



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
Đề cương Nhân học đại cương
Câu 1: Nhân học là gì? Anh/chị hãy trình bày đối tượng, nhiệm vụ của nhân học. Trả lời a) Khái niệm:
-Thuật ngữ Anthropolo (Nhân học): bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ, gồm 2 thành tố : anthoropos
(người /con người) +logos (khái niệm/học thuyết) =khoa học nghiên cứu về con người.
“Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu về con người trên tất cả mọi phương diện, ở mọi xã
hội, từ quá khứ đến hiện tại để có được một hiểu biết về sự đa dạng của con người cũng như
những vấn đề, điểm chung mà loài người cùng chia sẻ.”(Haviland)
Cũng có định nghĩa khác cho rằng: “Nhân học nghiên cứu sự tiến hóa của con người, các xã
hội và văn hóa khác nhau do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và tính đa dạng của
các xã hội con người trên thế giới ngày nay.”( Grant Evant).
Như vậy, nhân học là ngành nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người trên các phương
diện sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm người, các cộng đồng dân tộc khác nhau cả về
quá khứ của con người cho tới hiện tại. Nhân học tồn tại với tư cách 1 ngành khoa học thực sự
chỉ được ra đời vào giữa thế kỉ 19, gắn với thời kì phát triển của Chủ nghĩa tư bản đang lên ở
Châu Âu chống lại chế độ phong kiến, gắn liền với những phát kiến địa lý và sau đó là công
cuộc mở rộng thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đến các nước Âu, Phi, Mỹ la tinh. b) Đối tượng:
Nhân học đảm nhận chức năng nghiên cứu về con người. Nhân học khác với các ngành khoa
học khác ở chỗ cùng lấy con người làm trung tâm nhưng các ngành KH cụ thể, chuyên biệt
nghiên cứu 1 khía cạnh nhất định, phù hợp với chức năng của ngành KH đó (VD: như văn học,
triết học, ngôn ngữ, sinh học, y học...)
Khác với các ngành khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu con người với những lát cắt
chuyên biệt; nhân học tham vọng tích hợp thành tựu nghiên cứu các ngành khoa học để nghiên
cứu con người trong tính toàn diện của nó. => "Đối tượng nghiên cứu của nhân học là con người
với tư cách 1 thực thể sinh học -xh, con người tự nhiên -văn hóa, đặt trong sự so sánh, đối chiếu
trong không gian và thời gian."
Ngoài ra, nhân học còn là một khoa học mang tính so sánh đối chiếu để tìm hiểu sự đa dạng
về mặt sinh học và văn hóa của các nhóm cư dân, dân tộc khác nhau trên hành tinh.
Đồng thời, nhân học cũng nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến con người cả về tính địa lí và lịch sử.
-Nhân học hiện nay mở rộng đối tượng nghiên cứu : không chỉ các nc ngoài châu Âu mà cả các
nước của chính châu Âu và Bắc Mỹ, không chỉ cư dân nông nghiệp mà cả cư dân công nghiệp lOMoAR cPSD| 61458992
và hậu công nghiệp, không chỉ con người ở nông thôn mà cả con người ở đô thị =>chuyển từ
XH tĩnh sang XH động, từ XH có quy mô, ranh giới rõ rệt sang XH công nghiệp với những quan
hệ XH đan xen chằng chịt. => Mỗi phần trên thế giới đã từng có loài người đều là mục tiêu
quan tâm của các nhà nhân học. c) Nhiệm vụ
-Tk 16-19 :phát kiến địa lý + chinh phục lãnh thổ =>Nhân học phục vụ cho mục đích chinh
phục thuộc địa, đồng hóa văn hóa giữa các quốc gia đi chinh phục và quốc gia /dân tộc bị chinh phục.
-Từ thế kỉ 20 đến nay:
+ Nhân học tìm hiểu sự đa dạng về mặt sinh học và văn hóa của các nhóm cư dân, dân
tộc khác nhau trên hành tinh =>Trả lời câu hỏi :"Tại sao có sự khác biệt đó? "
=>Hình thành thái độ chấp nhận, cảm thông và tôn trọng sự đa dạng, khác biệt về mặt
sinh học và văn hóa của con người ở khắp nơi trên TG.
+Nghiên cứu con người trong tính toàn diện, so sánh, trong KG và TG rộng lớn, hướng
đến nhiệm vụ bổ trợ, xây dựng, phát triển cộng đồng, nhóm người.
-Các nhà nhân học nghiên cứu trên phạm vi rất rộng, tiếp cận bản chất con người theo hai
hướng khác nhau: nhân học hình thể và nhân học văn hóa.
● Nhân học hình thể : là chuyên ngành ra đời đầu tiên và sớm nhất của ngành nhân học.
Vấn đề quan tâm chính của các nhà nhân học hình thể là con người với tư cách là một
thực thể sinh vật. Mục đích là khám phá những nét tương đồng và dị biệt của con người
và các loài động vật khác; đồng thời nghiên cứu sự đa dạng của con người, giải thích
tại sao hiện nay ở các vùng trên trái đất con người khác nhau về đặc điểm sinh học và hình thể?
● Ngoài ra, nhân học ứng dụng là một chuyên ngành của nhân học được phát triển trong
những năm gần đây. Vai trò: Biện hộ cho những nhóm xã hội và các dân tộc bị thiệt
thòi, xúc tiến, thúc đẩy các chính sách liên quan đến con người, cung cấp thông tin cho
các nhà hoạch định chính sách về con người, phân tích các tư liệu về con người và là
trung gian giữa chính sách và người nhận chính sách.
Câu 2: Trình bày nội dung của phương pháp quan sát tham dự và phương pháp quan sát
phỏng vấn sâu trong điền dã dân tộc học. Khi thực hiện các phương pháp này thì vấn đề
đạo đức nghiên cứu được đặt ra như thế nào?
- Điền dã dân tộc học là phương pháp nghiên cứu chuyên biệt của ngành Nhân học và dân
tộchọc; là công việc bắt buộc và thường xuyên đối với nhà nghiên cứu Nhân học
- 2 phương pháp được sử dụng rộng rãi: quan sát tham dự và phỏng vấn (sâu). lOMoAR cPSD| 61458992
a) Phương pháp quan sát tham dự: -Khái niệm:
+Quan sát: là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp
đối tượng và các nhân tố khác có liên quan đến đối tượng. =>Chức năng:
+Thu thập thông tin thực tiễn( chức năng quan trọng nhất, in đậm dấu ấn chủ quan của người nghiên cứu)
+Kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết.
