lOMoARcPSD| 23136115
- Triết học gì? Triết học hệ thống quan điểm chung nhất của con người về
thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó; là khoa học về những quy luật
vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên,hội và tư duy. - Nguồn gốc triết
học:
+ Nguồn gốc nhận thức
+ Nguồn gốc xã hội
Câu 1: Đối tượng của triết học là gì?
- Đối tượng của triết học các quan hệ phổ biến các quy luật chung nhất của
toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Ví dụ: Đối tượng nghiên cứu của triết học: triết học nghiên cứu về mối quan hệ
giữa vật chất ý thức, gữa sự tồn tại hội ý thức hội, nghiên cứu các
quy luật chung nhất về sự vật động, sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Câu 2: Tại sao đối tượng nghiên cứu của triết học thay đổi qua các thời kỳ lịch sử?
Tồn tại hội thay đổi -> ý thức hội thay đổi -> đối ợng nghiên cứu thay
đổi
Tồn tại hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt
vật chất của xã hội, bao gồm môi trường tự nhiên, dân số và phương thức
sản xuất.
Ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy
sinh từ tồn tại hội và phản ánh tồn tại hội trong những giai đoạn phát
triển nhất định.
- Đối tượng nghiên cứu của triết học có sự thay đổi trong chu trình lịch sử
Thời kì lịch sử
Điều kiện kinh
tế
Điều kiện xã hội
Đối tượng triết
học
Đặc điểm
lOMoARcPSD| 23136115
Hy Lạp cổ đại
Sự phát triển
kinh tế: Nông
nghiệp, thủ công
nghiệp, thương
nghiệp
Chế độ chiếm
hữu nô lệ; Mâu
thuẫn giai cấp
(chủ nô><
lệ)
Tri thức thuộc
khoa học tự
nhiên
Bao hàm trong
tri thức của
tất cả lĩnh vực
tuy nhiên chưa
sự phân chia
ngành sâu sắc
Trung cổ
nền kinh tế tự
nhiên, tự cung
Chế độ chiếm
hữu nô lệ tan
Niềm tin tôn
giáo
Mang tính tôn
giáo, chứng
tự cấp
chế độ
phong kiến ra
đời;
Sự phát triển bao
trùm của giáo
hội
minh sự đúng
đắn của Kinh
thánh
Phục hưng, cận
đại
Xuất hiện những
yếu tố của
phương thức sản
xuất
TBCN
Chế độ phong
kiến tan rã; Giai
cấp tư sản ra đời
Các môn khoa
học như: cơ học,
toán học, vật
học,…..
Chống lại thần
học, xem con
người vấn đề
trung tâm của
triết học
Cổ điển Đức
Phản ánh lợi ích
địa vị của
giai cấp sản
Đức
Hiện đại
Sự phát triển
mạnh mẽ của
phương thức sản
xuất bản chủ
nghĩa
Mâu thuẫn giai
cấp gay gắt (tư
sản >< vô sản)
quy luật chung
nhất của tự
nhiên, hội
tư duy
Nghiên cứu
những quy luật
chung nhất của
sự vận động,
phát triển của tự
nhiên, hội
tư duy
lOMoARcPSD| 23136115
Cùng với quá trình phát triển của kinh tế, xã hội cùng sự thay đổi nhận thức, tri
thức con người của cả bản thân triết học, nội dung của đối tượng triết học thay
đổi trong các trường phái triết học khác nhau.
NHÓM 4
Đối tượng nghiên cứu của triết học? Tại sao đối tượng nghiên cứu của triết học lại
thay đổi qua các thời kì lịch sử?
A. Đối tượng nghiên cứu của triết học
- Từ khi ra đời cho đến nay, đối tượng nghiên cứu của Triết học thay đổi theo từng giai
đoạn lịch sử, từng thời kỳ
- các quan hệ phổ biến quy luật chung nhất của toàn bộ tự nhiên, hội
duy. Trong đó trung tâm nhất mối quan hệ giữa duy tồn tại giữa ý thức con
người với thế giới sự vật hiện tượng bên ngoài.
- Những vấn đề trung tâm này biểu hiện khác nhau những nền văn hóa giai đoạn
phát triển khác nhau.
+ Thời kỳ Hy Lạp cổ đại: là tất cả những tri thức mà con người có được trước hết
là các tri thức thuộc khoa học tự nhiên [Triết học tự nhiên]
+ Tây Âu thời trung cổ: Đối tượng chỉ tập trung vào những nội dung nặng về biện
(triết học kinh viện)
+ Thế kỉ XV-XVIII : sự đấu tranh giữa triết học tự nhiên và triết học thần học
+Thế ki XIX: tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất
và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy
- Nguyên nhân do: sự thay đổi của hội qua nhiều nguyên do cụ thể như điều kiện
kinh tế hay tôn giáo, n ngưỡng được sinh ra… Dẫn đến việc ý thức hội thay đổi và
đối tượng nghiên cứu từ đấy cũng thay đổi theo.
B. Tại sao đối tượng nghiên cứu của triết học lại thay đổi qua các thời kì lịch sử?
Do triết học là 1 hình thái ý thức xã hội nên sẽ phản ánh sự tồn tại của xã hội, vì vậy
khi những vấn đề tồn tại hội như: đời sống vật chất, điều kiện vật chất, phương
thức sản xuất thay đổi dẫn đến ý thức thay đổi đối tượng nghiên cứu cũng thay
đổi.
I. THỜI KÌ HY LẠP CỔ ĐẠI
lOMoARcPSD| 23136115
- Điều kiện hội: Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển
biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của hội có giai cấp đầu tiên
trong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ, xã hội phân chia thành hai giai cấp đối lập là ch
nô và nô lệ. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp chủ nô và nô lệ, giữa quý tộc công thương và
quý tộc ruộng đất trong nội bộ giai cấp chủ nô,... điều kiện hội ảnh ởng đến sự
phát triển của các khuynh hướng triết học.
- Điều kiện kinh tế: Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa đã tạo điều kiện cho Hy Lạp
nhanh chóng phát triển tất cả các lĩnh vực, mrộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị
văn hoá. vậy, nơi đây đã hội tđầy đủ những điều kiện để duy con người dịp
bay bổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa cùng quan trọng
trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Xứng đáng là chiếc nôi của nền văn minh châu Âu
và của cả nhân loại, sự phát triển đó thúc đẩy sự ra đời, phát triển của khoa học và triết
học.
- Khoa học: ới con mắt của các nhà Hi lạp cổ đại, triết học ra đời từ nhu cầu hiểu
biết của con người. Quan niệm này thế hiện dưới hình thức ngây thơ, phù hợp với
nhận thức của người thời cổ, nhưng đề cập tới một khía cạnh rất sâu sắc về sở
nhận thức luận của việc hình thành triết học Hy Lạp cổ đại. Chính sự xuất hiện các tri
thức sơ khai như việc phát minh một năm12 tháng, ba trăm sáu lăm ngày của Talet,
hình học của Ơ--lit,... đã tạo thúc đẩy sự hình thành triết học. Những khám phá khoa
học đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ quan và nhân sinh quan của các tôn giáo
và thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lí giải mới về thế giới xung quanh và cuộc
sống của mình.
=> Triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất của nhận thức nhân loại
từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức sản xuất thứ hai ở phương Tây vì vậy
đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề bản của thế giới quan một hệ thống tập
hợp các tri thức về tự nhiên, về con người, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai
mộc mạc nhưng cũng cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ… Nếu như triết học
phương Đông dành nhiều sự quan tâm hơn cho những vấn đề về con người hội,
còn triết học phương Tây quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề về giới tự nhiên.
II. TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ
Triết học mang tính tôn giáo, hay còn được gọi là “Triết học kinh viện”
- Những điều kiện về kinh tế, hội và văn hóa có sự thay đổi, ảnh hưởng đến đối tượng
nghiên cứu của Triết học thời kì này là:
+ Điều kiện xã hội: Xã hội Tây Âu thế kỷ II đến thế kỷ V là xã hội đánh dấu sự tan rã của
chế độ chiếm hữu nô lệ sự ra đời của chế độ phong kiến. Vào thế kỷ thứ V, những cuộc
lOMoARcPSD| 23136115
nổi dậy của nô lệ bên trong cùng với sự tiến công của những bộ tộc bên ngoài đã dẫn đến
sự sụp đổ của đế quốc La Mã (đã tồn tại từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ V).
Sự kiện đó dẫn đến kết quả chấm dứt hình thái xã hội chiếm hữu lệ và chế đphong
kiến tây Âu ra đời. Trong hội đó, nền kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp thống trị. Sự
hình thành số công xã, thái ấp phong kiến thời kỳ này đã tạo nên chế độ phong kiến,
phân quyền. Xã hội có hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân. Quyền chiếm hữu tư
liệu sản xuất, tổ chức sản xuất phân phối sản phẩm thuộc về giai cấp địa chủ, Mâu
thuẫn cơ bản giữa giai cấp địa chủ và nông dân hết sức sâu sắc, cuộc đấu tranh giữa hai
giai cấp này ngày càng diễn ra gay gắt. Do hoàn cảnh kinh tế – hội như vậy, tầng lớp
nghèo khổ của xã hội chiếm đa số đã phải cầu đến đấng thiêng liêng che chở, họ theo
đạo, đọc kinh vào nhà tu nương tựa: Tôn giáo, đặc biệt đạo đốc phát triển
mạnh. Tu viện mở nhiều quyển vcủa Giáo hoàng rất lớn. thể nói tín điều nhà
thờ điểm xuất phát của mọi duy; thế giới quan tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến
triết học, luật học và chính trị
+ Điều kiện kinh tế: Từ thế kỷ XII đến thế kXV, nền kinh tế nông nghiệp, thcông
nghiệp, thương mại Tây Âu có bước phát triển mới, dân số tăng, khiến đô thị tăng về số
lượng lẫn quy mô. Thợ thủ công quy tụ về các đô thị, thành lập nên các hiệp hội, phường
hội và hội nghề nghiệp. Các hội này đã điều hành các hoạt động kinh tế, các hoạt động
xã hội, tôn giáo.
+ Điều kiện văn hóa: trường học đã phát triển mạnh cả đô thị và làng quê, các trường đại
học ra đời (Paris, Bologna, Oxford). Bằng nhiều cách khác nhau, học vấn cổ điển như
triết học, pháp luật, khoa học đã được khôi phục. Tiếng Latinh được dùng làm ngôn ngữ
chính trong các trường học. Nghệ thuật kiến trúc Roman và Gothic phát triển…
=>Chính sự phát triển kinh tế văn hóa thời kỳ này đã làm cho chế độ phong kiến
cát cứ phân quyền bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn vốn có của nó. Lực lượng chính để xóa
bỏ chế độ phong kiến cát cứ phân quyền sự liên minh giữa nhà vua tầng lớp thị
dân. Chế độ phong kiến tập quyền xuất hiện. Hệ tưởng của chế độ này vẫn hệ
tưởng Thiên Chúa giáo, Sự thống trị của uy quyền phong kiến thần quyền của giáo
hội đã cản trở sự phát triển của khoa học, kỹ thuật.
=>Các điều kiện kinh tế xã hội văn hóa trên đã quy định nội dung tính chất triết học trung
cổ. Nét đặc thù của triết học Tây Âu trung cổ triết học kinh viện xu hướng “hướng
ngoại”, có nhiệm vụ chính là “đầy tớ của thần họ”.
III. THỜI KÌ PHỤC HƯNG (thế kỷ XV và XVI)
+ sở kinh tế : Giai đoạn phục hưng với schuyển biến kinh tế bắt đầu hình thành
phương thức sản xuất bản chủ nghĩa, nhiều công cụ lao động được cải tiến, tạo điều
kiện cho sản xuất lớn tư bản hình thành dẫn tới nền kinh tế hàng hoá phát triển.
lOMoARcPSD| 23136115
+ Cơ sở xã hội: với sự thay đổi kinh tế sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ, mâu thuẫn giữa
tầng lớp tư sản với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng phát triển.
