lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
- Ở Đông Dương, bộ máy đàn áp được tăng cường. Toàn quyền Đông Dương ra
nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài
vòng pháp luật, giải tánc hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm
hội họp và tụ tập đông người…
- Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát t hóa bộ máy thống trị,
thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách tăng cường vét
sức người, sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc
- Tháng 9 - 1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng,
câu kết với Nhật để thống trị bóc lột nhân dân Đông Dương. Nhân dân Đông
Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” nên đời sống hết sức khổ cực.
- Ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ, Đảng kịp thời rút vào hoạt
động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, đồng thời vẫn chú trọng
các đô thị.
Những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước đòi hỏi Đảng ta phải kịp
thời nắm bắt và đánh giá chính xác tình hình, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp.
b. Nội dung chuyển hướng
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ
VI (11 - 1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn
Văn Cừ chủ trì
+ Hội nghị nhận định tình hình Đông Dương tính chất Chiến tranh thế
giới thứ hai, xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này bọn
đế quốc phát xít tay sai phản động; nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh trước
mắt của cách mạng Đông Dương đánh đổ đế quốc tay sai, giải phóng
các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
+ Để tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, Đảng ta tạm gác khẩu hiệu “cách
mạng ruộng đất”, thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho
vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc địa chủ phản bội quyền
lợi dân tộc chia cho dân cày, thay khẩu hiệu thành lập chính phủ
viết công - nông - binh bằng khẩu hiệu thành lập Chính phủ dân chủ
cộng hòa.
+ Thay đổi hình thức mặt trận: Để thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương
đã bị giải thể giữa năm 1939, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Dân
tộc thống nhất phản đế Đông Dương (Mặt trận Phản đế Đông Dương),
thu hút tất cả các dân tộc, các giai cấp, đảng phái và cá nhân yêu nước ở
Đông Dương nhằm đánh đổ đế quốc Pháp tay sai, giành lại độc lập
hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương.
+ Mục tiêu, phương pháp đấu tranh: Chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân
chủ, cơm áo, hòa bình sang đấu tranh trực tiếp chống đế quốc, tay sai,
giành chính quyền về tay nhân dân; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp
pháp sang hoạt động bí mật.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939 đã đáp ứng đúng yêu
cầu khách quan của lịch sử, đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng - đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa nhân dân ta bước vào thời trực tiếp vận
động giải phóng dân tộc.
- Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11 - 1940)
+ Trước những thay đổi của tình hình thế giới trong nước, tháng 11 1940,
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng (Từ Sơn,
Bắc Ninh) tiếp tục chủ trương chuyển hướng đấu tranh đã đra từ Hội
nghị Trung ương lần thứ VI (11 - 1939).
lOMoARcPSD| 58097008
+ Trung ương Đảng chưa thật sự dứt khoát với chủ trương đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11 - 1939.
+ Hội nghị đề ra chủ trương trong tình hình mới: Xác định kẻ thù của nhân
dân Đông Dương lúc này đế quốc Pháp - Nhật; quyết định tiếp tục đẩy
mạnh công cuộc chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang; tiến tới thành lập
căn cứ du kích; quyết định đình chỉ khởi nghĩa vũ trang Nam vì thấy
thời cơ chưa chín muồi.
- Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó (Hà
Quảng, Cao Bằng) (5 - 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì
+ Ngày 28 - 1 - 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách
mạng. Trước tình hình thế giới ngày càng khẩn trương, Người đã cùng
Đảng quyết định triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Pác
Bó (Hà Quảng, Cao Bằng).
+ Hội nghị đã đưa ra những quyết định quan trọng:
Hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải
quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc
Pháp và phát xít Nhật
Khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược”,
nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam giải
phóng dân tộc.
Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất “đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng các khẩu hiệu giảm
tô, giảm thuế, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế
quốc Việt gian chia cho n cày nghèo, tiến tới thực hiện
người cày có ruộng.
Hội nghị chrõ sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ thành
lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hội nghị còn quyết định thay đổi hình thức mặt trận dân tộc thống
nhất, lập ra Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (Việt Minh)
chủ trương thành lập Lào, Campuchia mỗi nước một mặt
trận riêng để lãnh đạo nhân dân chống đế quốc, giành độc lập n
tộc. Việc thành lập mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất
nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông
Dương, thi hành chính sách dân tộc tự quyết”, cho phép phát huy
tối đa tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời phát huy sức mạnh của
quần chúng nhân dân.
Tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc. Các tổ chức quần chúng
trong Mặt trận Việt Minh đề mang tên “cứu quốc”.
lOMoARcPSD| 58097008
Hội nghĩ cũng dự kiến hình thái vận động của cách mạng nước ta
đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa coi nhiệm vụ
chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa trang là nhiệm vụ trung tâm của
toàn Đảng, toàn dân. Hội nghị còn xác định những điều kiện chủ
quan, khách quan và dự đoán thời tổng khởi nghĩa. → Hội nghị
lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử to
lớn, đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra tại Hội nghị Trung
ương tháng 11 - 1939 nhằm giải quyết mục tiêu số một của cách
mạng là dân tộc giải phóng và đề ra nhiều chủ trương sáng tạo để
thực hiện mục tiêu ấy. Đó ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt
Nam đẩy mạnh công cuộc chuẩn blực lượng, tiến lên trong sự
nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do.
c. Ý nghĩa của việc chuyển hướng
- Thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, kịp thời thay đổi khẩu hiệu, sách lược tranh đấu, giải quyết một cách
thỏa đáng giữa hai nhiệm vụ dân tộc dân chủ: chống đế quốc chống phong
kiến. Đặc biệt là đã đề cao nhiệm vụ dân tộc giải phóng, chĩa mũi nhọn vào kẻ
thù chính, kịp thời huy động lực lượng toàn dân tham gia cuộc khởi nghĩa giành
chính quyền.