+So sánh, đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn.
+Quan sát tham dự: là phương pháp quan sát mà người nghiên cứu thâm nhập vào nhóm, cộng
đồng thuộc vào đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là một thành viên của nhóm hay
cộng đồng. Tham dự được hiểu theo nhiều mức độ khác nhau: từ quan sát tham dự một phần
vào các hoạt động đến sự hòa nhập hoàn toàn của người quan sát vào trong nhóm người được quan sát.
Ví dụ: Khi nghiên cứu văn hóa Thái bằng phương pháp quan sát tham dự, điều tra viên sẽ cùng
ăn ở, lao động và tham gia các lễ hội của người Thái. - Mức độ khác nhau:
+ Quan sát tham dự 1 phần vào các hoạt động của cộng đồng
+ Hòa nhập hoàn toàn vào nhóm người được quan sát
- Đặc điểm: Thường là quan sát nhiều lần với nhiều đối tượng khác nhau, đc lặp đi lặp lại trong
quá trình chung sống với cộng đồng; trong thời gian dài (hàng tháng, hàng năm) -Phương pháp:
Ở cùng người dân đủ lâu( thời gian ít nhất một năm) để:
+ Học ngôn ngữ bản địa
+Trải nghiệm để hiểu bối cảnh nghiên cứu( tiếp cận tổng thể) nền văn hóa đang nghiên cứu.
+Xây dựng các mối quan hệ thân thiết với đối tượng nghiên cứu, tạo niềm tin.
+Đủ thời gian để quan sát sự kiện ra theo chu kỳ 1 năm.
+ Thu thập tư liệu phi ngôn ngữ. lOMoAR cPSD| 61458992
+Hiểu và phân biệt được sự khác nhau giữa “khuôn mẫu” hay “lý tưởng” và hành vi “thật”, tức
là cái gì nên làm và thực sự làm ( Ví dụ: Các nghi lễ trong hôn nhân của người Việt, hành xử
giữa các thành viên trong một gia đình, vấn đề di cư…)
+ Ghi nhanh những từ, ý, sự kiện, hành vi quan trọng quan sát thấy.
+Mô tả tỉ mỉ các sự kiện, cảnh hướng, không gian…ở thực địa nhà nghiên cứu quan sát, trải nghiệm.
+Phân tích và đặt các câu hỏi liên quan đến đề tài.
=> Đưa ra thông tin về ý nghĩa hành vi( suy nghĩ, thái độ, niềm tin)
- Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp: +Ưu điểm:
Người nghiên cứu tham gia được sâu trong đời sống cộng đồng để hiểu quan điểm của người
trong cuộc.=> khắc phục hạn chế tình trạng tri giác thụ động.
Phiên giải được ý nghĩa sự vật hiện tượng của đối tượng, tránh áp đặt tư tưởng chủ quan từ
người bên ngoài.=> Tìm hiểu được nguyên nhân, động cơ của hành động từ quan điểm của
emics (quan điểm của người trong cuộc/ bản địa) +Nhược điểm:
● Đòi hỏi người nghiên cứu phải có thời gian; có kỹ năng quan sát nghề nghiệp tốt; amhiểu
tiếng địa phương; có thời gian thích ứng với môi trường mới.
● Quá trình nhập thân văn hóa vào cộng đồng phụ thuộc vào tính cách, đặc trưng giới
tính, tuổi tác của người được quan sát.
● Phụ thuộc vào bầu không khí thân thiện, các khía cạnh đạo đức, tâm lý của nhà nghiên cứu.
● Mất đi cái nhìn khách quan, tỉnh táo, bao quát vì người nghiên cứu chỉ tham gia được
vào một nhóm đối tượng, một giai đoạn của quá trình.
● Tham dự quá tích cực, quá dài ngày của người quan sát đối với cộng đồng làm cho họ
quen với cộng đồng dẫn tới họ ít quan tâm đến sự khác biệt và đa dạng văn hóa của
cộng đồng, trong một số trường hợp người quan sát không giữ được cái nhìn khách quan
trung lập hay làm giảm hiệu quả quan sát.
b) Phương pháp phỏng vấn sâu trong điền dã dân tộc học
- Phỏng vấn là phương pháp trong đó người được phỏng vấn sẽ trả lời một số câu hỏi người
phỏng vấn đặt ra nhằm mục đích thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. lOMoAR cPSD| 61458992
=>Chức năng: phát hiện vấn đề nghiên cứu hoăc kiểm chứng giả thuyết nghiên c ̣ ứu.
- Hình thức phỏng vấn trong điền dã dân tộc học là phỏng vấn sâu, nhà nhân tộc học nói chuyện
đối mặt với người cung cấp thông tin, hỏi và ghi chép câu trả lời. Người phỏng vấn dựa vào
tiến trình của cuộc phỏng vấn để đặt câu hỏi và tìm hiểu sâu những vấn đề liên quan mà
không cần dựa vào 1 bảng câu hỏi cố định.
Đôi lúc có những câu hỏi bất chợt nảy ra trong quá trình phỏng vấn, các cuộc thảo luận không
giới hạn cũng có lúc nghỉ ngơi và tán chuyện dông dài. - Đặc điểm:
+Tùy theo vấn đề nghiên cứu mà chọn đối tượng phỏng vấn khác nhau. Nếu nghiên cứu về
phong tục tập quán truyền thống, chúng ta phỏng vấn những người già, trí thức dân tộc. Nếu
nghiên cứu về hôn nhân gia đình chúng ta phải phỏng vấn cả nam lẫn nữ, người già, người trẻ…. + Ưu điểm:
● Linh hoạt trong phỏng vấn.
● Người nghiên cứu phát hiện cách đặt câu hỏi phù hợp cho phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn cấu trúc.
● Xây dựng mối quan hệ tốt đối với người cung cấp thông tin
● Hữu ích khi phỏng vấn các vấn đề tế nhị, nhạy cảm + Nhược điểm:
● Người phỏng vấn đòi hỏi năng lực, trình độ cao; có kĩ năng và kinh nghiêm nḥ ất định
trong lĩnh vực nghiên cứu.
