1. Triết học Mác-Lênin, chức năng của triết học Mác-Lênin
- Triết học Mác-Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và
tư duy-thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới
*Chức năng
v Chức năng thế giới quan:
· Thế giới quan DVBC có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng cho con
người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực.
Ví dụ: Khi nghiên cứu biến
đổi khí hậu, thay vì cho rằng hiện tượng là ngẫu nhiên hay do thần thánh
gây ra, con người nhìn nhận nguyên nhân là các hoạt động sản xuất và ô
nhiễm, từ đó có cách giải quyết khoa học.
· Hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động, giúp con
người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình.
Ví dụ: Một
doanh nghiệp áp dụng triết lý phát triển bền vững dựa trên phân tích kinh
tế – xã hội – môi trường, thay vì chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt.
· Là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn
giáo, phản khoa học
. Ví dụ: Khi các thuyết mê tín dị đoan lan tràn trong xã
hội, triết học Mác–Lênin giúp giáo dục nhân dân dựa vào khoa học và
thực tiễn, từ đó loại bỏ những quan niệm sai lầm.
v Chức năng phương pháp luận
· PP luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát có vai
trò chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn nhằm đạt kết quả tối ưu.
VD: Khi xây dựng chính sách
giảm nghèo, chính phủ phân tích mối quan hệ giữa giáo dục, việc làm và y
tế để đề ra giải pháp toàn diện
· PP luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp. Ví dụ: Trong
quản lý nhà nước, áp dụng nguyên tắc “đi từ thực tiễn cụ thể, xem xét mâu
thuẫn, phân tích tác động lâu dài” giúp hoạch định chính sách hợp lý.
· Trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận
chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
. Ví dụ: Khi một kỹ sư
thiết kế hệ thống năng lượng, anh ta sử dụng quy luật phát triển biện
chứng: tổng hợp các yếu tố tự nhiên – công nghệ – con người để tối ưu
hiệu quả
.
· Triết học Mác-Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm
trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học, giúp con người phát triển tư
duy khoa học ở cấp độ phạm trù, quy luật. Ví dụ: Một nhà khoa học khi
nghiên cứu kinh tế sử dụng các phạm trù như giá trị, sức lao động, lợi
nhuận để phân tích thị trường, dự đoán xu hướng, từ đó ra quyết định
kinh tế chính xác.
2. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất. Vấn đề cơ bản của triết học
1. khái niệm vật chất:
- Vật chất là một PTTH dùng để chỉ thực tại khách quan, đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác.
Nội dung của khái niệm: 4 ý
- Với tư cách là một PTTH, vật chất là sự trừu tượng hóa, khái quát hóa, không tồn tại
trực quan,
cảm tính, nghĩa là không đồng nhất vật chất với những vật thể.
- Thuộc tính cơ bản của vật chất là thuộc tính khách quan, tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác – đây là tiêu chuẩn phân biệt (một cách tương đối) vật chất với ý thức.
- Vật chất là thực tại khách quan, đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác – thừa nhận vật chất có trước, cảm giác (ý thức) có sau.
- Vật chất là thực tại khách quan, đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác
chép lại, chụp lại, phản ánh – thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới
thông qua cảm giác và ý thức.
2. Các hình thức tồn tại của vật chất theo CNDVBC
Vận động
Định nghĩa của Ăngghen về vận động:
- Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất – tức hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất,
là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá
trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy.
Các hình thức vận động:
- Vận động cơ học: chuyển dịch vị trí của vật thể trong không gian. Ví dụ: Trái Đất quay
quanh Mặt Trời
- Vận động vật lý: quá trình biến đổi của nhiệt độ, các hạt cơ bản, điện, trường. Ví dụ: Sự
nóng chảy của băng thành nước
- Vận động hóa học: sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ. Ví dụ: Quá trình sắt bị gỉ
- Vận động sinh học: quá trình biến đổi các cơ thể sống. Ví dụ: Quá trình quang hợp ở
cây xanh.
- Vận động xã hội: sự biến đổi các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa. Ví dụ: Cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất ở Anh
giữa các hình thức có sự chuyển hóa lẫn nhau, hình thức vận động thấp làm tiền đề cho
hình thức vận động cao, hình thức vận động cao bao hàm hình thức vận động thấp.
Giữa các hình thức vận động có sự chuyển hoá lẫn nhau:
- Vận động và đứng im. Vận động là tuyệt đối, đứng im là sự biểu hiện vận động trong
thăng bằng. Nói cách khác, đứng im là tạm thời,tương đối, làm cơ sở tồn tại cho các sự
vật.
- Vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn, bởi vì vật chất không tự sinh ra và không mất đi, chỉ
chuyển từ dạng này sang dạng khác nên vận động cũng không thể mất đi mà chỉ thay đổi
hình thức. Hình thức này của vận động vật chất mất đi tất yếu sẽ phát sinh hình thức khác.
Không gian và thời gian
- Triết học Mác - Lênin khẳng định vận động vật chất không thể diễn ra ở đâu khác ngoài
trong không gian và theo thời gian. Không gian - thời gian-vật chất tồn tại trong sự thống
nhất. Không có vật chất tồn tại ngoài không gian, thời gian và ngược lại, không có không
gian, thời gian phi vật chất.
- Không gian là cái chỉ vị trí (ở chỗ nào?), quảng tính (chiều rộng, chiều dài, chiều cao)
của sự vật.
- Thời gian là sự tồn tại của sự vật được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh-chậm, kế
tiếp và chuyển hóa.
Tính chất chung:
- KG và TG mang tính khách quan: là thuộc tính cố hữu của vật chất, tồn tại không tách
rời nhau và không tách rời vật chất, phụ thuộc lẫn nhau giữa KG-TG-VC
- KG và TG mang tính vĩnh cửu, vô tận: vô cùng thủy chung, vô cùng vô tận, không có
điểm bắt đầu và điểm tận cùng trong vũ trụ.
Tính chất riêng:
- Tính 3 chiều của KG (chiều dài, chiều rộng, chiều cao), tính một chiều của TG (QK –
HT – TL)
- KG và TG mang tính tương đối.
*Vấn đề cơ bản của triết học
· Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
- Theo Ph.Ăngghen: “ Vấn đề cơ bản và tối cao của mọi triết học, đặc biệt là
của triết học hiện đại, là vấn đề MQH giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và
tự nhiên”
- Mặt thứ nhất (Bản thể luận): Thế giới bắt đầu từ đâu? Giữa ý thức và vật
chất cái nào có trước và cái nào có vai trò quyết định
- Mặt thứ hai (Nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế
giới hay không
· Cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Ø Giải quyết mặt thứ nhất (Bản thể luận):
- Chủ nghĩa nhất nguyên:
· Chủ nghĩa duy vật: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất
quyết định ý thức
· Chủ nghĩa duy tâm: Ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết
định vật chất
- Chủ nghĩa nhị nguyên: Vật chất và ý thức tồn tại độc lập, chúng
không nằm trong quan hệ sản sinh hay quyết định lẫn nhau
Ø Giải quyết mặt thứ hai (Nhận thức luận):
- Khả tri luận: Thừa nhận khả năng của nhận thức con người
- Bất khả tri luận: Phủ nhận khả năng nhận thức của con người
3. Nguồn gốc và bản chất của ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận
1. Nguồn gốc của ý thức
1. Nguồn gốc tự nhiên
- Ý thức là sản phẩm hoạt động của bộ óc con người: Bộ óc con người là cơ quan nhận
thức duy nhất, còn ý thức là sản phẩm tinh thần có được nhờ sự hoạt động bình thường
của hệ thần kinh diễn ra trong bộ óc. Ví dụ: Khi ta nhìn thấy một bông hoa và nhận ra nó
đẹp, biết nó có mùi hương dễ chịu — đó là hoạt động của não bộ xử lý thông tin cảm giác
(thị giác, khứu giác) để hình thành nhận thức tinh thần về “vẻ đẹp” và “mùi hương” của
hoa.
- Sự phản ánh quá trình vật chất tuân theo quá trình phát triển từ thấp đến cao, tương ứng
với quá trình tiến hóa của các dạng vật chất có năng lực phản ánh đó: (1) Phản ánh vật lý
mang tính sao chép nguyên mẫu, gắn liền các với dạng vật chất vô cơ. (2) Phản ảnh sinh
vật mang tính chọn lọc và định hướng, gắn liền với sinh vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh
trung ương. (3) Phản ánh tâm lý mang tính bản năng, bột phát gắn liền với động vật có hệ
thần kinh trung ương, tức bộ óc loài vật bậc cao. (4) Phản ánh ý thức mang tính sáng tạo,
gắn liền với hoạt động của bộ óc con người.
- Thế giới khách quan với tính cách là đối tượng phản ánh
2. Nguồn gốc xã hội của ý thức
- Vai trò của lao động trong việc hình thành ý thức: sự khác biệt cơ bản giữa loài người và
loài vật chính là lao động. Lao động đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá
trình chuyển hoá loài vượn thành loài người. Lao động là điều kiện cơ bản, đầu tiên của
toàn bộ đời sống loài người... lao động đã sáng tạo nên bản thân con người".
Ví dụ: Khi tổ
tiên loài người biết chế tạo công cụ bằng đá để săn bắt, họ vừa rèn luyện tay chân, vừa
phát triển trí óc – qua đó hình thành tư duy, kinh nghiệm và tri thức. → Lao động khiến
con người tách khỏi loài vật, dần dần hình thành ý thức xã hội (biết hợp tác, chia sẻ, sáng
tạo).
- Vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành phát triển : Ngôn ngữ là ptien giao tiếp trong
xã hội, đồng thời là công cụ để tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ
ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, tri thức. Không có
ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
=>Tóm lại, theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức được hình thành trên nguồn gốc tự
nhiên và nguồn gốc xã hội. Hai nguồn gốc này liên quan mật thiết, tác động cùng chiều.
Bộ óc con người là cơ sở tâm - sinh lý, thế giới khách quan là đối tượng phản ánh, lao
động và giao tiếp xã hội tạo nên nội dung xã hội của ý thức; ngôn ngữ là phương tiện thể
hiện, công cụ lưu giữ và phương thức chuyển tải ý thức từ người này sang người khác
2. Bản chất của ý thức
2.1. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Ý thức cũng tồn tại nhưng chỉ
tồn tại trong bộ óc con người, nó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Thế giới
khách quan là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, thế giới khách quan là cái được phản
ánh, ý thức là cái phản ánh; thế giới khách quan quy định nội dung phản ánh của ý thức.
2.2. Ý thức phản ánh thế giới khách quan nhưng không phản ánh nguyên xi, thụ động, mà
phản ánh thông qua hoạt động sáng tạo của bộ óc con người.
Tính sáng tạo đó thể hiện trong 2 điểm sau:
- Ý thức cải biến cái vật chất được di chuyển vào trong bộ óc con người thành cái tinh
thần - đó là các biểu tượng, khái niệm, phạm trù giúp con người nắm bắt bản chất và qui
luật vận động của đối tượng nhận thức, qua đó có khả năng tạo nên “thiên nhiên thứ hai”
thoả mãn nhu cầu đời sống. Đây chính là điểm khác biệt giữa loài người và loài vật.