- Việc hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng đã khắc phục
được những hạn chế của Hội nghị Trung ương tháng 10 - 1930, đặt vấn đề dân
tộc giải phóng trong từng nước ở Đông Dương đặt ra nhiệm vụ chuẩn bị toàn
diện, chú đáo để tiến tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Cách mạng tháng Tám thành công do nhiều nguyên nhân, trong đó việc
chuẩn bchu đáo toàn diện của Đảng, toàn dân ta, sự chuẩn bđầu tiên
có tính quyết định là xây dựng đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn. Câu
3: Chủ trương của Đảng trong xây dựng bảo vệ chính quyền giai đoạn 1945
- 1946
a. Bối cảnh lịch sử Thuận
lợi
- Trong nước
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
hội: Các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được
khắc phục, 95% dân số thất học, mù chữ, nạn đói cuối năm 1944
đầu năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói.
b. Chủ trương xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng
- Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, thông qua 6 việc cấp bách, đúc kết thành 3 nhiệm vụ lớn
trước mắt là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
- Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến
quốc nhận định tình hình định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt
Nam sau khi giành được chính quyền.
+ Chỉ thị cũng đề ra nhiều biện pháp cụ thể giải quyết những khó khăn, phức
tạp hiện thời của cách mạng Việt Nam:
Cần nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập
Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn
dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị.
Ngoại giao: đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương “Hoa - Việt thân
thiện”, đối với Pháp độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh
tế”.
Về vấn đề thực hiện những nhiệm vụ lớn, trước mắt:
- Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói
+ Tập trung chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong
trào lớn, các cuộc vận động, như: tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm
với khẩu hiệu tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa;
+ Chính phủ bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý, thực hiện chính sách
giảm thuế
→ Nhờnhững biện pháp tích cực nói trên, chỉ sau một thời gian ngắn, nạn đói đã b
đẩy lùi một bước, sản xuất nông nghiệp cả nước nhanh chóng được phục hồi. Đời sống
nhân dân được ổn định, tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên
kháng chiến ở Nam Bộ.
- Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ
+ Chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ
+ Vận động toàn dân xây dựng nếp sống mới, đời sống văn hóa mới.
+ Các trường học từ cấp tiểu học trở lên lần lượt khai giảng năm học mới →
Đến cuối năm 1946, cả nước đã n 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc
ngữ.
- Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng
+ Để khẳng định địa vị pháp của nước VNDCCH, Hồ Chí Minh chtrương
tổ chức Tổng tuyển cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu.
lOMoARcPSD| 58097008
+ Ngày 6-1-1946, Chính phủ nước VNDCCH tổ chức cuộc Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội trong cả nước thắng lợi. Kết quả có hơn 89% số cử tri
đã đi bỏ phiếu dân chủ lần đầu tiên; đồng bào Nam Bộ và một số nơi đi
bỏ phiếu dưới làn đạn của giặc Pháp. Bầu cử thành công đã bầu ra 333
đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
+ 2-3-1946, Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội
Lập ra Chính phủ chính thức (Chính phủ liên hiệp kháng chiến)
do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
Quyết định lập ban soạn thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm
trưởng ban. Tới kỳ họp thứ 2 (9-11-1946), Quốc hội đã thông qua
bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa (Hiến pháp năm 1946).
+ Các địa phương cũng tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và kiện
toàn ủy ban hành chính các cấp.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất tiếp tục được mở rộng nhằm tăng cường thực
lực cách mạng, tập trung chống Pháp ở Nam Bộ.
Những thắng lợi trên, đặc biệt cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội có ý nghĩa to
lớn, đã giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ xâm lược của các thế
lực đế quốc và tay sai
- Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ, đấu
tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
+ Từ 22/9/1945 – trước 6-3-1946: Hòa với quân Trung Hoa Dân Quốc
để đánh thực dân Pháp
Cơ sở hòa hoãn
Chủ trương thực hiện sách lược “triệt để lợi dụng mâu
thuẫn kthù, hòa hoãn, nhân nhượng nguyên tắc” với
quân Tưởng.
Xác định kẻ thù trước mắt thực dân Pháp xâm lược,
Trung Hoa Dân Quốc là kẻ thù thứ yếu.
Quân đội Trung Hoa Dân quốc đang gặp khó khăn: Nội b
phía THDQ đang mâu thuẫn và tranh giành quyền lực.
Khó khăn trong việc cung ứng nguồn lương thực cho binh
lính → Quân Tưởng phải hòa hoãn với Việt Nam.
Chủ trương hòa hoãn
Về chính trị
Để tránh mũi nhọn tấn công của kẻ thù, Đảng chủ
trương rút vào hoạt động mật, chỉ để lại một bộ
phận hoạt động công khai
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
lợi kinh tế, văn hóa Việt Nam; hai bên cam kết
đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán
nhằm mục đích kéo dài thời gian hoà hoãn, tích cực
chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.
Cuộc đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chính phủ ta trong năm 1946 tuy chưa giải quyết được mục
tiêu bản, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp thế giới
hiểu rõ hơn vấn đề Việt Nam, làm cho số đông người
Pháp đồng tình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam
● Kết quả:
Đã thể hiện thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân
Việt Nam.
Đẩy được quân THDQ về nước, phá tan âm mưu câu kết
giữa chúng chống lại nhân dân ta.
Kéo dài thêm thời gian hoà hoãn để chuẩn bị mọi mặt cho
cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi
Tóm lại, Chủ trương kháng chiến, kiến quốc của Đảng từ tháng 9/1945 - 12/1946
với tinh thần kiên quyết, linh hoạt, khẩn trương, sáng tạo đã kịp thời đề ra những vấn
đề cơ bản về chiến lược, sách lược cách mạng. Đảng đã đề ra những nhiệm vụ, những
biện pháp cụ thể về đối nội đối ngoại để khắc phục nạn đói, nạn dốt, chống thù
trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Câu 4: Các bước “đột phá”: Hội nghị Trung ương 6 (8 - 1979), Hội nghị Trung ương
8 (6 - 1985), Hội nghị Bộ Chính trị (8 - 1986)
a) Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước:
Bối cảnh lịch sử:
- Trong nước:
o Thuận lợi: đất nước hoàn toàn thống nhất (có cơ hội vận dụng tài lực, vật lực…), tạo lập cơ
sở vật chất cho, nhận được sự viện trợ của các nước CNXH (Liên Xô…).
o Khó khăn: hậu quả của 30 năm chiến tranh vẫn còn, Đảng và Nhà nước vẫn giữ phương pháp
quản quan liêu bao cấp, cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, xuất phát điểm nền kinh tế rất thấp,
các nước dứng đầu (Mỹ) bao vây cấm vận, chiến tranh ở 2 đầu biên giới, Liên Xô - Đông Âu lâm vào tình
trạng khủng hoảng làm cho nguồn viện trợ bị cắt giảm.
