



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHÂN HỌC ĐẠI CƯƠNG 1.
Nhân học là gì? Anh (chị) hãy trình bày đối tượng, nhiệm vụ và quan điểm nghiên
cứu của nhân học. Nhân học :
Nhân học (Anthropology) là ngành học về con người sử dụng kết quả nghiên cứu của
các ngành khác để hiểu con người một cách nhân bản nhất.
Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người trên các
phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm người, các cộng đồng dân tộc khác
nhau, cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay.
Nhân học nghiên cứu sự tiến hóa của con người, các xã hội và văn hóa khác nhau do
con người sáng tạo trong quá trình lịch sử và tính đa dạng của các xã hội con người trên thế giới ngày nay.
Đối tượng nghiên cứu :
Con người với tư cách là thực thể sinh học – xã hội là khách thể, không phải là đối
tượng nghiên cứu riêng của từng ngành khoa học.
Nhân học nghiên cứu toàn diện con người về con người tự nhiên và con người xã hội.
Đối tượng nghiên cứu của Nhân học không chỉ bó hẹp trong việc nghiên cứu phương diện
sinh học của con người mà cả văn hóa và xã hội.
Con người sinh học là con người với tư cách là khách thể: hình dáng bên ngoài (màu
da, màu tóc, màu mắt, kiểu mũi, kiểu tóc…), các đoạn cơ thể con người (chân, hông, thân
người…), các nhóm máu, vân tay, sự tiến hóa của loài người.
Con người xã hội: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ… đặc biệt là nghiên cứu về văn hóa.
Quan điểm nghiên cứu : - Toàn diện:
Nhân học khác với các ngành khoa học khác là nó có tham vọng tích hợp thành tựu
nghiên cứu của các ngành khoa học để nghiên cứu con người trong tính toàn diện của nó.
Nhân học là ngành khoa học độc đáo ở chỗ nó sử dụng sự khám phá của các ngành khoa
học khác và cố gắng kết hợp chúng với những dữ kiện riêng của mình để tìm kiếm xem các
yếu tố kinh tế, chính trị, tôn giáo và thân tộc… đã tác động với nhau như thế nào, để tạo lOMoAR cPSD| 61458992
nên đời sống của con người như chúng ta thấy. Điều đó có nghĩa là nhân học là một ngành
học toàn diện, tính toàn diện là đặc điểm trung tâm của quan điểm nhân học.
Các nhà nhân học nghiên cứu không chỉ tất cả các dân tộc mà còn nghiên cứu nhiều
khía cạnh khác nhau của cuộc sống con người. Cụ thể khi miêu tả một nhóm người, một
nhà nhân học có thể đề cập đến lịch sử khu vực mà nhóm người này sinh sống, có thể đề
cập đến môi trường tự nhiên, tổ chức cuộc sống gia đình và các đặc tính chung ngôn ngữ
của họ, hình thái định cư của nhóm, hệ thống kinh tế và chính trị, tôn giáo, phong cách
nghệ thuật và trang phục. - Đối chiếu, so sánh:
Điều gì khiến cho các nhà nhân học chọn chủ đề rộng lớn như thế để nghiên cứu? Một
phần họ bị thúc đẩy bởi niềm tin là bất cứ sự khái quát hóa về con người nào được đưa ra,
bất cứ sự giải thích có thể về một số đặc điểm về văn hóa hay sinh học của con người nên
được đưa ra để áp dụng cho các thời đại và nơi con người tồn tại. Nếu một sự khái quát
hóa nào đó chưa chứng minh được chúng mà đang áp dụng, chúng ta có quyền hoài nghi
về chúng để buộc phải giải thích và chứng minh đúng bản chất của chúng.
Ví dụ, người Bắc Mỹ không sử dụng con mối làm thức ăn nhưng không nên nghĩ rằng
loài người chúng ta đều không ăn mối. Sự thực người Camơrun ở Tây Phi lại coi mối là thức ăn bổ dưỡng.
Như vậy, ngoài tính toàn diện, nhân học còn là một khoa học mang tính so sánh đối
chiếu để tìm hiểu sự đa dạng về mặt sinh học và văn hóa của các nhóm cư dân, dân tộc
khác nhau trên hành tinh.
- Phạm vi không gian và thời gian:
Nhân học khác với các ngành khoa học xã hội và nhân văn khi nghiên cứu các khía
cạnh liên quan đến con người. Nhân học có phạm vi rộng lớn hơn cả về tính địa lý và lịch
sử. Nhân học liên quan rõ ràng và trực tiếp với tất cả các dân tộc trên thế giới. Nó không
chỉ quan tâm tới các dân tộc gần và trong một vùng có giới hạn. Ngành này cũng quan tâm
đến con người ở các thời đại bắt đầu với tổ tiên trực tiếp của loài người đã sinh sống cách
đây hàng triệu năm và tìm hiểu sự phát triển của loài người cho đến hiện nay. Mỗi phần
trên thế giới đã từng có của loài người đều là mục tiêu quan tâm của các nhà nhân học.
Trước đây, nhân học chỉ tập trung nghiên cứu về các dân tộc và ngoài châu Âu và để
cho các ngành khác nghiên cứu về các nền văn minh phương Tây và các xã hội phức tạp
tương đồng. Tuy nhiên, nửa sau thế kỉ XX cho đến bây giờ, nhân học quan tâm nghiên cứu
các dân tộc khác nhau trên thế giới có trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau: tiền lOMoAR cPSD| 61458992
công nghiệp và xã hội công nghệ phát triển. Họ có mặt hầu khắp ở các thành phố của thế
giới công nghiệp cũng như ở các làng mạc xa xôi của các dân tộc chậm phát triển. 2.
Trình bày nội dung của phương pháp quan sát tham dự và phương pháp phỏng
vấn sâu trong điền dã dân tộc học. Khi thực hiện các phương pháp này thì vấn đề đạo
đức nghiên cứu được đặt ra như thế nào?
Nhân học có phương pháp nghiên cứu chuyên biệt riêng của ngành được các nhà
nhân học và dân tộc học sử dụng mang tính truyền thống từ trước đến nay. Nhân học
thường sử dụng phương pháp quan sát tham dự sâu tại một hoặc vài ba cộng đồng từ một
năm trở lên và thông thạo ngôn ngữ địa phương nơi mình điền dã. Điền dã dân tộc học là
công việc bắt buộc và thường xuyên đối với các nhà nghiên cứu nhân học… Quan sát tham dự :
Quan sát tham dự là phương pháp mà theo đó, người nghiên cứu thâm nhập vào nhóm,
cộng đồng thuộc vào đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là thành viên của nhóm
hay cộng đồng. Khái niệm tham dự ở đây được hiểu theo nhiều mức độ khác nhau: từ quan
sát tham dự một phần vào các hoạt động đến sự hòa nhập hoàn toàn của người quan sát vào
trong nhóm người được quan sát. Có thể xảy ra hai trường hợp đối với vai trò của người
quan sát: họ là người quan sát đồng thời cũng là người tham gia vào các hoạt động của
cộng đồng. Quan sát tham dự thường là quan sát nhiều lần đối với nhiều đối tượng được
lặp đi lặp lại trong quá trình chung sống với cộng đồng trong một thời gian dài đến hàng
tháng, hàng năm để chắc chắn rằng những thông tin thu nhận được là tiêu biểu của các ý
tưởng được bày tỏ của cộng đồng theo diện rộng. Như vậy quan sát tham dự của người
nghiên cứu khác với một người khách du lịch đến với cộng đồng như là người ngoài để tìm
hiểu nền văn hóa của người khác với sở thích và nhu cầu của họ. Khách du lịch thường là
những người quan sát không tham dự vì họ không thể trở thành thành viên của cộng đồng.