● Rất khó khi phân tích dữ liệu
c) Khi thực hiện các biện pháp này, vấn đề đạo đức nghiên cứu đặt ra:
- Khác với các ngành khoa học khác, đối tượng nghiên cứu của nhân học là con người, vì vậy
đạo đức trong nghiên cứu nhân học là rất quan trọng.
+ Những báo cáo khoa học của chúng ta không thể bị sử dụng để làm phương hại đến cuộc
sống của cộng đồng chúng ta đã điều tra, không được làm xúc phạm hoặc làm tổn hại đến phẩm
chất và lòng tự trọng của những người bản địa được biết đến.
+ Phải giữ bí mật cho người cung cấp tin, nhất là những thông tin về các vấn đề nhạy cảm trong
đời sống sinh hoạt của cộng đồng. lOMoAR cPSD| 61458992
+ Phải đảm bảo tính trong sáng trong tiến trình nghiên cứu và sự trung thực đối với các giá trị
của đề tài để kết quả của công trình nghiên cứu là hợp lý nhằm phục vụ lợi ích cho những đối tượng được đặt ra.
Câu 3:Trình bày mối quan hệ giữa nhân học với các môn khoa học xã hội khác
Nhân học khác với các ngành khoa học khác là nó có xu hướng tích hợp thành tựu nghiên cứu
của các ngành khoa học để nghiên cứu con người trong tính toàn diện của nó với một phạm vi
rộng lớn hơn cả về mặt lịch sử và địa lý. Việc xác định đối tượng nhân học giúp chúng ta xác
định vị trí của nhân học trong hệ thống các khoa học và mối quan hệ giữa chúng với các ngành
khoa học khác về đối tượng, nhiệm vụ, lý thuyết và cả phương pháp nghiên cứu.
1. Nhân học và triết học:
+ Triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Quan hệ giữa nhân học và triết học là quan hệ giữa một ngành khoa học cụ thể với thế giới quan khoa học.
Triết học là nền tảng thế giới quan, phương pháp luận nghiên cứu của nhân học mascxit.
+ Nhân học là một ngành khoa học cụ thể.
=> Trong mối quan hệ với triết học, các nhà nhân học cần tránh quan niệm nhân học
biệt lập hay đối lập với triết học. Các kết quả nghiên cứu của nhân học cả về lý thuyết
và phương pháp không thể phủ nhận những quy luật chung nhất về sự phát triển của xã
hội loài người của triết học mascxit mà bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng tri
thức và phương pháp luận triết học. 2. Nhân học và sử học
Nhân hoc có mối quan hệ chặt chẽ với sử học vì nhân học nghiên cứu con người về
phương diện sinh học, văn hóa, xã hội thường tiếp cận từ góc độ lịch sử. Thiếu tri thức
lịch sử, nhà nhân học không thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả. Ngược lại, các nhà
sử học sử dụng tài liệu của nhân học để soi sáng những vấn đề lịch sử và văn hóa.
Nhân học thường sử dụng những phương pháp nghiên cứu của sử học. Ví dụ phương
pháp so sánh đồng đại và lịch đại.
Điểm khác biệt: nhân học sử dụng tư liệu từ nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng
còn sử học chủ yếu sử dụng tư liệu chữ viết bằng văn bản để tái tạo lại những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ.
3. Nhân học và xã hội học -Theo truyền thống: lOMoAR cPSD| 61458992
+Nhân học chú trọng xã hội tiền công nghiệp. Xã hội học chủ yếu quan tâm đến xã hội công nghệ hiện đại.
+Nhân học chú trọng sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp
+Xã hội học nghiên cứu các dữ liệu khác nhau, sử dụng bảng hỏi để sưu tập dữ liệu định lượng. -Hiện nay:
+Có ảnh hưởng lẫn nhau: Nhân học có ảnh hưởng rõ rệt đến xã hội học, nhiều khái niệm lý
thuyết của xã hội học bắt nguồn từ nhân học. Ngược lại, xã hội học tác động trở lại nhân học
về mặt phương pháp luận nghiên cứu, ví dụ quan điểm cơ cấu chức năng của Emile Durkheim
đã ảnh hưởng đến công trình nghiên cứu của các nhà nhân học.
+Nhân học mở rộng đối tượng nghiên cứu đến các xã hội công nghiệp hiện đại, sử dụng phương
pháp nghiên cứu định lượng của xã hội học và các phương pháp khác.
+Xã hội học sử dụng phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu của nhân học..
4. Nhân học với địa lý học
Nhân học và địa lý học có mối quan hệ gắn bó với nhau từ đó hình thành lĩnh vực nghiên
cứu nhân học sinh thái( bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn)
-Có mối quan hệ đa chiều :tự nhiên - con người - kinh tế - văn hóa - hành vi ứng xử.
5. Nhân học và kinh tế học:
-Lĩnh vực "nhân học kinh tế"- vận dụng một số quan niệm, phạm trù lý thuyết kinh tế vào công tác nghiên cứu.
Ví dụ : thuyết hành xử của Pierre Bourdieu có bốn loại vốn khác nhau biểu thị trong habitas:
vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn xã hội, vốn biểu tượng. Chúng tương tác, chuyển đổi lẫn nhau
tái tạo lại hệ thống phân tầng.
-Nhân học tập trung nghiên cứu tiếp cận theo phương diện văn hóa -xã hội của quá trình hoạt
động kinh tế( cách thức cấu tạo công cụ, hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi… )
6. Nhân học với tâm lý tộc người:
-Tâm lý học: phân tích nét tâm lý cá nhân trong những kinh nghiệm nghiên cứu xuyên văn hóa.
-Nhân học nghiên cứu tính cách dân tộc, ý nghĩa của tính tộc người (tâm lý học cộng đồng người). Ví dụ : lOMoAR cPSD| 61458992
+Văn hóa Trung Hoa -Văn hóa du mục ở phía Bắc mang thuộc tính dương: thích mở rộng,
bành trướng, chinh phục…
+Văn hóa Việt Nam -văn hóa gốc nông nghiệp mang thuộc tính âm : linh hoạt, mềm dẻo…
7. Nhân học và luật học :
- Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và luật học hình thành lĩnh vực nghiên cứu nhân học luật pháp.