- Thế giới:
o Thuận lợi: xuất hiện xu thế toàn cầu hóa (chiến tranh lạnh dần kết thúc), tác động tích cực của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ, các nước tư bản có những điều chỉnh (Nhật Bản là 1 trong 3 trung tâm tài
chính thế giới, xuất hiện 4 con rồng châu Á - Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kong, các nước lớn
theo chủ nghĩa xã hội đứng trước khó khăn thì cũng cải cách mở cửa như TQ, cải cách cải tổ như Liên
nhưng chỉ có TQ thành công) o Khó khăn: tình hình quốc tế phức tạp (2 cực thành đơn cực), sự chệch
hướng của Liên Xô Đông Âu
b) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (T12/1976):
- Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất (25/4/1976): 492 vị trúng cử
- Kỳ họp I: quyết định Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca của nước CHXHCNVN, chức danh được
kiện toàn (Tôn Đức Thắng làm CTN, Trường Chinh làm CTQH, Phạm Văn Đồng là TTCP, Duẫn
làm TBT).
- Xác định đường lối chung của CMXHCN trong giai đoạn mới.
- Xác định đường lối xây dựng, phát triển kinh tế (ưu điểm phát triển công nghiệp một cách
hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và CN nhẹ; muốn xây dựng CNH - HĐH thành công thì cần có
các điều kiện thiết yếu như: vốn trong nước vốn quyết định vốn ngoài nước vốn quan trọng,
nguồn nhân lực, KHCN, quan hệ ngoại giao, quản lý nhà nước theo cơ chế tập trung, bao cấp).
- Phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa (1976 - 1980).
lOMoARcPSD| 58097008
- Các bước tìm tòi hoạch định đường lối đổi mới:
Bước đột phá đầu tiên: là HNTW 6 (T8/1979), với chủ trương quyết tâm
làm cho sản xuất “bung ra”.
Bàn biện pháp khắc phục yếu kém trong quản lý kinh tế, cải tạo XHCN.
Coi trọng đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng xuất
khẩu.
Cải tiến chính sách lưu thông, phân phối; đổi mới công tác kế hoạch hóa, kết
hợp kế hoạch hóa với thị trường; kết hợp ba lợi ích (đừng để lợi ích cá nhân trở thành đặc
quyền, Liên Xô sụp vì điều này).
Chấn chỉnh công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện
Bước đột phá thứ 2: HN TW 6/1985: chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; thực
hiện cơ chế 1 giá; chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hoạc toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa
B ước đột phá 3 : 8/1986, Duẩn lập nhóm viết văn kiện cho Đại Hội VI, đưa về cơ sở để xin ý kiến
đóng góp dân chủ, phát huy ý kiến của mọi tầng lớp, (cơ cấu kinh tế – thị trường phát triển công nghiệp
nặng, cải tạo xã hội chủ nghĩa – sau cải tạo chỉ thực hiện 1 hình thức sở hữu 2 thành phần kinh tế quốc dân
và tập thể, cơ chế quản lý kinh tế - thị trường duy trì cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp)
- Về cơ cấu kinh tế: trong bố trí cơ cấu kinh tế, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển
công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng đc phát triển có chọn lọc
- Về chính trị xã hội chủ nghĩa: xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là 1 đặc trưng của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Cơ chế quản lý kinh tế: lấy kế hoạch làm trọng tâm nhưng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng
hoá tiền tệ, dứt khoả xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp
- Mặt khách quan: xã hội mang tính chất quốc tế: yếu tố toàn cầu hoá, buộc các nước đổi từ đối đầu sang
đối thoại, chạy đua phát triển kinh tế, ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nhiều vấn
đề cần bắt tay với các nước để giải quyết (dịch bệnh đói nghèo, ngôi nhà chung bị ô nhiễm) - Sự chuyển
đổi và phát triển nhanh chóng của các nước trong khu vực đông á (nhật bản đã trở thành 3 trung tâm
thương mại thế giới, 4 con rồng châu á, sự nổi lên các nước trong khối asean, các nước xhcn như liên
xô đông âu, trung quốc đang cải cách, cải tổ) - Về mặt Chủ quan:
+ Đại hội 4 và 5 đường lối chưa phù hợp (chủ quan duy ý chí, ko quan tâm đến hiệu quả kinh tế, phân phối
rối ren)
+ Cơ chế quản lý duy trì quá lâu (tập trung quan liêu bao cấp,…)
+ Ảnh hưởng của cải tạo xhcn ở miền nam
+ Thiên tai: miền tây mất trắng màu, thiếu lương thực còn hậu quả 30 năm chiến tranh, viện trợ bị xụt giảm
nghiêm trọng
Câu 5: Nguyên nhân và nội dung đổi mới toàn diện đất nước của Đại hội lần thứ VI
(12 - 1986)
a. Nguyên nhân
- Tình hình thế giới
+ Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ với quy mô, nội
dung và nhịp điệu chưa từng thấy, trở thành xu thế chung cùng những
hệ quả về nhiều mặt là vô cùng to lớn. Cuộc cách mạng đã tác động tới
quan hệ giữa các nước: xu thế đối thoại dần thay thế xu thế đối đầu, từ
chạy đua vũ trang chuyển sang hợp tác kinh tế. Ngoài ra, còn làm thay
đổi tình hình thế giới, đặt ra trước các dân tộc nhiều vấn đề phải giải
quyết như việc đào tạo con người cho nguồn nhân lực chất lượng cao của
thời đại “văn minh trí tuệ”, vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái trên Trái
Đất trong cả trụ, sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội… Trước làn sóng đó, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc.
lOMoARcPSD| 58097008
+ Mô hình chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước trên thế giới bộc lộ nhiều khuyết
điểm, Liên các nước hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào cuộc
khủng hoảng toàn diện trầm trọng, đều tiến hành cải tổ sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa hội. Một trong những nguyên nhân khiến khủng
hoảng ngày càng trầm trọng là: Trong khi cuộc cách mạng khoa học -
công nghệ phát triển như bão, đặc biệt mạnh mẽ các nước bản,
thì các nước hội chủ nghĩa với duy cách nhìn nhận, đánh giá
không đúng về chủ nghĩa tư bản trước đây, phủ định sạch trơn chủ nghĩa
tư bản nên đã không tận dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ,
không bắt kịp cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại, đưa tới sự trì
trệ, khủng hoảng về kinh tế - xã hội.