Cùng với đó những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của
khoa học thực nghiệm thế kỷ XV – XVI đã thúc đẩy cuộc đấu tranh giữa khoa học, triết
học duy vật với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
=> Vấn đề đối tượng của triết học bắt đầu được đặt ra. (xóa bỏ thần học, mà tạo cơ sở tri
thức, đưa tới khởi nguồn cho nền triết học mới trong đó chủ nghĩa nhân văn tiêu biểu
cho tư tưởng phục hưng).
IV. THỜI CẬN ĐẠI
- Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát
triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới
đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp,
Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt
(Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…
- Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất
thống trị, đã đặt ra những yêu cầu mới cho khoa học kỹ thuật phát triển. Đấy
thời kỳ khoa học tự nhiên bắt đầu phân ngành mạnh, hình thành các bộ môn độc lập như
toán học, vật lý học, hóa học, sinh vật học…
=> Triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề con người và giải phóng con người. cận đại,
sự phát triển to lớn của sản xuất khoa học đã chứng minh sức mạnh đại của con
người. Vấn đề đối tượng của triết học bắt đầu được đặt ra. ( xóa bỏ thần học, tạo cơ
sở tri thức).
V. THỜI KÌ CỔ ĐIỂN ĐỨC
- Điều kiện kinh tế, hội: Đức vẫn còn 1 nước phong kiến. Đây thời nở rộ nhiều
nhân tài, 1 thời đầy tự hào trong lịch sử n học, ởng của Đức. Từ đó triết học
cổ điển Đức đã ra đời.
VI. TRIẾT HỌC MÁC
- Điều kiện KT: Vượt qua thời kỳ phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt của nó so với các chế
độ hội khác trong lịch sử. Nước Anh và nước Pháp đã trở thành những quốc
lOMoARcPSD| 23136115
gia bản hùng mạnh, làm động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa bản châu
Âu. Có thnối, châu Âu, đặc biệt là Tây Âu, đã trở thành trung tâm của sự phát
triển lực lượng sản xuấtbản chủ nghĩa, làm cơ sở cho sự phát triển về mọi mặt
trong đời sống xã hội.
- Điều kiện XH: Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo
ra trong lòng một lực lượng đối lập là giai cấp sản hiện đại. Giai cấp sản
công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập ngày càng gay gắt với giai cấp
sản. Trong giai đoạn lịch sử này, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đã
phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng lớn. Cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn
đến một yêu cầu mới, yêu cầu phải có một luận khoa học dẫn đường, để đưa
giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu tranh tự giác vì lợi ích của giai
cấp mình. Chính từ nhu cầu tất yếu đó, một triết học mới ra đời, triết học Mác.
=>Đoạn tuyệt triệt để những ý niệm “khoa học của những khoa học”. Đối tượng nghiên
cứu của triết học Mác chính là liên tục xử lý những mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
trên lập trường duy vật triệt. Từ đó hoàn toàn thể nghiên cứu ra những quy luật chung
nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Nhóm 1: Từ định nghĩa vật chất của Lênin, hãy chỉ ra hạn chế trong quan niệm của chủ
nghĩa duy vật trước C.Mác về vật chất ?
1. Định nghĩa vật chất của Lê nin
- Theo nin, "Vật chất phạm trì triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
- Theo đó, định nghĩa vật chất của V.I.Leenin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô cùng, vô tận,
không sinh ra, không mất đi.
Vật chất là thực tại khách quan cái tồn tại hiện thực bên ngoài, không phụ thuộc
vào ý thức (thuộc tính khách quan).
Vật chất là cái gây n cảm giác con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động
lên các giác quan của con người (thuộc tính phản ánh).
Vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó (vật chất có trước,
ý thức có sau).
=> V.1. Lênin định nghĩa bằng phương pháp đặc biệt: đối lập vật chất với ý thức
lOMoARcPSD| 23136115
2. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác và hạn chế
a. Thời cổ đại – chủ nghĩa duy vật chất phác
- Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đồng nhất vật chất
nói chung với một hay nhiều dạng vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới
bên ngoài
- Những quan niệm chất phác về vật chất, quy vật chất về một hay một vài dạng cụ thể
của nó và xem chúng là khởi nguyên của thế giới. VD:
Thuyết Ngũ hành - TQ 5 yếu tố vật chất khởi nguyên: kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ có quan hệ tương sinh tương khắc làm cho vạn vật luôn trong quá trình
sinh – diệt.
Tứ đại - Ấn Độ cho rằng vật chất là 4 yếu tố đất, nước, lửa, gió
Đỉnh cao của tưởng duy vật cổ đại về vật thuyết nguyên tử của
Lơxíp và Đêmôcrít: cho rằng vật chất là nguyên tử
Talét cho rằng bản nguyên của thế giới nước, mọi cái trên thế gian đều
sinh ra từ nước và khi bị phân hủy lại biến thành nước….
Do sự hiểu biết thế giới xung quanh chưa được rộng rãi, Chủ nghĩa duy
vật cổ đại đã Đồng nhất vật chất với vật thể, với những dạng cụ thể của
nó, tức là những vật chất thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới
bên ngoài. Vậy nên, những quan niệm mà các nhà tư tưởng đưa ra còn
mang tính trực quan, thô sơ, mộc mạc, tự phát và phỏng đoán.
b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỉ XV – XVIII
- Thế kỉ XVII XVIII, KHTN- thực nghiệm châu Âu ra đời phát triển, đặc biệt
cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực rỡ.
- Chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy
siêu hình cơ học cổ điển.
- Đặc biệt, những thành công kỳ diệu của Niutơn trong vật lý học cổ điển và việc khoa
học vật thực nghiệm chứng minh được stồn tại thực sự của nguyên tử, càng
khẳng định lập trường duy vật
Hạn chế lí luận siêu hình, máy móc, các nhà tưởng đã đồng nhất vật
chất với một dạng tồn tại cụ thể (nguyên tử) hoặc một thuộc tính cụ thể
(khối ợng) của vật chất, họ coi những định luật học như những
chân không thể thêm bớt giải thích mọi hiện tượng của thế giới
theo những chuẩn mực thuần túy học. (đồng nhất VC với KL ; coi
vận động vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học, nguồn gốc vận
lOMoARcPSD| 23136115
động nằm ngoài vật chất; vẫn coi nguyên tử phần nhỏ nhất, không
thể phân chia được…
Như vậy, quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác thể
hiện: + Ưu điểm: Đều coi vật chất là bản nguyên của thế giới. Đã xuất
phát từ chính bản thân vật chất để giải thích về thế giới. Điều này có ý
nghĩa rất lớn trong cuộc đấu tranh chống lại quan điểm duy tâm, tôn
giáo. + Nhược điểm: Đồng nhất vật chất với một dạng nào đó của nó,
quy sự phong phú của thế giới vật chất về một dạng cụ thể.
Như vậy, các nhà triết học duy vật trước Mác đã có những đóng góp
quan trọng đối với lịch sử phát triển của triết học duy vật vẫn còn
nhiều hạn chế. Chỉ đến khi triết học Mác xuất hiện thì phạm trù vật
chất mới được giải quyết một cách khoa học. ( Định nghĩa vật chất của
Lênin đã bác bỏ quan điểm duy m về phạm trù vật chất với sự phát
hiện vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức;
khắc phục tính chất siêu hình, máy móc; bác bỏ quan điểm của CNDV
tầm thường vềề vật chất, coi ý thức là một dạng vật chất…)
Với định nghĩa vật chất, Lê-nin đã giải quyềt triệt để vấn đề cơ bản của
triềt học đó vật chất cái trước, ý thức cái sau, vật chất
quyềất định ý thức. Định nghĩa vật chấất của -nin đã tạo snền
tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duy vật về xã hội
lOMoARcPSD| 23136115
Nâng cao năng lực quản lý, điều phối hoạt động tình nguyện
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh vừa quyết định 1481/QĐ-TTg ngày
28/11/2022 phê duyệt Chương trình “Tăng cường năng lực quản lý, điều phối hoạt động
tình nguyện cho đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp
Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam các cấp giai đoạn 2022 - 2030”.
Vận dụng quan điểm toàn diện để lý giải một vấn đề của thực tiễn?
I. Quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện được rút ra từ nguyên về mối liên hệ phổ biến, là một trong
những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác – Lênin. Mỗi sự vật, hiện
tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau; do đó, khi nhận thức
về sự vật, hiện tượng cần tuân theo quan điểm toàn diện. Quan điểm này mang đến tính
đúng đắn trong hoạt động xem xét hay đánh giá một đối tượng nhất định. Không chỉ
nhìn nhận với tính chất tiêu cực hay tích cực theo cảm xúc, mà phải là những tiến hành
trên lý trí, kinh nghiệm và trình độ đánh giá chuyên môn.
- Nội dung của quan điểm toàn diện:
+ Khi nhận thức sự vật, chúng ta phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng
qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua
lại giữa sự vật đó với sự vật khác với môi trường xung quanh, kể cả mối liên hệ trung
gian, gián tiếp.
+ Phải phân loại, đánh giá vị trí, vai tcủa từng mối liên hệ đối với sự vận động,
phát triển của sự vật, nghiên cứu quá trình từ quá khứ đến hiện tại và phán đoán tương
lai. Chú trọng đến những mối liên hệ phổ biến, tất yếu của sự vật, hiện tượng.
lOMoARcPSD| 23136115
+ Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt
này không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải,
không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện chủ nghĩa
chiết trung.
II. Vận dụng
Trong thực tiễn, khi xem xét, nghiên cứu bất kỳ sự vật, hiện tượng nào ta cũng cần
phải dựa trên quan điểm toàn diện. Cụ thể như trong công tác đánh giá, nhận xét và xếp
loại đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
1. Yêu cầu
- Tạo điều kiện để mỗi đoàn viên tự nhận xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ Đoàn,
nghiêm túc tự phê bình, nhận thấy được mặt tích cực và mặt hạn chế.
- thư phải tuân thủ và dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí đã được quy định rõ, đồng thời
xem xét quá trình hoạt động của đoàn viên để đưa ra những nhận xét, đánh giá chính
xác và khách quan nhất.
- Việc đánh giá đoàn viên phải được đặt trong mối tương quan giữa kết quả thực hiện các
chương trình hoạt động của Đoàn cấp trên sở Đoàn với kết qurèn luyện phấn
đấu của mỗi đoàn viên.
2. Nguyên tắc
- Đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện Đoàn Thanh niên.
- Đảm bảo thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống tổ chức Đoàn.
- Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất;
trung thực, khách quan, toàn diện, công bằng, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền,
trách nhiệm.
- Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống m gốc; kết quả, hiệu quả công việc làm
thước đo chủ yếu trong đánh giá, xếp loại hằng năm.
- Gắn trách nhiệm của cá nhân với tập thể; trách nhiệm của Bí thư Đoàn các cấp với kết
quả công tác Đoàn và phong trào của địa phương, đơn vị.
3. Tiêu chí
Chất lượng đoàn viên được xếp thành 4 mức: Xuất sắc, Khá, Trung bình, Yếu kém.
thư sẽ n cứ theo những tiêu chí dưới đây để những đánh giá, xếp loại cuối
cùng:
- Ý thức chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Điều
lệ Đoàn và các nghị quyết của Đoàn; các nội quy, quy định của địa phương, đơn vi nơi
sinh hoạt, học tâp, lao động, công tác.