Ưu điểm của quan sát tham dự là do sự tham gia của người nghiên cứu vào hoạt động
của người được quan sát và khắc phục được những hạn chế do trình độ tri giác thụ động
gây ra. Sự tham dự cho phép người quan sát đi sâu và cảm nhận được, hiểu biết toàn bộ
tình cảm và những hành động của đối tượng được quan sát, để hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về
những nguyên nhân, động cơ của những hành động được quan sát.
Phương pháp quan sát tham dự cung cấp cho chúng ta những thông tin mà khi sử dụng
các phương pháp khác khó có thể có được. Đó là những thông tin liên quan đến hoạt động
của nhóm. Khi người quan sát trở thành một thành viên của nhóm có thể dễ dàng nhận biết
những hành vi bình thường phong tục tập quán theo thói quen của mỗi người trong nhóm
cũng như những quy tắc thông thường của nhóm, nghĩa là thấy được những gì là thuộc tính
vốn có trong bối cảnh văn hóa của mỗi người trong nhóm hoặc cộng đồng. lOMoAR cPSD| 61458992
Để tiến hành quan sát tham dự đòi hỏi người nghiên cứu phải có thời gian, có kỹ năng
quan sát nghề nghiệp tốt, am hiểu tiếng địa phương và phải có thời gian thích ứng với môi
trường mới. Phương pháp nghiên cứu tham dự đòi hỏi tốn nhiều thời gian, có khi tới hàng
tháng, hàng năm. Quá trình nhập thân văn hóa vào cộng đồng phụ thuộc vào cả tính cách
của người được quan sát, các đặc trưng về giới tính tuổi tác. Sự thành công của công việc
quan sát còn phụ thuộc vào bầu không khí thân thiện, các khía cạnh tâm lý, đạo đức của
nhà nghiên cứu khi chung sống với cộng đồng.
Tham dự quá trình tích cực, quá dài ngày của người quan sát đối với cộng đồng làm cho
họ quen với cộng đồng dẫn đến ít quan tâm tới sự khác biệt và đa dạng văn hóa của cộng
đồng, trong một số trường hợp người quan sát không giữ được cái nhìn khách quan trung
lập hay làm giảm hiệu quả quan sát.
Phỏng vấn sâu :
Trong công tác điền dã dân tộc học, các nhà nghiên cứu thường sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp khác nhau cả phương pháp nghiên cứu tham dự và tiến hành phỏng vấn.
Phỏng vấn là phương pháp trong đó người được phỏng vấn sẽ trả lời một số câu hỏi
người phỏng vấn đặt ra nhằm mục đích thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm
vụ nghiên cứu. Hình thức phỏng vấn trong điền dã dân tộc học là phỏng vấn sâu (phỏng
vấn tự do). Với bản câu hỏi phỏng vấn này, nhà dân tộc học nói chuyện đối mặt với người
cung cấp thông tin, hỏi và ghi chép câu trả lời. Đôi lúc có những câu hỏi bất chợt nảy sinh
trong quá trình phỏng vấn, các cuộc thảo luận không giới hạn cũng có lúc nghỉ ngơi và tán chuyện dông dài.
Tùy theo vấn đề nghiên cứu mà chúng ta chọn đối tượng phỏng vấn khác nhau. Nếu
nghiên cứu những vấn đề phong tục tập quán truyền thống, chúng ta phỏng vấn những
người già, trí thức dân tộc. Nếu như nghiên cứu hôn nhân gia đình chúng ta phải phỏng vấn
cả nam và nữ, người già và trẻ. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội và
sự phát triển cộng đồng thì lại phỏng vấn những già làng, trí thức dân tộc, chức sắc tôn
giáo, cán bộ quản lí địa phương. Có những vấn đề nghiên cứu phải lấy ý kiến của cộng
đồng thì lại cần tổ chức thảo luận nhóm tập trung.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu :
Khác với các ngành khoa học khác, đối tượng nghiên cứu của nhân học là con người,
vì vậy đạo đức trong nghiên cứu nhân học là rất quan trọng. lOMoAR cPSD| 61458992
- Trước hết những báo cáo khoa học của chúng ta không thể bị sử dụng để làm phương
hại đến cuộc sống của cộng đồng mà chúng ta đã điều tra, không được làm xúc phạm và
làm tổn hại đến phẩm chất và lòng tự trọng của những người bản địa được biết đến.
- Phải giữ bí mất cho những người cung cấp tin, nhất là những thông tin thuộc về
những vấn đề nhạy cảm trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng.
- Phải đảm bảo tính trong sáng trong tiến trình nghiên cứu và sự trung thực đối với
các giá trị của đề tài để kết quả của công trình nghiên cứu là hợp lý nhằm phục vụ lợi ích
cho những đối tượng được đặt ra.
3. Trình bày mối quan hệ giữa nhân học với các môn khoa học xã hội khác.
Nhân học khác với các ngành khoa học là nó có xu hướng tích hợp thành tựu nghiên
cứu của các ngành khoa học để nghiên cứu con người trong tính toàn diện của nó với một
phạm vi rộng lớn hơn cả về mặt lịch sử và địa lý. Vì vậy, việc xác định đối tượng của nhân
học giúp cho chúng ta xác định rõ vị trí của nhân học trong hệ thống các khoa học và mối
quan hệ của chúng với các ngành khoa học khác cả về mặt đối tượng, nhiệm vụ, cả về lý
thuyết và phương pháp nghiên cứu.
Nhân học và triết học :
Triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Quan hệ giữa nhân học và triết học là quan hệ giữa một ngành khoa học cụ thể với thế
giới quan khoa học. Triết học là nền tảng thế giới quan, phương pháp luận nghiên cứu của
nhân học macxit. Các nhà nhân học vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy
vật biện chứng làm cơ sở lý luận để nghiên cứu con người trong tính toàn diện của nó.
Nhân học là một ngành khoa học cụ thể. Trong mối quan hệ với triết học, các nhà nhân
học cần tránh quan niệm nhân học biệt lập hay đối lập với triết học. Nhân học thường sử
dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể để giải đáp những vấn đề thực tiễn sinh
động của cuộc sống con người. Các kết quả nghiên cứu của nhân học cả về lý thuyết và
phương pháp không thể phủ nhận những quy luật chung nhất về sự phát triển của xã hội và
loài người của triết học macxit mà chỉ bổ dung và làm phong phú thêm kho tàng tri thức
và phương pháp luận triết học.
Nhân học và sử học :
Nhân học có mối quan hệ chặt chẽ với sử học bởi vì nhân học nghiên cứu con người về
các phương diện sinh học, văn hóa, xã hội thường tiếp cận từ góc dộ lịch sử (theo lịch đại).
Vì lý do này, ở một số nước, trong đó có Việt Nam đã đặt dân tộc học là một chuyên ngành
của khoa học lịch sử. Một điều dễ nhận thấy trong các bộ sử xa xưa đến nay có chứa đựng lOMoAR cPSD| 61458992
khá nhiều tài liệu và nhân học mà các nhà nhân học khi nghiên cứu không thể không quan
tâm. Khi nghiên cứu về lịch sử của các tộc người, các địa phương, các nhà nhân học phải
sử dụng tài liệu sử học. Những vấn đề nghiên cứu của nhân học không thể tách rời bối cảnh
lịch sử cụ thể cả về không gian và thời gian lịch sử. Thiếu tri thức lịch sử, nhà nhân học
không thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả. Ngược lại, các nhà sử học sử dụng tài liệu của
nhân học để soi sáng những vấn đề lịch sử và văn hóa.
Mối quan hệ của nhân học và sử học là ở chỗ nhân học thường sử dụng những phương
pháp nghiên cứu của sử học. Thí dụ phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại.
Sự khác nhau giữa nhân học và sử học là ở chỗ nhân học sử dụng tư liệu từ nghiên cứu
tham dự sâu tại cộng đồng còn sử học chủ yếu sử dụng tư liệu chữ viết bằng văn bản để tái
tạo lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ.