+ Công cuộc cải cách - mở cửa của Trung Quốc (từ năm 1978) đã thành công
bước đầu để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho công cuộc đổi mới
nước ta.
+ Một số nước trong khu vực châu Á đã tiến hành cải cách kinh tế trở
thành những “con rồng” kinh tế châu Á. Điều đó đã tác động, cổ vũ đến
Việt Nam.
- Tình hình trong nước
+ Từ cuối những năm 70, khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế -
hội, Đảng ta, trên sở tổng kết thực tiễn những kinh nghiệm sáng
tạo trong nhân dân, đã đề ra chủ trương đổi mới từng phần. Tuy vậy,
những nhược điểm của hình CNXH lúc đó về cơ bản chưa được khắc
phục. Đến giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế - hội vẫn cùng
khó khăn. Cuộc khủng hoảng kinh tế nảy sinh từ cuối thập niên 1970
+ Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng sự kiện quân
tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế Campuchia ra sức tuyên
truyền, xuyên tạc. Sau cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, Trung
Quốc cô lập về chính trị và chống phá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Mĩ
tiếp tục thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, cô lập… Đất nước bị tàn
phá nặng nề sau chiến tranh.
lOMoARcPSD| 58097008
Như vậy, trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1985),
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đạt được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh
vực của đời sống hội, song cũng gặp không ít khó khăn, đất nước lâm vào tình trạng
khủng hoảng, trước hết khủng hoảng kinh tế -hội. Một trong những nguyên nhân
bản của tình trạng đó là do ta mắc phải “sai lầm nghiêm trọng kéo dài về chủ
trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”
Như vậy, đổi mới là xu thế thời đại và đòi hỏi bức thiết của tình hình đất nước,
có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa xã hội ở nước ta “Đổi mới hay là chết?”
- Từ đó, vào cuối năm 1986, tại đại hội VI với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm sự
lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt đã làm được và chỉ ra những sai lầm
quyết liệt. Trên sở đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
b. Nội dung
- Về Đại hội VI
+ Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói sự thật.
Đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết
điểm của Đảng trong thời kỳ 1975 - 1986.
+ Rút ra bốn bài học quý báu: Một là, phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm
gốc”. Hai là, luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan. Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong điều kiện mới. Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang
tầm với một đảng cầm quyền.
- Nội dung đổi mới: Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, thể hiện trên
các lĩnh vực nổi bật.
+ Kinh tế
Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại
của chặng đường đầu tiên: Sản xuất đtiêu dùng có tích y;
bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú
trọng ba chương trình kinh tế lớn.
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nhiều thành phần kt.
lOMoARcPSD| 58097008
lOMoARcPSD| 58097008
Đổi mới công tác tưởng; đổi mới công tác cán bộ phong cách
làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, tăng
cường đoàn kết nhất trí trong Đảng.
Đảng cần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tăng
cường hiệu lực quản lý của Nhà nước.
c. Ý nghĩa của đường lối
- Đường lối đổi mới có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước ngoặt trong quá trình quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Đây là sự kết tinh trí tuệ và duy khoa học của toàn Đảng, toàn dân. → Như vậy,
Đại hội Đảng lần thứ VI đã diễn ra trong bối cảnh cực khó khăn, thậm chí
nguy nan của đất nước, Đảng phải “nhìn thẳng vào đại hội vào sự thật” để có câu
trả lời sinh tử của mình trước kvọng của nhân dân tương lai VN. Những thành
tựu, ưu điểm, tiến bđạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng đúng,
bước đi của công cuộc đổi mới cơ bản là phù hợp.
Đại hội VI giữa mùa đông Nội năm 1986 đã đlại những dấu ấn lịch sử, một
bước ngoặt cho tiến trình đổi mới và thịnh vượng sau này.
Câu 6: Đặc trưng về xã hội chủ nghĩa trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh
năm 2011
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã viết khái quát những thắng lợi vĩ đại đã đạt được trong hơn
80 năm qua (có bổ sung, phát triển so với Cương lĩnh năm 1991).
Thứ nhất, so với Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011 đã bổ sung hai đặc trưng mới: 1/ Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minhvà 2/ Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong Văn kiện Đại hội X, hai đặc trưng quan trọng này cũng đã
được nêu ra khi nói về chủ nghĩa hội nhân dân ta xây dựng. Song, trong đặc trưng thứ nhất của
Cương lĩnh 2011, tiêu chí dân chủ được đặt trước tiêu chí công bằng. Thực tiễn cho thấy, nước ta hiện nay,
dân chủ việc thực hiện dân chủ giữ vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Dân chủ
không những là mục tiêu, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển
nhanh và bền vững. Khi dân chủ được bảo đảm mới có thể nói đến công bằng và đến lớn mạnh, những điều
đó mới thể hiện sự văn minh..
Thứ hai, nếu Cương lĩnh năm 1991 xác định xã hội xã hội chủ nghĩa xã hội ''do nhân dân lao động làm
chủ'' thì trong Văn kiện Đại hội X và Cương lĩnh 2011, đặc trưng thứ hai được điều chỉnh thành ''do nhân
dân làm chủ''. Rõ ràng, khái niệm ''nhân dân” trong Văn kiện Đại hội X nội hàm rộng hơn so với khái
niệm ''nhân dân lao động'' được đề cập trong Cương lĩnh năm 1991. Điều này cho phép thực hiện khối đại
đoàn kết toàn dân tộc huy động sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, đặc trưng thứ 2 trong Cương lĩnh năm 1991 ''Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu'' được Cương lĩnh 2011 bổ sung bằng
''Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp''.