- Trên cơ sở những tri thức đã có, ý thức tạo ra tri thức mới phản ánh đối tượng, ý thức
giúp con người tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế, nhờ vậy có thể dự báo
những gì sắp diễn ra trong tương lai, tạo ra những lý thuyết khoa học.
2.3. Ý thức là một hiện tượng lịch sử - xã hội: Ý thức luôn là ý thức của những con người
cụ thể sống trong những môi trường lịch sử - xã hội nhất định. Mỗi cá nhân sống trong xã
hội luôn chịu tác động cùng một lúc từ 2 phía:
- Từ phía lịch sử - đó là những giá trị nhân bản được kết tinh trong quá trình phát triển
của lịch sử nhân loại, là những nét đẹp của truyền thống dân tộc, truyền thống cộng đồng
và gia tộc, v.v.
- Từ phía xã hội đương đại - đó là các quan hệ, qui luật và điều kiện kinh tế - xã hội, đặc
biệt là quan hệ sản xuất đang hiện hành. Tính xã hội của ý thức là nhân tố cơ bản tạo nên
bản chất con người, mà bản chất con người là “tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”.
* Ý nghĩa pp luận
- Tôn trọng khách quan, chống duy ý chí.
- Phát huy vai trò chủ thể, nâng cao tính sáng tạo.
- Kết hợp khách quan – chủ quan, trong đó khách quan quyết định.
- Đề cao lao động và ngôn ngữ, coi trọng thực tiễn xã hội.
- Giáo dục ý thức phải phù hợp với điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể.
4. Nguyên lý về MLH phổ biến và ý nghĩa pp luận. Liên hệ với hoạt động của bản
thân
1. KN
Mọi sv, hiện tượng không tồn tại một cách biệt lập, tách rời mà có mối liên hệ tác
động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau; nương tựa, chuyển hoá lẫn nhau,
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nhau.
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, đồng thời cũng
chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện
tượng, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng.
Ví dụ: các bộ phận trong cơ thể đều có mối liên hệ, hỗ trợ nhau các chức năng từ rất nhỏ
đến lớn
2. Những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ phổ biến
a. Tính khách quan
Mối liên hệ là cái vốn có, bên trong các sự vật, hiện tượng.
Các sự vật đều là những dạng cụ thể vật chất nên không thể tồn tại biệt lập, tách rời
mà trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau
Bản chất của sự vật, hiện tượng bộc lộ thông qua sự tác động giữa các sự vật.
Ví dụ: mối quan hệ giữa con gà và quả trứng
2. Tính phổ biến
Mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại
tuyệt đối biệt lập mà tồn tại với tư cách là một hệ thống mang tính mở, tồn tại trong
mối liên hệ với hệ thống khác.
Ví dụ: mưa đều có liên hệ đến gió mùa và gió mùa đều có liên hệ đến những dòng hải
lưu.
3. Tính đa dạng, phong phú
Mọi sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại nhiều mối liên hệ khác nhau.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ còn thể hiện ở những điều kiện thời
gian, không gian cụ thể khác.
Ví dụ: các loài cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng mối quan hệ của cá với
nước khác mối quan hệ của chim, thú với nước.
3. Phân chia các mối liên hệ dựa trên các cơ sở khác nhau
Mối liên hệ bên trong – bên ngoài
Mối liên hệ cơ bản – không cơ bản
Mối liên hệ bản chất – không bản chất
Mối liên hệ không gian - thời gian
4. Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành đối tượng, tìm mối liên hệ cơ bản.
Cần xem xét đối tượng một cách bao quát, nhiều mặt, nhiều góc độ và hoàn cảnh khác
nhau.
Phải tìm hiểu đầy đủ các mối liên hệ giữa đối tượng với thế giới xung quanh.
Không nên có tư tưởng giàn đều, cào bằng, bình quân chủ nghĩa
Vận dụng nhiều phương pháp khi nghiên cứu đối tượng ( biện chứng, siêu hình, phân
tích tổng hợp,…)
Khi giải quyết những vấn đề thực tiễn phải biết kết hợp nhiều biện pháp và phương
tiện khác nhau , sử dụng nhiều lực lượng khác nhau.
Và cần tránh tư tưởng chiết trung, tư tưởng phiến diện, thuật ngụy biện và quan điểm
xa rời thực tiễn
5. Vận dụng
Trong học tập: Khi gặp khó khăn trong việc nắm bắt một chủ đề phức tạp, vận dụng
nguyên lý mối liên hệ phổ biến giúp tôi thấy rằng mỗi khái niệm không tồn tại tách
biệt mà có liên quan đến những kiến thức nền tảng khác. Ví dụ, khi học về triết học,
tôi nhận ra các khái niệm về biện chứng, logic, và nhận thức có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau, điều này giúp tôi có cái nhìn toàn diện và dễ dàng hiểu sâu hơn.
Trong công việc: Khi làm việc nhóm, tôi nhận thấy rằng hiệu quả công việc không
chỉ phụ thuộc vào từng cá nhân mà còn vào sự hợp tác và tương tác giữa các thành
viên. Mỗi thành viên đều có mối liên hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, góp phần tạo nên
kết quả chung. Vì vậy, tôi luôn cố gắng duy trì giao tiếp và phối hợp với đồng đội để
đạt hiệu quả cao nhất.
Trong đời sống cá nhân: Tôi nhận thấy những quyết định của mình không chỉ ảnh
hưởng đến bản thân mà còn tác động đến gia đình và bạn bè. Ví dụ, khi lên kế hoạch
học tập hoặc làm việc, tôi cân nhắc đến sự liên quan với các cam kết khác để đảm bảo
rằng mình có thể cân bằng và không ảnh hưởng tiêu cực đến những người xung
quanh.
5. Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng. Ý nghĩa pp luận. Vận dụng trong hoạt động
nhận thức và thực tiễn
· Bản chất là phạm trù dùng để biểu thị sự tổng hợp tất cả những mặt, những
mối liên hệ tất yếu tương đối ổn định hợp thành một thể thống nhất hữu cơ bên
trong sự vật, quy định sự tồn tại, vận động, phát triển và diệt vong của sự vật
đó
. VD: Bản chất con người là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện
sinh học và xã hội
· Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. VD: Hành vi ăn nói,
giao tiếp xã hội, lao động, học tập,.. của người đó phản ánh con người là một
thực thể sinh học-xã hội
*Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
v Bản chất và hiện tượng thống nhất biện chứng với nhau :
· Bản chất bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự phản ánh những mặt,
khía cạnh, thuộc tính nào đó của bản chất
· Không có bản chất nào không bộc lộ qua hiện tượng, không có hiện tượng
nào mà không phản ánh bất kỳ một thuộc tính nào của bản chất
· VD: Người học giỏi (hiện tượng) được tạo nên bởi bản chất là sự chăm chỉ,
phương pháp học tốt, tư duy logic.
v Bản chất và hiện tượng bao hàm mâu thuẫn
· Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng phản ánh cái
riêng, ngẫu nhiên. Một bản chất có thể được thể hiện bằng nhiều hiện tượng.
Do vậy, hiện tượng phong phú và đa dạng hơn bản chất
· Hiện tượng phản ánh bản chất, nhưng nhiều khi xuyên tạc, làm sai bản chất
(hiện tượng giả)
· Bản chất tương đối ổn định, còn hiện tượng thường xuyên biến đổi
· VD: Một người bề ngoài vui vẻ (hiện tượng) nhưng bản chất có thể đang rất
lo lắng hoặc buồn → hiện tượng che giấu bản chất.
v Hiện tượng tác động trở lại bản chất
· Hiện tượng tác động trở lại bản chất, có thể dần dần làm cho bản chất bị
tha hóa, biến đổi
· Điển hình là trong đời sống xã hội, các hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành
thói quen, thói quen tạo nên bản tính con người
· VD: Học sinh thường xuyên gian lận vặt trong các bài kiểm tra (hiện
tượng) → lâu dần hình thành bản chất thiếu trung thực.
*Ý nghĩa pp luận
v Nhận thức bản chất phải xuất phát từ hiện tượng (từ nhiều góc độ, hoàn cảnh,
thời điểm). Tránh:
(1) Thái độ hấp tấp, nóng vội, phiến diện trong nhận thức
(2) Tư tưởng chủ quan, định kiến, suy luận một chiều
v Vì bản chất là cái vốn có, khách quan của sự vật, nên cần tìm bản chất trong sự
vật. Cải biến sự vật phải bắt đầu từ nhận thức và cải biến bản chất
v Nếu con người có hiện tượng xấu thì loại bỏ tránh tạo thành thói quen bản chất
v Trong nhận thức và thực tiễn cần phân biệt hiện tượng thật và hiện tượng giả
Vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn (trong giáo dục và học tập)
Trong giáo dục: Giáo viên cần phân biệt rõ giữa hiện tượng và bản chất khi đánh
giá học sinh. Không nên chỉ nhìn vào kết quả điểm số hay hành vi nhất thời (hiện
tượng) mà kết luận năng lực, phẩm chất của các em. Phải tìm hiểu bản chất bên
trong như động cơ học tập, phương pháp học, hoàn cảnh tâm lý và môi trường. Nhờ
vậy, biện pháp giáo dục mới đúng hướng và tránh định kiến.
Trong học tập: Người học không nên bị đánh lừa bởi các hiện tượng bề ngoài như
“học tủ”, “học nhanh trước mắt”, hay hiểu phiến diện. Cần đi sâu tìm bản chất của
kiến thức: nắm nguyên lý, quy luật, mối liên hệ giữa các phần. Khi gặp vấn đề học
kém tạm thời, phải phân tích nguyên nhân bản chất (sai phương pháp, thiếu nền
tảng, tâm lý không ổn) để điều chỉnh; tránh chỉ tập trung xử lý biểu hiện bên ngoài.
6. Cặp phạm trù nội dung và hình thức. Ý nghĩa pp luận. Vận dụng trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn
1. KN
Phạm trù nội dung: là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu
tố, những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Nội dung của một tác phẩm nghệ thuật, là toàn bộ các yếu tố như tư tưởng của tác
phẩm, hình tượng nghệ thuật, v.v…đã phản ánh, và giải quyết những vấn đề nào đó của
cuộc sống hiện thực. Hoặc, nội dung của một cơ thể sống là toàn bộ các yếu tố vật chất,
như tế bào, khí quan, quá trình sống v.v…
Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại, biểu hiện và phát triển của sự vật, hiện
tượng ấy; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thành
nội dung của sự vật, hiện tượng, là cách thức tổ chức và kết cấu của sự vật.. Hình thức
bao gồm hình thức bên trong và hình thức bên ngoài.”
Ví dụ: Hình thức của một tác phẩm nghệ thuật văn chương, được thể hiện thông qua
phương thức diễn đạt nội dung của tác phẩm… là cách sắp xếp trình tự các chương, mục,
cách diễn đạt, hình dáng, mầu sắc trang trí của tác phẩm.
2.Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
a/ Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong đó:
+Không có nội dung nào nằm ngoài hình thức
+Không có hình thức nào không chứa nội dung
Ví dụ: trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất (người LĐ, TLSX, KH-CN)
đóng vai trò là nội dung, còn quan hệ sản xuất( hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, trình
độ tổ chức quản lí sản xuất, cách thức phân phối sản phẩm lao động) đóng vai trò là hình
thức
Sự phù hợp giữa nội dung và hình thức chỉ là tương đối, bởi vì:
+1 nội dung có thể được thể hiện qua nhiều hình thức.
+ 1 hình thức có thể chứa đựng những nội dung khác nhau.
Ví dụ: một cái nhà có thể sử dụng vài nhiều công dụng khác nhau như làm văn phòng,
cho thuê bán hàng,…
b/ Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức
Nội dung là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, còn hình thức mang tính ổn định, khi nội
dung thay đổi sớm muộn cũng sẽ kéo theo sự thay đổi của hình thức.
Trong lĩnh vực xã hội, điều này được phản ảnh bằng quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong thực tế khi đời sống