Nhân học và xã hội học :
Theo truyền thống, nhân học chú trọng nghiên cứu xã hội tiền công nghiệp trong khi đó
xã hội học lại chủ yếu quan tâm đến xã hội công nghiệp hiện đại. Các nhà nhân học thường
vận dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp để thu nhập miêu tả, so sánh phân tích bối
cảnh, tình huống và đặc điểm chung của xã hội với tư cách là một chỉnh thể trọn vẹn. Các
nhà xã hội học nghiên cứu các sự kiện, bằng chứng xảy ra trong bối cảnh xã hội đã cho,
tức là trong chỉnh thể xã hội hiện có.
Về phương pháp nghiên cứu, các nhà nhân học hướng tới việc sử dụng phương pháp
nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng, sưu tập những dữ liệu định tính và tiến hành so sánh
đối chiếu xuyên văn hóa. Trong khi đó các nhà xã hội học tiến hành nghiên cứu các dữ liệu
khác nhau và sử dụng bảng hỏi để sưu tập những dữ liệu định lượng.
Nhân học có ảnh hưởng rõ rệt đến xã hội học. Nhiều khái niệm mang tính lý thuyết của
xã hội học bắt nguồn từ nhân học. Ngược lại, xã hội học cũng có tác động trở lại đối với
nhân học về phương pháp luận nghiên cứu, ví dụ quan điểm cơ cấu chức năng của Emile
Durkheim đã ảnh hưởng tới công trình nghiên cứu của các nhà nhân học.
Trong những thập niên gần đây, nhân học mở rộng đối tượng nghiên cứu tới các xã hội,
công nghiệp hiện đại. Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu, nhân học đã sử dụng phương pháp
nghiên cứu định lượng của xã hội học và các phương pháp khác. Trái lại, các nhà xã hội
học cũng đã sử dụng khá quen thuộc những phương pháp nghiên cứu của nhân học như
phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu. Nhiều lúc các nhà nhân học và xã hội học
đã phối hợp nghiên cứu về những chủ đề mà ranh giới phân biệt giữa chúng nhiều lúc rất mờ nhạt. lOMoAR cPSD| 61458992
Nhân học với địa lí học :
Nhân học và địa lí có mối quan hệ gắn bó với nhau hình thành lĩnh vực nghiên cứu
nhân học sinh thái (bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn) nhằm giải quyết
mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và hành vi ứng xử của con
người với môi trường xã hội và nhân văn. Nhân học sinh thái liên quan với địa lý kinh tế
trong việc phân vùng lãnh thổ mà các tộc người sinh sống, địa-văn hóa để có cái nhìn tổng
thể trong mối quan hệ đa chiều: tự nhiên - con người - kinh tế - văn hóa và hành vi ứng xử.
Nhân học và kinh tế học :
Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và kinh tế học hình thành lĩnh vực nghiên cứu
nhân học kinh tế. Nhân học kinh tế vận dụng một số quan niệm, phạm trù lý thuyết về
vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, thị trường… Nhân học không đi sâu nghiên cứu
các quy luật của kinh tế học mà tập trung tiếp cận trên bình diện văn hóa - xã hội của quá
trình hoạt động kinh tế như cách thức chế tạo công cụ, hình thức tổ chức sản xuấ, trao đổi,
phân phối, tiêu dùng mang yếu tố văn hóa tộc người, địa phương, nghề nghiệp phản ánh
truyền thống văn hóa tộc người. Nhân học kinh tế có mối quan hệ mật thiết với ngành kinh
tế phát triển trong nghiên cứu nhân học ứng dụng.
Nhân học và tâm lý học :
Mối quan hệ liên ngành giữa nhân học và tâm lý học xuất hiện lĩnh vực nghiên cứu
nhân học tâm lý hay tâm lý tộc người. Trong tâm lý học, sự quan tâm chủ yếu dành cho
việc phân tích những nét tâm lý của cá nhân trong những kinh nghiệm nghiên cứu xuyên
văn hóa; còn nhân học tập trung nghiên cứu tính cách dân tộc, ý nghĩa của tính tộc người
với tư cách là tâm lý học cộng đồng tộc người lại có ý nghĩa cto lớn. Ngay từ giữa thế kỷ
XIX, việc nghiên cứu tâm lý dân tộc có dự định trở thành một xu hướng độc lập.
Tâm lý dân tộc được hiểu không phải là con số cộng tâm lý các cá nhân lại và các nhóm
xã hội trong lòng dân tộc đó mà là nghiên cứu các đặc điểm tâm lý cũng như quá trình lịch
sử của dân tộc qua các con đường xã hội hóa và chuyển thành những nhân tố lặp lại tương
đối ổn định trong nhân cách các thành viên của dân tộc.
Trong nghiên cứu tâm lý dân tộc, các trường phái Đức nhấn mạnh đến cấu trúc tinh thần
và đặc điểm tính cách của các dân tộc, còn Thụy Sĩ nhấn mạnh đến vô thức tập thể và cổ
mẫu với các kiểu tâm lý khác nhau ở các nhóm tộc người. Trường phái của
A.Kardiner ở Mỹ thì lưu ý đến nhân cách căn bản được hình thành từ thời thơ ấu. Trường
phái của Lesvy Bruhi ở Pháp thì nhấn mạnh đến biểu tượng tập thể. lOMoAR cPSD| 61458992
Mối quan hệ giữa nhân học và tâm lý thể hiện xu hướng tâm lý trong nghiên cứu văn
hóa và các lý thuyết văn hóa theo xu hướng nhân học tâm lý trong những thập niên gần đây.
Nhân học và luật học :
Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và luật học và luật học hình thành lĩnh vực nghiên
cứu nhân học luật pháp. Khác với luật học nghiên cứu các chuẩn mực và quy tắc hành
động do cơ quan thẩm quyền chính thức của nhà nước đề ra, nhân học luật pháp nghiên
cứu những nhân tố văn hóa – xã hội tác động đến luật pháp trong các nền văn hóa và các
tộc người khác nhau. Nhân học luật pháp còn nghiên cứu đến luật tục là hiện tượng phổ
quát của nhân loại trong thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và tồn tại cho đến ngày nay ở
các dân tộc trên thế giới. Các nhà nhân học nghiên cứu mối quan hệ giữa luật tục và luật
pháp để từ đó vận dụng luật tục và luật pháp trong quản lý xã hội và phát triển cộng đồng.
Nhân học và tôn giáo học :
Cộng đồng tộc người và cộng đồng tôn giáo là hai dạng thức khác nhau của cộng đồng
người và có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình phát triển. Tôn giáo
được coi như là một thành tố văn hóa của tộc người, dĩ nhiên nhân học không thể không
nghiên cứu tôn giáo. Mối quan hệ liên ngành giữa nhân học và tôn giáo học hình thành lĩnh
vực nhân học tôn giáo.
4. Đặc trưng của tôn giáo là gì? Phân tích chức năng tâm lý và chức năng xã hội của
tôn giáo. Lấy ví dụ cụ thể.
Đặc trưng của tôn giáo :
Tôn giáo có thể được xem như là niềm tin và các dạng hành vi mà con người sử dụng
để cố gắng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà những khó khăn này không thể
giải quyết bằng kỹ thuật tổ chức và để vượt qua những khó khăn đó, con người hướng đến
các thế lực và các vật thể siêu nhiên.