Điều này là cần thiết và đúng đắn. Bởi lẽ, theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy luật về mối quan
hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất là xương sống của mọi hình thái kinh tế -
hội. đóng vai trò hết sức quan trọng, song quan hệ sở hữu cũng chỉ một trong 3 yếu tố (quan hệ sở
hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) cấu thành quan hệ sản xuất. Cũng cần lưu ý rằng, Đại hội VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra một trong những bài học quan trọng về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
lOMoARcPSD| 58097008

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008
- Ở Đông Dương, bộ máy đàn áp được tăng cường. Toàn quyền Đông Dương ra
nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài
vòng pháp luật, giải tán các hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm
hội họp và tụ tập đông người…
- Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị,
thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách tăng cường vơ vét
sức người, sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc
- Tháng 9 - 1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng,
câu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương. Nhân dân Đông
Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” nên đời sống hết sức khổ cực.
- Ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ, Đảng kịp thời rút vào hoạt
động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, đồng thời vẫn chú trọng các đô thị.
→ Những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước đòi hỏi Đảng ta phải kịp
thời nắm bắt và đánh giá chính xác tình hình, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp.
b. Nội dung chuyển hướng
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ
VI (11 - 1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì
+ Hội nghị nhận định tình hình Đông Dương và tính chất Chiến tranh thế
giới thứ hai, xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là bọn
đế quốc phát xít và tay sai phản động; nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh trước
mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng
các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
+ Để tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, Đảng ta tạm gác khẩu hiệu “cách
mạng ruộng đất”, thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho
vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền
lợi dân tộc chia cho dân cày,
thay khẩu hiệu thành lập chính phủ Xô
viết công - nông - binh bằng khẩu hiệu thành lập Chính phủ dân chủ cộng hòa.
+ Thay đổi hình thức mặt trận: Để thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương
đã bị giải thể giữa năm 1939, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Dân
tộc thống nhất phản đế Đông Dương (Mặt trận Phản đế Đông Dương),
thu hút tất cả các dân tộc, các giai cấp, đảng phái và cá nhân yêu nước ở
Đông Dương nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai, giành lại độc lập
hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương.
+ Mục tiêu, phương pháp đấu tranh: Chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân
chủ, cơm áo, hòa bình sang đấu tranh trực tiếp chống đế quốc, tay sai,
giành chính quyền về tay nhân dân;
từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp
pháp sang hoạt động bí mật.
→ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939 đã đáp ứng đúng yêu
cầu khách quan của lịch sử, đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng - đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa nhân dân ta bước vào thời kì trực tiếp vận
động giải phóng dân tộc.

- Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11 - 1940)
+ Trước những thay đổi của tình hình thế giới và trong nước, tháng 11 1940,
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng (Từ Sơn,
Bắc Ninh) tiếp tục chủ trương chuyển hướng đấu tranh đã đề ra từ Hội
nghị Trung ương lần thứ VI (11 - 1939). lOMoAR cPSD| 58097008
+ Trung ương Đảng chưa thật sự dứt khoát với chủ trương đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11 - 1939.
+ Hội nghị đề ra chủ trương trong tình hình mới: Xác định kẻ thù của nhân
dân Đông Dương lúc này là đế quốc Pháp - Nhật; quyết định tiếp tục đẩy
mạnh công cuộc chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang; tiến tới thành lập
căn cứ du kích; quyết định đình chỉ khởi nghĩa vũ trang ở Nam Kì vì thấy
thời cơ chưa chín muồi.
- Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó (Hà
Quảng, Cao Bằng) (5 - 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì
+ Ngày 28 - 1 - 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách
mạng. Trước tình hình thế giới ngày càng khẩn trương, Người đã cùng
Đảng quyết định triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Pác
Bó (Hà Quảng, Cao Bằng).
+ Hội nghị đã đưa ra những quyết định quan trọng:
● Hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải
quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc
Pháp và phát xít Nhật

● Khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược”,
nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc.
● Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất “đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng các khẩu hiệu giảm
tô, giảm thuế, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế
quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, tiến tới thực hiện
người cày có ruộng.

● Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ thành
lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
● Hội nghị còn quyết định thay đổi hình thức mặt trận dân tộc thống
nhất, lập ra Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (Việt Minh)
và chủ trương thành lập ở Lào, Campuchia mỗi nước một mặt
trận riêng
để lãnh đạo nhân dân chống đế quốc, giành độc lập dân
tộc. Việc thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất
nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông
Dương, thi hành chính sách “dân tộc tự quyết”, cho phép phát huy
tối đa tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân.
● Tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc. Các tổ chức quần chúng
trong Mặt trận Việt Minh đề mang tên “cứu quốc”. lOMoAR cPSD| 58097008
● Hội nghĩ cũng dự kiến hình thái vận động của cách mạng nước ta
là đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa và coi nhiệm vụ
chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của
toàn Đảng, toàn dân. Hội nghị còn xác định những điều kiện chủ
quan, khách quan và dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa. → Hội nghị
lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử to
lớn, đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra tại Hội nghị Trung
ương tháng 11 - 1939
nhằm giải quyết mục tiêu số một của cách
mạng là dân tộc giải phóng và đề ra nhiều chủ trương sáng tạo để
thực hiện mục tiêu ấy. Đó là ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt
Nam đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự
nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do.
c. Ý nghĩa của việc chuyển hướng
- Thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, kịp thời thay đổi khẩu hiệu, sách lược tranh đấu, giải quyết một cách
thỏa đáng giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ: chống đế quốc và chống phong
kiến. Đặc biệt là đã đề cao nhiệm vụ dân tộc giải phóng, chĩa mũi nhọn vào kẻ
thù chính, kịp thời huy động lực lượng toàn dân tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
- Việc hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng đã khắc phục
được những hạn chế của Hội nghị Trung ương tháng 10 - 1930, đặt vấn đề dân
tộc giải phóng trong từng nước ở Đông Dương và đặt ra nhiệm vụ chuẩn bị toàn
diện, chú đáo để tiến tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Cách mạng tháng Tám thành công là do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc
chuẩn bị chu đáo và toàn diện của Đảng, toàn dân ta, mà sự chuẩn bị đầu tiên
có tính quyết định là xây dựng đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn. Câu
3: Chủ trương của Đảng trong xây dựng và bảo vệ chính quyền giai đoạn 1945 - 1946

a. Bối cảnh lịch sử Thuận lợi - Trong nước lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008
● Xã hội: Các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được
khắc phục, 95% dân số thất học, mù chữ, nạn đói cuối năm 1944
đầu năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói.
b. Chủ trương xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng
- Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, thông qua 6 việc cấp bách, đúc kết thành 3 nhiệm vụ lớn
trước mắt là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.

- Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến
quốc nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt
Nam sau khi giành được chính quyền.
+ Chỉ thị cũng đề ra nhiều biện pháp cụ thể giải quyết những khó khăn, phức
tạp hiện thời của cách mạng Việt Nam:
● Cần nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập
Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn
dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
● Kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị.
● Ngoại giao: đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương “Hoa - Việt thân
thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.
Về vấn đề thực hiện những nhiệm vụ lớn, trước mắt:
- Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói
+ Tập trung chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong
trào lớn, các cuộc vận động, như: tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm
với khẩu hiệu tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa;
+ Chính phủ bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý, thực hiện chính sách giảm thuế
→ Nhờ có những biện pháp tích cực nói trên, chỉ sau một thời gian ngắn, nạn đói đã bị
đẩy lùi một bước, sản xuất nông nghiệp cả nước nhanh chóng được phục hồi. Đời sống
nhân dân được ổn định, tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ.
- Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ
+ Chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ”
+ Vận động toàn dân xây dựng nếp sống mới, đời sống văn hóa mới.
+ Các trường học từ cấp tiểu học trở lên lần lượt khai giảng năm học mới →
Đến cuối năm 1946, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.
- Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng
+ Để khẳng định địa vị pháp lý của nước VNDCCH, Hồ Chí Minh chủ trương
tổ chức Tổng tuyển cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu. lOMoAR cPSD| 58097008
+ Ngày 6-1-1946, Chính phủ nước VNDCCH tổ chức cuộc Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội trong cả nước thắng lợi. Kết quả có hơn 89% số cử tri
đã đi bỏ phiếu dân chủ lần đầu tiên; đồng bào Nam Bộ và một số nơi đi
bỏ phiếu dưới làn đạn của giặc Pháp. Bầu cử thành công đã bầu ra 333
đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
+ 2-3-1946, Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội
● Lập ra Chính phủ chính thức (Chính phủ liên hiệp kháng chiến)
do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
● Quyết định lập ban soạn thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm
trưởng ban. Tới kỳ họp thứ 2 (9-11-1946), Quốc hội đã thông qua
bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa (Hiến pháp năm 1946).
+ Các địa phương cũng tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và kiện
toàn ủy ban hành chính các cấp.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất tiếp tục được mở rộng nhằm tăng cường thực
lực cách mạng, tập trung chống Pháp ở Nam Bộ.
→ Những thắng lợi trên, đặc biệt là cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội có ý nghĩa to
lớn, đã giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm lược của các thế
lực đế quốc và tay sai
- Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ, đấu
tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
+ Từ 22/9/1945 – trước 6-3-1946: Hòa với quân Trung Hoa Dân Quốc
để đánh thực dân Pháp ● Cơ sở hòa hoãn
❖ Chủ trương thực hiện sách lược “triệt để lợi dụng mâu
thuẫn kẻ thù, hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc” với quân Tưởng.
❖ Xác định kẻ thù trước mắt là thực dân Pháp xâm lược,
Trung Hoa Dân Quốc là kẻ thù thứ yếu.
❖ Quân đội Trung Hoa Dân quốc đang gặp khó khăn: Nội bộ
phía THDQ đang có mâu thuẫn và tranh giành quyền lực.
Khó khăn trong việc cung ứng nguồn lương thực cho binh
lính → Quân Tưởng phải hòa hoãn với Việt Nam. ● Chủ trương hòa hoãn ❖ Về chính trị
★ Để tránh mũi nhọn tấn công của kẻ thù, Đảng chủ
trương rút vào hoạt động bí mật, chỉ để lại một bộ
phận hoạt động công khai lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008
lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam; hai bên cam kết
đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán…
nhằm mục đích kéo dài thời gian hoà hoãn, tích cực
chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.
❖ Cuộc đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Chính phủ ta trong năm 1946 tuy chưa giải quyết được mục
tiêu cơ bản, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp và thế giới
hiểu rõ hơn vấn đề Việt Nam, làm cho số đông người
Pháp đồng tình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam ● Kết quả:
❖ Đã thể hiện thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.
❖ Đẩy được quân THDQ về nước, phá tan âm mưu câu kết
giữa chúng chống lại nhân dân ta.
❖ Kéo dài thêm thời gian hoà hoãn để chuẩn bị mọi mặt cho
cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi
→ Tóm lại, Chủ trương kháng chiến, kiến quốc của Đảng từ tháng 9/1945 - 12/1946
với tinh thần kiên quyết, linh hoạt, khẩn trương, sáng tạo đã kịp thời đề ra những vấn
đề cơ bản về chiến lược, sách lược cách mạng. Đảng đã đề ra những nhiệm vụ, những
biện pháp cụ thể về đối nội và đối ngoại để khắc phục nạn đói, nạn dốt, chống thù
trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Câu 4: Các bước “đột phá”: Hội nghị Trung ương 6 (8 - 1979), Hội nghị Trung ương
8 (6 - 1985), Hội nghị Bộ Chính trị (8 - 1986)
a) Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước: Bối cảnh lịch sử: - Trong nước:
o Thuận lợi: đất nước hoàn toàn thống nhất (có cơ hội vận dụng tài lực, vật lực…), tạo lập cơ
sở vật chất cho, nhận được sự viện trợ của các nước CNXH (Liên Xô…).
o Khó khăn: hậu quả của 30 năm chiến tranh vẫn còn, Đảng và Nhà nước vẫn giữ phương pháp
quản lý quan liêu bao cấp, cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, xuất phát điểm nền kinh tế rất thấp,
các nước dứng đầu (Mỹ) bao vây cấm vận, chiến tranh ở 2 đầu biên giới, Liên Xô - Đông Âu lâm vào tình
trạng khủng hoảng làm cho nguồn viện trợ bị cắt giảm. - Thế giới:
o Thuận lợi: xuất hiện xu thế toàn cầu hóa (chiến tranh lạnh dần kết thúc), tác động tích cực của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ, các nước tư bản có những điều chỉnh (Nhật Bản là 1 trong 3 trung tâm tài
chính thế giới, xuất hiện 4 con rồng châu Á - Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kong, các nước lớn
theo chủ nghĩa xã hội đứng trước khó khăn thì cũng cải cách mở cửa như TQ, cải cách cải tổ như Liên Xô
nhưng chỉ có TQ thành công) o Khó khăn: tình hình quốc tế phức tạp (2 cực thành đơn cực), sự chệch
hướng của Liên Xô Đông Âu
b) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (T12/1976): -
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất (25/4/1976): 492 vị trúng cử -
Kỳ họp I: quyết định Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca của nước CHXHCNVN, chức danh được
kiện toàn (Tôn Đức Thắng làm CTN, Trường Chinh làm CTQH, Phạm Văn Đồng là TTCP, Lê Duẫn làm TBT). -
Xác định đường lối chung của CMXHCN trong giai đoạn mới. -
Xác định đường lối xây dựng, phát triển kinh tế (ưu điểm phát triển công nghiệp một cách
hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và CN nhẹ; muốn xây dựng CNH - HĐH thành công thì cần có
các điều kiện thiết yếu như: vốn trong nước là vốn quyết định và vốn ngoài nước là vốn quan trọng,
nguồn nhân lực, KHCN, quan hệ ngoại giao, quản lý nhà nước theo cơ chế tập trung, bao cấp). -
Phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa (1976 - 1980). lOMoAR cPSD| 58097008 -
Các bước tìm tòi hoạch định đường lối đổi mới:
 Bước đột phá đầu tiên: là HNTW 6 (T8/1979), với chủ trương và quyết tâm
làm cho sản xuất “bung ra”.
 Bàn biện pháp khắc phục yếu kém trong quản lý kinh tế, cải tạo XHCN.
 Coi trọng đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
 Cải tiến chính sách lưu thông, phân phối; đổi mới công tác kế hoạch hóa, kết
hợp kế hoạch hóa với thị trường; kết hợp ba lợi ích (đừng để lợi ích cá nhân trở thành đặc
quyền, Liên Xô sụp vì điều này).
 Chấn chỉnh công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện
Bước đột phá thứ 2: HN TW 6/1985: chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; thực
hiện cơ chế 1 giá; chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hoạc toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
B ước đột phá 3 : 8/1986, Lê Duẩn lập nhóm viết văn kiện cho Đại Hội VI, đưa về cơ sở để xin ý kiến
đóng góp dân chủ, phát huy ý kiến của mọi tầng lớp, (cơ cấu kinh tế – thị trường phát triển công nghiệp
nặng, cải tạo xã hội chủ nghĩa – sau cải tạo chỉ thực hiện 1 hình thức sở hữu 2 thành phần kinh tế quốc dân
và tập thể, cơ chế quản lý kinh tế - thị trường duy trì cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp)
- Về cơ cấu kinh tế: trong bố trí cơ cấu kinh tế, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển
công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng đc phát triển có chọn lọc
- Về chính trị xã hội chủ nghĩa: xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là 1 đặc trưng của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Cơ chế quản lý kinh tế: lấy kế hoạch làm trọng tâm nhưng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng
hoá tiền tệ, dứt khoả xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp
- Mặt khách quan: xã hội mang tính chất quốc tế: yếu tố toàn cầu hoá, buộc các nước đổi từ đối đầu sang
đối thoại, chạy đua phát triển kinh tế, ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nhiều vấn
đề cần bắt tay với các nước để giải quyết (dịch bệnh đói nghèo, ngôi nhà chung bị ô nhiễm) - Sự chuyển
đổi và phát triển nhanh chóng của các nước trong khu vực đông á (nhật bản đã trở thành 3 trung tâm
thương mại thế giới, 4 con rồng châu á, sự nổi lên các nước trong khối asean, các nước xhcn như liên
xô đông âu, trung quốc đang cải cách, cải tổ) - Về mặt Chủ quan:
+ Đại hội 4 và 5 đường lối chưa phù hợp (chủ quan duy ý chí, ko quan tâm đến hiệu quả kinh tế, phân phối rối ren)
+ Cơ chế quản lý duy trì quá lâu (tập trung quan liêu bao cấp,…)
+ Ảnh hưởng của cải tạo xhcn ở miền nam
+ Thiên tai: miền tây mất trắng màu, thiếu lương thực còn hậu quả 30 năm chiến tranh, viện trợ bị xụt giảm nghiêm trọng
Câu 5: Nguyên nhân và nội dung đổi mới toàn diện đất nước của Đại hội lần thứ VI (12 - 1986) a. Nguyên nhân
- Tình hình thế giới
+ Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ với quy mô, nội
dung và nhịp điệu chưa từng thấy, trở thành xu thế chung cùng những
hệ quả về nhiều mặt là vô cùng to lớn.
Cuộc cách mạng đã tác động tới
quan hệ giữa các nước: xu thế đối thoại dần thay thế xu thế đối đầu, từ
chạy đua vũ trang chuyển sang hợp tác kinh tế. Ngoài ra, nó còn làm thay
đổi tình hình thế giới, đặt ra trước các dân tộc nhiều vấn đề phải giải
quyết như việc đào tạo con người cho nguồn nhân lực chất lượng cao của
thời đại “văn minh trí tuệ”, vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái trên Trái
Đất và trong cả vũ trụ, sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội… Trước làn sóng đó, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc. lOMoAR cPSD| 58097008
+ Mô hình chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước trên thế giới bộc lộ nhiều khuyết
điểm, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào cuộc
khủng hoảng toàn diện và trầm trọng, đều tiến hành cải tổ sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một trong những nguyên nhân khiến khủng
hoảng ngày càng trầm trọng là: Trong khi cuộc cách mạng khoa học -
công nghệ phát triển như vũ bão, đặc biệt mạnh mẽ ở các nước tư bản,
thì các nước xã hội chủ nghĩa với tư duy và cách nhìn nhận, đánh giá
không đúng về chủ nghĩa tư bản trước đây, phủ định sạch trơn chủ nghĩa
tư bản nên đã không tận dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ,
không bắt kịp cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại, đưa tới sự trì
trệ, khủng hoảng về kinh tế - xã hội.