- Nghiên cứu những nhân tố văn hóa - xã hội tác động đến luật pháp trong các nền văn
hóa và các tộc người khác nhau.
- Mối quan hệ giữa luật tục với luật pháp, vận dụng trong quản lý xã hội và phát triển cộng đồng.
8. Nhân học và tôn giáo học:
-Nghiên cứu các hình thái tôn giáo sơ khai, các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới trong mối
quan hệ với văn hóa và tộc người khác nhau.
-Nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo, các nghi thức, hành vi, lễ hội ,thiết chế xã hội tôn giáo khác nhau.
-Mối quan hệ trong sinh hoạt tôn giáo và giới tính, các phong trào tôn giáo, xung đột tôn giáo
giữa các dân tộc, tôn giáo, quốc gia.
Câu 4: Đặc trưng của tôn giáo là gì? Phân tích chức năng tâm lý và chức năng xã hội của
tôn giáo. Lấy ví dụ cụ thể
* Khái niệm tôn giáo?
Theo quan điểm của Nhân học tôn giáo: Tôn giáo được xem như niềm tin và các dạng hành
vi mà con người sử dụng để cố gắng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà những
khó khăn này không thể giải quyết bằng kỹ thuật công nghệ hay các kỹ thuật tổ chức và để
vượt qua những khó khăn đó, con người hướng đến các thế lực và các vật thể siêu nhiên a) Đặc trưng tôn giáo:
- Đặc trưng của tôn giáo:
+Tôn giáo bao gồm nhiều nghi thức khác nhau như: cầu nguyện, hát xướng, vũ điệu, lời thỉnh
cầu, hiến tế,... Thông qua các nghi thức, con người cố gắng chi phối, tác động vào các thế lực
hoặc thực thể siêu nhiên.
+Theo nhu cầu tôn giáo, những vật thể và các thế lực này bao gồm các vị thần, nữ thần, tổ tiên,
thượng đế, các linh hồn hoặc các thế lực khác tồn tại độc lập bên ngoài ý thức của con người
và cũng có thể kết hợp đa dạng với nhau.(vị thần, tổ tiên, Thượng đế, linh hồn, các thế lực khác…) lOMoAR cPSD| 61458992
+Để thực hiện nghi thức thường có những cá nhân am hiểu và đặc biệt thành thạo trong vai trò
làm trung gian để tiếp xúc với các vật thể và thế lực này, họ giúp đỡ các thành viên của xã hội
thực hiện các hoạt động nghi lễ tôn giáo.(thầy mo, thầy cúng, bà đồng, pháp sư, Giáo chủ, thầy
tu, tộc trưởng, đạo trưởng, nhà sư, …)
Ví dụ: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đời và gắn
với sự thay đổi của xã hội Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời từ chính đặc điểm của nền
nông nghiệp lúa nước với sự đề cao vai trò của người mẹ. Thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng
mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, được người đời
cho rằng có quyền và thần năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người như:
trời, đất, sông nước, rừng núi,...;thờ những thái hậu, hoàng hậu, công chúa khi sống tài giỏi có
công với đất nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người an, vật tĩnh. Hầu đồng là một nghi lễ
không thể thiếu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh
Trần,…Về bản chất, lên đồng là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông đồng, bà
đồng. Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập thể linh hồn vào thân xác các ông đồng,
bà đồng trong trạng thái tâm linh thăng hoa, ngây ngất nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa
bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử.
b) Chức năng tâm lý và chức năng xã hội:
Tất cả tôn giáo đều có vô số chức năng tâm lý và chức năng xã hội. - Về tâm lý:
+ Các tôn giáo làm giảm đi sự lo lắng bằng cách lý giải những điều mà con người chưa
biết, cũng như đưa đến một niềm tin rằng sự cứu rỗi, giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên
luôn tồn tại trong các giai đoạn khủng hoảng của cuộc đời.
Ví dụ: Lý giải của Phật giáo về cõi Niết bàn và âm phủ; của Thiên Chúa giáo về Thiên đường
và địa ngục; quan niệm của người Việt “trần sao âm vậy”, “sống gửi thác về” => con người hy
vọng vào cuộc sống tốt đẹp hơn sau khi chết , từ đó giúp họ có thêm động lực vượt qua khó
khăn thử thách trong cuộc sống hiện tại
+ Thông qua các nghi lễ, tôn giáo có thể sử dụng để thúc đẩy việc học tập, nghiên cứu các
giá trị văn hóa của cộng đồng.
+ Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự gắn kết các thành viên trong xã hội.
=> Tất cả các tôn giáo đều cố gắng thỏa mãn được nhu cầu tâm lý của tín đồ như đòi
hỏi tôn giáo phải đối mặt và giải thích về cái chết cũng như cuộc sống sau khi chết, đưa
ra lối thoát cho con người làm sao vượt qua được những khó khăn nơi trần thế và đạt
được tính thiêng liêng, dù chỉ trong giây lát. lOMoAR cPSD| 61458992
Ví dụ: Một trong những hình thái của tôn giáo là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Đây chính
là câu trả lời cho câu hỏi của tín đồ về cái chết và cuộc sống sau khi chết. Theo đó, cái
chết chỉ là một sự chuyển tiếp, bằng chứng là linh hồn người đã khuất sẽ tiếp tục sống
ở một thế giới khác đồng thời vẫn giữ mối liên kết với thế giới mình đã từng sống. - Chức năng xã hội
+ Củng cố nguyên tắc, tiêu chuẩn của cộng đồng.
+ Đưa ra các những chuẩn mực luân lý đạo đức đối với cách cư xử của mỗi cá nhân.
Ví dụ: Phật giáo mang tinh thần “từ bi hỷ xả”, “bác ái”, “bình đẳng”; Hồi giáo xử phạt nghiêm
những tín đồ vi phạm đạo đức, lối sống chung thủy 1 vợ 1 chồng;…
+ Trang bị nền tảng về các giá trị và mục đích chung để cho cộng đồng xã hội được cân bằng và ổn định.