- Thái độ, tinh thần tham gia các hoạt động do tổ chức Đoàn quản lý mình tổ chức; ý
thức và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Việc tu dưỡng, rèn luyện về chính trị, tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa giao tiếp,
tác phong, lề lối làm việc.
lOMoARcPSD| 23136115
- Kết quả đạt được ở “Chương trình rèn luyện đoàn viên”.
- Các vi phạm kỷ luật (nếu có).
- Môi trường, điều kiện hoạt động của đoàn viên và đặc thù giới.
=> Kết luận: Quan điểm toàn diện đã được vận dụng triệt để trongng tác đánh giá,
nhận xét, xếp loại đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Không thể chỉ
căn cứ vào những biểu hiện, hành vi bên ngoài phải tìm hiểu tất cả các công việc
đoàn viên thực hiện. Không thể chỉ xem xét trong một thời điểm hay một khoảng thời
gian, mà phải nhìn nhận rõ cả quá trình rèn luyện và tu dưỡng. Việc xem xét đầy đủ cả
quá trình không đồng nghĩa với việc đánh giá một cách tràn lan, thiếu khoa học phải
được thực hiện theo trình tự, cân nhắc, chọn lọc những yếu tố cụ thể, chi tiết. Tuân theo
nguyên tắc toàn diện sẽ có được những đánh giá đúng đắn và khách quan nhất, tạo tiền
đề cho công tác nhận xét, xếp loại đoàn viên. Từ đó, thể dễ dàng đề xuất phương
hướng, tạo lập kế hoạch phù hợp đối với việc đào tạo, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú, đáp
ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng sở Đoàn vững mạnh. thể thấy, trong ng
tác đánh giá, nhận xét, xếp loại đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói
riêng trong các vấn đề khác của thực tiễn nói chung, quan điểm toàn diện luôn đòi
hỏi nhận thức trọng m, trọng điểm, từ đó xem xét cái toàn bộ, trên sở thấu hiểu
quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện tượng. Phải loại bỏ mọi suy nghĩ
hành động phiến diện, chiết trung, ngụy biện để tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau,
phận biệt được cái bản chất với không bản chất. Nếu thực hiện không đúng hoặc đi
ngược lại những yêu cầu của quan điểm toàn diện, sẽ rơi vào sai lầm, mà điển hình
chủ nghĩa chủ quan duy ý chí trong nhận thức hành động, gây ra những hậu quả to
lớn cho dù hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào.
Câu hỏi 18. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật? ý
nghĩa phương pháp luận được rút ra từ nội dung nguyên lý này?
Đáp. Câu trả lời gồm ba ý lớn
1) Khái niệm. Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái
quát sự quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới. Cơ sở lý luận
của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới; theo đó các sự
vật, hiện tượng đa dạng, khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì chúng
cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.
2) Tính chất của các mối liên hệ phổ biến
a) Tính khách quan. Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên
hệ, tác động của bản thân thế giới vật chất. mối liên hệ, tác động giữa các sự vật,
hiện tượng vật chất với nhau. mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng cái tinh thần.
cái liên hệ giữa những hiện tượng tinh thần với nhau, như mối liên hệ tác động
giữa các hình thức của quá trình nhận thức. Các mối liên hệ, tác động đó, suy cho đến
cùng, đều sự phản ánh mối liên hệ sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
của thế giới khách quan.
b) Tính phổ biến. Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau tách biệt nhau
không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy,
mà còn diễn ra đối với các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng.
c) Tính đa dạng, phong phú. nhiều mối liên hệ. mối liên hệ về mặt không gian
cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng. Có mối liên hệ chung
tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới. mối liên hệ
riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể. Có mối liên hệ
lOMoARcPSD| 23136115
trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp. Có
mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ bản chất cũng
mối liên hệ chỉ đóng vai trò phụ thuộc (không bản chất). mối liên hệ chủ yếu
mối liên hệ thứ yếu v.v chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng. Do vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát được
toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của
nó. Tính hạn của thế giới khách quan; tính hạn của sự vật, hiện ợng trong thế
giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng nhiều
mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau.
3) Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Từ nguyên về
mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc toàn diện trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật,
hiện tượng a) trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các
thuộc tính cùng các mối liên hệ của chúng. b) trong mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng
này với sự vật, hiện tượng khác với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các
mối liên hệ trung gian, gián tiếp. c) trong không gian, thời gian nhất định, nghĩa là phải
nghiên cứu quá trình vận động của sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại phán
đoán cả tương lai của nó. d) Nguyên tắc toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện chỉ
thấy mặt này mà không thấy các mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét
tràn lan, dàn đều, không thấy được mặt bản chất của sự vật, hiện tượng rơi vào thuật
nguỵ biện và chủ nghĩa chiết trung.
lOMoARcPSD| 23136115
I. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận
1. Một số khái niệm
- Chất một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn của sự
vật, hiện tượng; sự thống nhất hữu của các thuộc tính m cho sự vật chứ
không phải là cái khác
- Lượng một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn của sự vật, hiện
tượng về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng cũng như các thuộc tính của
- Độkhoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của
sự vật, hiện tượng - Điểm nút là thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã thể m
thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng
- Bước nhảy sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng do những thay đổi về lượng
trước đó
2. Nội dung quy luật
Mọi đối tượng đều là sự thống nhất của hai mặt đối lập lượng và chất, những sự thay
đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn đến thay đổi căn bản về chất
và thông qua bước nhảy, chất mới ra đời tiếp tục tác động trở lại duy trì sự thay đổi
của lượng.
3. Ý nghĩa
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải biết tích lũy đủ về lượng để có sự biến đổi
về chất
- Khi lượng đạt đến điểm nút thì thực hiện ớc nhảy yêu cầu khách quan của sự vận
động
Lưu ý: Cần tránh tư tưởng nôn nóng và bảo thủ
Nôn nóng: không kiên trì và nỗ lực để có sự thay đổi về lượng nhưng lại muốn
sự thay đổi về chất
Bảo thủ: lượng đã được tích lũy đến mức điểm nút nhưng không muốn thực hiện
bước nhảy để có sự thay đổi về chất
- Phải thái độ khách quan, khoa học quyết tâm thực hiện bước nhảy; bên cạnh đó
trong lĩnh vực xã hội phải chú ý đến cả điều kiện chủ quan
Quy luật của tự nhiên và xã hội đều có tính khách quan; song quy luật của tự
nhiên diễn ra tự phát, còn quy luật của hội chỉ được thực hiện thông qua
hoạt động có ý thức của con người.
Khi đã tích lũy đủ về lượng, phải quyết m để tiến hành ớc nhảy, phải
kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ
những thay đổi mang nh chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính chất
cách mạng
- Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng đ
lựa chọn phương pháp phù hợp:
lOMoARcPSD| 23136115
Bước nhảy có nhiều hình thức khác nhau, vì vậy cần áp dụng linh hoạt các hình thức
cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể để tạo ra bước nhảy về chất của
toàn xã hội
II. Vận dụng
- Khi còn học sinh cấp 3, học sinh phải học tập, tích luỹ đủ kiến thức sau đó thi tốt nghiệp
và dùng kết quả đó để xét tuyển đại học, trở thành sinh viên đại học. Trong đó quá trình
thay đổi đó:
Chất cũ: Học sinh cấp 3
Chất mới: Sinh viên đại học
Lượng: Kiến thức tích lũy ở cấp 3
Độ: Thời gian học tập ở cấp 3
Điểm nút: Thời gian hoàn thành chương trình học và thi tốt nghiệp
Bước nhảy: Sự chuyển hóa từ học sinh cấp 3 thành sinh viên đại học
Như vậy, khi còn ở cấp 3, học sinh chưa có đủ lượng kiến thức. Sau một thời gian
tích lũy đủ lượng kiến thức, học sinh sẽ tiến tới điểm nút thi tốt nghiệp THPT,
thực hiện bước nhảy làm ra đời chất mới đó chính là sinh viên đại học
- Khi chất mới sinh viên đại học hình thành sẽ làm xuất hiện lượng mới chính kiến
thức của chương trình đại học. Kiến thức đại học khác với kiến thức cấp 3, nói cách khác
lượng mới ra đời khác với lượng cũ, vì thế diễn ra một quá trình tiếp tục tích lũy đủ lượng
mới và thực hiện các bước nhảy mới Tạo thành quá trình vận động và phát triển liên
tục
Kết luận:
Sự vận động phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần
dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển a về
chất. Đối với quá trình học tập nói chung và quá trình học tập của sinh viên đại học
nói riêng, cần phải một quá trình tích lũy kiến thức đủ rộng sâu, không nên
học nửa vời, tránh tình trạng “nước đến chân mới nhảyđể đủ lượng kiến thức
cần thiết thực hiện bước nhảy, chuyển hóa thành chất mới tiếp tục quá trình
vận động, phát triển
lOMoARcPSD| 23136115
NỘI DUNG THẢO LUẬN TUẦN 9 ĐỀ BÀI: Sự vận dụng của Đảng về vai trò của thực tiễn đối
với nhận thức trong thời kì đổi mới ở Việt Nam? I. Lý thuyết
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến
tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn là những hoạt động đặc trưng và bản chất của conngười, được thực
hiện tất yếu khách quan và không ngừng phát triển. Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn là hoạt động vật
chất mang tính chất ng tạo có tính mục đích, tính lịch sử hội. Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng,
song có ba hình thức cơ bản là:
Hoạt động sản xuất vật chất: hình thức hoạt động bản đầu tiên, đây hoạt động trong đó con
người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều
kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. => đóng vai trò quan trọng nhất.
Hoạt động chính trị – xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, của các tổ chức khác nhau trong xã
hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển
Thực nghiệm khoa học hoạt động được tiến hành trong điều kiện con người tạo ra gần giống hoặc
lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định được quy luật biến đổi phát triển của các
đối tượng nghiên cứu.
Có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
- Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người
trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan. Có 2 giai đoạn
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức nó được thể hiện dưới ba hình thức đó
là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc của mọi hiểu biết của con
người.
Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnh hơn về sự vật.
Biểu tượng hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ thường xuất hiện khi những
tác động đến trí nhớ con người.
Nhận thức tính là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên
sở nhận thức cảm tính. Được thể hiện ở các hình thức như là khái niệm, phán đoán và suy lí bên cạnh đó
chúng ta còn trình độ nhận thức kinh nghiệm, luận, thông thường khoa học. - Vai trò của thực
tiễn đối với nhận thức.
Thực tiễn sở của nhận thức: Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế
giới phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người nhận thức chúng.
Thực tiễn động lực của nhận thức: Hiện thực khách quan luôn vận động, để nhận thức kịp với tiến
trình hiện thực phải thông qua thực tiễn. Thực tiễn làm cho các giác quan, duy của con người phát
triển và hoàn thiện, từ đó giúp con người nhận thức ngày càng sâu sắc về thế giới.
Thực tiễn mục đích của nhận thức: Nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn. luận, khoa học chỉ
có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn.
Thực tiễn tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức: Điều này nghĩa
thực tiễn thước đo giá trị của những tri thức. Chỉ đem những tri thức đã thu nhận được qua nhận
thức đối chiếu với thực tiễn để kiểm tra, kiểm nghiệm mới khẳng định được tính đúng đắng của nó.
lOMoARcPSD| 23136115
II. Vận dụng
1. hoàn cảnh, sự cần thiết đổi mới đất nước
a. Nguyên nhân trong nước
- từ một ớc nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhcòn phổ biến tiên lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua tư bản chủ nghĩa, đây là con đường mới mẻ, đầy thách thứ.
- trong hơn một thập kỉ, trải qua hai nhiệm kì đại hội 4 và 5 (1976-1986), đảng nhân dân ta vừa
làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm con đường đi lên xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó, cách mạng
hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực của đời sốnghội.