Tôn giáo bao gồm nhiều nghi thức khác nhau như: cầu nguyện, hát xướng, vũ điệu, lời
thỉnh cầu, hiến tế… Thông qua các nghi thức, con người cố gắng chi phối, tác động vào
các thế lực và các thực thể siêu nhiên. Theo nhu cầu tôn giáo của họ, những vật thể và các
thế lực này bao gồm các vị thần, nữ thần, tổ tiên, thượng đế , các linh hồn hoặc các thế lực
khác tồn tại độc lập bên ngoài ý thức của con người và cũng có thể kết hợp đa dạng với
nhau. Để thực hiện các nghi thức thường có những cá nhân am hiểu và đặc biệt thành thạo
trong vai trò làm trung gian để tiếp xúc với các vật thể và thế lực này, họ giúp đỡ các thành
viên của xã hội thực hiện các hoạt động nghi lễ tôn giáo. lOMoAR cPSD| 61458992
Chức năng của tôn giáo :
Các tôn giáo làm giảm đi sự lo lắng bằng cách lý giải những điều mà con người chưa
biết, cũng như đưa đến một niềm tin rằng sự giúp đỡ, cứu rỗi của các thế lực siêu nhiên
luôn luôn tồn tại trong các giai đoạn khủng hoảng của cuộc đời con người. Thông qua nghi
lễ, tôn giáo có thể được sử dụng để thúc đẩy việc học tập, nghiên cứu các giá trị văn hóa
của cộng đồng. Ngoài ra, tôn giáo còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự gắn kết
các thành viên trong xã hội.
Tất cả các tôn giáo đều cố gắng làm thỏa mãn, đáp ứng được nhu cầu xã hội và nhu cầu
tâm lý của tín đồ. Một số nhu cầu xuất hiện khá phổ biến như đòi hỏi tôn giáo phải đối mặt
và giải thích về cái chết cũng như về cuộc sống sau khi chết. Tôn giáo phải đưa ra lối thoát
cho con người làm sao vượt qua được những khó khăn nơi trần thế và đạt được tính thiêng
liêng, dù chỉ trong giây lát.
Chức năng xã hội của tôn giáo cũng không kém quan trọng so với chức năng tâm lý của
nó. Một tôn giáo truyền thống phải đóng vai trò củng cố các quy tắc, tiêu chuẩn của cộng
đồng, phải đưa ra được những chuẩn mực luân lý đạo đức đối với cách cư xử của mỗi cá
nhân, đồng thời cũng trang bị nền tảng về các giá trị và mục đích chung để cho cộng đồng
xã hội được cân bằng và ổn định.
Vào thế kỷ XIX, truyền thống tri thức ở châu Âu đã đưa ra ý kiến rằng khoa học cuối
cùng cũng sẽ hủy diệt tôn giáo, bằng cách chỉ ra cho mọi người thấy được tính phi lý của
các truyền thuyết và nghi lễ tôn giáo. Thực ra nhiều người vẫn tin rằng các cách lý giải
bằng khoa học sẽ thay thế những cách lý giải của tôn giáo, và những cách lý giải tôn giáo
sẽ bị tàn lụi dần. Nhưng cho tới nay khoa học chẳng những không hủy hoại được tôn giáo
mà dường như lại còn góp phần tạo ra sự bùng nổ thực sự của các tôn giáo, điều đó cho
thấy sự phát triển của tôn giáo trước chủ nghĩa duy lý phương Tây.
Như vậy cho tới nay chức năng chủ yếu của tôn giáo vẫn là giảm sự lo lắng bất an cho
con người, giữ cho họ có niềm tin để có thể đối mặt với thực tại, chính điều đó đã đem lại
sự tồn tại của tôn giáo.
5. Tôn giáo là gì? Hãy trình bày một số hình thái tôn giáo tương đối phổ biến và còn tồn
tại đến hiện nay. Tôn giáo :
Tôn giáo có thể được xem như là niềm tin và các dạng hành vi mà con người sử dụng
để cố gắng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà những khó khăn này không thể lOMoAR cPSD| 61458992
giải quyết bằng kỹ thuật tổ chức và để vượt qua những khó khăn đó, con người hướng đến
các thế lực và các vật thể siêu nhiên.
Một tôn giáo phải có người sáng lập, có giáo thuyết (gồm giáo lí và giáo luật), có tổ
chức Giáo hội, có người hoạt động chuyên nghiệp, có tín đồ, có nơi thờ tự.
Một số hình thái tôn giáo phổ biến và còn tồn tại :
- Tín ngưỡng vạn vật hữu linh (Animism):
Trong những công việc lao động thời nguyên thủy, con người hoàn toàn phụ thuộc vào
tự nhiên, do vậy cuộc sống rất bấp bênh và con người ở giai đoạn này cần phải chờ đợi sự
giúp đỡ của thần linh. Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dẫn đến mối quan hệ giữa
con người với thần linh, biểu hiện thành nghi lễ, tế tự. Ở xã hội nguyên sơ, con người không
thể không có cái nhìn vô thần. Họ tạo ra sản phẩm nên họ cũng hình dung các hiện tượng
tự nhiên như những sản phẩm do một hay những thế lực siêu nhiên tạo ra, ít nhiều mang
dáng dấp người, đó là quan niệm vạn vật hữu linh phổ biến ở mọi tộc người đương thời.
Một trong những đức tín phổ biến nhất về các vật thể siêu nhiên là quan niệm vạn vật
hữu linh, quan niệm này cho rằng tự nhiên đầy sức sống với đủ loại linh hồn. Thực tế thì
thuật ngữ này bao hàm hàng loạt sự biến đổi. Động vật và thực vật đều giống con người,
đều có linh hồn như đá, con suối, ngọn núi, cây cối hay những vật khác trong tự nhiên. Do
người ta quan niệm mọi vật đều có linh hồn nên những vật đó có thể gây tai họa hay đem
lại điều tốt lành cho con người, chính vì vậy mà con người phải thờ và quan tâm đến nó.
Ví dụ cho tới nay người Khmer tại Nam Bộ vẫn còn tín ngưỡng Neak Tà dưới dạng thờ
những hòn đá trng ngôi miếu nhỏ, đó là tín ngưỡng vạn vật hữu linh và cũng là tục thờ đá
cổ xưa của cư dân Đông Nam Á. Hàng trăm người Khmer trong khu vực cư trú của mình
đều tiến hành cúng kiếng long trọng tại miếu Neak Tà để cầu an. Khi thời tiết không thuận
lợi cho nông nghiệp, người Khmer đều tới miếu Neak Tà cúng. Trong nghi thức cúng thể
hiện sắc thái ma thuật và người cúng có khi biến thnahf một shaman.
Thuyết vạn vật hữu linh điển hình cho những người nhìn nhận bản thân các động thực
vật như là một phầ cảu tự nhiên hơn là người chủ của tự nhiên. Điều này tồn tại trong các
dân tộc chuyên đi tìm kiếm lương thực (dân du mục) cũng như những dân tộc tự sản xuất
lương thực, họ luôn chấp nhận sự khác biệt giữa đời sống con người và đời sống của các
vật thể khác trong tự nhiên.
- Totem giáo (Totemism) – Tín ngưỡng vật tổ:
Totem giáo là một trong những hình thức tôn giáo đầu tiên được công nhận trên sách
báo dân tộc học và sách báo nói chung. Totem giáo thường được nhìn dưới góc độ đó là lOMoAR cPSD| 61458992
các nghi lễ chung cố kết cộng đồng xã hội. Thuật ngữ totem chỉ sự phân chia bộ lạc ra
thành các nhóm gắn lền với họ hàng theo dòng cha hoặc mẹ. Mỗi nhóm đều tin vào mối
quan hệ họ hàng thần bí của mình với một loại đối tượng vật chất nào đó là “tôtem” của
nhóm, thường là động vật hoặc thực vật. Mối liên hệ với totem thường thể hiện ở sự cấm
giết totem hoặc cấm dùng totem làm thức ăn, lòng tin rằng nguồn gốc của nhóm là totem,
lễ nghi ma thuật tác động vào totem… Các con vật và các biểu tượng thường chiếm ưu thế
như côn trùng, cây cỏ và những hiện tượng tự nhiên khác như mưa, mây cũng được sử
dụng để đặt tên nhóm. Những vật thể được dùng định dạng nhóm được xem là các totem vật tổ.
Sự khác nhau giữa các vật tổ của nhóm này với nhóm khác là điểm chính để nhận dạng
nhóm hơn là những thuộc tính vốn có của vật tổ.