Ví dụ: các nghi lễ tăng cường sức mạnh (lập đàn cầu mưa, cầu nắng, nghi lễ khi có chiến tranh,
khi chuyển mùa); thờ cúng Hùng Vương (quốc giỗ VN); nghi thức trong hôn nhân, tang ma,…
=> Do những chức năng đó nên tôn giáo có vai trò vô cùng quan trọng và ko thể biến mất trong
XH loài người từ xưa đến nay.
Câu 5: Tôn giáo là gì? Hãy trình bày một số hình thái tôn giáo tương đối phổ biến và còn
tồn tại đến hiện nay? a) Khái niệm tôn giáo:
+Theo quan điểm của Nhân học tôn giáo: Tôn giáo được xem như niềm tin và các dạng hành
vi mà con người sử dụng để cố gắng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà những
khó khăn này không thể giải quyết bằng kỹ thuật công nghệ hay các kỹ thuật tổ chức và để
vượt qua những khó khăn đó, con người hướng đến các thế lực và các vật thể siêu nhiên
b) Một số hình thái tôn giáo phổ biến
b.1: Tín ngưỡng vạn vật hữu linh:
Trong những công việc lao động thời nguyên thủy, con người hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên,
nên cuộc sống bấp bênh, và họ cần tới sự giúp đỡ của thần linh. Mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên dẫn tới các hoạt động nghi lễ, tế tự. Cũng vì vậy, con người hình dung các hiện
tượng tự nhiên như những sản phẩm do một hay những thế lực siêu nhiên tạo ra, ít nhiều mang
dáng dấp người, đó là quan niệm “vạn vật hữu linh” phổ biến ở mọi tộc người đương thời.
Ở Việt Nam và nhiều nước khác hiện nay vẫn tồn tại tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”. Họ có thể
thờ một cái cây lâu năm, một tảng đá lạ “linh thiêng”,..Ở Nam Bộ( người Khmer vẫn còn tín
ngưỡng Neak Tà dưới dạng thờ những hòn đá trong ngôi miếu nhỏ). Đây chính là tục thờ đá lOMoAR cPSD| 61458992
cổ xưa của cư dân Đông Nam Á. Họ quan niệm động vật hay thực vật đều có linh hồn giống
con người, nên những vật đó có thể gây tai họa hay đem lại điều tốt lành cho con người, chính
vì vậy phải thờ và quan tâm đến nó.
Thuyết vạn vật hữu linh điển hình cho những người nhìn nhận bản thân các động thực vật như
là một phần của tự nhiên hơn là người chủ của tự nhiên. Điều này tồn tại trong các dân tộc
chuyên đi tìm kiếm lương thực( dân du mục) cũng như các dân tộc tự sản xuất lương thực, họ
luôn chấp nhận sự khác biệt giữa đời sống con người và đời sống của các vật thể khác trong tự nhiên.
b.2: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Đức tin về linh hồn tổ tiên luôn gắn liền với quan niệm phổ biến rằng con người được tạo
thành từ hai phần, phần thể xác và phần linh hồn. Linh hồn của tổ tiên cư xử như người sống,
các linh hồn có thể cảm thấy nóng lạnh, đau khổ,...Thậm chí người ta quan niệm tổ tiên tuy đã
qua đời nhưng vẫn có thể tham gia vào các công việc của gia đình và dòng họ. Người con có
bổn phận hiếu thảo, tôn trọng và phụng dưỡng cha mẹ. Sau khi cha mẹ quá vãng, người con
vẫn liên lạc với họ qua một thế giới tâm linh, tiếp tục cúng dâng thức ăn, tiền bạc và hương
khói đầy đủ cho cha mẹ mình vào những ngày cúng giỗ.
Đây là cách mọi người bày tỏ sự kính trọng, tưởng nhớ và biết ơn đối với các thế hệ đi trước -
những người đi trước có công lao sinh thành, dưỡng dục và chở che cho thế hệ sau, thể hiện
nét đẹp truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” .Ngoài ra, cùng với
thờ cúng tổ tiên, người ta còn thờ Thành hoàng - người có công sáng lập một làng, ấp,có công
với đất nước hay ông tổ một nghề nào đó. b.3:tín ngưỡng totem:
+Tôtem = vật tổ - 1 loại vật chất có mối quan hệ họ hàng thần bí của 1 nhóm người -> Là điểm
chính để nhận dạng nhóm (vật tổ tập thể)
+Tôtem giáo: là các nghi lễ chung cố kết cộng đồng, cùng thờ cúng 1 tôtem
VD: nghi lễ thờ cúng tôtem, nghi lễ ma thuật tác động vào totem, cấm giết/ cấm dùng tôtem
làm thức ăn,… (hành vi gắn liền với cấm kỵ- taboo)
+Ấn độ giáo: cấm ăn thịt bò +Người
Urunta (Úc): thờ đá churinga b.4: Shaman giáo:
+Xuất phát từ người Tunguo ở Đông Siberia (“saman = người có hiểu biết”) lOMoAR cPSD| 61458992
+Shaman = người nam hoặc nữ có thể “nhập thần” và điều khiển được thần linh, ma quỷ để
đạt được mong muốn của họ
+Shaman = người được thần linh lựa chọn, làm nhiệm vụ trung gian giữa con người và thần
linh => chữa bệnh, hành lễ, phù phép, tiên báo hậu vận, ban ơn phúc, bảo hộ cho cá nhân hoặc cộng đồng,…
+Mang dấu ấn riêng của văn hóa dân tộc/tộc người
+VD: Hầu đồng (đạo Mẫu- VN), Mudang (Hàn Quốc), Shinto (Nhật Bản)
Người Khmer (Nam Bộ): người chôl arak (nhập xác) để chữa bệnh Người
Hoa (Nam Bộ): gọi shaman “nhập xác” là Ông Bổn (Thổ thần) b.5: tín ngưỡng mana:
+Xuất xứ từ cư dân Melanesia (phía Đông Indonesia, đảo Papua New Guinea, quần đảo Solomon, Vanuatu, Fiji)
+ Quyền năng siêu phàm được truyền từ 1 vật có mana sang 1 vật khác ko có mana
+ VD: đặt bàn tay lên người bệnh để chữa bệnh (chữa bệnh bằng năng lượng)
=> Tri thức bản địa về hình thái của tôn giáo sơ khai giúp cho ngành nhân học hiểu biết về sự
tồn tạo của các hình thái tôn giáo ấy, nhất là trong xã hội đa văn hóa, đa tôn giáo. Các hình thái
tôn giáo tồn tại và hấp dẫn con người trong xã hội công nghiệp hiện đại, nơi mà khoa học được
mệnh danh là đóng vai trò vạn năng.