+ Công cuộc cải cách - mở cửa của Trung Quốc (từ năm 1978) đã thành công
bước đầu và để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho công cuộc đổi mới ở nước ta.
+ Một số nước trong khu vực châu Á đã tiến hành cải cách kinh tế và trở
thành những “con rồng” kinh tế châu Á. Điều đó đã tác động, cổ vũ đến Việt Nam.
- Tình hình trong nước
+ Từ cuối những năm 70, khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã
hội, Đảng ta, trên cơ sở tổng kết thực tiễn và những kinh nghiệm sáng
tạo trong nhân dân, đã đề ra chủ trương đổi mới từng phần. Tuy vậy,
những nhược điểm của mô hình CNXH lúc đó về cơ bản chưa được khắc
phục. Đến giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế - xã hội vẫn vô cùng
khó khăn. Cuộc khủng hoảng kinh tế nảy sinh từ cuối thập niên 1970
+ Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng sự kiện quân
tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia ra sức tuyên
truyền, xuyên tạc. Sau cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, Trung
Quốc cô lập về chính trị và chống phá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Mĩ
tiếp tục thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, cô lập… Đất nước bị tàn
phá nặng nề sau chiến tranh. lOMoAR cPSD| 58097008
→ Như vậy, trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1985),
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đạt được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, song cũng gặp không ít khó khăn, đất nước lâm vào tình trạng
khủng hoảng, trước hết là khủng hoảng kinh tế - xã hội. Một trong những nguyên nhân
cơ bản của tình trạng đó là do ta mắc phải “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ
trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”

→ Như vậy, đổi mới là xu thế thời đại và là đòi hỏi bức thiết của tình hình đất nước,
có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa xã hội ở nước ta “Đổi mới hay là chết?”
- Từ đó, vào cuối năm 1986, tại đại hội VI với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm sự
lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt đã làm được và chỉ ra những sai lầm
quyết liệt. Trên cơ sở đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. b. Nội dung
- Về Đại hội VI
+ Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật.
Đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết
điểm của Đảng trong thời kỳ 1975 - 1986.
+ Rút ra bốn bài học quý báu: Một là, phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm
gốc”. Hai là, luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan. Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong điều kiện mới. Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang
tầm với một đảng cầm quyền.
- Nội dung đổi mới: Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, thể hiện trên các lĩnh vực nổi bật. + Kinh tế
● Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại
của chặng đường đầu tiên: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy;
bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú
trọng ba chương trình kinh tế lớn.
● Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nhiều thành phần kt. lOMoAR cPSD| 58097008 lOMoAR cPSD| 58097008
● Đổi mới công tác tư tưởng; đổi mới công tác cán bộ và phong cách
làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, tăng
cường đoàn kết nhất trí trong Đảng.
● Đảng cần phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. ● Tăng
cường hiệu lực quản lý của Nhà nước.
c. Ý nghĩa của đường lối
- Đường lối đổi mới có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước ngoặt trong quá trình quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Đây là sự kết tinh trí tuệ và tư duy khoa học của toàn Đảng, toàn dân. → Như vậy,
Đại hội Đảng lần thứ VI đã diễn ra trong bối cảnh cực kì khó khăn, thậm chí là
nguy nan của đất nước, Đảng phải “nhìn thẳng vào đại hội vào sự thật” để có câu
trả lời sinh tử của mình trước kỳ vọng của nhân dân và tương lai VN. Những thành
tựu, ưu điểm, tiến bộ đạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng,
bước đi của công cuộc đổi mới cơ bản là phù hợp.
→ Đại hội VI giữa mùa đông Hà Nội năm 1986 đã để lại những dấu ấn lịch sử, một
bước ngoặt cho tiến trình đổi mới và thịnh vượng sau này.
Câu 6: Đặc trưng về xã hội chủ nghĩa trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh năm 2011
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã viết khái quát những thắng lợi vĩ đại đã đạt được trong hơn
80 năm qua (có bổ sung, phát triển so với Cương lĩnh năm 1991).
Thứ nhất, so với Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011 đã bổ sung hai đặc trưng mới: 1/ Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minhvà 2/ Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong Văn kiện Đại hội X, hai đặc trưng quan trọng này cũng đã
được nêu ra khi nói về chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Song, trong đặc trưng thứ nhất của
Cương lĩnh 2011, tiêu chí dân chủ được đặt trước tiêu chí công bằng. Thực tiễn cho thấy, nước ta hiện nay,
dân chủ và việc thực hiện dân chủ giữ vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Dân chủ
không những là mục tiêu, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển
nhanh và bền vững. Khi dân chủ được bảo đảm mới có thể nói đến công bằng và đến lớn mạnh, những điều
đó mới thể hiện sự văn minh..
Thứ hai, nếu Cương lĩnh năm 1991 xác định xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội ' do nhân dân lao động làm
chủ'' thì trong Văn kiện Đại hội X và Cương lĩnh 2011, đặc trưng thứ hai được điều chỉnh thành ' do nhân
dân làm chủ''. Rõ ràng, khái niệm ' nhân dân” trong Văn kiện Đại hội X có nội hàm rộng hơn so với khái
niệm ' nhân dân lao động'' được đề cập trong Cương lĩnh năm 1991. Điều này cho phép thực hiện khối đại
đoàn kết toàn dân tộc và huy động sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, đặc trưng thứ 2 trong Cương lĩnh năm 1991 ' Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu'' được Cương lĩnh 2011 bổ sung bằng
' Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp''.
Điều này là cần thiết và đúng đắn. Bởi lẽ, theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy luật về mối quan
hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là xương sống của mọi hình thái kinh tế - xã
hội. Dù đóng vai trò hết sức quan trọng, song quan hệ sở hữu cũng chỉ là một trong 3 yếu tố (quan hệ sở
hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) cấu thành quan hệ sản xuất. Cũng cần lưu ý rằng, Đại hội VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra một trong những bài học quan trọng về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. lOMoAR cPSD| 58097008