Nhưng còn gặp không ít khó khăn yếu kém. Khó khăn của ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa
hội ngày càng lớn làm cho đất nước từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỉ XX
lâm vào tình trạng khủng hoảng, gay gắt nhất từ những năm 80, trước mặt về kinh tế - hội,
khi lạm phát lên tới mức phi mã. Một trong những nguyên nhân cơ bản của những khó khăn, yếu
kém của t là do ta mắc phải "sai lầm nghiêm trọng kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lần
về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện".
Sai lầm của ta trước tiên thể hiện trong sự nôn nóng tiến thẳng lên chủ nghĩa hội, việc đề ra
phương châm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách duy ý chí: nhanh, mạnh, vững chắc. vậy, khi
thực hiện đã không tuân thủ đúng trình tự lịch sử, dẫn đến "vi phạm quy luật khách quan" và rơi
vào lí luận suông, không kết hợp lí luận và thực tiễn.
- Sai lầm của chúng ta thể hiện việc đặt ra trong kế hoạch phát triển nền kinh tế - hội của
nhà nước quá nhiều mục tiêu, chỉ tiêu cũng với tưởng, chủ quan, nóng vội, quá lớn quá cao
so với khả năng thực tế của đất nước. việc mong muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta đang ở chặng đường đầu tiên.
- Khuynh ớng tưởng chú yếu của những sai lầm đó trước tiên những sai lầm trong chính
sách kinh tế, là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, là khuynh
hướng buông lỏng quản kinh tế, hội..."/ đó khuynh hướng biểu hiện của tưởng vừa tả
khuynh vừa hữu khuynh.
b. Nguyên nhân quốc tế
- Sự thay đổi trong quan hệ quốc tế giữa các nước
- Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ,
- Trước khủng hoàn toàn diện ngày càng trầm trọng của liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác
do chậm thích nghi với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
- Do áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội có khuyết tất ngay từ đầu chạm được khắc phục.
Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoàng đẩy mạnh sự nghiệm
cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, đòi hỏi đảng và nhà nước ta phải đổi mới. Đây là một vấn đề
có ý nghĩa sống còn. Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (121986),
được điều chỉnh, bổ sung và phát triển tại Đại hội VII (6-1991), Đại hội VIII (6-1996), Đại hội IX
(4-2001), đại hội X-2006, đại hội XI-2011 nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục
được củng cố.
2. Sự vận dụng của Đảng về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức trong thời đổi mới
ViệtNam.
qua hoạt động thực nghiệm, Mọi sai lầm của chúng ta chỉ có thể giải thích bằng hai nguyên
nhân:
lOMoARcPSD| 23136115
Vừa là thực tiễn chưa phát triển đầy đủ, giúp ta phân biệt rõ đúng – sai, khẳng định và
phủ định. Đó là xét từ quan hệ thực tiễn – nhận thức.
Vừa nhận thức chưa vượt qua khỏi tình trạng lạc hậu giáo điều, sự lạc hậu so với
thực tiễn, đi sau thực tiễn, nhận thức chưa đủ sức dự báo, soi đường cho thực tiễn,
hướng dẫn thực tiễn phát triển. Đó là xét từ quan hệ nhận thức – thực tiễn.
Trong nhiều lĩnh vực nhận thức còn thụ động và lạc hậu, chạy theo sau cuộc sống, trong khi
thực tiễn cuộc sống lại chưa phát triển đến độ chín muồi để bộc ộ ra những nhận tố của phát
triển.
Chúng ta đã từng nhận thức đơn giản, Siêu hình theo cách đặt đối lập tuyệt đối giữa tư bản
chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, coi việc bỏ quan chủ nghĩa tư bản là một sự bỏ qua toàn bô,
tất cả những gì thuộc về chủ nghĩa tư bản, không nhận thấy sự cần thiết phải học hỏi những
kinh nghiệm mà chủ nghĩa tư bản đã tích lũy được hàng bao thế kỉ.
Đổi mới và sự hình thành nhận thức lí luận từ thực tiễn mới về chủ nghĩa xã hội là một nô lực to lớn
để khác phục những hạn chế, khiếm khuyết trong mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến
xã hội.
Thực tiễn sở của nhận thức: Bằng những hoạt động thực tiễn trong việc nước ta gặp khủng
hoảng, đảng ta đã nhận thức lại các vấn đề đang tồn tại kìm hãm sự phát triển của đất nước ta
từ đó đưa ra những những đường lối chính sách tốt hơn để xây dựng nước ta đi theo con đường
chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn động lực của nhận thức: Hoạt động thực tiễn phải sự chỉ đạo của nhận thức, vận
dụng nhận thức phải phù hợp với hoàn cảnh lịch sử- cụ thể, khác phục bệnh kinh nghiệm chủ
nghĩa. Phải nắm vững nguyên lí phổ biến của chủ nghĩa mác lê nin, chú trọng tổng kế thực tiễn đổi
mới của nước ta để vạch ra đường lối chính sách đúng.
Thực tiễn mục đích của nhận thức: nhận thức phải bám sát hơn nữa thực tiễn, nhanh nhạy nắm
bắt được yêu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn, khắc phục bệnh
giáo điều.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức: công cuộc đổi
mới càng đi vào chiều sâu thì càng xuất hiện nhiều vấn đề mới liên quan đến nhận thức về nhận
thức về chủ nghĩa hội con đường xây dựng chủ nghĩa hội. Chỉ tăng cường tổng kết
thực tiễn, phát triển luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động
sáng tạo, bớt được sai lầm và những bước đi quanh co, phức tạp. 3. Kết luận
- Như vậy, thực tiễn vừa điểm xuất phát của nhận thức, vừa yếu tố quyết định đối với sự hình
thành phát triển của nhận thức, nơi nhận thức luôn hướng tới để nghiệm tính đúng đắn của
mình. Chính nhờ có sự nhận thức kịp thời và chính xác mà Đảng ta đã xác định được hạn chế của
bản thân, từ đó tạo ra cơ sở để khắc phục những hạn chế ấy. Đồng thời quá trình nhận thức đã đặt
ra cho Đảng những mục tiêu, yêu cầu hay cũng chính là những động lực để Đảng ta kiên định với
sự nghiệp cao cả đó đổi mới toàn diện đất nước. - Những diễn biến nhanh chóng của tình hình
quốc tế cũng đòi hỏi Đảng phải nhạy bén, m tòi nghiên cứu để đường lối của Đảng kịp thời đáp
ứng những yêu cầu chuyển biến của tình hình. Những bài học kinh nghiệm về việc xác định đúng
đối tượng, nhiệm vụ và lực lượng của cách mạng-cả trong tầm nhìn chiến lược dài hạn cũng như
trong những giai đoạn cụ thể, ngắn hạn, càng ý nghĩa trong hiện tại, khi cách mạng Việt Nam
đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, nguy cơ.
lOMoARcPSD| 23136115
Hãy lấy ví dụ để chứng minh vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại
phát triển xã hội?
I. Lý thuyết
Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người. Quá
trình sản xuất diễn ra trong hội loài người chính “sự sản xuất xã hội”, tức sản
xuất tái sản xuất ra đời sống hiện thực, bao gồm ba phương diện không tách rời
nhau: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Trong đó
sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội.
- Khái niệm: Sản xuất vật chất quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm
tạo ra của cải xã hội thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
- Vai trò: Sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người.
+ Sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con người: Sản
xuất vật chất điều kiện khách quan cho sự sinh tồn hội. Con người muốn tồn tại
duy trì, phát triển thì phải được đáp ứng các nhu cầu vật chất tối thiểu như: đồ ăn,
thức uống, trang phục, nơi ở,...
+ Hoạt động sản xuất vật chất sở hình thành nên tất cả các hình thức quan
hệ hội khác: Nhờ lao động sản xuất, buôn bán, tiêu thhàng hóa, giữa con người
xuất hiện những mối quan hệ hội trong mọi lĩnh vực như chính trị, pháp luật, đạo
đức, tôn giáo,…
+ Sản xuất vật chất là nền tảng cho sự hình thành, biến đổi, phát triển của xã hội:
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân
con người.
Suốt chiều dài lịch sử, nền sản xuất của cải hội không ngừng phát triển từ
thấp đến cao. Từ chỗ chỉ dùng công cụ lao động bằng đá ở hội nguyên thủy,
con người dần dần chế tạo được công cụ bằng đồng ở xã hội cổ đại, và bằng sắt
trong thời cổ đại đến trung đại. Sau đó, nhờ cuộc cách mạng công nghiệp, con
người đã biết dùng máy móc động hơi nước, các hệ thống khí hóa, hiện
đại hóa.
Trong quá trình lao động sản xuất, cơ thể con người không ngừng phát triển và
hoàn thiện: dáng đi thẳng, không còn lưng như loài vượn. sự phân hóa
chức năng giữa chân, tay và bộ óc. Các giác quan cũng phát triển nhạy bén hơn.
Con người có nhận thức, tư duy, tình cảm, đạo đức...
Con người xuất hiện nhu cầu “nói chuyện” với nhau. Nếu không giao tiếp được,
con người không thể lao động sản xuất. Do đó, tiếng nói, chữ viết xuất hiện,
hình thành nên ngôn ngữ - phương tiện để giao tiếp, trao đổi, truyền bá tri thức,
kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác.
lOMoARcPSD| 23136115
II. Ví dụ thực tiễn ở đất nước Việt Nam 1. Hoàn cảnh xã hội
Việt Nam một đất nước sự phát triển qđộ lên chủ nghĩa hội, bỏ qua
chế độ bản chủ nghĩa. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, điểm xuất phát thấp, lại
chịu ảnh hưởng nặng nề của thời kỳ đô hộ, của chiến tranh xâm ợc, nên Việt Nam
phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: tiềm lực yếu, cơ sở vật chất nghèo nàn, tư liệu lao
động thiếu thốn, phương thức sản xuất lạc hậu, thô sơ, trình độ còn thấp kém...
→ Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì cần phải tiến hành đổi mới nhiều
mặt. Trong đó, có đổi mới về kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, phát huy nội lực, thu hút
ngoại lực, từng bước đưa nền kinh tế tăng trưởng bền vững tạo ra nguồn của cải vật
chất dồi dào không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước n phục vụ cho xuất
khẩu. Đầu trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn,
kết hợp phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội.
2. Sản xuất vật chất với sự tồn tại và phát triển của xã hội Việt Nam
Trước thời kỳ đổi mới (1960 1985), Đảng đề ra chủ trương lấy công nghiệp
nặng làm nền tảng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp công nghiệp nhẹ. Trải
qua ba lần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - hội (Kế hoạch 5 năm), Việt Nam
đã từng bước khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Nhân dân đồng lòng
cùng Đảng Nhà nước tăng gia sản xuất. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 5,49 triệu
tấn (1975), giai đoạn 1977 1985 tăng 4,49%/năm. Số lượng các nghiệp công nghiệp
cũng tăng cao, một số khu công nghiệp (hay khu vực công nghiệp) lớn được hình thành,
đã xây dựng được nhiều sở công nghiệp quan trọng, sản xuất được than, thiếc,
giấy, vải... Nhờ có sản xuất vật chất, nền kinh tế dần được khôi phục và cải thiện, giúp
cho đời sống vật chất tinh thần của người dân cũng được ng cao. Thu nhập bình
quân đầu người một tháng tăng từ 200 – 500 đồng (1984). Nước ta có đủ điều kiện cơ
bản về kinh tế, sở hạ tầng nhân lực để thực hiện nhiệm vụ xóa nạn chữ, bổ
túc văn hóa. Hệ thống y tế được mở rộng, xây mới áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật...
Tuy nhiên, cơ chế đó còn tồn tại nhiều bất cập. Sau khi nhận ra, Nhà nước bắt đầu
một số thay đổi trong chính sách quản lý. Từ năm 1986 đến nay, nước ta đã thực
hiện đường lối đổi mới nền kinh tế hội nhập quốc tế. Đường lối đổi mới của Đảng
nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi dậy tiềm
năng sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều
việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho hội. Ngành nông nghiệp đã giải
quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh ơng thực quốc gia, đưa Việt
Nam từ nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Những
sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất tiêu dùng của dân đều tăng
cả về số lượng và chất lượng. Năm 2000 so với 1986, sản lượng điện tăng gấp 4,7 lần,
thép cán gấp 25,6 lần, dầu thô đạt 16,3 triệu tấn... Do sản xuất phát triển, kinh doanh
hồi phục, nên đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Năm 2019, GDP bình quân đầu
người đạt 2715 USD, thu nhập bình quân đầu người một tháng đạt xấp xỉ 4,3 triệu đồng,

Preview text:

lOMoAR cPSD| 23136115
- Triết học là gì? Triết học là hệ thống quan điểm chung nhất của con người về
thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó; là khoa học về những quy luật
vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. - Nguồn gốc triết học:
+ Nguồn gốc nhận thức
+ Nguồn gốc xã hội
Câu 1: Đối tượng của triết học là gì?
- Đối tượng của triết học là các quan hệ phổ biến và các quy luật chung nhất của
toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Ví dụ: Đối tượng nghiên cứu của triết học: triết học nghiên cứu về mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức, gữa sự tồn tại xã hội và ý thức xã hội, nghiên cứu các
quy luật chung nhất về sự vật động, sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Câu 2: Tại sao đối tượng nghiên cứu của triết học thay đổi qua các thời kỳ lịch sử?
Tồn tại xã hội thay đổi -> ý thức xã hội thay đổi -> đối tượng nghiên cứu thay đổi
• Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt
vật chất của xã hội, bao gồm môi trường tự nhiên, dân số và phương thức sản xuất.
• Ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy
sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
- Đối tượng nghiên cứu của triết học có sự thay đổi trong chu trình lịch sử
Thời kì lịch sử Điều kiện kinh Điều kiện xã hội Đối tượng triết Đặc điểm tế học lOMoAR cPSD| 23136115 Hy Lạp cổ đại
Sự phát triển Chế độ chiếm Tri thức thuộc Bao hàm trong
kinh tế: Nông hữu nô lệ; Mâu khoa học tự nó tri thức của
nghiệp, thủ công thuẫn giai cấp nhiên tất cả lĩnh vực
nghiệp, thương (chủ nô>< nô tuy nhiên chưa nghiệp lệ) có sự phân chia ngành sâu sắc Trung cổ
nền kinh tế tự Chế độ chiếm Niềm tin tôn Mang tính tôn nhiên, tự cung hữu nô lệ tan giáo giáo, chứng tự cấp rã và chế độ minh sự đúng phong kiến ra đắn của Kinh đời; thánh Sự phát triển bao trùm của giáo hội
Phục hưng, cận Xuất hiện những Chế độ phong Các môn khoa Chống lại thần đại yếu tố
của kiến tan rã; Giai học như: cơ học, học, xem con
phương thức sản cấp tư sản ra đời toán học, vật lý người là vấn đề xuất học,….. trung tâm của TBCN triết học Cổ điển Đức Phản ánh lợi ích và địa vị của giai cấp tư sản Đức Hiện đại
Sự phát triển Mâu thuẫn giai quy luật chung Nghiên cứu
mạnh mẽ của cấp gay gắt (tư nhất của tự những quy luật
phương thức sản sản >< vô sản) nhiên, xã hội và chung nhất của xuất tư bản chủ tư duy sự vận động, nghĩa phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy lOMoAR cPSD| 23136115
 Cùng với quá trình phát triển của kinh tế, xã hội cùng sự thay đổi nhận thức, tri
thức con người và của cả bản thân triết học, nội dung của đối tượng triết học thay
đổi trong các trường phái triết học khác nhau. NHÓM 4
Đối tượng nghiên cứu của triết học? Tại sao đối tượng nghiên cứu của triết học lại
thay đổi qua các thời kì lịch sử?
A. Đối tượng nghiên cứu của triết học
- Từ khi ra đời cho đến nay, đối tượng nghiên cứu của Triết học thay đổi theo từng giai
đoạn lịch sử, từng thời kỳ
- Là các quan hệ phổ biến và quy luật chung nhất của toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư
duy. Trong đó trung tâm nhất là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại – giữa ý thức con
người với thế giới sự vật hiện tượng bên ngoài.
- Những vấn đề trung tâm này biểu hiện khác nhau ở những nền văn hóa và giai đoạn phát triển khác nhau.
+ Thời kỳ Hy Lạp cổ đại: là tất cả những tri thức mà con người có được trước hết
là các tri thức thuộc khoa học tự nhiên [Triết học tự nhiên]
+ Tây Âu thời trung cổ: Đối tượng chỉ tập trung vào những nội dung nặng về tư biện (triết học kinh viện)
+ Thế kỉ XV-XVIII : sự đấu tranh giữa triết học tự nhiên và triết học thần học
+Thế ki XIX: tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất
và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy
- Nguyên nhân do: sự thay đổi của xã hội qua nhiều nguyên do cụ thể như điều kiện
kinh tế hay tôn giáo, tín ngưỡng được sinh ra… Dẫn đến việc ý thức xã hội thay đổi và
đối tượng nghiên cứu từ đấy cũng thay đổi theo.
B. Tại sao đối tượng nghiên cứu của triết học lại thay đổi qua các thời kì lịch sử?
Do triết học là 1 hình thái ý thức xã hội nên sẽ phản ánh sự tồn tại của xã hội, vì vậy
khi những vấn đề tồn tại xã hội như: đời sống vật chất, điều kiện vật chất, phương
thức sản xuất thay đổi dẫn đến ý thức thay đổi và đối tượng nghiên cứu cũng thay đổi.
I. THỜI KÌ HY LẠP CỔ ĐẠI lOMoAR cPSD| 23136115
- Điều kiện xã hội: Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển
biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên
trong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ, xã hội phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ
nô và nô lệ. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp chủ nô và nô lệ, giữa quý tộc công thương và
quý tộc ruộng đất trong nội bộ giai cấp chủ nô,... là điều kiện xã hội ảnh hưởng đến sự
phát triển của các khuynh hướng triết học.
- Điều kiện kinh tế: Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp
nhanh chóng phát triển tất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị
văn hoá. Vì vậy, nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp
bay bổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Xứng đáng là chiếc nôi của nền văn minh châu Âu
và của cả nhân loại, sự phát triển đó thúc đẩy sự ra đời, phát triển của khoa học và triết học.
- Khoa học: Dưới con mắt của các nhà Hi lạp cổ đại, triết học ra đời từ nhu cầu hiểu
biết của con người. Quan niệm này dù thế hiện dưới hình thức ngây thơ, phù hợp với
nhận thức của người thời cổ, nhưng nó đề cập tới một khía cạnh rất sâu sắc về cơ sở
nhận thức luận của việc hình thành triết học Hy Lạp cổ đại. Chính sự xuất hiện các tri
thức sơ khai như việc phát minh một năm có 12 tháng, ba trăm sáu lăm ngày của Talet,
hình học của Ơ-cơ-lit,... đã tạo thúc đẩy sự hình thành triết học. Những khám phá khoa
học đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ quan và nhân sinh quan của các tôn giáo
và thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lí giải mới về thế giới xung quanh và cuộc sống của mình.
=> Triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất của nhận thức nhân loại
từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức sản xuất thứ hai ở phương Tây vì vậy
ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới quan và là một hệ thống tập
hợp các tri thức về tự nhiên, về con người, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai
mộc mạc nhưng cũng vô cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ… Nếu như triết học
phương Đông dành nhiều sự quan tâm hơn cho những vấn đề về con người và xã hội,
còn triết học phương Tây quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề về giới tự nhiên.
II. TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ
Triết học mang tính tôn giáo, hay còn được gọi là “Triết học kinh viện”
- Những điều kiện về kinh tế, xã hội và văn hóa có sự thay đổi, ảnh hưởng đến đối tượng
nghiên cứu của Triết học thời kì này là:
+ Điều kiện xã hội: Xã hội Tây Âu thế kỷ II đến thế kỷ V là xã hội đánh dấu sự tan rã của
chế độ chiếm hữu nô lệ và sự ra đời của chế độ phong kiến. Vào thế kỷ thứ V, những cuộc lOMoAR cPSD| 23136115
nổi dậy của nô lệ bên trong cùng với sự tiến công của những bộ tộc bên ngoài đã dẫn đến
sự sụp đổ của đế quốc La Mã (đã tồn tại từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ V).
Sự kiện đó dẫn đến kết quả chấm dứt hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ và chế độ phong
kiến tây Âu ra đời. Trong xã hội đó, nền kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp thống trị. Sự
hình thành vô số công xã, thái ấp phong kiến thời kỳ này đã tạo nên chế độ phong kiến,
phân quyền. Xã hội có hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân. Quyền chiếm hữu tư
liệu sản xuất, tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm thuộc về giai cấp địa chủ, Mâu
thuẫn cơ bản giữa giai cấp địa chủ và nông dân hết sức sâu sắc, cuộc đấu tranh giữa hai
giai cấp này ngày càng diễn ra gay gắt. Do hoàn cảnh kinh tế – xã hội như vậy, tầng lớp
nghèo khổ của xã hội chiếm đa số đã phải cầu đến đấng thiêng liêng che chở, họ theo
đạo, đọc kinh và vào nhà tu nương tựa: Tôn giáo, đặc biệt là đạo Cơ đốc phát triển
mạnh. Tu viện mở nhiều và quyển vị của Giáo hoàng rất lớn. Có thể nói tín điều nhà
thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy; thế giới quan tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến
triết học, luật học và chính trị
+ Điều kiện kinh tế: Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV, nền kinh tế nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương mại Tây Âu có bước phát triển mới, dân số tăng, khiến đô thị tăng về số
lượng lẫn quy mô. Thợ thủ công quy tụ về các đô thị, thành lập nên các hiệp hội, phường
hội và hội nghề nghiệp. Các hội này đã điều hành các hoạt động kinh tế, các hoạt động xã hội, tôn giáo.
+ Điều kiện văn hóa: trường học đã phát triển mạnh cả đô thị và làng quê, các trường đại
học ra đời (Paris, Bologna, Oxford). Bằng nhiều cách khác nhau, học vấn cổ điển như
triết học, pháp luật, khoa học đã được khôi phục. Tiếng Latinh được dùng làm ngôn ngữ
chính trong các trường học. Nghệ thuật kiến trúc Roman và Gothic phát triển…
=>Chính sự phát triển kinh tế và văn hóa ở thời kỳ này đã làm cho chế độ phong kiến
cát cứ phân quyền bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn vốn có của nó. Lực lượng chính để xóa
bỏ chế độ phong kiến cát cứ phân quyền là sự liên minh giữa nhà vua và tầng lớp thị
dân. Chế độ phong kiến tập quyền xuất hiện. Hệ tư tưởng của chế độ này vẫn là hệ tư
tưởng Thiên Chúa giáo, Sự thống trị của uy quyền phong kiến và thần quyền của giáo
hội đã cản trở sự phát triển của khoa học, kỹ thuật.
=>Các điều kiện kinh tế xã hội văn hóa trên đã quy định nội dung tính chất triết học trung
cổ. Nét đặc thù của triết học Tây Âu trung cổ là triết học kinh viện có xu hướng “hướng
ngoại”, có nhiệm vụ chính là “đầy tớ của thần họ”.