Câu 6: Thế nào là quá trình tộc người? Quá trình này ở Việt Nam diễn ra như thế nào? - Khái niệm:
+K/n tộc người: Là tập đoàn người ổn định hoặc tương đối ổn định được hình thành trong lịch
sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức dân tộc được
thể hiện bằng 1 tộc danh chung.
+K/n quá trình tộc người: là quá trình vận động, biến đổi của tộc người trong những điều kiện
lịch sử cụ thể và trong toàn bộ tiến trình lịch sử trước sự tác động của các nhân tố tự nhiên và xã hội.
- Quá trình tộc người trên thế giới:
+Quá trình tiến hóa tộc người
+ Quá trình quy tụ/ hợp nhất tộc người lOMoAR cPSD| 61458992
+Quá trình phân ly tộc người -
Quá trình tộc người ở VN:
a.Quá trình tiến hóa tộc người: Là sự phát triển các yếu tố kỹ thuật, văn hóa, xã hội, dân số, …
của tộc người, làm cho tộc người lớn hơn về quy mô, cao hơn về trình độ kỹ thuật, học vấn,…
nhưng không làm tộc người biến dạng hoặc phá hủy hệ thống nói chung.
VD: tộc người Kinh trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển dân tộc vừa du nhập, tiếp
thu những cái mới từ bên ngoài vào (quan hệ đồng đại); vừa bảo lưu, chuyển giao cái mới giữa
các thế hệ tạo nên tính ổn định tương đối về truyền thống (quan hệ lịch đại) -> tộc người Kinh
càng ngày càng phát triển về kinh tế, văn hóa, XH, dân số, trình độ kỹ thuật, giáo dục, …
b.Quá trình phân ly:là xu hướng 1 tộc người tách ra thành các bộ phận, các nhóm khác phân
tán đi các nơi, hoặc thành cộng đồng độc lập
+ Quá trình phân ly tộc người được chia thành hai loại hình cơ bản: quá trình chia nhỏ và quá trình chia tách.
● Quá trình chia nhỏ: Một tộc người thống nhất được chia ra làm nhiều bộ phận
khác nhau, những bộ phận này trở thành những tộc người mới trong quá trình phân li.
=> Tộc người xuất phát ngừng sự tồn tại của mình
VD: người Nga cổ -> Tộc người Nga, Ukraine, Belarus
● Quá trình chia tách: Từ một bộ phận nhỏ tộc người gốc nào đó được chia tách ra
dần dần trở thành một tộc người độc lập.
=> Tộc người gốc vẫn tiếp tục được giữ lại.
VD: Người Việt cổ -> Việt, Mường, Thổ, Chứt; người Thái (Vân Nam, Quý
Châu- TQ) -> người Thái ở Thái Lan, VN, Lào
Do di cư đến vùng đất thuộc địa -> Tộc người mới: người Anh ở Úc, Người Anh ở Mỹ,…
· Sự phân ly tộc người do di cư (Người Việt di cư sang các nước Âu- Mỹ -> trở thành tộc người
thiểu số ở nước ngoài- hiện nay hơn 2,5 triệu người Việt di cư sang nước ngoài)
· Sự phân ly tộc người chính trị: người Stiêng ở Bình Phước VN bị tách khỏi người Stiêng ở
bên kia biên giới Campuchia do phân chia ranh giới chính trị lOMoAR cPSD| 61458992
· Phân ly tộc người do khác biệt về tôn giáo: nhóm Chăm theo Hồi giáo ở TPHCM và nhóm
Chăm theo Bà la môn giáo ở Ninh Thuận, Bình Thuận.
· Do âm mưu, thủ đoạn của CN thực dân, ĐQ xâm lược. Chúng sử dụng chính sách “chia để
trị”, chia nước ta ra thành 3 kỳ (Bắc- Trung- Nam) với chế độ cai trị khác nhau. Lập ra các xứ
tự trị (Thái, Mường, Mẽo/ Mông) để xé lẻ, phân tán các cộng đồng tộc người.
c. Quá trình hợp nhất tộc người:
Quá trình hợp nhất phản ánh xu thế tiến bộ mang tính quy luật lịch sử nói chung dẫn tới
sự củng cố các tộc người.
Xu hướng hợp nhất tộc người chia làm 3 loại hình riêng: quá trình cố kết( hay kết hợp),
quá trình đồng hóa và quá trình hòa hợp.
c.1. Quá trình cố kết tộc người:
Là quá trình chủ đạo, diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp. Là quá trình nổi bật trong quá trình hình
thành, PT của dân tộc do nhu cầu chống ngoại xâm và chống thiên tai đặt ra.
Sự cố kết biểu hiện ở nhiều sắc thái, nhiều cấp độ khác nhau:
Ví dụ: Cố kết trong nội bộ tộc người: Lạc Việt + Tây Âu = Âu Lạc
Cố kết giữa các TN: Tày-Nùng (Việt Bắc), Việt- Mường
c.2. Quá trình đồng hóa tộc người: là quá trình hòa tan của một dân tộc hoặc một bộ
phận củanó vào môi trường của một dân tộc khác, diễn ra theo nhiều hình thức khác
nhau như qua hôn nhân, qua ngôn ngữ, văn hóa, …
Khác với quá trình cố kết, quá trình đồng hóa thường diễn ra ở các tộc người khác nhau về
nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa, thường xảy ra ở các nhóm nhỏ các tộc người có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội cao hơn.
· Đồng hóa tự nhiên: diễn ra giữa các tộc người thiểu số với người Việt (Kinh) và giữa các tộc
người thiểu số với nhau
VD: người La Ha, người Kháng mất đi ngôn ngữ mẹ đẻ và nói tiếng Thái; người La Chí ->
người Tày; người Bố Y -> người Nùng
· Đồng hóa cưỡng bức: mối quan hệ văn hóa Hán và văn hóa Việt trong thời kỳ 1000 năm Bắc
thuộc; văn hóa Pháp và văn hóa VN nửa đầu thế kỉ XX
c.3: Quá trình hòa hợp: lOMoAR cPSD| 61458992
Là sự xích lại gần nhau giữa các tộc người tuy khác nhau về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, văn
hóa, nơi sống gần nhau và có chung môi trường, điều kiện sống; kết quả của quá trình giao
lưu, tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch sử -> xuất hiện yếu tố văn hóa chung + giữ lại đặc trưng
văn hóa tộc người ở các tộc người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa.