Người ta vẫn còn nghi ngờ vật tổ là thần linh của các cư dân sơ khai. Dầu sao, tín
ngưỡng vật tổ cho thấy nghi lễ, tập tục và tổ chức cung cấp lương thực thường phối hợp
nhau trong xã hội nguyên thủy.
Người Arunta ở Úc còn giữ một trong số những trường hợp kinh điển về lễ nghi thờ vật
tổ. Đó là những vật thể đá mang tên là churinga được họ xem là những vật thể hữu hình
của linh hồn mỗi con người. Người Arunta tin rằng các churinga là do tổ tiên của họ để lại
khi các người tổ tiên này ra đi để tìm nguồn sống trong những ngày đầu khởi nguyên vũ
trụ. Vùng đất thiêng của mỗi vật tổ được viếng bái mỗi năm một lần trong dịp các nghi lễ
được gọi là Intichiuma với nhiều ý nghĩa và cá chức năng khác nhau.
Các nghi lễ totem xác định lại và hun đúc thêm ý thức đặc trưng lãnh thổ cộng đồng
của nhóm tộc người. Những vật thể đá churinga là “cội rễ” trong một mảnh đất cụ thể. - Mana:
Mana là từ có xuất xứ của cư dân Melanesia.
Trước hết, mana là khía cạnh của niềm tin vào sự huyền bí, niềm tin này cho phép con
người kiểm soát được các thế lực vô hình quanh mình. Vì mana là một lực ẩn, có thể dùng
vào việc có lợi cho con người qua những người có khả năng đặc biệt, những người mà dân
tộc Melanesia tin rằng có thể sử dụng ma thuật tạo mana để cho một đồ vật trở thành linh
nghiệ, hữu ích hoặc đánh đổ được tà thần…
Thứ hai, sự sợ hãi do mana huyền bí khuấy động có liên hệ mật thiết với thần linh –
numinous – (tiếng Latinh numen là linh hồn) và nhận thức về sự hiện hữu của thần linh.
Thứ ba, mana làm gia tăng phong tục và các mối quan hệ xã hội. Mana là quyền năng
siêu phàm không thuộc về con người mà được truyền từ một vật có mana sang một vật lOMoAR cPSD| 61458992
khác không có mana. Hình thức chữa bệnh bằng cách đặt bàn tay lên người bệnh là một ví dụ về việc dùng mana.
- Shaman giáo (Shamanism):
Theo các học giả, shaman để chỉ những người nam hay nữ mà bằng ý chí, họ có thể
“nhập thần” và điều khiển được thần linh, ma quỷ để đạt được mong muốn của họ, đặc biệt
là giúp đỡ người khác, những người chịu đau đớn bởi thần thánh.
Shaman giáo là hình thái tôn giáo thể hiện bằng phép thuật và các shaman là những
người có khả năng tự đưa mình vào trạng thái xuất thần. Ý thức, tinh thần và tâm lý của họ
biến đổi và họ làm nhiệm vụ trung gian giữa con người với “thần linh” để giao tiếp với
“thần linh”, nương vào sức mạnh của “thế giới siêu nhiên” để làm những việc như hành lễ,
chữa bệnh, phù phép, tiên báo hậu vận cho cá nhân hay cho cộng đồng, ban ơn phúc và bảo
hộ cho cá nhân hay cộng đồng.
Một cách phổ biến, một người sẽ trở thành pháp sư sau khi trải qua những giai đoạn có
liên quan đến nhiều truyền thuyết, đến sự hành xác, nhục hình. Nhiều hành vi, hoạt động
của Shaman giáo có thể được xem như những điều khác thường, như việc mặc trang phục
của người khác giới, sự thôi mien, hay nói những ngôn ngữ không thể giải mã được.
Hoạt động của Shaman giáo mang dấu ấn riêng của văn hóa dân tộc, là những sắc thái
văn hóa truyền thống thần bí cổ xưa nhất, có thể giới thiệu được bản sắc văn hóa tộc người.
Trong cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ có hiện tượng “chôi arak”, đó là một dạng
shaman giáo. Tín ngưỡng arak có nội dung khá phức tạp, arak có thể là thần bảo hộ nhà
cửa, phum srock, hoặc arak còn thuộc dạng “tổ tiên” của thời kỳ mẫu hệ xa xưa mà con
cháu mỗi lần cúng tổ phải “chôi arak” để được “tiếp xúc”. Người “chôi arak” (nhập xác)
để chữa bệnh, để “tiếp xúc” với cộng đồng cư dân trong phum srock thường là nam, nhưng
người “chôi arak” để cúng kiếng, “gặp gỡ” tổ tiên đều là nữ, có lẽ đó là tàn dư của dòng họ
chế độ mẫu hệ. Điều này cho thấy trong shaman giáo ở Nam Bộ, yếu tố giới được thể hiện khá rõ nét.
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
Đức tin về linh hồn tổ tiên luôn gắn liền với quan niệm phổ biến rằng con người được
tạo thành từ hai phần, phần thể xác và phần linh hồn. Nơi nào người dân có niềm tin vao
linh hồn tổ tiên tồn tại thì nơi đó các “linh hồn” này được sự quan tâm tích cực và thậm chí
còn được xem với tư cách là một thành viên trong xã hội. Niềm tin vào các linh hồn tổ tiên
đã và đang tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên trong nhiều xã hội ở châu Phi, quan
niệm này phát triển đặc biệt mạnh mẽ. Ở đây, một quan niệm thường gặp là linh hồn tổ tiên lOMoAR cPSD| 61458992
cư xử như người sống. Các linh hồn có thể cảm thấy nóng, lạnh, đau khổ… và người ta cho
rằng các linh hồn tổ tiên đó có thể bị chết lần thứ hai nếu thi thể bị hỏa táng hay bị dìm
xuống nước. Thậm chí người ta quan niệm tuy tổ tiên đã qua đời nhưng vẫn có thể tham
gia vào các công việc của gia đình và dòng họ, có vị trí như những thành viên khác trong
gia đình mặc dù họ là vô hình, đặc biệt, linh hồn tổ tiên có thể tái sinh (đầu thai) thành
những thành viên mới của dòng họ.
Tín ngưỡng thờ tổ tiên càng quan trọng hơn trong xã hội truyền thống Trung Quốc.
Người con trai luôn mang ơn cha mẹ, phải báo hiếu cha mẹ bằng sự vâng lời, tôn trọng và
phụng dưỡng cho cha mẹ có một tuổi già thoải mái. Thậm chí sau khi cha mẹ quá vãng,
anh ta vẫn phải liên lạc với họ qua một thế giới tâm linh, tiếp tục cúng dâng thức ăn, tiền
bạc và hương khói đầy đủ cho họ vào ngày giỗ. Chính vì quan niệm nay mà gia đình Trung
Quốc cần có con trai nối dõi vì điều đó bảo đảm những nhu cầu của tổ tiên sẽ được tiếp tục
chăm lo ngay cả sau khi thế hệ hiện tại đã qua đời. Niềm tin mạnh mẽ vào linh hồn tổ tiên
đặc biệt phù hợp trong các xã hội của những nhóm người dựa trên dòng dõi gia đình theo
hướng liên kết với tổ tiên của họ, trong đó bảo đảm sự nối kết liên tục của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tóm lại, tri thức bản địa về các hình thái tôn giáo sơ khai giúp cho ngành nhân học hiểu
biết về sự tồn tại của các hình thái tôn giáo ấy, nhất là trong xã hội đa văn hóa, đa tôn giáo.
Gạt bỏ khía cạnh “mê tín dị đoan”, các hình thái tôn giáo ấy vẫn còn tồn tại và còn hấp dẫn
con người trong xã hội công nghiệp hiện đại, một xã hội mà khoa học được mệnh danh là đóng vai trò vạn năng.
6. Thế nào là quá trình tộc người? Quá trình này ở Việt Nam diễn ra như thế nào?
Quá trình tộc người :
Cộng đồng tộc người là một hệ thống động và sự thay đổi của chúng tạo nên thực chất
của lịch sử tộc người của nhân loại. Để phát hiện những nét đặc trưng của nó, việc xem xét
sự thay đổi của cộng đồng tộc người hay nói cách khác là quá trình tộc người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Sự thay đổi bất kỳ của một thành tố tộc người này hay tộc người khác được diễn ra
trong quá trình và có thể coi như quá trình tộc người. Bên cạnh việc hiểu theo nghĩa rộng,
theo quan điểm của chúng ta, quá trình tộc người như là hiện tượng trong sự thay đổi cả ý
thức tộc người. Với ý nghĩa thực tiễn, quá trình tộc người ghi nhận chủ yếu như sự thay
đổi những thuộc tính tộc người. Giới hạn trong hai quan điểm chỉ ra trên đối với việc giải
thích quá trình quá trình tộc người, trường hợp thứ nhất phản ánh sự thay đổi mang tính
tiến hóa tộc người, trường hợp thứ hai là quá trình quá độ chuyển sang trạng thái tộc người hoàn toàn mới. lOMoAR cPSD| 61458992
Trong trường hợp thứ nhất, diễn ra sự thay đổi các thành tố riêng mang tính chất tiến
hóa của hệ thống tộc người, nó không dẫn tới sự phá hủy hệ thống nói chung, tộc người
vẫn còn được giữ lại. Quá trình tộc người thuộc loại này gọi là quá trình tiến hóa tộc người.
Quá trình tộc người gắn liền với sự đứt đoạn dần dần với sự quá độ chuyển sang một
tộc người mới có thể gọi là quá trình biến thể tộc người. Nói chung quá trình tộc người
dưới dạng tiến hóa hay biến thể bao gồm tất cả những sự thay đổi đang diễn ra với tộc người.
Trong khoảng thời gian tồn tại của tộc người, mỗi một tộc người trong thực tế thường
diễn ra sự thay đổi mang tính tiến hóa. Tái sản xuất sự thay đổi này đảm bảo cho mối liên
hệ thông tin bên trong tộc người. Trước tiên, vai trò tích cực thuộc về mối liên hệ đồng đại
được thực hiện bởi sự đưa cái mới vào bên trong tộc người và mang tính đại chúng nhất.
Nhưng suy cho cùng vai trò quyết định là mối quan hệ lịch đại vì chỉ có sự chuyển giao cái
mới giữa các thế hệ mới tạo nên tính ổn định tương đối truyền thống mà nó cần thiết để
thực hiện đối với thành tố bất kỳ nào của chức năng tộc người.
Nói chung, tổng hợp những mối liên hệ thông tin trong mỗi thời kỳ tồn tại của tộc người
đã đưa vào những lớp thông tin tộc người mới. Cùng với nó tính bền vững tương đối của
tộc người đang diễn ra sự mất dần những yếu tố nào đó của tộc người… Nhưng khi tộc
người tồn tại thì nó vẫn giữ lại được một bộ phận đáng kể thuộc tính truyền thống của nó,
rất hiếm dưới dạng biến đổi mạnh. Do kết quả này, thông tin văn hóa tộc người trong mỗi
thời điểm thường có nhiều lớp. Nó bao gồm những truyền thống được hình thành cách đây
không lâu, đồng thời có cả những lớp xuất hiện trong thời kỳ hình thành tộc người
Quá trình phân ly tộc người :
Quá trình phân ly tộc người (không cùng nguồn gốc) lại được chia thành hai loại hình
cơ bản: quá trình chia nhỏ và quá trình chia tách. Thuộc loại hình thứ nhất, mỗi tộc người
thống nhất được chia ra làm nhiều bộ phận khác nhau, những bộ phận này trở thành những
tộc người mới trong quá trình phân ly. Trường hợp thứ hai là từ một bộ phận nhỏ tộc người
gốc nào đó được chia tách ra dần dần trở thành một tộc người độc lập. Nếu như trong
trường hợp thứ nhất, tộc người xuất phát ngừng sự tồn tại của mình thì trong trường hợp
thứ hai tộc người gốc vẫn tiếp tục được giữ lại.
Loại hình chia tách tộc người được chia làm hai tiểu loại hình phụ thuộc vào những
nhân tố tạo nên sự phân ly tộc người. Một bộ phận nhỏ tách khỏi tộc người gốc do quá
trình di cư đến một vùng đất mới gọi là quá trình chia tách tộc người di cư. Nếu như nhân
tố cơ bản của quá trình chia tách tộc người là sự phân chia số đông tộc người giữa các quốc
gia thì gọi là sự phân ly tộc người chính trị. lOMoAR cPSD| 61458992
Quá trình phân ly tộc người là đặc điểm vốn có của xã hội nguyên thủy. Dạng cơ bản
của quá trình phân ly này là sự phân chia của các bộ lạc do sự đông lên của các thành viên
và sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên thường diễn ra dưới hình thức chia tách
tộc người. Chính quá trình phân ly này là cơ sở của sự phân cư của con người đến các vùng
khác nhau trên trái đất từ khu vực hình thành người Homo sapiens. Trong các xã hội có
giai cấp, quá trình phân chia tộc người gắn liền với sự di cư số đông là cơ sở cho sự xuất
hiện các tộc người khác nhau. Với sự xuất hiện các quốc gia, biên giới chính trị đóng vai
trò là nhân tố phân ly tộc người.
Ví dụ, trong quá trình chia nhỏ tộc người của người Nga cổ đã hình thành 3 tộc người
thân thuộc Nga, Ucraina, Bêlarút.
Từ cộng đồng người Việt cổ hình thành người Việt, Mường, Chứt ở Việt Nam. Từ cộng
đồng Thái ở Vân Nam, Quý Châu Trung Quốc, các bộ phận của họ trong quá trình di cư
đến Lào, Thái Lan, Việt Nam đã hình thành các tộc người Thái (ở Thái Lan), Lào (ở Lào)
và Thái (ở Việt Nam). Cũng có những tộc người do quá trình di cư đến Việt Nam đã tách
ra hình thành những nhóm địa phương nhưng vẫn coi mình thuộc về tộc gốc. Đó là trường
hợp các nhóm địa phương của người Nùng, Dao, H’mông. Ở người Chăm, quá trình phân
ly tộc người do sự khác biệt về tôn giáo của các nhóm cư dân: nhóm Chăm theo Hồi giáo
ở thành phố Hồ Chí Minh và nhóm Chăm theo Bà La Môn giáo ở Bình Thuận, Ninh Thuận.
Người Stiêng ở tỉnh Bình Phước bị tách khỏi khối người Stiêng ở bên kia biên giới
Campuchia do sự phân chia ranh giới chính trị giữa hai nước.
Hiện nay trên thế giới, do sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc, sự khác biệt tôn giáo vẫn
thấy tình trạng có những dân tộc tuy cùng chung một nguồn gốc lịch sử những lại muốn
tách ra để hình thành các quốc gia và dân tộc riêng biệt.
Quá trình hợp nhất tộc người :
Xu hướng hợp nhất tộc người đặc trưng và chiếm ưu thế cho các thời kỳ lịch sử từ khi
chế độ công xã nguyên thủy tan rã cho tới hiện nay. Quá trình này phản ánh xu thế tiến bộ
mang tính quy luật lịch sử nói chung dẫn tới sự củng cố các tộc người.
Xu hướng hợp nhất tộc người được chia làm ba loại hình riêng: quá trình cố kết hay kết
hợp (consoliation), quá trình đồng hóa (assimilation) và quá trình hòa hợp (integration).
- Quá trình cố kết tộc người:
Quá trình cố kết tộc người được chia làm hai loại: cố kết trong nội bộ từng tộc người
và cố kết giữa các tộc người gần gũi nhau về mặt ngôn ngữ và văn háo để dẫn đến hình
thành một cộng đồng tộc người lớn hơn. lOMoAR cPSD| 61458992
Cố kết trong nội bộ tộc người là sự tăng cường kết gắn chặt chẽ một tộc người bằng
cách gạt bỏ dần sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm địa phương, củng cố ý
thức tự giác tộc người nói chung.
Ở Việt Nam, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc, các dân tộc ít người cư trú phân tán,
xen kẽ giữa các dân tộc. Chính sách dân tộc chia để trị của thực dân Pháp đã ngăn cản quá
trình cố kết nội bộ tộc người giữa các nhóm địa phương. Sau ngày miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng 1954, đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của các dân tộc ngày càng được
hoàn thiện, các nhóm địa phương phân tán, xé lẻ trước đây đã có ý thức cố kết nhau lại như
trường hợp người Dao, Nùng, Thái và các dân tộc khác. Cũng như vậy, các dân tộc bản địa
ở Trường Sơn và Tây Nguyên sau ngày giải phóng 1975, sự giao lưu tiếp xúc về kinh tế
văn hóa ngày càng được tăng cường, ý thức thống nhất tộc người được củng cố và phát triển.
Cùng với quá trình cố kết trong nội bộ tộc người là quá trình cố kết giữa các tộc người
vốn có chung nguồn gốc từ cộng đồng ngôn ngữ văn hóa trong quá khứ. Sự phát triển của
các quá trình cố kết giữa các tộc người trong nhiều trường hợp là sự phủ định biện chứng
quá trình phân ly tộc người trước đây.
Quá trình cố kết giữa các tộc người thể hiện ở người Tày và người Nùng cư trú xen kẽ
ở vùng núi Việt Bắc. Tày, Nùng được coi là hai dân tộc có cùng nguồn gốc gần gũi nhau
về mặt ngôn ngữ và văn hóa. Ngày nay, khuynh hướng xích lại gần nhau, hòa vào nhau
giữa hai dân tộc biểu hiện tương đối rõ nét. Ở vùng Thạch An, Hòa An, Quảng Hòa (Cao
Bằng), Tràng Định, Văn Lãng, Bình Gia, Lộc Bình (Lạng Sơn), ranh giới giữa các nhóm
Tày, Nùng đã rất mờ nhạt, mờ nhạt hơn so với ranh giới giữa các nhóm trong dân tộc
Nùng ở nơi khác. Văn hóa Tày Nùng của vùng này là sự tổng hợp của những yếu tố cả Tày
lẫn Nùng. Tiếng nói của vùng này khác chút ít so với các nhóm Tày hay Nùng nào ở các
địa phương khác và dường như nó là chung cho cả Tày lẫn Nùng. Trong điều kiện giao lưu
tiếp xúc kinh tế - văn hóa ngày càng đẩy mạng giữa hai dân tộc, quá trình cố kết giữa các
tộc người ngày càng đẩy mạnh những khác biệt địa phương dần dần bị xóa bỏ để dẫn đến
hình thành một tộc người thống nhất trong tương lai.
- Quá trình đồng hóa tộc người:
Quá trình đồng hóa tộc người là quá trình hòa tan (mất đi) của một dân tộc hoặc một
bộ phận của nó vào môi trường của một dân tộc khác. Nói cách khác, đồng hóa là quá
trình mất đi hoàn toàn hay gần hết thuộc tính của tộc người (nhóm) xuất phát vào một dân tộc khác.
Khác với quá trình cố kết, quá trình đồng hóa tộc người thường diễn ra ở các tộc người
khác nhau về nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa. Quá trình đồng hóa thường xảy ra ở các lOMoAR cPSD| 61458992
dân tộc nhỏ, hoặc những nhóm nhỏ của các tộc người có trình độ phát triển kinh tế xã hội
thấp hơn bị đồng hóa bởi tộc người đông hơn, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn.
Quá trình đồng hóa thường diễn ra: lúc đầu họ tiếp thu một số yếu tố ngôn ngữ, văn hóa
của dân tộc khác, sau là đồng hóa văn hóa. Về mặt ngôn ngữ, lúc đầu họ duy trì tình trạng
song ngữ sau chuyển sang ngôn ngữ của tộc người khác mà họ chịu ảnh hưởng. Về mặt ý
thức tự giác, tên gọi dân tộc dần dần mất đi để chuyển sang tên gọi mới của dân tộc chịu ảnh hưởng.
Trong quá trình đồng hóa dân tộc có đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức.
Đồng hóa tự nhiên là quá trình giao lưu tiếp xúc thường xuyên của một bộ phận hay
của cả tộc người bên cạnh thường là có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn, có dân
số đông hơn. Quá trình giao lưu tiếp xúc lâu dài về mặt ngôn ngữ và văn hóa từ thế hệ này
sang thế hệ khác cũng như những cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa các dân tộc đã đóng vai trò
quan trọng trong quá trình này. Họ có nguyện vọng được trở thành thành viên của dân tộc
lớn hơn mà họ chịu ảnh hưởng.
Khái niệm đồng hóa không nên chỉ hiểu theo nghĩa xấu thể hiện sự thôn tính lẫn nhau.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không những không phản đối mà còn cho
đồng hóa là một sự tiến bộ xã hội của các quan hệ của các dân tộc. Bởi vì đồng hóa là sự
xóa mờ những khác biệt giữa các dân tộc quá độ từ dân tộc này sang dân tộc kia, phát triển lên một bước cao hơn.
Đồng hóa cưỡng bức là quá trình đồng hóa mà chính sách của nhà nước đa dân tộc đóng
một vai trò cực kì quan trọng. Bằng những biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khi
công khai, khi tinh vi nhằm thúc đẩy quá trình đồng hóa bằng cách ngăn cản sự duy trì,
phát triển ngôn ngữ, chữ viết, văn hóa, phong tục tập quán của những dân tộc thiểu số.
Trong quá trình đồng hóa dân tộc, trước đây người ta còn dùng thuật ngữ diệt chủng để
nói về sự biến mất khỏi vũ đài lịch sử của một dân tộc nào đó, còn sự tiêu diệt văn hóa của
một dân tộc người ta dùng thuật ngữ ethnocisme.
Chính sách đồng hóa này thường được bọn thực dân thực hiện đối với các thổ dân châu
Úc, châu Đại Dương và châu Mỹ gây nên những nạn diệt chủng, những cuộc thảm sát đẫm
máu tiêu diệt các tộc người ở đây. Hơn 90% người da màu ở châu Mỹ, 80% thổ dân Úc đã bị tiêu diệt.
Ở nước ta, nhất là ở miền rừng núi và trung du, nơi cư trú xen ghép của nhiều dân tộc
có sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế, xã hội và số lượng cư dân lOMoAR cPSD| 61458992
đã diễn ra quá trình đồng hóa tự nhiên. Ở Tây Bắc, các dân tộc thuộc nhóm Môn – Khmer
như Khơ Mú, Kháng, Mãng, Xinh Mun chung sống lâu đời với người Thái đã tiếp thu nhiều
yếu tố văn hóa Thái như canh tác lúa nước, nhà ở, trang phục và ngôn ngữ. Xét về nguồn
gốc tộc người của nhiều nhóm địa phương của người Thái, ta thấy tuy hiện nay họ khai là
Thái, nhưng gốc gác của họ là La Ha, Kháng. Những nhóm ấy tự nhận là Thái và được người Thái công nhận.
Quá trình đồng hóa tự nhiên cũng diễn ra ở Việt Bắc, các dân tộc nhỏ đã chịu ảnh hưởng
ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc lớn bên cạnh như Tày, Nùng, H’mông, Dao… và một
bộ phận nhỏ của họ đã trở thành người khác tộc. Ví dụ như người Pu Péo ở Hà Giang được
sử sách ghi chép từ lâu và có số dân khá đông nay không vượt quá 300 người. Người Bố Y
cũng nằm trong trường hợp ấy. Đầu thế kỷ XX dân số của họ hơn 2000 người nay chỉ còn
245 người. Điều này chứng tỏ họ đã hòa vào các dân tộc láng giềng và hiện nay số người
còn lại đang hòa vào người Nùng.
