà nước nên quyền lực nhà nước là thống nhất, vì vậy trong NNPQXHCN Việt Nam, quyền
lực nhà nước không có sự phân chia như trong các nhà nước pháp quyền tư sản khác mà có sự
phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. Cụ thể,để xác định rõ trách nhiệm, Hiến pháp
quy định Quốc hội được giao thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền
hành phápvà Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
Tuy nhiên, những cơ quan này không phải là cơ quan duy nhất thực hiện các quyền được phân
công, mà sẽ có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước một
cách tốt nhất, ví dụ như hoạt động soạn thảo và xây dựng luật của Chính Phủ, Toà án nhân dân,
Viện Kiểm sát nhân dân; sự tham gia thực hiện quyền hành pháp ở các mức độ khác nhau của
các cơ quan nhà nước ngoài Chính phủ,.v.v... Cần nhấn mạnh rằng,mục đích của việc phân
công quyền lực nhà nước là để có cơ sở kiểm soát quyền lực nhà nước, chứ không phải là để
thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực nhà nước. e.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng cộng sản
Việt Nam lãnh đạo
Lãnh đạo xây dựng NNPQ của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là trọng trách của Đảng
cầm quyền, là một tất yếu khách quan, yêu cầu cần thiết mà thực tiễn đấu tranh cách mạng của
Đảng và nhân dân ta đặt ra. Đảng cộng sản Việt Nam là thực thể sống, thống nhất của ý chí,
nguyện vọng của toàn dân trên thực tế, Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị. Đảng lãnh
đạo dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất và đặc điểm của mỗi
lĩnh vực đời sống xã hội hay hoạt động nhà nước mà Đảng quan tâm. Đảng đã lãnh đạo nhân
dân làm cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, và nay Đảng tiếp tục lãnh đạo xây dựng
Nhà nước, lãnh đạo hoạt động của Nhà nước nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phải gắn liền và dựa trên cơ sở
Đảng thường xuyên được đổi mới, chỉnh đốn, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, thật sự là một Đảng cách mạng chân chính. g.
Tổ chức và hđ của bộ máy NN theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công,
phân cấp, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau nhưng bảo đảm quyền lực là thống nhất và sự
chỉ đạo thống nhất của TW. h.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại hoà
bình, hữu nghị và hợp tác với nhân dân các dân tộc và các nước trên thế giới
Việc xây dựng NNPQXHCN Việt Nam không chỉ thể hiện trong đường lối đối nội của nhà
nước ta mà còn được thể hiện trong các chính sách đối ngoại. Chính sách đó thể hiện khát vọng
hòa bình của nhân dân ta, thể hiện mong muốn hợp tác trên tinh thần hoà bình, hữu nghị, cùng
có lợi với các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương
Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là
bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia,
dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. 18 lOMoARc PSD|58729800
Câu 6: Lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về tính tất yếu của liên minh giai
cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Nội dung của liên
minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
* Lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về tính tất yếu của liên minh giai cấp, tầng lớp trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Xét dưới góc độ chính trị, trong một chế độ xã hội nhất định, chính cuộc đấu tranh giai cấp
của các giai cấp có lợi ích đối lập nhau đặt ra nhu cầu tất yếu khách quan mỗi giai cấp đứng ở
vị trí trung tâm đều phải tìm cách liên minh với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác có những lợi
ích phù hợp với mình để tập hợp lực lượng thực hiện những nhu cầu và lợi ích chung - đó là
quy luật mang tính phổ biến và là động lực lớn cho sự phát triển của các xã hội có giai cấp.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân
phải liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động để tạo sức mạnh tổng
hợp đảm bảo cho thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa cả trong giai đoạn giành chính
quyền và giai đoạn xây dựng chế độ xã hội mới.
Vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong giai đoạn chủ
nghĩa tư bản đã phát triển cao, bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lênin cũng khẳng
định liên minh công, nông là vấn đề mang tính nguyên tắc để đảm bảo cho thắng lợi của cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917. VI. Lênin chỉ rõ: “.. nếu không liên
minh với nông dân thì không thể có được chính quyền của giai cấp vô sản, không thể nghĩ được
đến việc duy trì chính quyền đó... Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên
minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo và
chính quyền nhà nước”.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp
lao động khác vừa là lực lượng sản xuất cơ bản, vừa là lực lượng chính trị - xã hội to lớn. Nếu
thực hiện tốt khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân
dân lao động khác, trong đó trước hết là với trí thức thì không những xây dựng được cơ sở kinh
tế vững mạnh mà chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa cũng ngày càng được củng cố vững chắc.
Khẳng định vai trò của trí thức trong khối liên minh, V.I. Lênin viết: “Trước sự liên minh của
các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được”.
Xét từ góc độ kinh tế, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - tức là cách mạng đã chuyển
sang giai đoạn mới, cùng với tất yếu chính trị - xã hội, tính tất yếu kinh tế của liên minh lại nổi
lên với tư cách là nhân tố quyết định nhất cho sự thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội. Liên
minh này được hình thành xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp là chủ
yếu sang sản xuất hàng hóa lớn, phát triển công nghiệp, dịch vụ và khoa học - công nghệ..., xây
dựng nền tảng vật chất - kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội.
Việc hình thành khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
cũng xuất phát từ chính nhu cầu và lợi ích kinh tế của họ nên các chủ thể của các lĩnh vực công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, khoa học và công nghệ... tất yếu phải gắn bó, liên minh chặt chẽ
với nhau để cùng thực hiện những nhu cầu và lợi ích kinh tế chung của mình. Song quan hệ lợi
ích giữa công nhân, nông dân và trí thức cũng có những biểu hiện mới, phức tạp: bên cạnh sự
thống nhất về lợi ích kinh tế, xuất hiện những mâu thuẫn lợi ích ở những mức độ khác nhau. lOMoARc PSD|58729800
Điều này có ảnh hưởng nhất định đến sự đoàn kết, thống nhất của khối liên minh. Như vậy, quá
trình thực hiện liên minh giai cấp, tầng lớp đồng thời là quá trình liên tục phát hiện ra mâu
thuẫn và có giải pháp kịp thời, phù hợp để giải quyết mâu thuẫn nhằm tạo sự đồng thuận và tạo
động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tăng cường khối
liên minh ngày càng bền chặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân.
Như vậy, liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự liên kết,
hợp tác, hỗ trợ nhau... giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội nhằm thực hiện nhu cầu và lợi ích của
các chủ thể trong khối liên minh, đồng thời tạo động lực thực hiện thắng lợi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
*Nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Nội dung kinh tế của liên minh:
Đây là nội dung cơ bản quyết định nhất, là cơ sở vật chất - kỹ thuật của liên minh trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I. Lênin chỉ
rõ nội dung cơ bản nhất của thời kỳ này là: chính trị đã chuyển trọng tâm sang chính trị trong
lĩnh vực kinh tế, đấu tranh giai cấp mang những nội dung và hình thức mới. Nội dung này cần
thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích kinh tế thiết thân của giai cấp công nhân, giai
cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp khác trong xã hội, nhằm tạo cơ sở vật chất - kỹ
thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội.
Nội dung kinh tế của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở
nước ta thực chất là sự hợp tác giữa họ, đồng thời mở rộng liên kết hợp tác với các lực lượng
khác, đặc biệt là đội ngũ doanh nhân... để xây dựng nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa hiện đại.
Nhiệm vụ và cũng là nội dung kinh tế xuyên suốt của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta là: “Phát triển kinh tế nhanh và bền vững;... giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới
mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; phát
triển kinh tế tri thức, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ của các ngành, lĩnh vực; nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tiếp tục hoàn thiện
thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...”
Dưới góc độ kinh tế, xác định đúng tiềm lực kinh tế và nhu cầu kinh tế của công nhân, nông
dân, trí thức và toàn xã hội, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức triển khai các
hoạt động kinh tế đúng trên tinh thần đảm bảo lợi ích của các bên và tránh sự đầu tư không
hiệu quả, lãng phí. Xác định đúng cơ cấu kinh tế (của cả nước, của ngành, địa phương, cơ sở
sản xuất, v.v.), từ đó, các địa phương, cơ sở vận dụng linh hoạt và phù hợp vào địa phương
mình, ngành mình để xác định cơ cấu kinh tế cho đúng.
Nội dung chính trị của liên minh:
Khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cần thực hiện
nhằm tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân, tạo thành sức mạnh
tổng hợp vượt qua mọi khó khăn, thử thách và đập tan mọi âm mưu chống phá sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 20