thay đổi thì lối sống( phong thục, tập quán,…) cũng phải thay đổi tương ứng.
Ví dụ: mối quan hệ giữa anh A và chị B là quan hệ bạn bè, khi đó hình thức quan hệ giữa
2 người không có giấy chứng nhận. Khi anh A và chị B kết hôn, nội dung quan hệ đã thay
đổi, thì hình thức quan hệ buộc phải thay đổi khi 2 người buộc phải có giấy chứng nhận
kết hôn.
c/ Hình thức tác động trở lại nội dung
Sự tác động của hình thức đến nội dung thể hiện ở theo 2 hướng:
+Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội
dung phát triển;
Ví dụ: trong giai đoạn đầu khi phương thức sản xuất mới hình thành, quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất nên thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh.
+Nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát
triển của nội dung.
Ví dụ: trong giai đoạn sau, khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản
xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ giữa nội dung và hình thức có thể rút ra kết luận cho thực tiễn.
Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trước hết phải
căn cứ vào nội dung. Muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội
dung của nó. Chống chủ nghĩa hình thức./ Cùng một nội dung có thể biểu hiện qua
nhiều hình thức khác nhau, bởi vậy cần sử dụng sự đa dạng về hình thức để truyền tải
nội dung./ Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với nội
dung; mặt khác cũng cần phải thực hiện những thay đổi đối với những hình thức
không còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung.
Trong giáo dục: Nội dung giảng dạy luôn cần được đổi mới cho phù hợp với thực tế
và yêu cầu của thời đại. Song song với đó, hình thức giảng dạy (phương pháp, công
cụ hỗ trợ) cũng cần được thay đổi, chẳng hạn, áp dụng công nghệ trực tuyến, sử dụng
hình ảnh, video,... để phù hợp với nội dung và nhu cầu của học sinh. Trong quản lý
tổ chức: Để truyền đạt chiến lược, nội dung làm việc của tổ chức một cách hiệu quả,
người quản lý cần chọn hình thức phù hợp như thông báo qua email, tổ chức cuộc họp
hoặc trình bày qua hội nghị trực tuyến. Hình thức truyền đạt cần được điều chỉnh sao
cho rõ ràng, dễ hiểu và đảm bảo nội dung đạt được đến người tiếp nhận.
7. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất
và ngược lại. Ý nghĩa pp luận. VD minh họa
1. Khái niệm
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không
phải là cái khác.
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc
tính của sự vật.
2. Mqh biện chứng
a. Sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
Sự vật, hiện tượng có sự thống nhất giữa mặt chất và mặt lượng. Chúng luôn có sự
quy định, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau. Mọi thay đổi về lượng đều ảnh
hưởng tới chất và ngược lại.
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về
lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng
đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.
Khi lượng thay đổi vượt quá điểm nút, sự vật diễn ra bước nhảy, tức là sự chuyển hóa
về chất
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự
thay đổi về lượng của sự vật đó gây nên.
Ví dụ: Nước khi tăng nhiệt độ từ 0°C đến gần 100°C, vẫn là nước lỏng (thay đổi
lượng trong giới hạn độ). Khi đạt 100°C (điểm nút), nước sôi và chuyển sang hơi (bước
nhảy – thay đổi chất).
Trong xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất (lượng) đến một mức độ nhất định sẽ
làm cho quan hệ sản xuất (chất) cũ trở nên lỗi thời, dẫn đến cách mạng xã hội – sự thay
đổi về chất
.
2. Sự tác động trở lại của chất đối với lượng
Khi chất mới hình thành sẽ tác động trở lại lượng theo hướng làm tăng lên hoặc giảm
đi về: quy mô, tốc độ, nhịp điều sự vận động, năng suất….của sự vật.
Ví dụ: Khi một vận động viên nâng cao thể lực và kỹ thuật → đây là sự thay đổi về chất.
Nhờ sự thay đổi này, tốc độ, cường độ tập luyện và thành tích thi đấu của họ tăng lên →
đây là sự thay đổi về lượng. Như vậy, chất mới (thể lực, kỹ thuật cao hơn) đã tác động
trở lại lượng (tốc độ, cường độ, thành tích), làm tăng hiệu quả và quy mô hoạt động của
vận động viên.
3. Ý nghĩa pp luận
Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải từng bước tích lũy
về lượng để làm biến đổi về chất, tránh tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt
cháy giai đoạn, muốn thực hiện những bước nhảy liên tục
Khi đã tích lũy đủ về lượng phải có quyết tâm thực hiện bước nhảy, khắc phục tư
tưởng bảo thủ, trì trệ (hữu khuynh). Vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy.
Chống quan điểm phiến diện, giản đơn cho rằng cứ thay đổi về lượng là thay đổi về
chất. Trong đời sống xã hội, tư tưởng này biểu hiện thành bệnh thành tích, coi trọng
số lượng mà không để ý đến chất lượng.
Nhận thức rằng sự thay đổi về chất có thể diễn ra bằng nhiều cách khác nhau (thay đổi
cấu trúc, phương thức liên kết, hoàn cảnh,...), không chỉ qua con đường thay đổi
lượng.
**VD minh họa: Trong tự nhiên, khi nung sắt, lúc đầu dù nhiệt độ tăng dần nhưng sắt
vẫn giữ nguyên chất rắn – đó là sự thay đổi về lượng. Khi nhiệt độ tăng đến điểm nút, sắt
chuyển từ thể rắn sang thể lỏng, tức là có “bước nhảy” về chất. Quá trình này thể hiện rõ
mối quan hệ biện chứng giữa lượng (nhiệt độ) và chất (trạng thái vật chất): lượng thay
đổi đến một giới hạn nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất.
8. Vai trò của sản xuất vật chất đối với tồn tại và phát triển xã hội
*K/n sản xuất vật chất:
- Thứ nhất, quá trình con người sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên, cải
biến các dạng nguyên liệu thô của giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu sinh
tồn của mình
- Thứ hai, quá trình con người tác động đến con người thông qua tình yêu-hôn nhân-gia đình,
sinh ra thế hệ con cái đáp ứng nhu cầu tình cảm, duy trì nòi giống và bổ sung nguồn nhân lực
cho sản xuất, lực lượng bảo vệ quốc phòng
*Vai trò của sản xuất vật chất
- Sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên của con người, giúp con người thoát thai khỏi
động vật và trạng thái sống bầy đàn để tạo nên cộng đồng xã hội.
VD: Con người nguyên
thủy biết nhóm lửa, biết dựng lều, làm quần áo từ da thú → tạo nên đời sống cộng đồng ổn
định hơn.
Lao động là điều kiện đầu tiên để hình thành loài người (“lao động chuyển biến vượn
thành người”).
Quá trình chế tạo công cụ, kiếm ăn, làm nhà… giúp con người phát triển trí tuệ, ngôn
ngữ và ý thức.
Từ đó hình thành cộng đồng người đầu tiên và nền tảng của đời sống xã hội.
- Sản xuất vật chất là tất yếu khách quan của sự sinh tồn và phát triển xã hội. VD: Con người
phải trồng lúa, chăn nuôi, đánh bắt để tạo ra cái ăn → nếu không sản xuất, xã hội sẽ đói và
diệt vong.
Con người không thể tồn tại chỉ bằng những sản vật có sẵn trong tự nhiên → phải lao
động để tạo ra tư liệu sinh hoạt (ăn, mặc, ở).
Muốn duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người phải cải biến tự nhiên
thông qua lao động.
Mác khẳng định: con người phải có khả năng sống trước đã rồi mới làm ra lịch sử →
sản xuất là tiền đề cho mọi hình thái lịch sử.
Sản xuất là quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục; là điều kiện bảo đảm cho sự tồn
tại và phát triển của xã hội ở mọi giai đoạn.
- Sản xuất vật chất là cơ sở hình thành các quan hệ xã hội và con người với tư cách thành
viên xã hội
. VD: Khi sản xuất phát triển, xã hội cần quản lý tài sản, thu thuế, đặt luật lệ,
từ đó hình thành Nhà nước, pháp luật, đạo đức để điều chỉnh quan hệ giữa người với
người.
Các quan hệ như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, tôn giáo… đều bắt nguồn từ
quan hệ sản xuất.
Trong quá trình sản xuất, con người bắt buộc phải hợp tác, phân công lao động và trao
đổi → từ đó xuất hiện các mối liên hệ xã hội.
Sản xuất quy định cách con người tổ chức đời sống chung và hình thành các thiết chế
xã hội như: nhà nước, pháp luật, tập quán, đạo đức…
Bản thân con người chỉ trở thành “con người xã hội” khi tham gia vào hệ thống quan
hệ sinh ra từ sản xuất.
- Sản xuất vật chất là cơ sở của mọi sự tiến bộ xã hội. VD: Cách mạng công nghiệp (máy hơi
nước → máy móc → điện → tự động hóa) làm năng suất lao động tăng mạnh, kéo theo sự
phát triển của khoa học, giáo dục, y tế, giao thông.
Trình độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ phát triển của lực lượng sản xuất,
khoa học – kỹ thuật và công nghệ.
Sản xuất vật chất phát triển thúc đẩy các lĩnh vực khác tiến bộ: giáo dục, văn hóa, y
tế, nghệ thuật, dịch vụ…
Trong thời đại hiện nay, sản xuất đòi hỏi tri thức cao, làm cho giáo dục và khoa học –
công nghệ trở thành động lực trực tiếp của phát triển xã hội.
Nhờ sự phát triển của sản xuất, xã hội có thêm của cải vật chất, tạo điều kiện để nâng
cao đời sống tinh thần và cải thiện mọi mặt đời sống xã hội.
9. LLSX và yếu tố cấu thành LLSX. Liên hệ với LLSX ở nước ta hiện nay
I.Khái niệm
-LLSX: là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để sản xuất ra của cải
vật chất.
Lực lượng sản xuất được cấu thành từ 3 yếu tố:
(1) Con người với toàn bộ sức mạnh cơ bắp, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm
và kỷ luật lao động, năng lực quản lí sản xuất, khả năng làm chủ khoa học công nghệ, văn
hoá giao tiếp, khả năng tiếp thị. Con người là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, là
chủ thể của sản xuất và tiêu dùng
. VD: Một công nhân may có tay nghề cao, thao tác
nhanh và chính xác → giúp tăng chất lượng sản phẩm và giảm lỗi.
(2) Tư liệu sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa đối tượng lao động (đất đai, rừng núi,
sông biển) và công cụ lao động (cày, cuốc, máy). Đối tượng lao động là yếu tố tĩnh VD.:
Đất đai để trồng lúa, cà phê; quặng sắt để luyện thép; gỗ để sản xuất nội thất. Đây là
những nguyên liệu tự nhiên ban đầu con người tác động vào., còn công cụ lao động là
yếu tố động, không ngừng được cải tiến. Vd: Robot lắp ráp trong các nhà máy điện tử
giúp giảm sức lao động thủ công và chính xác hơn
(3) Khoa học và công nghệ là một hệ thống tri thức thực hiện chế biến vật chất và
thông tin. Khoa học (phát minh) gắn liền với kỹ thuật (máy móc) trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
. VD: Phát minh về pin năng
lượng mặt trời hiệu suất cao làm thay đổi cả ngành năng lượng.
*Liên hệ với LLSX ở Việt Nam hiện nay
· Người lao động: Đội ngũ công nhân, kỹ sư, nông dân và trí thức ngày càng
đông đảo, trình độ học vấn và tay nghề được nâng cao.
· Tư liệu sản xuất: Việt Nam hiện đại hóa công nghiệp: máy móc, nhà xưởng,
cơ sở hạ tầng được cải thiện, đặc biệt trong công nghiệp chế biến, chế tạo,
năng lượng.
· Khoa học – công nghệ
Áp dụng công nghệ mới, số hóa, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo trong sản xuất.
Việc đổi mới công nghệ còn chậm ở một số DNNN và nông nghiệp quy mô
nhỏ.
10. QHSX và các yếu tố cấu thành QHSX. Liên hệ với vấn đề QHSX nước ta hiện