· Hội nhập trong 1 vùng lịch sử - văn hóa: miền núi Tây Bắc và Thanh- Nghệ (Tày- Thái); khu
vực Trường Sơn – Tây Nguyên (Ê đê, Gia rai, Raglai); khu vực Nam Bộ (Hoa- ViệtChăm)
· Hội nhập trong 1 quốc gia thống nhất đa dân tộc (54 tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam)
* VN là 1 quốc gia thống nhất đa dân tộc:
- Dân tộc chủ thể: dân tộc Việt - Ngôn ngữ: Tiếng Việt
- Cơ tầng văn hoá Nam Á- Ý thức tự giác dân tộc: + Tộc danh, đất và nước chung cho các dân tộc trên đất nước VN
+ Chủ nghĩa yêu nước: Chung vận mệnh lịch sử
Câu 7: Thế nào là quá trình hòa hợp giữa các tộc người? Quá trình này ở Việt Nam diễn ra như thế nào? a)Khái niệm:
Quá trình hòa hợp giữa các tộc người thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ văn
hóa, nhưng do kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch sử đã xuất hiện
những yếu tố văn hóa chung bên cạnh đó vẫn giữ lại những đặc trưng văn hóa của tộc người.
Quá trình này thường diễn ra ở các khu vực lịch sử - văn hóa hay trong phạm vi của một quốc gia đa dân tộc.
Dẫn chứng: Quá trình hòa hợp thể hiện ở tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam.
Chịu ảnh hưởng từ tín ngưỡng thờ Thành hoàng của Trung Quốc, bắt nguồn từ tục lệ thờ vị
thần bảo hộ cho một thành trì, một phủ, một châu hay một huyện. Khi tín ngưỡng này du
nhập vào Việt Nam, kết hợp với văn hóa bản địa đã tạo nên sự hòa hợp. Vẫn giữ tín ngưỡng
thờ Thành hoàng nhưng người Việt thờ cúng các vị thần cai quản về thời tiết như thần Sông, lOMoAR cPSD| 61458992
thần Núi, thần Sấm, thần Sét, thần Mây, thần Mưa. Thông thường, tục thờ vị thần sẽ được
quy vào từng vùng như người dân sống ở những vùng sông nước thì thờ thần Sông (hay
còn gọi là Thủy thần); sống ở trên núi thờ thần Núi (Sơn thần). Một số ngôi làng còn thờ
các vị thần có công với việc dựng nước và giữ nước như các vị: Bà Trưng, Bà Triệu, Lê
Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật,..Ngoài ra, Thành hoàng còn có thể là ông tổ của một nghề nào đó…
=> Quá trình tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch sử đã “du nhập” tín ngưỡng thờ Thành
hoàng vào Việt Nam nhưng hòa hợp cùng với nền văn hóa bản địa, tạo nên tín ngưỡng
mang đặc trưng văn hóa Việt Nam.
b) Quá trình hòa hợp này diễn ra ở Việt Nam như thế nào?
- Quan điểm của Đảng: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn”
- Mục tiêu: tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc; phát huy tinh thần cách mạng và năng lựcsáng
tạo của các dân tộc (tộc người) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN; tạo điều
kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự
phát triển chung của cộng đồng dân tộc VN.
- Tư tưởng cơ bản, chỉ đạo xuyên suốt trong chính sách dân tộc: thực hiện bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giữa các dân tộc.
- Thực hiện chính sách dân tộc: toàn diện trên các mặt: Kinh tế- Chính trị- Văn hóa, xã hội – An ninh quốc phòng…..
=>Sự tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước của các dân tộc ở nước ta là cơ sở nền
tảng cho sự hòa hợp giữa các dân tộc tạo nên tính thống nhất của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, câu nói của chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng nhằm khẳng định điều đó. Các dân tộc Việt Nam dù có sự khác biệt về nguồn
gốc lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa nhưng do quá trình chung sống lâu dài, giữa các dân tộc
Việt Nam đã diễn ra quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa tạo nên một nền văn hóa Việt Nam
thống nhất và đa dạng.
Dẫn chứng: Một mái nhà rông, một ngôi chùa, đình làng, trang phục của các dân tộc,
các món ăn cho đến lễ hội, các loại hình nghệ thuật được trình diễn hay được ghi
chép trên sách vở là của người Việt Nam, bản sắc văn hóa riêng của các dân tộc vẫn
giữ được bảo tồn phát triển tạo nên sự muôn sắc, ngàn hương.
=>Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng bao gồm tất cả tinh hoa văn
hóa của các dân tộc kết hợp lại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc văn hóa dân tộc. lOMoAR cPSD| 61458992
Câu 8: Chủng tộc là gì? Anh/chị trình bày đặc điểm nhân chủng của các đại chủng?
a) Khái niệm chủng tộc:
Chủng tộc là một quần thể (hay tập hợp quần thể mà ta quen gọi là những nhóm
người) hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định có một số đặc điểm chung
trên cơ thể mang tính chất di truyền.
Các nhóm người này có những đặc trưng, đặc điểm di truyền về hình thái – sinh lý mà
nguồn gốc và quá trình hình thành của chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định.
Hay nói một cách khác, chủng tộc là những nhóm người có một số đặc trưng hình thái
giống nhau. Những đặc trưng đó được di truyền lại. Chủng tộc là yếu tố sinh vật học, không
phải là yếu tố xã hội. Chủng tộc và quốc gia không liên quan với nhau. Nhiều dân tộc có
thể ở trong một chủng tộc.
b) Đặc điểm nhân chủng của các đại chủng:
1.Đại chủng Môngôlôit
Đại chủng Môngôlôit bao gồm phần lớn cư dân sống ở châu Á và cả thổ dân da đỏ châu
Mỹ, nên còn gọi là đại chủng á Mỹ.