Một nhóm người La Chí ở xã Bản Déo với hơn 1200 người đã quên tiếng mẹ đẻ, sống
theo phong tục tập quán như người Tày. Một số người dân tộc khác gọi họ là La Chí Tày.
Ở Lào Cai, người Phù Lá có nhiều nhóm. Nhóm Phù Lá ở A Mú Xung thì hòa vào Giấy,
nhóm Phù Lá ở Bắc Hà thì hòa vào Hoa.
- Quá trình hòa hợp giữa các tộc người:
Quá trình hòa hợp giữa tộc người thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ
văn hóa, nhưng do kết quả của các quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch
sử đã xuất hiện những yếu tố văn hóa chung bên cạnh đó vẫn giữ lại những đặc trưng văn
hóa của tộc người. Quá trình này thường diễn ra ở các khu vực lịch sử - văn hóa hay trong
phạm vi của một quốc gia đa dân tộc. Đây cũng là biểu hiện của quá trình xích lại và hợp
nhất các dân tộc mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nêu lên.
Quá trình hòa hợp tộc người là xu thế lịch sử do sự giao lưu tiếp xúc kinh tế, văn hóa –
xã hội ngày càng đẩy mạnh ở các vùng, các quốc gia và cả khu vực. Đây cũng là sự phủ
định biện chứng quá trình phân ly tộc người để tạo nên tính thống nhất chung.
Ở Việt Nam quá trình hòa hợp giữa các tộc người diễn ra theo hai khuynh hướng: 1 –
sự hòa hợp các tộc người diễn ra trong phạm vi của một vùng lịch sử - văn hóa; 2 – sự hòa
hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi cả nước.
Sự hòa hợp giữa các tộc người thường diễn ra trong các vùng lịch sử - văn hóa. Do cùng
chung sống lâu dài trong một vùng địa lý giữa các dân tộc đã diễn ra quá trình giao lưu tiếp
xúc văn hóa dẫn tới hình thành những đặc điểm văn hóa chung của cả vùng bên cạnh những lOMoAR cPSD| 61458992
đặc trưng văn hóa của từng tộc người. Những đặc điểm văn hóa đó thể hiện qua phương
thức mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và ý thức cộng đồng khu vực. Quá trình
hòa hợp giữa các tộc người có thể nhận thấy ở các vùng như: miền núi Việt Bắc và Đông
Bắc, miền núi Tây Bắc và Thanh – Nghệ, Trường Sơn – Tây Nguyên, Nam Bộ…
Bên cạnh khuynh hướng trên, ở Việt Nam đã diễn ra xu hướng hòa hợp giữa các dân
tộc trong một quốc gia Việt Nam thống nhất.
Sự tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước của các dân tộc ở nước ta là cơ sở
nền tảng cho sự hòa hợp giữa các dân tộc tạo nên tính thống nhất của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Ngày nay chúng ta quan niệm dân tộc Việt Nam có nhiều thành phần tộc
người trong quốc gia đa dân tộc cũng là hiểu theo nghĩa đó. “Nước Việt Nam là một, dân
tộc Việt Nam là một”, câu nói của Hồ Chủ tịch cũng nói lên điều đó. Các dân tộc ở Việt
Nam mặc dù có sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa, nhưng do quá
trình chung sống laai dài, giữa các dân tộc Việt Nam đã diễn ra quá trình giao lưu, tiếp xúc
văn hóa tạo nên một nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng.
Lòng yêu nước là cơ sở của ý thức và tư tưởng về Tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam.
Là người Việt Nam ai cũng tự hào về truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc trong quá
trình dựng và giữ nước. Ý thức đó ngày càng củng cố và phát triển khi Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời và lãnh đạo dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây
dựng đất nước. Đảng ta đã đề ra đường lối chính sách cơ bản trong việc giải quyết vấn đề
dân tộc là đoàn kết, bình đẳng và tương trợ đã củng cố và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xích
lại gần nhau giữa các dân tộc.
Trong quá trình xây dựng đất nước tiếng Việt đã trở thành tiếng phổ thông được dùng
làm công cụ để giao lưu tiếp xúc giữa các dân tộc, là ngôn ngữ được sử dụng trong hệ thống
giáo dục quốc dân, hành chính, luật pháp, trong sáng tác văn học, nghệ thuật và được sử
dụng rộng rãi trong các phương tiện thông tin đại chúng. Nhờ có ngôn ngữ chung đó đã tạo
nên tính thống nhất, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng bao gồm tất cả tinh hoa văn
hóa của các dân tộc kết hợp lại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Hiện nay những tinh hoa văn hóa của các dân tộc đã trở thành tài sản chung của văn
hóa Việt Nam. Một mái nhà rông, một ngôi chùa, đình làng, trang phục các dân tộc, các
món ăn cho đến lễ hội, các loại hình nghệ thuật được trình diễn hay được ghi chép trên
sách vở là của người Việt Nam, bản sắc văn hóa riêng của các dân tộc không những bị mất
đi mà vẫn giữ được bảo tồn phát triển tạo nên sự muôn sắc, ngàn hương. lOMoAR cPSD| 61458992
7. Thế nào là quá trình hòa hợp giữa các tộc người? Quá trình này ở Việt Nam diễn
ranhư thế nào? (Một phần của câu 6)
8. Chủng tộc là gì? Anh (chị) hãy trình bày đặc điểm nhân chủng của các đại chủng. Chủng tộc :
“Chủng tộc là một quần thể (hoặc tập hợp các quần thể) đặc trưng bởi những đặc điểm
di truyền về hình thái, sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình thành của chúng liên quan
đến một vùng địa vực nhất định.”
Đặc điểm nhân chủng của các đại chủng :
- Các đặc điểm chủng tộc về mặt phân loại có thể chia làm 3 loại:
+ Loại các đặc điểm mô tả: màu da, màu mứt, màu và kiểu tóc, các hình dạng của mặt, mũi, môi, đầu…
+ Loại đặc điểm đo đạc như kích thước của đầu, mặt, chiều cao và số đo các đoạn trong thân thể.
+ Các đặc điểm hóa sinh: nhóm máu, nhóm huyết sắc tố.
- Người ta chia con người trên thế giới ra làm 4 đại chủng chủ yếu có các đặc điểm nhân chủng riêng biệt:
+ Đặc điểm nhân chủng của đại chủng Ôxtralôit hay thổ dân da đen châu Úc: Da
rất sẫm màu (đen hoặc nâu đen), mắt đen; tóc đen uốn làn sóng; lông trên người rậm rạp,
đặc biệt là râu phát triển mạnh; mặt ngắn và hẹp; mũi rộng, lỗ mũi to, sống mũi gầy; môi
dày, môi trên vẩu; đầu thuộc loại đầu dài hay rất dài; chiều cao trung bình khoảng 150cm.
+ Đặc điểm nhân chủng của đại chủng Nêgrôit hay người da đen châu Phi: Gọi là
Nêgrôit vì màu da của đại chủng này đen sẫm. Chữ Nêgrôit có nguồn gốc từ chữ Latinh
niger nghĩa là đen. Đặc điểm hình thái điển hình của đại chủng Negroid là: da đen, tóc xoăn
tít, lông trên thân rất ít, trán đứng, gờ trên ổ mắt ít phát triển, cánh mũi rất rộng làm cho
mũi bè ngang, sống mũi không gẫy, môi rất dày nhưng hẹp. Ở một số loại hình mông rất
phát triển. Về đặc điểm huyết học thì các nhóm máu A1, A2 và R có với tần số cao.
+ Đặc điểm nhân chủng của đại chủng Ơrôpôit hay người da trắng châu Âu: Gọi
là đại chủng Ơrôpôit vì đại chủng này sống tập trung ở châu Âu. Từ Ơrôpôit có nguồn gốc
từ tiếng Latinh nghĩa là châu Âu. Đặc điểm hình thái chủ yếu là: da thay đổi từ màu sáng