nay
-QHSX: là quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất. Đây là quan hệ kinh tế cơ
bản có vai trò quyết định mọi quan hệ xã hội như quan hệ pháp luật, quan hệ chính trị, quan
hệ giai cấp. Vì vậy, khi quan hệ sản xuất thay đổi thì tất cả các quan hệ xã hội khác cũng
phải thay đổi theo.
dụ, khi đất nước tôi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, tất
cả các quan hệ xã hội khác cũng được thị trường hóa.
QHSX được cấu thành từ
1) Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất - đây là yếu tố chủ yếu của quan hệ sản xuất, đối với cá
nhân nào, tập thể nào, giai cấp nào. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ nắm quyền quyết
định.
dụ: Chủ sở hữu công ty ô tô (tầng lớp tư sản) nắm quyền sở hữu nhà máy, máy móc
tài nguyên sản xuất, họ quyền quyết định về việc mở rộng sản xuất, đầu vào công
nghệ mới, hay lựa chọn đối tác kinh doanh.
2) Quan hệ tổ chức - quản sản xuất, tức tổ chức quá trình sản xuất, quan hệ giữa người
quản lý, cá nhân, tập thể, giai cấp nào có quyền tổ chức và quản lý sản xuất sẽ có quyền quyết
định
. dụ: giám đốc hoặc quản cao cấp người nắm quyền tổ chức quá trình sản
xuất, quyết định lịch trình sản xuất, phân công công việc và giám sát hiệu quả công việc của
công nhân. Họ quyền quyết định các phương án sản xuất, sử dụng nhân sự sao cho đạt
năng suất tối đa.
3) Quan hệ phân phối sản phẩm lao động (trả tiền công cho người lao động). Ví dụ: Sau khi
hoàn thành công việc, công nhân trong nhà máy sẽ được trả tiền công theo số giờ làm việc
hoặc sản phẩm họ sản xuất ra. Chủ sở hữu nhà máy quyết định mức lương và các khoản
thưởng, phúc lợi dựa trên năng suất và hiệu quả công việc của người lao động
Liên hệ với QHSX ở Việt Nam hiện nay
Đặc điểm QHSX ở Việt Nam:
Xây dựng trên nền tảng XHCN: Việt Nam xây dựng QHSX theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Vai trò quyết định của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể: Kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể giữ vai trò nền tảng, là lực lượng vật chất quan trọng để phát
triển kinh tế.
Thách thức:
Xây dựng sự hài hòa giữa các thành phần kinh tế: Làm sao để các thành phần
kinh tế khác nhau (tư nhân, FDI...) phát triển hiệu quả, công bằng, góp phần
vào sự phát triển chung của đất nước.
Đảm bảo công bằng xã hội: Xây dựng cơ chế phân phối sản phẩm lao động
hợp lý, giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập.
Phát triển khoa học - công nghệ: Nâng cao năng suất lao động thông qua việc
ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất.
11. Quy luật QHSX phù hợp với LLSX. Liên hệ với thực tiễn xây dựng với vấn đề
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
Khái niệm:
Lực lượng sản xuất là sự tổng hợp tất cả mọi yếu tố vật chất mà con người sử
dụng để sản xuất ra của cải vật chất. Biểu thị MQH con người - tự nhiên, trình
độ chinh phục tự nhiên của con người.
Quan hệ sản xuất là:
Quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất.
Quan hệ kinh tế cơ bản giữ vai trò quyết định mọi quan hệ xã hội khác
(quan hệ chính trị, pháp luật, giai cấp,...).
=> QHSX thay đổi => QH khác thay đổi
C.Mác rút ra quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX:
LLSX và QHSX có mối quan hệ biện chứng: LLSX quyết định QHSX, QHSX tác
động ngược lại LLSX.
Sự tác động qua lại của LLSX & QHSX tạo nên quy luật vận động cơ bản của
xã hội, chi phối mọi quy luật khác (QL đấu tranh giai cấp, QL các mạng xã
hội, QL tăng trưởng nhu cầu, QL thay thế hình thái KTXH cũ bằng mới).
LLSX quyết định QHSX:
Theo quan điểm duy vật biện chứng: “Nội dung quyết định hình thức”
Thứ nhất, LLSX và QHSX là 2 mặt của PTSX. LLSX là nội dung vật chất , QHSX là
hình thức xã hội => Một LLSX nhất định sẽ có QHSX tương ứng, khi LLSX thay đổi
thì QHSX cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Ví dụ: thời đại kinh tế khác nhau thì quan hệ giữa con người với con người trong sản
xuất vật chất cũng khác nhau.
Thứ hai, TLSX (đặc biệt là công cụ lao động) quy định cách thức tổ chức quản lý sản
xuất, quy mô sản xuất.
Ví dụ: Máy móc, robot, dây chuyền sản xuất (công cụ lao động) quyết định cách thức
tổ chức sản xuất, quy mô và hiệu quả sản xuất của nhà máy.
QHSX tác động trở lại LLSX:
Thứ nhất, QHSX quy định tính mục đích của sản xuất => thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển LLSX: (1)Trình độ công cụ lao động, (2) Năng lực TCSX và
PCLĐ, (3) kinh nghiệm chuyên môn và khả năng làm chủ KHCN, (4) năng
suất lao động.
Thứ hai, QHSX thúc đẩy LLSX phát triển: Áp dụng KHCN vào sản xuất, mở
rộng quy mô, thay đổi tốc độ, hiệu quả, xu hướng của sản xuất.
Ví dụ: Công ty đưa ra các hình thức tổ chức phù hợp, sản xuất hiệu
quả và đảm bảo được lợi ích của người lao động => Kích thích người
lao động phát huy hết khả năng, từ đó tăng năng suất lao động, cải
thiện đời sống và ổn định xã hội. Ngược lại thì do QHSX đã lỗi
thời/quan hệ sản xuất quá tiên tiến so với LLSX.
MQH của LLSX và QHSX là MQH thống nhất của hai mặt đối lập:
Thứ nhất, QHSX có tính độc lập tương đối của QHSX thể hiện ở chỗ: QHSX
(yếu tố tĩnh) có thể không thay đổi hoặc thay đổi chậm hơn so sự thay đổi của
LLSX (yếu tố động).
Thứ hai, MQH đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và được giải quyết bằng sự
thống nhất mới, quá trình này lặp đi lặp lại, tạo ra quá trình phát triển của
phương thức sản xuất mới.
Ví dụ: Nguyên thủy trình độ con người thấp => QHSX là công hữu về
tư liệu sản xuất. Hiện nay con người ngày càng phát triển về kỹ năng,
tri thức, công cụ lao động => QHSX là tư hữu về tư liệu sản xuất,…
=> Tiêu chí đánh giá sự phù hợp của QHSX với trình độ LLSX: năng suất lao động, thái
độ của người lao động, mức sống nhân dân, tỷ lệ lạm phát, môi trường làm việc, tình
trạng đình công,...
=> Quy luật mang tính tất yếu, khách quan
Nhận thức và hành động đúng quy luật => Thúc đẩy nền sản xuất phát triển
Nhận thức và hành động không đúng quy luật => Kìm hãm sự phát triển của sản xuất
(sự kìm hãm này chỉ mang tính nhất thời, theo tính tất yếu khách quan, quy luật sẽ
vạch đường đi cho bản thân nó).
* Liên hệ với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
1. Trước Đổi mới (trước 1986)
Kinh tế tập trung quan liêu bao cấp; sở hữu toàn dân và tập thể chiếm ưu thế; kinh tế
tư nhân bị loại bỏ.
Cơ chế quản lý hành chính cứng nhắc, kế hoạch hóa tập trung.
QHSX không phù hợp với LLSX, dẫn đến: trì trệ, năng suất thấp, khủng hoảng kinh
tế.
2. Sau Đổi mới (từ 1986 đến nay)
Điều chỉnh QHSX để phù hợp với LLSX:
Đa dạng hình thức sở hữu: nhà nước, tập thể, tư nhân, hỗn hợp, FDI.
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực.
Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Đổi mới quan hệ phân phối: theo lao động, hiệu quả, khoa học – công nghệ.
3. Kết quả và thách thức
LLSX được giải phóng, kinh tế phát triển mạnh; đời sống nhân dân cải thiện;
CNH–HĐH tiến triển.
Vẫn tồn tại: khoảng cách giàu nghèo, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả chưa cao, năng
suất lao động hạn chế.
4. Kết luận
Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là minh chứng
rõ ràng cho việc điều chỉnh QHSX cho phù hợp với LLSX, vừa phát triển lực lượng sản
xuất, vừa đảm bảo mục tiêu XHCN.
12. Nguồn gốc hình thành giai cấp. Liên hệ với vấn đề phân hóa giai cấp ở nước ta
hiện nay
I.Khái niệm giai cấp: giai cấp được hiểu cơ bản chính là những tập đoàn to lớn gồm những
đối tượng khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Những đối tượng
khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định có sự khác nhau đối với tư
liệu sản xuất, tổ chức lao động xã hội và từ đó mà đã dẫn đến sự khác nhau về cách thức
hưởng thụ và phần của cải xã hội. Giai cấp cũng chính là một phạm trù mang tính lịch sử.
II.Nguồn gốc của giai cấp
Sự phân công lao động xã hội: Ban đầu, trong xã hội nguyên thủy, mọi người đều làm
việc tập thể và hưởng thụ bình đẳng. Tuy nhiên, khi sản xuất phát triển, lao động được
phân chia thành các lĩnh vực khác nhau (ví dụ: nông nghiệp, thủ công nghiệp). Điều
này tạo ra sự khác biệt trong năng suất lao động. VD: Ở cuối thời nguyên thủy, một
bộ phận chuyên làm nông nghiệp tạo ra nhiều lương thực hơn, trong khi một bộ phận
khác chuyên làm thủ công (làm công cụ, đồ gốm). Năng suất khác nhau giữa các
ngành khiến của cải phân hóa không đều → tạo cơ sở ban đầu cho phân chia giai
cấp.
• Những người làm công việc có năng suất cao (chế tác kim loại) dần trở nên có vị
thế hơn so với người chỉ lao động đơn giản.
Sự chiếm hữu tư liệu sản xuất: Một số cá nhân hoặc nhóm người bắt đầu chiếm hữu
tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ lao động) và sản phẩm thặng dư. Điều này dẫn đến
việc hình thành tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất và tầng lớp không sở hữu. Ví dụ:
• Trong xã hội cổ đại, một số người chiếm hữu đất đai màu mỡ, công cụ sản xuất tốt
(trâu cày, công cụ kim loại). Họ trở thành tầng lớp chủ nô, chủ đất.
• Người không có đất đai hoặc công cụ bắt buộc phải làm việc cho những người có
tư liệu sản xuất → trở thành nô lệ hay tá điền.
Tích lũy tài sản và bất bình đẳng: Khi của cải tích lũy ngày càng nhiều, sự chênh lệch
giàu nghèo tăng lên, dẫn đến sự hình thành các giai cấp đối kháng. Ví dụ:
• Gia đình có nhiều đất và nô lệ, sản xuất nhiều lương thực hơn → tích lũy của cải
qua nhiều thế hệ và trở thành tầng lớp giàu có.
• Ngược lại, những người nghèo mất đất phải đi làm thuê, dần dần không còn khả
năng cạnh tranh, trở thành tầng lớp bị bóc lột.
Sự phát triển tiếp theo của sản xuất vật chất từng bước phân hóa xã hội thành những
tập đoàn người có sự đối lập về địa vị kinh tế - xã hội và giai cấp xuất hiện. Ví dụ:
• Khi công cụ kim loại ra đời, năng suất lao động tăng lên mạnh → xuất hiện các
tầng lớp đối lập: người sở hữu nhiều của cải và người không sở hữu gì.
• Sự phát triển thủ công nghiệp (đúc đồng, luyện sắt) tạo ra tầng lớp thợ thủ công
giàu lên, trong khi nhiều người chỉ làm lao động đơn giản bị phụ thuộc.
Từ sự phân công xã hội lớn lần đầu tiên, đã nảy sinh ra sự phân chia lớn đầu tiên
trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Ví dụ:
• Khi xã hội chuyển từ công xã nguyên thủy sang xã hội chiếm hữu nô lệ:
– Chủ nô quản lý ruộng đất, công cụ, và chiếm đoạt toàn bộ sản phẩm.
– Nô lệ bị coi như "công cụ biết nói", lao động sản xuất nhưng không sở hữu gì.
• Ở Ai Cập cổ đại hay Hy Lạp cổ đại: tầng lớp chủ nô nắm quyền lực kinh tế – chính
trị, nô lệ làm việc trong nông nghiệp, khai khoáng, xây dựng đền đài.
III.Liên hệ
Trong bối cảnh hiện đại, Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến giai
cấp:
Phân hóa giàu nghèo: Quá trình đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại nhiều thành tựu lớn, nhưng cũng làm gia
tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư.