Đại chủng Môngôlôit có màu da từ hơi vàng đến nâu nhạt nên còn gọi là đại chủng da vàng. Mắt và tóc đen,
Hình tóc thẳng và cứng,
Lông trên thân ít phát triển,
Mặt bẹt vì hai xương gò má rất phát triển, mũi rộng trung bình, sống mũi không dô, gốc mũi thấp,
Môi dày trung bình, hàm trên hơi vẩu.
Nếp mi mông cổ tỷ lệ cao, đặc biệt có răng cửa hình xẻng là đặc trưng của đại chủng này.
Thường có nhóm máu Diego mà không có ở các đại chủng khác. Không có nhóm máu A^2 và rất ít nhóm R. lOMoAR cPSD| 61458992
2.Đại chủng Ơrôpôit
Đại chủng Ơrôpôit còn gọi là đại chủng châu Âu hoặc đại chủng da trắng vì họ sống tập
trung chủ yếu ở châu Âu và có nhiều loại hình da trắng. Đại chủng này chiếm khoảng 40%
dân số thế giới, phân bố chủ yếu ở châu Âu, Bắc Phi, Tây Á, Ấn Độ.
Đại chủng Ơrôpôit có những đặc điểm hình thái chủ yếu sau :
+ Da thay đổi từ màu sáng trắng tới nâu tối.
+ Lông trên mình rất phát triển đặc biệt là râu
+Tóc mềm, màu vàng đến đen, thẳng hay uốn làn sóng.
+ Mặt thường dô ra phía trước đặc biệt là phần giữa mặt, mặt hẹp và dài không vẩu
+ Màu mắt thường xanh, xám hay nâu nhạt, không có nếp mi góc
+ Mũi cao và hẹp, môi mỏng, cằm dài và vểnh
+ Đầu thường là tròn, đặc biệt có núm Carabeli ở răng hàm trên
+ Nhóm máu giống người Châu Phi A^1, A^2, R gặp với số cao
3 . Đại chủng Nêgrôit
Đại chủng Nêgrôit sống tập trung chủ yếu ở lục địa châu Phi và có màu da đen nên còn
được gọi là đại chủng Phi hay đại chủng da đen.
Tổng cộng số dân của đại chủng này chỉ chiếm 1/10 dân số thế giới, phân bố chủ yếu từ sa
mạc Xahara trở về phía Nam lục địa Phi, ngoài ra còn có ở miền Nam Ấn Độ, các đảo thuộc
Ấn Độ Dương và châu Mỹ. Đặc điểm nhân chủng:
Tên gọi Nêgrôit do màu da đen sẫm (Nêgrôit có nguồn gốc từ chữ la ting là niger: đen).
Da đen, tóc xoăn tít, lông trên thân rất ít.
Trán đứng, gờ trên ổ mắt ít phát triển. lOMoAR cPSD| 61458992
Cánh mũi rất rộng làm mũi bè ngang, sống mũi không gãy. Môi rất dày nhưng hẹp.
Nhóm máu A^1, A^2, R xuất hiện với tần số cao.
4. Đại chủng Ôxtralôit
Đại chủng Ôxtralôit bao gồm đa số các thổ dân sinh sống ở lục địa Ôxtrâylia và trên các
đảo lân cận phía Nam Thái Bình Dương,
+ Da sẫm màu(đen hoặc nâu đen) + Mắt đen + Tóc đen uốn làn sóng + Lông rậm rạp + Râu phát triển mạnh + Mặt ngắn và hẹp
+ Mũi rộng,lỗ mũi to,sống mũi gầy + Môi dày,môi trên vẩu
+ Đầu thuộc loại đầu dài và rất dài
+ Chiều cao trung bình khoảng 150cm
Câu 9: Nội dung cơ bản của tiêu chí tộc người? a)Ngôn ngữ:
-Là dấu hiệu cơ bản để người ta xem xét sự tồn tại của một dân tộc và để phân biệt các dân tộc khác nhau
-Ngôn ngữ là hệ thống giao tiếp
-Có vai trò trong việc cố kết cộng đồng tộc người
-Tiếng mẹ đẻ truyền tải và lưu truyền các giá trị văn hóa => Bảo vệ ngôn ngữ là bảo vệ sự
tồn tại của tộc người, dân tộc lOMoAR cPSD| 61458992
-Hiện tượng đa ngữ, song ngữ hiện nay rất phổ biến
=> Ngôn ngữ là 1 tiêu chuẩn để xác định tộc người nhưng ko phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất. Ví dụ:
-Tộc người mất ngôn ngữ mẹ đẻ, phải sử dụng ngôn ngữ khác: người Ơ đu (VN) sử dụng
tiếng Thái/ tiếng Khơ mú; người Kháng, người La Ha… quên tiếng mẹ đẻ.
-Nhiều tộc người độc lập sử dụng chung 1 ngôn ngữ: người Scotland, người Mỹ sử dụng
tiếng Anh; người Cuba, Mexico, Maroc, Sudan, Iran, Afghanistan sử dụng ngôn ngữ Tây Ban Nha
-Các nhóm nhỏ trong tộc người sử dụng ngôn ngữ riêng biệt của họ
=> Nguyên nhân: do sự giao lưu, hội nhập của các tộc người
+Ở VN, tộc người Cao Lan sử dụng ngôn ngữ Tày- Thái; tộc người Sán Chỉ sử dụng ngôn ngữ Hán… b)Văn hóa:
-Là tiêu chuẩn quan trọng để xác định tộc người
-Có 2 loại: văn hóa của tộc người và văn hóa tộc người
+Văn hóa của tộc người: là tổng thể những thành tựu văn hóa thuộc về một tộc người nào
đó, do tộc người đó sáng tạo ra hay tiếp thu, vay mượn của các dân tộc khác trong quá trình lịch sử.
+Văn hóa tộc người: là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể mang tính đặc
trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người, làm cho tộc người này
khác với tộc người khác -> là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tự giác tộc người.
c) Ý thức tự giác tộc người
-Là ý thức tự coi mình thuộc về một tộc người nhất định được thể hiện trong hàng loạt yếu tố:
+Sử dụng một tên gọi tộc người chung thống nhất
+Có ý niệm chung về nguồn gốc lịch sử, huyền thoại về tổ tiên và vận mệnh lịch sử của tộc
người, về các giá trị và biểu tượng văn hóa của dân tộc