III. THỜI KÌ PHỤC HƯNG (thế kỷ XV và XVI)
+ Cơ sở kinh tế : Giai đoạn phục hưng với sự chuyển biến kinh tế bắt đầu hình thành
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhiều công cụ lao động được cải tiến, tạo điều
kiện cho sản xuất lớn tư bản hình thành dẫn tới nền kinh tế hàng hoá phát triển. lOMoAR cPSD| 23136115
+ Cơ sở xã hội: với sự thay đổi kinh tế sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ, mâu thuẫn giữa
tầng lớp tư sản với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng phát triển.
Cùng với đó những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của
khoa học thực nghiệm thế kỷ XV – XVI đã thúc đẩy cuộc đấu tranh giữa khoa học, triết
học duy vật với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
=> Vấn đề đối tượng của triết học bắt đầu được đặt ra. (xóa bỏ thần học, mà tạo cơ sở tri
thức, đưa tới khởi nguồn cho nền triết học mới trong đó chủ nghĩa nhân văn tiêu biểu
cho tư tưởng phục hưng).
IV. THỜI CẬN ĐẠI
- Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát
triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới
đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp,
Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt
(Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…
- Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất
thống trị, nó đã đặt ra những yêu cầu mới cho khoa học và kỹ thuật phát triển. Đấy là
thời kỳ khoa học tự nhiên bắt đầu phân ngành mạnh, hình thành các bộ môn độc lập như
toán học, vật lý học, hóa học, sinh vật học…
=> Triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề con người và giải phóng con người. cận đại,
sự phát triển to lớn của sản xuất và khoa học đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con
người. Vấn đề đối tượng của triết học bắt đầu được đặt ra. ( xóa bỏ thần học, mà tạo cơ sở tri thức).
V. THỜI KÌ CỔ ĐIỂN ĐỨC
- Điều kiện kinh tế, xã hội: Đức vẫn còn là 1 nước phong kiến. Đây là thời kì nở rộ nhiều
nhân tài, 1 thời kì đầy tự hào trong lịch sử văn học, tư tưởng của Đức. Từ đó triết học
cổ điển Đức đã ra đời.
VI. TRIẾT HỌC MÁC
- Điều kiện KT: Vượt qua thời kỳ phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt của nó so với các chế
độ xã hội khác trong lịch sử. Nước Anh và nước Pháp đã trở thành những quốc lOMoAR cPSD| 23136115
gia tư bản hùng mạnh, làm động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu
Âu. Có thể nối, châu Âu, đặc biệt là Tây Âu, đã trở thành trung tâm của sự phát
triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm cơ sở cho sự phát triển về mọi mặt
trong đời sống xã hội.
- Điều kiện XH: Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo
ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện đại. Giai cấp vô sản
công nghiệp ra đời, đã tạo ra một quan hệ đối lập ngày càng gay gắt với giai cấp
tư sản. Trong giai đoạn lịch sử này, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đã
phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng lớn. Cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn
đến một yêu cầu mới, yêu cầu phải có một lý luận khoa học dẫn đường, để đưa
giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu tranh tự giác vì lợi ích của giai
cấp mình. Chính từ nhu cầu tất yếu đó, một triết học mới ra đời, triết học Mác.
=>Đoạn tuyệt triệt để những ý niệm “khoa học của những khoa học”. Đối tượng nghiên
cứu của triết học Mác chính là liên tục xử lý những mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
trên lập trường duy vật triệt. Từ đó hoàn toàn có thể nghiên cứu ra những quy luật chung
nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Nhóm 1: Từ định nghĩa vật chất của Lênin, hãy chỉ ra hạn chế trong quan niệm của chủ
nghĩa duy vật trước C.Mác về vật chất ?
1. Định nghĩa vật chất của Lê nin
- Theo Lê nin, "Vật chất là phạm trì triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
- Theo đó, định nghĩa vật chất của V.I.Leenin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
• Vật chất với tư cách là phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô cùng, vô tận,
không sinh ra, không mất đi.
• Vật chất là thực tại khách quan cái tồn tại hiện thực bên ngoài, không phụ thuộc
vào ý thức (thuộc tính khách quan).
• Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động
lên các giác quan của con người (thuộc tính phản ánh).
• Vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó (vật chất có trước, ý thức có sau).
=> V.1. Lênin định nghĩa bằng phương pháp đặc biệt: đối lập vật chất với ý thức lOMoAR cPSD| 23136115
2. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác và hạn chế
a. Thời cổ đại – chủ nghĩa duy vật chất phác
- Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đồng nhất vật chất
nói chung với một hay nhiều dạng vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài
- Những quan niệm chất phác về vật chất, quy vật chất về một hay một vài dạng cụ thể
của nó và xem chúng là khởi nguyên của thế giới.  VD:
Thuyết Ngũ hành - TQ 5 yếu tố vật chất khởi nguyên: kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ có quan hệ tương sinh tương khắc làm cho vạn vật luôn trong quá trình sinh – diệt.
Tứ đại - Ấn Độ cho rằng vật chất là 4 yếu tố đất, nước, lửa, gió
Đỉnh cao của tư tưởng duy vật cổ đại về vật là thuyết nguyên tử của
Lơxíp và Đêmôcrít: cho rằng vật chất là nguyên tử
Talét cho rằng bản nguyên của thế giới là nước, mọi cái trên thế gian đều
sinh ra từ nước và khi bị phân hủy lại biến thành nước….
 Do sự hiểu biết thế giới xung quanh chưa được rộng rãi, Chủ nghĩa duy
vật cổ đại đã Đồng nhất vật chất với vật thể, với những dạng cụ thể của
nó, tức là những vật chất thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới
bên ngoài. Vậy nên, những quan niệm mà các nhà tư tưởng đưa ra còn
mang tính trực quan, thô sơ, mộc mạc, tự phát và phỏng đoán.
b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỉ XV – XVIII
- Thế kỉ XVII – XVIII, KHTN- thực nghiệm ở châu Âu ra đời và phát triển, đặc biệt
cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực rỡ.
- Chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy
siêu hình cơ học cổ điển.
- Đặc biệt, những thành công kỳ diệu của Niutơn trong vật lý học cổ điển và việc khoa
học vật lý thực nghiệm chứng minh được sự tồn tại thực sự của nguyên tử, càng
khẳng định lập trường duy vật
 Hạn chế lí luận siêu hình, máy móc, các nhà tư tưởng đã đồng nhất vật
chất với một dạng tồn tại cụ thể (nguyên tử) hoặc một thuộc tính cụ thể
(khối lượng) của vật chất, họ coi những định luật cơ học như những
chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới
theo những chuẩn mực thuần túy cơ học. (đồng nhất VC với KL ; coi
vận động vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học, nguồn gốc vận lOMoAR cPSD| 23136115
động nằm ngoài vật chất; vẫn coi nguyên tử là phần nhỏ nhất, không thể phân chia được…
 Như vậy, quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác thể
hiện: + Ưu điểm: Đều coi vật chất là bản nguyên của thế giới. Đã xuất
phát từ chính bản thân vật chất để giải thích về thế giới. Điều này có ý
nghĩa rất lớn trong cuộc đấu tranh chống lại quan điểm duy tâm, tôn
giáo. + Nhược điểm: Đồng nhất vật chất với một dạng nào đó của nó,
quy sự phong phú của thế giới vật chất về một dạng cụ thể.
 Như vậy, các nhà triết học duy vật trước Mác đã có những đóng góp
quan trọng đối với lịch sử phát triển của triết học duy vật dù vẫn còn
nhiều hạn chế. Chỉ đến khi triết học Mác xuất hiện thì phạm trù vật
chất mới được giải quyết một cách khoa học. ( Định nghĩa vật chất của
Lênin đã bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất với sự phát
hiện vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức;
khắc phục tính chất siêu hình, máy móc; bác bỏ quan điểm của CNDV
tầm thường vềề vật chất, coi ý thức là một dạng vật chất…)
 Với định nghĩa vật chất, Lê-nin đã giải quyềt triệt để vấn đề cơ bản của
triềt học đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất
quyềất định ý thức. Định nghĩa vật chấất của Lê-nin đã tạo cơ sở nền
tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duy vật về xã hội lOMoAR cPSD| 23136115
Nâng cao năng lực quản lý, điều phối hoạt động tình nguyện
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh vừa ký quyết định 1481/QĐ-TTg ngày
28/11/2022 phê duyệt Chương trình “Tăng cường năng lực quản lý, điều phối hoạt động
tình nguyện cho đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp
Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam các cấp giai đoạn 2022 - 2030”.
Vận dụng quan điểm toàn diện để lý giải một vấn đề của thực tiễn?
I. Quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, là một trong
những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác – Lênin. Mỗi sự vật, hiện
tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau; do đó, khi nhận thức
về sự vật, hiện tượng cần tuân theo quan điểm toàn diện. Quan điểm này mang đến tính
đúng đắn trong hoạt động xem xét hay đánh giá một đối tượng nhất định. Không chỉ
nhìn nhận với tính chất tiêu cực hay tích cực theo cảm xúc, mà phải là những tiến hành
trên lý trí, kinh nghiệm và trình độ đánh giá chuyên môn.
- Nội dung của quan điểm toàn diện:
+ Khi nhận thức sự vật, chúng ta phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng
qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua
lại giữa sự vật đó với sự vật khác và với môi trường xung quanh, kể cả mối liên hệ trung gian, gián tiếp.
+ Phải phân loại, đánh giá vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động,
phát triển của sự vật, nghiên cứu quá trình từ quá khứ đến hiện tại và phán đoán tương
lai. Chú trọng đến những mối liên hệ phổ biến, tất yếu của sự vật, hiện tượng. lOMoAR cPSD| 23136115
+ Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt
này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải,
không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung. II. Vận dụng
Trong thực tiễn, khi xem xét, nghiên cứu bất kỳ sự vật, hiện tượng nào ta cũng cần
phải dựa trên quan điểm toàn diện. Cụ thể như trong công tác đánh giá, nhận xét và xếp
loại đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. 1. Yêu cầu
- Tạo điều kiện để mỗi đoàn viên tự nhận xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ Đoàn,
nghiêm túc tự phê bình, nhận thấy được mặt tích cực và mặt hạn chế.
- Bí thư phải tuân thủ và dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí đã được quy định rõ, đồng thời
xem xét quá trình hoạt động của đoàn viên để đưa ra những nhận xét, đánh giá chính xác và khách quan nhất.
- Việc đánh giá đoàn viên phải được đặt trong mối tương quan giữa kết quả thực hiện các
chương trình hoạt động của Đoàn cấp trên và cơ sở Đoàn với kết quả rèn luyện phấn
đấu của mỗi đoàn viên. 2. Nguyên tắc
- Đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện Đoàn Thanh niên.
- Đảm bảo thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống tổ chức Đoàn.
- Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất;
trung thực, khách quan, toàn diện, công bằng, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền, trách nhiệm.
- Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống làm gốc; kết quả, hiệu quả công việc làm
thước đo chủ yếu trong đánh giá, xếp loại hằng năm.
- Gắn trách nhiệm của cá nhân với tập thể; trách nhiệm của Bí thư Đoàn các cấp với kết
quả công tác Đoàn và phong trào của địa phương, đơn vị. 3. Tiêu chí
Chất lượng đoàn viên được xếp thành 4 mức: Xuất sắc, Khá, Trung bình, Yếu kém.
Bí thư sẽ căn cứ theo những tiêu chí dưới đây để có những đánh giá, xếp loại cuối cùng:
- Ý thức chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Điều
lệ Đoàn và các nghị quyết của Đoàn; các nội quy, quy định của địa phương, đơn vi ̣nơi
sinh hoạt, học tâp, lao động, công tác.
- Thái độ, tinh thần tham gia các hoạt động do tổ chức Đoàn quản lý mình tổ chức; ý
thức và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Việc tu dưỡng, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa giao tiếp,
tác phong, lề lối làm việc. lOMoAR cPSD| 23136115
- Kết quả đạt được ở “Chương trình rèn luyện đoàn viên”.
- Các vi phạm kỷ luật (nếu có).
- Môi trường, điều kiện hoạt động của đoàn viên và đặc thù giới.
=> Kết luận: Quan điểm toàn diện đã được vận dụng triệt để trong công tác đánh giá,
nhận xét, xếp loại đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Không thể chỉ
căn cứ vào những biểu hiện, hành vi bên ngoài mà phải tìm hiểu tất cả các công việc
đoàn viên thực hiện. Không thể chỉ xem xét trong một thời điểm hay một khoảng thời
gian, mà phải nhìn nhận rõ cả quá trình rèn luyện và tu dưỡng. Việc xem xét đầy đủ cả
quá trình không đồng nghĩa với việc đánh giá một cách tràn lan, thiếu khoa học mà phải
được thực hiện theo trình tự, cân nhắc, chọn lọc những yếu tố cụ thể, chi tiết. Tuân theo
nguyên tắc toàn diện sẽ có được những đánh giá đúng đắn và khách quan nhất, tạo tiền
đề cho công tác nhận xét, xếp loại đoàn viên. Từ đó, có thể dễ dàng đề xuất phương
hướng, tạo lập kế hoạch phù hợp đối với việc đào tạo, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú, đáp
ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng cơ sở Đoàn vững mạnh. Có thể thấy, trong công
tác đánh giá, nhận xét, xếp loại đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói
riêng và trong các vấn đề khác của thực tiễn nói chung, quan điểm toàn diện luôn đòi
hỏi nhận thức trọng tâm, trọng điểm, từ đó xem xét cái toàn bộ, trên cơ sở thấu hiểu
quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Phải loại bỏ mọi suy nghĩ và
hành động phiến diện, chiết trung, ngụy biện để tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau,
phận biệt được cái bản chất với không bản chất. Nếu thực hiện không đúng hoặc đi
ngược lại những yêu cầu của quan điểm toàn diện, sẽ rơi vào sai lầm, mà điển hình là
chủ nghĩa chủ quan duy ý chí trong nhận thức và hành động, gây ra những hậu quả to
lớn cho dù hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào.
Câu hỏi 18. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật? ý
nghĩa phương pháp luận được rút ra từ nội dung nguyên lý này?
Đáp. Câu trả lời gồm ba ý lớn
1) Khái niệm. Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái
quát sự quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới. Cơ sở lý luận
của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới; theo đó các sự
vật, hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì chúng
cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất. 2) Tính chất của các mối liên hệ phổ biến
a) Tính khách quan. Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên
hệ, tác động của bản thân thế giới vật chất. Có mối liên hệ, tác động giữa các sự vật,
hiện tượng vật chất với nhau. Có mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng và cái tinh thần.
Có cái liên hệ giữa những hiện tượng tinh thần với nhau, như mối liên hệ và tác động
giữa các hình thức của quá trình nhận thức. Các mối liên hệ, tác động đó, suy cho đến
cùng, đều là sự phản ánh mối liên hệ và sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
của thế giới khách quan.
b) Tính phổ biến. Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau và tách biệt nhau
không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy,
mà còn diễn ra đối với các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng.
c) Tính đa dạng, phong phú. Có nhiều mối liên hệ. Có mối liên hệ về mặt không gian và
cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng. Có mối liên hệ chung
tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới. Có mối liên hệ
riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể. Có mối liên hệ lOMoAR cPSD| 23136115
trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp. Có
mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ bản chất cũng có
mối liên hệ chỉ đóng vai trò phụ thuộc (không bản chất). Có mối liên hệ chủ yếu và có
mối liên hệ thứ yếu v.v chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng. Do vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát được
toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của
nó. Tính vô hạn của thế giới khách quan; tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế
giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng nhiều
mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau.
3) Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Từ nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc toàn diện trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật,
hiện tượng a) trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các
thuộc tính cùng các mối liên hệ của chúng. b) trong mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng
này với sự vật, hiện tượng khác và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các
mối liên hệ trung gian, gián tiếp. c) trong không gian, thời gian nhất định, nghĩa là phải
nghiên cứu quá trình vận động của sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và phán
đoán cả tương lai của nó. d) Nguyên tắc toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện chỉ
thấy mặt này mà không thấy các mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét
tràn lan, dàn đều, không thấy được mặt bản chất của sự vật, hiện tượng rơi vào thuật
nguỵ biện và chủ nghĩa chiết trung. lOMoAR cPSD| 23136115 I.
Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận
1. Một số khái niệm
- Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác
- Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện
tượng về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng cũng như các thuộc tính của nó
- Độ là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của
sự vật, hiện tượng - Điểm nút là thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã có thể làm
thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng
- Bước nhảy là sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng do những thay đổi về lượng trước đó
2. Nội dung quy luật
Mọi đối tượng đều là sự thống nhất của hai mặt đối lập lượng và chất, những sự thay
đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn đến thay đổi căn bản về chất
và thông qua bước nhảy, chất mới ra đời tiếp tục tác động trở lại duy trì sự thay đổi của lượng. 3. Ý nghĩa
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải biết tích lũy đủ về lượng để có sự biến đổi về chất
- Khi lượng đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quan của sự vận động
Lưu ý: Cần tránh tư tưởng nôn nóng và bảo thủ
• Nôn nóng: không kiên trì và nỗ lực để có sự thay đổi về lượng nhưng lại muốn có sự thay đổi về chất
• Bảo thủ: lượng đã được tích lũy đến mức điểm nút nhưng không muốn thực hiện
bước nhảy để có sự thay đổi về chất
- Phải có thái độ khách quan, khoa học và quyết tâm thực hiện bước nhảy; bên cạnh đó
trong lĩnh vực xã hội phải chú ý đến cả điều kiện chủ quan
 Quy luật của tự nhiên và xã hội đều có tính khách quan; song quy luật của tự
nhiên diễn ra tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua
hoạt động có ý thức của con người.
 Khi đã tích lũy đủ về lượng, phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải
kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ
những thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính chất cách mạng
- Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng để
lựa chọn phương pháp phù hợp: lOMoAR cPSD| 23136115
Bước nhảy có nhiều hình thức khác nhau, vì vậy cần áp dụng linh hoạt các hình thức
cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể để tạo ra bước nhảy về chất của toàn xã hội II. Vận dụng
- Khi còn là học sinh cấp 3, học sinh phải học tập, tích luỹ đủ kiến thức sau đó thi tốt nghiệp
và dùng kết quả đó để xét tuyển đại học, trở thành sinh viên đại học. Trong đó quá trình thay đổi đó:
• Chất cũ: Học sinh cấp 3
• Chất mới: Sinh viên đại học
• Lượng: Kiến thức tích lũy ở cấp 3
• Độ: Thời gian học tập ở cấp 3
• Điểm nút: Thời gian hoàn thành chương trình học và thi tốt nghiệp
• Bước nhảy: Sự chuyển hóa từ học sinh cấp 3 thành sinh viên đại học
Như vậy, khi còn ở cấp 3, học sinh chưa có đủ lượng kiến thức. Sau một thời gian
tích lũy đủ lượng kiến thức, học sinh sẽ tiến tới điểm nút là kì thi tốt nghiệp THPT,
thực hiện bước nhảy làm ra đời chất mới đó chính là sinh viên đại học

- Khi chất mới là sinh viên đại học hình thành sẽ làm xuất hiện lượng mới chính là kiến
thức của chương trình đại học. Kiến thức đại học khác với kiến thức cấp 3, nói cách khác
lượng mới ra đời khác với lượng cũ, vì thế diễn ra một quá trình tiếp tục tích lũy đủ lượng
mới và thực hiện các bước nhảy mới  Tạo thành quá trình vận động và phát triển liên tục Kết luận:
Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần
dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển hóa về
chất. Đối với quá trình học tập nói chung và quá trình học tập của sinh viên đại học
nói riêng, cần phải có một quá trình tích lũy kiến thức đủ rộng và sâu, không nên
học nửa vời, tránh tình trạng “nước đến chân mới nhảy” để có đủ lượng kiến thức
cần thiết và thực hiện bước nhảy, chuyển hóa thành chất mới và tiếp tục quá trình vận động, phát triển lOMoAR cPSD| 23136115
NỘI DUNG THẢO LUẬN TUẦN 9 ĐỀ BÀI: Sự vận dụng của Đảng về vai trò của thực tiễn đối
với nhận thức trong thời kì đổi mới ở Việt Nam? I. Lý thuyết
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến
tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn là những hoạt động đặc trưng và bản chất của conngười, được thực
hiện tất yếu khách quan và không ngừng phát triển. Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn là hoạt động vật
chất mang tính chất sáng tạo và có tính mục đích, tính lịch sử – xã hội. Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng,
song có ba hình thức cơ bản là:
• Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản đầu tiên, đây là hoạt động trong đó con
người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều
kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. => đóng vai trò quan trọng nhất.
• Hoạt động chính trị – xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, của các tổ chức khác nhau trong xã
hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển
• Thực nghiệm khoa học là hoạt động được tiến hành trong điều kiện con người tạo ra gần giống hoặc
lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định được quy luật biến đổi phát triển của các
đối tượng nghiên cứu.
 Có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
- Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người
trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan. Có 2 giai đoạn
• Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức nó được thể hiện dưới ba hình thức đó
là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc của mọi hiểu biết của con người.
Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnh hơn về sự vật.
Biểu tượng là hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ và nó thường xuất hiện khi có những
tác động đến trí nhớ con người.
• Nhận thức lí tính là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ
sở nhận thức cảm tính. Được thể hiện ở các hình thức như là khái niệm, phán đoán và suy lí bên cạnh đó
chúng ta còn có trình độ nhận thức kinh nghiệm, lí luận, thông thường và khoa học. - Vai trò của thực
tiễn đối với nhận thức.
• Thực tiễn là cơ sở của nhận thức: Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế
giới phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người nhận thức chúng.
• Thực tiễn là động lực của nhận thức: Hiện thực khách quan luôn vận động, để nhận thức kịp với tiến
trình hiện thực phải thông qua thực tiễn. Thực tiễn làm cho các giác quan, tư duy của con người phát
triển và hoàn thiện, từ đó giúp con người nhận thức ngày càng sâu sắc về thế giới.
• Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn. Lý luận, khoa học chỉ
có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn.
• Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức: Điều này có nghĩa
thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức. Chỉ có đem những tri thức đã thu nhận được qua nhận
thức đối chiếu với thực tiễn để kiểm tra, kiểm nghiệm mới khẳng định được tính đúng đắng của nó. lOMoAR cPSD| 23136115 II. Vận dụng
1. hoàn cảnh, sự cần thiết đổi mới đất nước
a. Nguyên nhân trong nước
- từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ còn phổ biến tiên lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua tư bản chủ nghĩa, đây là con đường mới mẻ, đầy thách thứ.
- trong hơn một thập kỉ, trải qua hai nhiệm kì đại hội 4 và 5 (1976-1986), đảng và nhân dân ta vừa
làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm con đường đi lên xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó, cách mạng xã
hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu và tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhưng còn gặp không ít khó khăn và yếu kém. Khó khăn của ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa
xã hội ngày càng lớn làm cho đất nước từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỉ XX
lâm vào tình trạng khủng hoảng, gay gắt nhất từ những năm 80, trước mặt là về kinh tế - xã hội,
khi lạm phát lên tới mức phi mã. Một trong những nguyên nhân cơ bản của những khó khăn, yếu
kém của t là do ta mắc phải "sai lầm nghiêm trọng kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lần
về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện".
 Sai lầm của ta trước tiên thể hiện trong sự nôn nóng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, ở việc đề ra
phương châm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách duy ý chí: nhanh, mạnh, vững chắc. Vì vậy, khi
thực hiện đã không tuân thủ đúng trình tự lịch sử, dẫn đến "vi phạm quy luật khách quan" và rơi
vào lí luận suông, không kết hợp lí luận và thực tiễn.
- Sai lầm của chúng ta cò thể hiện ở việc đặt ra trong kế hoạch phát triển nền kinh tế - xã hội của
nhà nước quá nhiều mục tiêu, chỉ tiêu cũng với tư tưởng, chủ quan, nóng vội, quá lớn và quá cao
so với khả năng thực tế của đất nước. Và ở việc mong muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta đang ở chặng đường đầu tiên.
- Khuynh hướng tư tưởng chú yếu của những sai lầm đó trước tiên là những sai lầm trong chính
sách kinh tế, là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, là khuynh
hướng buông lỏng quản lí kinh tế, xã hội..."/ đó là khuynh hướng biểu hiện của tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. b. Nguyên nhân quốc tế
- Sự thay đổi trong quan hệ quốc tế giữa các nước
- Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ,
- Trước khủng hoàn toàn diện ngày càng trầm trọng của liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác
do chậm thích nghi với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
- Do áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội có khuyết tất ngay từ đầu chạm được khắc phục.
 Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoàng và đẩy mạnh sự nghiệm
cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, đòi hỏi đảng và nhà nước ta phải đổi mới. Đây là một vấn đề
có ý nghĩa sống còn. Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (121986),
được điều chỉnh, bổ sung và phát triển tại Đại hội VII (6-1991), Đại hội VIII (6-1996), Đại hội IX
(4-2001), đại hội X-2006, đại hội XI-2011 nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục được củng cố.
2. Sự vận dụng của Đảng về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức trong thời kì đổi mới ở ViệtNam.
• qua hoạt động thực nghiệm, Mọi sai lầm của chúng ta chỉ có thể giải thích bằng hai nguyên nhân: lOMoAR cPSD| 23136115
Vừa là thực tiễn chưa phát triển đầy đủ, giúp ta phân biệt rõ đúng – sai, khẳng định và
phủ định. Đó là xét từ quan hệ thực tiễn – nhận thức.
Vừa là nhận thức chưa vượt qua khỏi tình trạng lạc hậu giáo điều, sự lạc hậu so với
thực tiễn, đi sau thực tiễn, nhận thức chưa đủ sức dự báo, soi đường cho thực tiễn,
hướng dẫn thực tiễn phát triển. Đó là xét từ quan hệ nhận thức – thực tiễn.
• Trong nhiều lĩnh vực nhận thức còn thụ động và lạc hậu, chạy theo sau cuộc sống, trong khi
thực tiễn cuộc sống lại chưa phát triển đến độ chín muồi để bộc ộ ra những nhận tố của phát triển.
• Chúng ta đã từng nhận thức đơn giản, Siêu hình theo cách đặt đối lập tuyệt đối giữa tư bản
chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, coi việc bỏ quan chủ nghĩa tư bản là một sự bỏ qua toàn bô,
tất cả những gì thuộc về chủ nghĩa tư bản, không nhận thấy sự cần thiết phải học hỏi những
kinh nghiệm mà chủ nghĩa tư bản đã tích lũy được hàng bao thế kỉ.
 Đổi mới và sự hình thành nhận thức lí luận từ thực tiễn mới về chủ nghĩa xã hội là một nô lực to lớn
để khác phục những hạn chế, khiếm khuyết trong mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến xã hội.
 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức: Bằng những hoạt động thực tiễn trong việc nước ta gặp khủng
hoảng, đảng ta đã nhận thức lại các vấn đề đang tồn tại kìm hãm sự phát triển của đất nước ta và
từ đó đưa ra những những đường lối chính sách tốt hơn để xây dựng nước ta đi theo con đường chủ nghĩa xã hội.
 Thực tiễn là động lực của nhận thức: Hoạt động thực tiễn phải có sự chỉ đạo của nhận thức, vận
dụng nhận thức phải phù hợp với hoàn cảnh lịch sử- cụ thể, khác phục bệnh kinh nghiệm chủ
nghĩa. Phải nắm vững nguyên lí phổ biến của chủ nghĩa mác lê nin, chú trọng tổng kế thực tiễn đổi
mới của nước ta để vạch ra đường lối chính sách đúng.
 Thực tiễn là mục đích của nhận thức: nhận thức phải bám sát hơn nữa thực tiễn, nhanh nhạy nắm
bắt được yêu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn, khắc phục bệnh giáo điều.
 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức: công cuộc đổi
mới càng đi vào chiều sâu thì càng xuất hiện nhiều vấn đề mới liên quan đến nhận thức về nhận
thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ có tăng cường tổng kết
thực tiễn, phát triển lí luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động và
sáng tạo, bớt được sai lầm và những bước đi quanh co, phức tạp. 3. Kết luận
- Như vậy, thực tiễn vừa là điểm xuất phát của nhận thức, vừa là yếu tố quyết định đối với sự hình
thành và phát triển của nhận thức, là nơi nhận thức luôn hướng tới để nghiệm tính đúng đắn của
mình. Chính nhờ có sự nhận thức kịp thời và chính xác mà Đảng ta đã xác định được hạn chế của
bản thân, từ đó tạo ra cơ sở để khắc phục những hạn chế ấy. Đồng thời quá trình nhận thức đã đặt
ra cho Đảng những mục tiêu, yêu cầu hay cũng chính là những động lực để Đảng ta kiên định với
sự nghiệp cao cả đó là đổi mới toàn diện đất nước. - Những diễn biến nhanh chóng của tình hình
quốc tế cũng đòi hỏi Đảng phải nhạy bén, tìm tòi nghiên cứu để đường lối của Đảng kịp thời đáp
ứng những yêu cầu chuyển biến của tình hình. Những bài học kinh nghiệm về việc xác định đúng
đối tượng, nhiệm vụ và lực lượng của cách mạng-cả trong tầm nhìn chiến lược dài hạn cũng như
trong những giai đoạn cụ thể, ngắn hạn, càng có ý nghĩa trong hiện tại, khi cách mạng Việt Nam
đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, nguy cơ. lOMoAR cPSD| 23136115
Hãy lấy ví dụ để chứng minh vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và
phát triển xã hội? I. Lý thuyết
Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người. Quá
trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là “sự sản xuất xã hội”, tức là sản
xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực, bao gồm ba phương diện không tách rời
nhau: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Trong đó
sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội.
- Khái niệm: Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm
tạo ra của cải xã hội thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
- Vai trò: Sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
+ Sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con người: Sản
xuất vật chất là điều kiện khách quan cho sự sinh tồn xã hội. Con người muốn tồn tại
và duy trì, phát triển thì phải được đáp ứng các nhu cầu vật chất tối thiểu như: đồ ăn,
thức uống, trang phục, nơi ở,...
+ Hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở hình thành nên tất cả các hình thức quan
hệ xã hội khác: Nhờ lao động sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hàng hóa, giữa con người
xuất hiện những mối quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực như chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo,…
+ Sản xuất vật chất là nền tảng cho sự hình thành, biến đổi, phát triển của xã hội:
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
• Suốt chiều dài lịch sử, nền sản xuất của cải xã hội không ngừng phát triển từ
thấp đến cao. Từ chỗ chỉ dùng công cụ lao động bằng đá ở xã hội nguyên thủy,
con người dần dần chế tạo được công cụ bằng đồng ở xã hội cổ đại, và bằng sắt
trong thời cổ đại đến trung đại. Sau đó, nhờ cuộc cách mạng công nghiệp, con
người đã biết dùng máy móc động cơ hơi nước, các hệ thống cơ khí hóa, hiện đại hóa.
• Trong quá trình lao động sản xuất, cơ thể con người không ngừng phát triển và
hoàn thiện: dáng đi thẳng, không còn gù lưng như loài vượn. Có sự phân hóa
chức năng giữa chân, tay và bộ óc. Các giác quan cũng phát triển nhạy bén hơn.
Con người có nhận thức, tư duy, tình cảm, đạo đức...
• Con người xuất hiện nhu cầu “nói chuyện” với nhau. Nếu không giao tiếp được,
con người không thể lao động sản xuất. Do đó, tiếng nói, chữ viết xuất hiện,
hình thành nên ngôn ngữ - phương tiện để giao tiếp, trao đổi, truyền bá tri thức,
kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác. lOMoAR cPSD| 23136115
II. Ví dụ thực tiễn ở đất nước Việt Nam 1. Hoàn cảnh xã hội
Việt Nam là một đất nước có sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, điểm xuất phát thấp, lại
chịu ảnh hưởng nặng nề của thời kỳ đô hộ, của chiến tranh xâm lược, nên Việt Nam
phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: tiềm lực yếu, cơ sở vật chất nghèo nàn, tư liệu lao
động thiếu thốn, phương thức sản xuất lạc hậu, thô sơ, trình độ còn thấp kém...
→ Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì cần phải tiến hành đổi mới nhiều
mặt. Trong đó, có đổi mới về kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, phát huy nội lực, thu hút
ngoại lực, từng bước đưa nền kinh tế tăng trưởng bền vững tạo ra nguồn của cải vật
chất dồi dào không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ cho xuất
khẩu. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn,
kết hợp phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội.
2. Sản xuất vật chất với sự tồn tại và phát triển của xã hội Việt Nam
Trước thời kỳ đổi mới (1960 – 1985), Đảng đề ra chủ trương lấy công nghiệp
nặng làm nền tảng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Trải
qua ba lần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (Kế hoạch 5 năm), Việt Nam
đã từng bước khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Nhân dân đồng lòng
cùng Đảng và Nhà nước tăng gia sản xuất. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 5,49 triệu
tấn (1975), giai đoạn 1977 – 1985 tăng 4,49%/năm. Số lượng các xí nghiệp công nghiệp
cũng tăng cao, một số khu công nghiệp (hay khu vực công nghiệp) lớn được hình thành,
và đã xây dựng được nhiều cơ sở công nghiệp quan trọng, sản xuất được than, thiếc,
giấy, vải... Nhờ có sản xuất vật chất, nền kinh tế dần được khôi phục và cải thiện, giúp
cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng được nâng cao. Thu nhập bình
quân đầu người một tháng tăng từ 200 – 500 đồng (1984). Nước ta có đủ điều kiện cơ
bản về kinh tế, cơ sở hạ tầng và nhân lực để thực hiện nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, bổ
túc văn hóa. Hệ thống y tế được mở rộng, xây mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật...
Tuy nhiên, cơ chế đó còn tồn tại nhiều bất cập. Sau khi nhận ra, Nhà nước bắt đầu
có một số thay đổi trong chính sách quản lý. Từ năm 1986 đến nay, nước ta đã thực
hiện đường lối đổi mới nền kinh tế và hội nhập quốc tế. Đường lối đổi mới của Đảng
nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi dậy tiềm
năng và sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều
việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho xã hội. Ngành nông nghiệp đã giải
quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt
Nam từ nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Những
sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư đều tăng
cả về số lượng và chất lượng. Năm 2000 so với 1986, sản lượng điện tăng gấp 4,7 lần,
thép cán gấp 25,6 lần, dầu thô đạt 16,3 triệu tấn... Do sản xuất phát triển, kinh doanh
hồi phục, nên đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Năm 2019, GDP bình quân đầu
người đạt 2715 USD, thu nhập bình quân đầu người một tháng đạt xấp xỉ 4,3 triệu đồng,