Preview text:

1. Triết học Mác-Lênin, chức năng của triết học Mác-Lênin
- Triết học Mác-Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và
tư duy-thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới *Chức năng
v Chức năng thế giới quan:
· Thế giới quan DVBC có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng cho con
người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực. Ví dụ: Khi nghiên cứu biến
đổi khí hậu, thay vì cho rằng hiện tượng là ngẫu nhiên hay do thần thánh
gây ra, con người nhìn nhận nguyên nhân là các hoạt động sản xuất và ô
nhiễm
, từ đó có cách giải quyết khoa học.

· Hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động, giúp con
người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình. Ví dụ: Một
doanh nghiệp áp dụng triết lý phát triển bền vững dựa trên phân tích kinh
tế – xã hội – môi trường, thay vì chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt.

· Là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn
giáo, phản khoa học. Ví dụ: Khi các thuyết mê tín dị đoan lan tràn trong xã
hội, triết học Mác–Lênin giúp giáo dục nhân dân dựa vào khoa học và
thực tiễn
, từ đó loại bỏ những quan niệm sai lầm.

v Chức năng phương pháp luận
· PP luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát có vai
trò chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn nhằm đạt kết quả tối ưu. VD: Khi xây dựng chính sách
giảm nghèo, chính phủ phân tích mối quan hệ giữa giáo dục, việc làm và y
tế để đề ra giải pháp toàn diện

· PP luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp. Ví dụ: Trong
quản lý nhà nước, áp dụng nguyên tắc “đi từ thực tiễn cụ thể, xem xét mâu
thuẫn, phân tích tác động lâu dài” giúp hoạch định chính sách hợp lý.

· Trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận
chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn. Ví dụ: Khi một kỹ sư
thiết kế hệ thống năng lượng, anh ta sử dụng quy luật phát triển biện
chứng: tổng hợp các yếu tố tự nhiên – công nghệ – con người
để tối ưu hiệu quả.

· Triết học Mác-Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm
trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học, giúp con người phát triển tư
duy khoa học ở cấp độ phạm trù, quy luật. Ví dụ: Một nhà khoa học khi
nghiên cứu kinh tế sử dụng các phạm trù như giá trị, sức lao động, lợi
nhuận
để phân tích thị trường, dự đoán xu hướng, từ đó ra quyết định kinh tế chính xác.

2. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất. Vấn đề cơ bản của triết học
1. khái niệm vật chất:
- Vật chất là một PTTH dùng để chỉ thực tại khách quan, đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
● Nội dung của khái niệm: 4 ý
- Với tư cách là một PTTH, vật chất là sự trừu tượng hóa, khái quát hóa, không tồn tại trực quan,
cảm tính, nghĩa là không đồng nhất vật chất với những vật thể.
- Thuộc tính cơ bản của vật chất là thuộc tính khách quan, tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác – đây là tiêu chuẩn phân biệt (một cách tương đối) vật chất với ý thức.
- Vật chất là thực tại khách quan, đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác – thừa nhận vật chất có trước, cảm giác (ý thức) có sau.
- Vật chất là thực tại khách quan, đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác
chép lại, chụp lại, phản ánh – thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới
thông qua cảm giác và ý thức.
2. Các hình thức tồn tại của vật chất theo CNDVBC ● Vận động
Định nghĩa của Ăngghen về vận động:
- Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất – tức hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất,
là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá
trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy.
● Các hình thức vận động:
- Vận động cơ học: chuyển dịch vị trí của vật thể trong không gian. Ví dụ: Trái Đất quay quanh Mặt Trời
- Vận động vật lý: quá trình biến đổi của nhiệt độ, các hạt cơ bản, điện, trường. Ví dụ: Sự
nóng chảy của băng thành nước
- Vận động hóa học: sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ. Ví dụ: Quá trình sắt bị gỉ
- Vận động sinh học: quá trình biến đổi các cơ thể sống. Ví dụ: Quá trình quang hợp ở cây xanh.
- Vận động xã hội: sự biến đổi các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa. Ví dụ: Cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất ở Anh

giữa các hình thức có sự chuyển hóa lẫn nhau, hình thức vận động thấp làm tiền đề cho
hình thức vận động cao, hình thức vận động cao bao hàm hình thức vận động thấp.
● Giữa các hình thức vận động có sự chuyển hoá lẫn nhau:
- Vận động và đứng im. Vận động là tuyệt đối, đứng im là sự biểu hiện vận động trong
thăng bằng. Nói cách khác, đứng im là tạm thời,tương đối, làm cơ sở tồn tại cho các sự vật.
- Vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn, bởi vì vật chất không tự sinh ra và không mất đi, chỉ
chuyển từ dạng này sang dạng khác nên vận động cũng không thể mất đi mà chỉ thay đổi
hình thức. Hình thức này của vận động vật chất mất đi tất yếu sẽ phát sinh hình thức khác.
● Không gian và thời gian
- Triết học Mác - Lênin khẳng định vận động vật chất không thể diễn ra ở đâu khác ngoài
trong không gian và theo thời gian. Không gian - thời gian-vật chất tồn tại trong sự thống
nhất. Không có vật chất tồn tại ngoài không gian, thời gian và ngược lại, không có không
gian, thời gian phi vật chất.
- Không gian là cái chỉ vị trí (ở chỗ nào?), quảng tính (chiều rộng, chiều dài, chiều cao) của sự vật.
- Thời gian là sự tồn tại của sự vật được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh-chậm, kế tiếp và chuyển hóa. ● Tính chất chung:
- KG và TG mang tính khách quan: là thuộc tính cố hữu của vật chất, tồn tại không tách
rời nhau và không tách rời vật chất, phụ thuộc lẫn nhau giữa KG-TG-VC
- KG và TG mang tính vĩnh cửu, vô tận: vô cùng thủy chung, vô cùng vô tận, không có
điểm bắt đầu và điểm tận cùng trong vũ trụ. Tính chất riêng:
- Tính 3 chiều của KG (chiều dài, chiều rộng, chiều cao), tính một chiều của TG (QK – HT – TL)
- KG và TG mang tính tương đối.
*Vấn đề cơ bản của triết học
· Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
- Theo Ph.Ăngghen: “ Vấn đề cơ bản và tối cao của mọi triết học, đặc biệt là
của triết học hiện đại, là vấn đề MQH giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và tự nhiên”
- Mặt thứ nhất (Bản thể luận): Thế giới bắt đầu từ đâu? Giữa ý thức và vật
chất cái nào có trước và cái nào có vai trò quyết định
- Mặt thứ hai (Nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không
· Cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Ø Giải quyết mặt thứ nhất (Bản thể luận):
- Chủ nghĩa nhất nguyên:
· Chủ nghĩa duy vật: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức
· Chủ nghĩa duy tâm: Ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất
- Chủ nghĩa nhị nguyên: Vật chất và ý thức tồn tại độc lập, chúng
không nằm trong quan hệ sản sinh hay quyết định lẫn nhau
Ø Giải quyết mặt thứ hai (Nhận thức luận):
- Khả tri luận: Thừa nhận khả năng của nhận thức con người
- Bất khả tri luận: Phủ nhận khả năng nhận thức của con người
3. Nguồn gốc và bản chất của ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận
1. Nguồn gốc của ý thức
1. Nguồn gốc tự nhiên
- Ý thức là sản phẩm hoạt động của bộ óc con người: Bộ óc con người là cơ quan nhận
thức duy nhất, còn ý thức là sản phẩm tinh thần có được nhờ sự hoạt động bình thường
của hệ thần kinh diễn ra trong bộ óc. Ví dụ: Khi ta nhìn thấy một bông hoa và nhận ra nó
đẹp, biết nó có mùi hương dễ chịu — đó là hoạt động của não bộ xử lý thông tin cảm giác
(thị giác, khứu giác) để hình thành nhận thức tinh thần về “vẻ đẹp” và “mùi hương” của hoa.

- Sự phản ánh quá trình vật chất tuân theo quá trình phát triển từ thấp đến cao, tương ứng
với quá trình tiến hóa của các dạng vật chất có năng lực phản ánh đó: (1) Phản ánh vật lý
mang tính sao chép nguyên mẫu, gắn liền các với dạng vật chất vô cơ. (2) Phản ảnh sinh
vật mang tính chọn lọc và định hướng, gắn liền với sinh vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh
trung ương. (3) Phản ánh tâm lý mang tính bản năng, bột phát gắn liền với động vật có hệ
thần kinh trung ương, tức bộ óc loài vật bậc cao. (4) Phản ánh ý thức mang tính sáng tạo,
gắn liền với hoạt động của bộ óc con người.
- Thế giới khách quan với tính cách là đối tượng phản ánh
2. Nguồn gốc xã hội của ý thức
- Vai trò của lao động trong việc hình thành ý thức: sự khác biệt cơ bản giữa loài người và
loài vật chính là lao động. Lao động đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá
trình chuyển hoá loài vượn thành loài người. Lao động là điều kiện cơ bản, đầu tiên của
toàn bộ đời sống loài người... lao động đã sáng tạo nên bản thân con người". Ví dụ: Khi tổ
tiên loài người biết chế tạo công cụ bằng đá để săn bắt, họ vừa rèn luyện tay chân, vừa
phát triển trí óc – qua đó hình thành tư duy, kinh nghiệm và tri thức. → Lao động khiến
con người tách khỏi loài vật, dần dần hình thành ý thức xã hội (biết hợp tác, chia sẻ, sáng tạo).

- Vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành phát triển : Ngôn ngữ là ptien giao tiếp trong
xã hội, đồng thời là công cụ để tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ
ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, tri thức. Không có
ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
=>Tóm lại, theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức được hình thành trên nguồn gốc tự
nhiên và nguồn gốc xã hội. Hai nguồn gốc này liên quan mật thiết, tác động cùng chiều.
Bộ óc con người là cơ sở tâm - sinh lý, thế giới khách quan là đối tượng phản ánh, lao
động và giao tiếp xã hội tạo nên nội dung xã hội của ý thức; ngôn ngữ là phương tiện thể
hiện, công cụ lưu giữ và phương thức chuyển tải ý thức từ người này sang người khác
2. Bản chất của ý thức
2.1. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Ý thức cũng tồn tại nhưng chỉ
tồn tại trong bộ óc con người, nó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Thế giới
khách quan là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, thế giới khách quan là cái được phản
ánh, ý thức là cái phản ánh; thế giới khách quan quy định nội dung phản ánh của ý thức.
2.2. Ý thức phản ánh thế giới khách quan nhưng không phản ánh nguyên xi, thụ động, mà
phản ánh thông qua hoạt động sáng tạo của bộ óc con người.
Tính sáng tạo đó thể hiện trong 2 điểm sau:
- Ý thức cải biến cái vật chất được di chuyển vào trong bộ óc con người thành cái tinh
thần - đó là các biểu tượng, khái niệm, phạm trù giúp con người nắm bắt bản chất và qui
luật vận động của đối tượng nhận thức, qua đó có khả năng tạo nên “thiên nhiên thứ hai”
thoả mãn nhu cầu đời sống. Đây chính là điểm khác biệt giữa loài người và loài vật.
- Trên cơ sở những tri thức đã có, ý thức tạo ra tri thức mới phản ánh đối tượng, ý thức
giúp con người tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế, nhờ vậy có thể dự báo
những gì sắp diễn ra trong tương lai, tạo ra những lý thuyết khoa học.
2.3. Ý thức là một hiện tượng lịch sử - xã hội: Ý thức luôn là ý thức của những con người
cụ thể sống trong những môi trường lịch sử - xã hội nhất định. Mỗi cá nhân sống trong xã
hội luôn chịu tác động cùng một lúc từ 2 phía:
- Từ phía lịch sử - đó là những giá trị nhân bản được kết tinh trong quá trình phát triển
của lịch sử nhân loại, là những nét đẹp của truyền thống dân tộc, truyền thống cộng đồng và gia tộc, v.v.
- Từ phía xã hội đương đại - đó là các quan hệ, qui luật và điều kiện kinh tế - xã hội, đặc
biệt là quan hệ sản xuất đang hiện hành. Tính xã hội của ý thức là nhân tố cơ bản tạo nên
bản chất con người, mà bản chất con người là “tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”. * Ý nghĩa pp luận
- Tôn trọng khách quan, chống duy ý chí.
- Phát huy vai trò chủ thể, nâng cao tính sáng tạo.
- Kết hợp khách quan – chủ quan, trong đó khách quan quyết định.
- Đề cao lao động và ngôn ngữ, coi trọng thực tiễn xã hội.
- Giáo dục ý thức phải phù hợp với điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể.
4. Nguyên lý về MLH phổ biến và ý nghĩa pp luận. Liên hệ với hoạt động của bản thân 1. KN
● Mọi sv, hiện tượng không tồn tại một cách biệt lập, tách rời mà có mối liên hệ tác
động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau; nương tựa, chuyển hoá lẫn nhau,
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nhau.
● Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, đồng thời cũng
chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng trong thế giới.
● Những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện
tượng, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng.
Ví dụ: các bộ phận trong cơ thể đều có mối liên hệ, hỗ trợ nhau các chức năng từ rất nhỏ đến lớn
2. Những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ phổ biến a. Tính khách quan
● Mối liên hệ là cái vốn có, bên trong các sự vật, hiện tượng.
● Các sự vật đều là những dạng cụ thể vật chất nên không thể tồn tại biệt lập, tách rời
mà trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau
● Bản chất của sự vật, hiện tượng bộc lộ thông qua sự tác động giữa các sự vật.
Ví dụ: mối quan hệ giữa con gà và quả trứng 2. Tính phổ biến
● Mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại
tuyệt đối biệt lập mà tồn tại với tư cách là một hệ thống mang tính mở, tồn tại trong
mối liên hệ với hệ thống khác.
Ví dụ: mưa đều có liên hệ đến gió mùa và gió mùa đều có liên hệ đến những dòng hải lưu.
3. Tính đa dạng, phong phú
● Mọi sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại nhiều mối liên hệ khác nhau.
● Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ còn thể hiện ở những điều kiện thời
gian, không gian cụ thể khác.
Ví dụ: các loài cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng mối quan hệ của cá với
nước khác mối quan hệ của chim, thú với nước.
3. Phân chia các mối liên hệ dựa trên các cơ sở khác nhau
Mối liên hệ bên trong – bên ngoài
Mối liên hệ cơ bản – không cơ bản
Mối liên hệ bản chất – không bản chất
Mối liên hệ không gian - thời gian
4. Ý nghĩa phương pháp luận
● Nghiên cứu các yếu tố cấu thành đối tượng, tìm mối liên hệ cơ bản.
● Cần xem xét đối tượng một cách bao quát, nhiều mặt, nhiều góc độ và hoàn cảnh khác nhau.
● Phải tìm hiểu đầy đủ các mối liên hệ giữa đối tượng với thế giới xung quanh.
● Không nên có tư tưởng giàn đều, cào bằng, bình quân chủ nghĩa
● Vận dụng nhiều phương pháp khi nghiên cứu đối tượng ( biện chứng, siêu hình, phân tích tổng hợp,…)
● Khi giải quyết những vấn đề thực tiễn phải biết kết hợp nhiều biện pháp và phương
tiện khác nhau , sử dụng nhiều lực lượng khác nhau.
● Và cần tránh tư tưởng chiết trung, tư tưởng phiến diện, thuật ngụy biện và quan điểm xa rời thực tiễn 5. Vận dụng
Trong học tập: Khi gặp khó khăn trong việc nắm bắt một chủ đề phức tạp, vận dụng
nguyên lý mối liên hệ phổ biến giúp tôi thấy rằng mỗi khái niệm không tồn tại tách
biệt mà có liên quan đến những kiến thức nền tảng khác. Ví dụ, khi học về triết học,
tôi nhận ra các khái niệm về biện chứng, logic, và nhận thức có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau, điều này giúp tôi có cái nhìn toàn diện và dễ dàng hiểu sâu hơn.
Trong công việc: Khi làm việc nhóm, tôi nhận thấy rằng hiệu quả công việc không
chỉ phụ thuộc vào từng cá nhân mà còn vào sự hợp tác và tương tác giữa các thành
viên. Mỗi thành viên đều có mối liên hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, góp phần tạo nên
kết quả chung. Vì vậy, tôi luôn cố gắng duy trì giao tiếp và phối hợp với đồng đội để
đạt hiệu quả cao nhất.
Trong đời sống cá nhân: Tôi nhận thấy những quyết định của mình không chỉ ảnh
hưởng đến bản thân mà còn tác động đến gia đình và bạn bè. Ví dụ, khi lên kế hoạch
học tập hoặc làm việc, tôi cân nhắc đến sự liên quan với các cam kết khác để đảm bảo
rằng mình có thể cân bằng và không ảnh hưởng tiêu cực đến những người xung quanh.
5. Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng. Ý nghĩa pp luận. Vận dụng trong hoạt động
nhận thức và thực tiễn
· Bản chất là phạm trù dùng để biểu thị sự tổng hợp tất cả những mặt, những
mối liên hệ tất yếu tương đối ổn định hợp thành một thể thống nhất hữu cơ bên
trong sự vật, quy định sự tồn tại, vận động, phát triển và diệt vong của sự vật
đó. VD: Bản chất con người là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện sinh học và xã hội
· Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. VD: Hành vi ăn nói,
giao tiếp xã hội, lao động, học tập,.. của người đó phản ánh con người là một
thực thể sinh học-xã hội

*Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
v Bản chất và hiện tượng thống nhất biện chứng với nhau :
· Bản chất bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự phản ánh những mặt,
khía cạnh, thuộc tính nào đó của bản chất
· Không có bản chất nào không bộc lộ qua hiện tượng, không có hiện tượng
nào mà không phản ánh bất kỳ một thuộc tính nào của bản chất
· VD: Người học giỏi (hiện tượng) được tạo nên bởi bản chất là sự chăm chỉ,
phương pháp học tốt, tư duy logic.
v Bản chất và hiện tượng bao hàm mâu thuẫn
· Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng phản ánh cái
riêng, ngẫu nhiên. Một bản chất có thể được thể hiện bằng nhiều hiện tượng.
Do vậy, hiện tượng phong phú và đa dạng hơn bản chất
· Hiện tượng phản ánh bản chất, nhưng nhiều khi xuyên tạc, làm sai bản chất (hiện tượng giả)
· Bản chất tương đối ổn định, còn hiện tượng thường xuyên biến đổi
· VD: Một người bề ngoài vui vẻ (hiện tượng) nhưng bản chất có thể đang rất
lo lắng hoặc buồn → hiện tượng che giấu bản chất.
v Hiện tượng tác động trở lại bản chất
· Hiện tượng tác động trở lại bản chất, có thể dần dần làm cho bản chất bị tha hóa, biến đổi
· Điển hình là trong đời sống xã hội, các hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành
thói quen, thói quen tạo nên bản tính con người
· VD: Học sinh thường xuyên gian lận vặt trong các bài kiểm tra (hiện
tượng) → lâu dần hình thành bản chất thiếu trung thực. *Ý nghĩa pp luận
v Nhận thức bản chất phải xuất phát từ hiện tượng (từ nhiều góc độ, hoàn cảnh, thời điểm). Tránh:
(1) Thái độ hấp tấp, nóng vội, phiến diện trong nhận thức
(2) Tư tưởng chủ quan, định kiến, suy luận một chiều
v Vì bản chất là cái vốn có, khách quan của sự vật, nên cần tìm bản chất trong sự
vật. Cải biến sự vật phải bắt đầu từ nhận thức và cải biến bản chất
v Nếu con người có hiện tượng xấu thì loại bỏ tránh tạo thành thói quen bản chất
v Trong nhận thức và thực tiễn cần phân biệt hiện tượng thật và hiện tượng giả
Vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn (trong giáo dục và học tập)
Trong giáo dục: Giáo viên cần phân biệt rõ giữa hiện tượng và bản chất khi đánh
giá học sinh. Không nên chỉ nhìn vào kết quả điểm số hay hành vi nhất thời (hiện
tượng) mà kết luận năng lực, phẩm chất của các em. Phải tìm hiểu bản chất bên
trong như động cơ học tập, phương pháp học, hoàn cảnh tâm lý và môi trường. Nhờ
vậy, biện pháp giáo dục mới đúng hướng và tránh định kiến.
Trong học tập: Người học không nên bị đánh lừa bởi các hiện tượng bề ngoài như
“học tủ”, “học nhanh trước mắt”, hay hiểu phiến diện. Cần đi sâu tìm bản chất của
kiến thức: nắm nguyên lý, quy luật, mối liên hệ giữa các phần. Khi gặp vấn đề học
kém tạm thời, phải phân tích nguyên nhân bản chất (sai phương pháp, thiếu nền
tảng, tâm lý không ổn) để điều chỉnh; tránh chỉ tập trung xử lý biểu hiện bên ngoài.
6. Cặp phạm trù nội dung và hình thức. Ý nghĩa pp luận. Vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn 1. KN
● Phạm trù nội dung: là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu
tố, những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Nội dung của một tác phẩm nghệ thuật, là toàn bộ các yếu tố như tư tưởng của tác
phẩm, hình tượng nghệ thuật, v.v…đã phản ánh, và giải quyết những vấn đề nào đó của
cuộc sống hiện thực. Hoặc, nội dung của một cơ thể sống là toàn bộ các yếu tố vật chất,
như tế bào, khí quan, quá trình sống v.v…

● Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại, biểu hiện và phát triển của sự vật, hiện
tượng ấy; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thành
nội dung của sự vật, hiện tượng, là cách thức tổ chức và kết cấu của sự vật.. Hình thức
bao gồm hình thức bên trong và hình thức bên ngoài.”
Ví dụ: Hình thức của một tác phẩm nghệ thuật văn chương, được thể hiện thông qua
phương thức diễn đạt nội dung của tác phẩm… là cách sắp xếp trình tự các chương, mục,
cách diễn đạt, hình dáng, mầu sắc trang trí của tác phẩm.

2.Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
a/ Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
● Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong đó:
+Không có nội dung nào nằm ngoài hình thức
+Không có hình thức nào không chứa nội dung
Ví dụ: trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất (người LĐ, TLSX, KH-CN)
đóng vai trò là nội dung, còn quan hệ sản xuất( hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, trình
độ tổ chức quản lí sản xuất, cách thức phân phối sản phẩm lao động) đóng vai trò là hình thức

● Sự phù hợp giữa nội dung và hình thức chỉ là tương đối, bởi vì:
+1 nội dung có thể được thể hiện qua nhiều hình thức.
+ 1 hình thức có thể chứa đựng những nội dung khác nhau.
Ví dụ: một cái nhà có thể sử dụng vài nhiều công dụng khác nhau như làm văn phòng, cho thuê bán hàng,…
b/ Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức
● Nội dung là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, còn hình thức mang tính ổn định, khi nội
dung thay đổi sớm muộn cũng sẽ kéo theo sự thay đổi của hình thức.
● Trong lĩnh vực xã hội, điều này được phản ảnh bằng quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong thực tế khi đời sống
thay đổi thì lối sống( phong thục, tập quán,…) cũng phải thay đổi tương ứng.
Ví dụ: mối quan hệ giữa anh A và chị B là quan hệ bạn bè, khi đó hình thức quan hệ giữa
2 người không có giấy chứng nhận. Khi anh A và chị B kết hôn, nội dung quan hệ đã thay
đổi, thì hình thức quan hệ buộc phải thay đổi khi 2 người buộc phải có giấy chứng nhận kết hôn.

c/ Hình thức tác động trở lại nội dung
● Sự tác động của hình thức đến nội dung thể hiện ở theo 2 hướng:
+Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển;
Ví dụ: trong giai đoạn đầu khi phương thức sản xuất mới hình thành, quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất nên thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh.

+Nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung.
Ví dụ: trong giai đoạn sau, khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản
xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

3. Ý nghĩa phương pháp luận
● Từ mối quan hệ giữa nội dung và hình thức có thể rút ra kết luận cho thực tiễn.
● Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trước hết phải
căn cứ vào nội dung. Muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội
dung của nó. Chống chủ nghĩa hình thức./ Cùng một nội dung có thể biểu hiện qua
nhiều hình thức khác nhau, bởi vậy cần sử dụng sự đa dạng về hình thức để truyền tải
nội dung./ Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với nội
dung; mặt khác cũng cần phải thực hiện những thay đổi đối với những hình thức
không còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung.
Trong giáo dục: Nội dung giảng dạy luôn cần được đổi mới cho phù hợp với thực tế
và yêu cầu của thời đại. Song song với đó, hình thức giảng dạy (phương pháp, công
cụ hỗ trợ) cũng cần được thay đổi, chẳng hạn, áp dụng công nghệ trực tuyến, sử dụng
hình ảnh, video,... để phù hợp với nội dung và nhu cầu của học sinh. Trong quản lý
tổ chức:
Để truyền đạt chiến lược, nội dung làm việc của tổ chức một cách hiệu quả,
người quản lý cần chọn hình thức phù hợp như thông báo qua email, tổ chức cuộc họp
hoặc trình bày qua hội nghị trực tuyến. Hình thức truyền đạt cần được điều chỉnh sao
cho rõ ràng, dễ hiểu và đảm bảo nội dung đạt được đến người tiếp nhận.
7. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất
và ngược lại. Ý nghĩa pp luận. VD minh họa 1. Khái niệm
● Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.
● Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật. 2. Mqh biện chứng
a. Sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
● Sự vật, hiện tượng có sự thống nhất giữa mặt chất và mặt lượng. Chúng luôn có sự
quy định, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau. Mọi thay đổi về lượng đều ảnh
hưởng tới chất và ngược lại.
● Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về
lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật.
● Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng
đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.
● Khi lượng thay đổi vượt quá điểm nút, sự vật diễn ra bước nhảy, tức là sự chuyển hóa về chất
● Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự
thay đổi về lượng của sự vật đó gây nên.
Ví dụ: Nước khi tăng nhiệt độ từ 0°C đến gần 100°C, vẫn là nước lỏng (thay đổi
lượng trong giới hạn độ). Khi đạt 100°C (điểm nút), nước sôi và chuyển sang hơi (bước
nhảy – thay đổi chất).

Trong xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất (lượng) đến một mức độ nhất định sẽ
làm cho quan hệ sản xuất (chất) cũ trở nên lỗi thời, dẫn đến cách mạng xã hội – sự thay đổi về chất.

2. Sự tác động trở lại của chất đối với lượng
● Khi chất mới hình thành sẽ tác động trở lại lượng theo hướng làm tăng lên hoặc giảm
đi về: quy mô, tốc độ, nhịp điều sự vận động, năng suất….của sự vật.
Ví dụ: Khi một vận động viên nâng cao thể lực và kỹ thuật → đây là sự thay đổi về chất.
Nhờ sự thay đổi này, tốc độ, cường độ tập luyện và thành tích thi đấu của họ tăng lên →
đây là sự thay đổi về lượng. Như vậy, chất mới (thể lực, kỹ thuật cao hơn) đã tác động
trở lại lượng (tốc độ, cường độ, thành tích), làm tăng hiệu quả và quy mô hoạt động của vận động viên.

3. Ý nghĩa pp luận
● Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải từng bước tích lũy
về lượng để làm biến đổi về chất, tránh tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt
cháy giai đoạn, muốn thực hiện những bước nhảy liên tục
● Khi đã tích lũy đủ về lượng phải có quyết tâm thực hiện bước nhảy, khắc phục tư
tưởng bảo thủ, trì trệ (hữu khuynh). Vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy.
● Chống quan điểm phiến diện, giản đơn cho rằng cứ thay đổi về lượng là thay đổi về
chất. Trong đời sống xã hội, tư tưởng này biểu hiện thành bệnh thành tích, coi trọng
số lượng mà không để ý đến chất lượng.
● Nhận thức rằng sự thay đổi về chất có thể diễn ra bằng nhiều cách khác nhau (thay đổi
cấu trúc, phương thức liên kết, hoàn cảnh,...), không chỉ qua con đường thay đổi lượng.
**VD minh họa: Trong tự nhiên, khi nung sắt, lúc đầu dù nhiệt độ tăng dần nhưng sắt
vẫn giữ nguyên chất rắn – đó là sự thay đổi về lượng. Khi nhiệt độ tăng đến điểm nút, sắt
chuyển từ thể rắn sang thể lỏng, tức là có “bước nhảy” về chất. Quá trình này thể hiện rõ
mối quan hệ biện chứng giữa lượng (nhiệt độ) và chất (trạng thái vật chất): lượng thay
đổi đến một giới hạn nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất.

8. Vai trò của sản xuất vật chất đối với tồn tại và phát triển xã hội
*K/n sản xuất vật chất:
- Thứ nhất, quá trình con người sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên, cải
biến các dạng nguyên liệu thô của giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu sinh tồn của mình
- Thứ hai, quá trình con người tác động đến con người thông qua tình yêu-hôn nhân-gia đình,
sinh ra thế hệ con cái đáp ứng nhu cầu tình cảm, duy trì nòi giống và bổ sung nguồn nhân lực
cho sản xuất, lực lượng bảo vệ quốc phòng
*Vai trò của sản xuất vật chất
- Sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên của con người, giúp con người thoát thai khỏi
động vật và trạng thái sống bầy đàn để tạo nên cộng đồng xã hội. VD: Con người nguyên
thủy biết nhóm lửa
, biết dựng lều, làm quần áo từ da thú → tạo nên đời sống cộng đồng ổn định hơn.

● Lao động là điều kiện đầu tiên để hình thành loài người (“lao động chuyển biến vượn thành người”).
● Quá trình chế tạo công cụ, kiếm ăn, làm nhà… giúp con người phát triển trí tuệ, ngôn ngữ và ý thức.
● Từ đó hình thành cộng đồng người đầu tiên và nền tảng của đời sống xã hội.
- Sản xuất vật chất là tất yếu khách quan của sự sinh tồn và phát triển xã hội. VD: Con người
phải trồng lúa, chăn nuôi, đánh bắt để tạo ra cái ăn → nếu không sản xuất, xã hội sẽ đói và diệt vong.

● Con người không thể tồn tại chỉ bằng những sản vật có sẵn trong tự nhiên → phải lao
động để tạo ra tư liệu sinh hoạt (ăn, mặc, ở).
● Muốn duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người phải cải biến tự nhiên thông qua lao động.
● Mác khẳng định: con người phải có khả năng sống trước đã rồi mới làm ra lịch sử →
sản xuất là tiền đề cho mọi hình thái lịch sử.
● Sản xuất là quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục; là điều kiện bảo đảm cho sự tồn
tại và phát triển của xã hội ở mọi giai đoạn.
- Sản xuất vật chất là cơ sở hình thành các quan hệ xã hội và con người với tư cách thành
viên xã hội. VD: Khi sản xuất phát triển, xã hội cần quản lý tài sản, thu thuế, đặt luật lệ,
từ đó hình thành Nhà nước, pháp luật, đạo đức để điều chỉnh quan hệ giữa người với người.

● Các quan hệ như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, tôn giáo… đều bắt nguồn từ quan hệ sản xuất.
● Trong quá trình sản xuất, con người bắt buộc phải hợp tác, phân công lao động và trao
đổi → từ đó xuất hiện các mối liên hệ xã hội.
● Sản xuất quy định cách con người tổ chức đời sống chung và hình thành các thiết chế
xã hội như: nhà nước, pháp luật, tập quán, đạo đức…
● Bản thân con người chỉ trở thành “con người xã hội” khi tham gia vào hệ thống quan
hệ sinh ra từ sản xuất.
- Sản xuất vật chất là cơ sở của mọi sự tiến bộ xã hội. VD: Cách mạng công nghiệp (máy hơi
nước → máy móc → điện → tự động hóa) làm năng suất lao động tăng mạnh, kéo theo sự
phát triển của khoa học, giáo dục, y tế, giao thông.

● Trình độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ phát triển của lực lượng sản xuất,
khoa học – kỹ thuật và công nghệ.
● Sản xuất vật chất phát triển thúc đẩy các lĩnh vực khác tiến bộ: giáo dục, văn hóa, y
tế, nghệ thuật, dịch vụ…
● Trong thời đại hiện nay, sản xuất đòi hỏi tri thức cao, làm cho giáo dục và khoa học –
công nghệ trở thành động lực trực tiếp của phát triển xã hội.
● Nhờ sự phát triển của sản xuất, xã hội có thêm của cải vật chất, tạo điều kiện để nâng
cao đời sống tinh thần và cải thiện mọi mặt đời sống xã hội.
9. LLSX và yếu tố cấu thành LLSX. Liên hệ với LLSX ở nước ta hiện nay I.Khái niệm
-LLSX: là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất.
Lực lượng sản xuất được cấu thành từ 3 yếu tố:
(1) Con người với toàn bộ sức mạnh cơ bắp, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm
và kỷ luật lao động, năng lực quản lí sản xuất, khả năng làm chủ khoa học công nghệ, văn
hoá giao tiếp, khả năng tiếp thị. Con người là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, là
chủ thể của sản xuất và tiêu dùng. VD: Một công nhân may có tay nghề cao, thao tác
nhanh và chính xác → giúp tăng chất lượng sản phẩm và giảm lỗi.

(2) Tư liệu sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa đối tượng lao động (đất đai, rừng núi,
sông biển) và công cụ lao động (cày, cuốc, máy). Đối tượng lao động là yếu tố tĩnh VD.:
Đất đai để trồng lúa, cà phê; quặng sắt để luyện thép; gỗ để sản xuất nội thất. Đây là
những nguyên liệu tự nhiên ban đầu con người tác động vào.,
còn công cụ lao động là
yếu tố động, không ngừng được cải tiến. Vd: Robot lắp ráp trong các nhà máy điện tử
giúp giảm sức lao động thủ công và chính xác hơn

(3) Khoa học và công nghệ là một hệ thống tri thức thực hiện chế biến vật chất và
thông tin. Khoa học (phát minh) gắn liền với kỹ thuật (máy móc) trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. VD: Phát minh về pin năng
lượng mặt trời hiệu suất cao làm thay đổi cả ngành năng lượng.

*Liên hệ với LLSX ở Việt Nam hiện nay
· Người lao động: Đội ngũ công nhân, kỹ sư, nông dân và trí thức ngày càng
đông đảo, trình độ học vấn và tay nghề được nâng cao.
· Tư liệu sản xuất: Việt Nam hiện đại hóa công nghiệp: máy móc, nhà xưởng,
cơ sở hạ tầng được cải thiện, đặc biệt trong công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng.
· Khoa học – công nghệ
○ Áp dụng công nghệ mới, số hóa, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo trong sản xuất.
○ Việc đổi mới công nghệ còn chậm ở một số DNNN và nông nghiệp quy mô nhỏ.
10. QHSX và các yếu tố cấu thành QHSX. Liên hệ với vấn đề QHSX nước ta hiện nay
-QHSX: là quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất. Đây là quan hệ kinh tế cơ
bản có vai trò quyết định mọi quan hệ xã hội như quan hệ pháp luật, quan hệ chính trị, quan
hệ giai cấp. Vì vậy, khi quan hệ sản xuất thay đổi thì tất cả các quan hệ xã hội khác cũng phải thay đổi theo.
Ví dụ, khi đất nước tôi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, tất
cả các quan hệ xã hội khác cũng được thị trường hóa.
QHSX được cấu thành từ
1) Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất - đây là yếu tố chủ yếu của quan hệ sản xuất, đối với cá
nhân nào, tập thể nào, giai cấp nào. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ nắm quyền quyết
định. Ví dụ: Chủ sở hữu công ty ô tô (tầng lớp tư sản) nắm quyền sở hữu nhà máy, máy móc
và tài nguyên sản xuất, họ có quyền quyết định về việc mở rộng sản xuất, đầu tư vào công
nghệ mới, hay lựa chọn đối tác kinh doanh.

2) Quan hệ tổ chức - quản lý sản xuất, tức là tổ chức quá trình sản xuất, quan hệ giữa người
quản lý, cá nhân, tập thể, giai cấp nào có quyền tổ chức và quản lý sản xuất sẽ có quyền quyết
định. Ví dụ: giám đốc hoặc quản lý cao cấp là người nắm quyền tổ chức quá trình sản
xuất,
quyết định lịch trình sản xuất, phân công công việc và giám sát hiệu quả công việc của
công nhân
. Họ có quyền quyết định các phương án sản xuất, sử dụng nhân sự sao cho đạt năng suất tối đa.

3) Quan hệ phân phối sản phẩm lao động (trả tiền công cho người lao động). Ví dụ: Sau khi
hoàn thành công việc, công nhân trong nhà máy sẽ được trả tiền công theo số giờ làm việc
hoặc sản phẩm họ sản xuất ra. Chủ sở hữu nhà máy quyết định mức lương
và các khoản
thưởng, phúc lợi dựa trên năng suất và hiệu quả công việc của người lao động

Liên hệ với QHSX ở Việt Nam hiện nay
● Đặc điểm QHSX ở Việt Nam:
○ Xây dựng trên nền tảng XHCN: Việt Nam xây dựng QHSX theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
○ Vai trò quyết định của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể: Kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể giữ vai trò nền tảng, là lực lượng vật chất quan trọng để phát triển kinh tế. ● Thách thức:
○ Xây dựng sự hài hòa giữa các thành phần kinh tế: Làm sao để các thành phần
kinh tế khác nhau (tư nhân, FDI...) phát triển hiệu quả, công bằng, góp phần
vào sự phát triển chung của đất nước.
○ Đảm bảo công bằng xã hội: Xây dựng cơ chế phân phối sản phẩm lao động
hợp lý, giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập.
○ Phát triển khoa học - công nghệ: Nâng cao năng suất lao động thông qua việc
ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất.
11. Quy luật QHSX phù hợp với LLSX. Liên hệ với thực tiễn xây dựng với vấn đề
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta ● Khái niệm:
○ Lực lượng sản xuất là sự tổng hợp tất cả mọi yếu tố vật chất mà con người sử
dụng để sản xuất ra của cải vật chất. Biểu thị MQH con người - tự nhiên, trình
độ chinh phục tự nhiên của con người.
○ Quan hệ sản xuất là:
■ Quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất.
■ Quan hệ kinh tế cơ bản giữ vai trò quyết định mọi quan hệ xã hội khác
(quan hệ chính trị, pháp luật, giai cấp,...).
=> QHSX thay đổi => QH khác thay đổi
● C.Mác rút ra quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX:
LLSX và QHSX có mối quan hệ biện chứng: LLSX quyết định QHSX, QHSX tác động ngược lại LLSX.
○ Sự tác động qua lại của LLSX & QHSX tạo nên quy luật vận động cơ bản của
xã hội, chi phối mọi quy luật khác (QL đấu tranh giai cấp, QL các mạng xã
hội, QL tăng trưởng nhu cầu, QL thay thế hình thái KTXH cũ bằng mới).
○ LLSX quyết định QHSX:
Theo quan điểm duy vật biện chứng: “Nội dung quyết định hình thức”
● Thứ nhất, LLSX và QHSX là 2 mặt của PTSX. LLSX là nội dung vật chất , QHSX là
hình thức xã hội => Một LLSX nhất định sẽ có QHSX tương ứng, khi LLSX thay đổi
thì QHSX cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Ví dụ: thời đại kinh tế khác nhau thì quan hệ giữa con người với con người trong sản
xuất vật chất cũng khác nhau.
● Thứ hai, TLSX (đặc biệt là công cụ lao động) quy định cách thức tổ chức quản lý sản xuất, quy mô sản xuất.
Ví dụ: Máy móc, robot, dây chuyền sản xuất (công cụ lao động) quyết định cách thức
tổ chức sản xuất, quy mô và hiệu quả sản xuất của nhà máy.
● QHSX tác động trở lại LLSX:
○ Thứ nhất, QHSX quy định tính mục đích của sản xuất => thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển LLSX: (1)Trình độ công cụ lao động, (2) Năng lực TCSX và
PCLĐ, (3) kinh nghiệm chuyên môn và khả năng làm chủ KHCN, (4) năng suất lao động.
○ Thứ hai, QHSX thúc đẩy LLSX phát triển: Áp dụng KHCN vào sản xuất, mở
rộng quy mô, thay đổi tốc độ, hiệu quả, xu hướng của sản xuất.
Ví dụ: Công ty đưa ra các hình thức tổ chức phù hợp, sản xuất hiệu
quả và đảm bảo được lợi ích của người lao động => Kích thích người
lao động phát huy hết khả năng, từ đó tăng năng suất lao động, cải
thiện đời sống và ổn định xã hội. Ngược lại thì do QHSX đã lỗi
thời/quan hệ sản xuất quá tiên tiến so với LLSX.

● MQH của LLSX và QHSX là MQH thống nhất của hai mặt đối lập:
○ Thứ nhất, QHSX có tính độc lập tương đối của QHSX thể hiện ở chỗ: QHSX
(yếu tố tĩnh) có thể không thay đổi hoặc thay đổi chậm hơn so sự thay đổi của LLSX (yếu tố động).
○ Thứ hai, MQH đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và được giải quyết bằng sự
thống nhất mới, quá trình này lặp đi lặp lại, tạo ra quá trình phát triển của
phương thức sản xuất mới.
Ví dụ: Nguyên thủy trình độ con người thấp => QHSX là công hữu về
tư liệu sản xuất. Hiện nay con người ngày càng phát triển về kỹ năng,
tri thức, công cụ lao động => QHSX là tư hữu về tư liệu sản xuất,…

=> Tiêu chí đánh giá sự phù hợp của QHSX với trình độ LLSX: năng suất lao động, thái
độ của người lao động, mức sống nhân dân, tỷ lệ lạm phát, môi trường làm việc, tình trạng đình công,...
=> Quy luật mang tính tất yếu, khách quan
● Nhận thức và hành động đúng quy luật => Thúc đẩy nền sản xuất phát triển
● Nhận thức và hành động không đúng quy luật => Kìm hãm sự phát triển của sản xuất
(sự kìm hãm này chỉ mang tính nhất thời, theo tính tất yếu khách quan, quy luật sẽ
vạch đường đi cho bản thân nó).
* Liên hệ với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
1. Trước Đổi mới (trước 1986)
● Kinh tế tập trung quan liêu bao cấp; sở hữu toàn dân và tập thể chiếm ưu thế; kinh tế tư nhân bị loại bỏ.
● Cơ chế quản lý hành chính cứng nhắc, kế hoạch hóa tập trung.
● QHSX không phù hợp với LLSX, dẫn đến: trì trệ, năng suất thấp, khủng hoảng kinh tế.
2. Sau Đổi mới (từ 1986 đến nay)
● Điều chỉnh QHSX để phù hợp với LLSX:
○ Đa dạng hình thức sở hữu: nhà nước, tập thể, tư nhân, hỗn hợp, FDI.
○ Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực.
○ Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
○ Đổi mới quan hệ phân phối: theo lao động, hiệu quả, khoa học – công nghệ.
3. Kết quả và thách thức
● LLSX được giải phóng, kinh tế phát triển mạnh; đời sống nhân dân cải thiện; CNH–HĐH tiến triển.
● Vẫn tồn tại: khoảng cách giàu nghèo, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả chưa cao, năng
suất lao động hạn chế. 4. Kết luận
Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là minh chứng
rõ ràng cho việc điều chỉnh QHSX cho phù hợp với LLSX, vừa phát triển lực lượng sản
xuất, vừa đảm bảo mục tiêu XHCN.
12. Nguồn gốc hình thành giai cấp. Liên hệ với vấn đề phân hóa giai cấp ở nước ta hiện nay
I.Khái niệm giai cấp: giai cấp được hiểu cơ bản chính là những tập đoàn to lớn gồm những
đối tượng khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Những đối tượng
khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định có sự khác nhau đối với tư
liệu sản xuất, tổ chức lao động xã hội và từ đó mà đã dẫn đến sự khác nhau về cách thức
hưởng thụ và phần của cải xã hội. Giai cấp cũng chính là một phạm trù mang tính lịch sử.
II.Nguồn gốc của giai cấp
● Sự phân công lao động xã hội: Ban đầu, trong xã hội nguyên thủy, mọi người đều làm
việc tập thể và hưởng thụ bình đẳng. Tuy nhiên, khi sản xuất phát triển, lao động được
phân chia thành các lĩnh vực khác nhau (ví dụ: nông nghiệp, thủ công nghiệp). Điều
này tạo ra sự khác biệt trong năng suất lao động. VD: Ở cuối thời nguyên thủy, một
bộ phận chuyên làm nông nghiệp tạo ra nhiều lương thực hơn, trong khi một bộ phận
khác chuyên làm thủ công (làm công cụ, đồ gốm). Năng suất khác nhau giữa các
ngành khiến của cải phân hóa không đều → tạo cơ sở ban đầu cho phân chia giai cấp.
• Những người làm công việc có năng suất cao (chế tác kim loại) dần trở nên có vị
thế hơn so với người chỉ lao động đơn giản.

● Sự chiếm hữu tư liệu sản xuất: Một số cá nhân hoặc nhóm người bắt đầu chiếm hữu
tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ lao động) và sản phẩm thặng dư. Điều này dẫn đến
việc hình thành tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất và tầng lớp không sở hữu. Ví dụ:
• Trong xã hội cổ đại, một số người chiếm hữu đất đai màu mỡ, công cụ sản xuất tốt
(trâu cày, công cụ kim loại). Họ trở thành tầng lớp chủ nô, chủ đất.
• Người không có đất đai hoặc công cụ bắt buộc phải làm việc cho những người có
tư liệu sản xuất → trở thành nô lệ hay tá điền.

● Tích lũy tài sản và bất bình đẳng: Khi của cải tích lũy ngày càng nhiều, sự chênh lệch
giàu nghèo tăng lên, dẫn đến sự hình thành các giai cấp đối kháng. Ví dụ:
• Gia đình có nhiều đất và nô lệ, sản xuất nhiều lương thực hơn → tích lũy của cải
qua nhiều thế hệ và trở thành tầng lớp giàu có.
• Ngược lại, những người nghèo mất đất phải đi làm thuê, dần dần không còn khả
năng cạnh tranh, trở thành tầng lớp bị bóc lột.

● Sự phát triển tiếp theo của sản xuất vật chất từng bước phân hóa xã hội thành những
tập đoàn người có sự đối lập về địa vị kinh tế - xã hội và giai cấp xuất hiện. Ví dụ:
• Khi công cụ kim loại ra đời, năng suất lao động tăng lên mạnh → xuất hiện các
tầng lớp đối lập: người sở hữu nhiều của cải và người không sở hữu gì.
• Sự phát triển thủ công nghiệp (đúc đồng, luyện sắt) tạo ra tầng lớp thợ thủ công
giàu lên, trong khi nhiều người chỉ làm lao động đơn giản bị phụ thuộc.

● Từ sự phân công xã hội lớn lần đầu tiên, đã nảy sinh ra sự phân chia lớn đầu tiên
trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Ví dụ:
• Khi xã hội chuyển từ công xã nguyên thủy sang xã hội chiếm hữu nô lệ:
– Chủ nô quản lý ruộng đất, công cụ, và chiếm đoạt toàn bộ sản phẩm.
– Nô lệ bị coi như "công cụ biết nói", lao động sản xuất nhưng không sở hữu gì.
• Ở Ai Cập cổ đại hay Hy Lạp cổ đại: tầng lớp chủ nô nắm quyền lực kinh tế – chính
trị, nô lệ làm việc trong nông nghiệp, khai khoáng, xây dựng đền đài.
III.Liên hệ
● Trong bối cảnh hiện đại, Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến giai cấp:
○ Phân hóa giàu nghèo: Quá trình đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại nhiều thành tựu lớn, nhưng cũng làm gia
tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư.