-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương vấn đáp Quản lý xã hội về giáo dục và đào tạo | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Đây là quá trình tổ chức học tập và truyền đạt kiến thức, kỹ năng, giá trị, và kiến thức văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo dục có thể xảy ra trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, từ học tại nhà, trường học, đến các tổ chức phi lợi nhuận và xã hội. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Quản lý xã hội về giáo dục và đào tạo 2 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương vấn đáp Quản lý xã hội về giáo dục và đào tạo | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Đây là quá trình tổ chức học tập và truyền đạt kiến thức, kỹ năng, giá trị, và kiến thức văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo dục có thể xảy ra trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, từ học tại nhà, trường học, đến các tổ chức phi lợi nhuận và xã hội. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Quản lý xã hội về giáo dục và đào tạo 2 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
CÂU HỎI ÔN TẬP VẤN ĐÁP QLXH VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Chương 1 : Những vấn đề chung về GD VÀ ĐT
Câu 1. Phân biệt giáo dục và đào tạo. Tiêu chí Giáo dục Đào tạo 1.Định nghĩa:
Đây là quá trình tổ chức học tập Đào tạo tập trung vào việc truyền đạt
và truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kiến thức và kỹ năng cụ thể liên quan
giá trị, và kiến thức văn hóa từ đến một lĩnh vực, nghề nghiệp hoặc
thế hệ này sang thế hệ khác. công việc nhất định. Nó thường tập
Giáo dục có thể xảy ra trong trung vào việc phát triển các kỹ năng cụ
nhiều ngữ cảnh khác nhau, từ thể và áp dụng chúng vào một mục đích
học tại nhà, trường học, đến các nhất định, như làm việc trong một
tổ chức phi lợi nhuận và xã hội.
ngành công nghiệp hoặc nghề nghiệp cụ thể. 2. Phạm vi:
Phạm vi của giáo dục rộng lớn Đào tạo thường hẹp hơn về phạm vi và
và bao gồm mọi hình thức học tập trung vào việc cung cấp kiến thức và
tập và truyền đạt kiến thức, từ kỹ năng cụ thể cho một mục đích nghề
giáo dục cơ bản, giáo dục trung nghiệp hoặc công việc nhất định. Đào
học, giáo dục đại học đến giáo tạo thường được cung cấp thông qua các
dục liên tục trong suốt cuộc đời. chương trình học cụ thể, các khóa đào
Nó cũng có thể bao gồm việc tạo ngắn hạn hoặc dài hạn, và các
học thông qua trải nghiệm, tự chương trình đào tạo nghề.
học và học hỏi từ xã hội. 3. Mục tiêu:
Mục tiêu của giáo dục thường là Mục tiêu của đào tạo thường là trang bị
phát triển một cá nhân trở thành cá nhân với kiến thức và kỹ năng cụ thể
một thành viên xã hội đầy đủ, có liên quan đến một ngành nghề hoặc
kỹ năng tư duy, kiến thức văn công việc nhất định, nhằm tăng cơ hội
hóa, và khả năng thích ứng với nghề nghiệp và hiệu suất làm việc.
môi trường xã hội và lao động. -Hình thành kỹ năng chuyên môn ( HP ) nghề nghiệp
-Nâng cao dân trí, đào tạo -Hình thành phẩm chất lao động mới
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phù hợp với từng quá trình ( quan
( nghiệp vụ, tay nghề )
trọng nhất là tác phong công nghiệp ) 4.Tính chất 5.Đặc trưng 6. Thời gian
Theo các cấp ( GD mầm non, Loại cấp trình độ ( công nhân kỹ thuật,
tiểu học , trung học, thpt, đại học trung học chuyên nghiệp, cao đẳng đại học, sau đại học )
6.Thời gian và Giáo dục thường là một quá Đào tạo thường là một quá trình ngắn cơ sở hạ tầng:
trình kéo dài suốt đời và có thể hạn và có thể được tập trung vào một kỹ
xảy ra ở nhiều cấp độ khác nhau năng hoặc lĩnh vực cụ thể. Cơ sở hạ
từ trẻ sơ sinh đến người cao tuổi. tầng đào tạo thường bao gồm các trung
Cơ sở hạ tầng giáo dục thường tâm đào tạo, tổ chức đào tạo và các nhà
bao gồm trường học, đại học, máy hoặc cơ sở làm việc cụ thể.
thư viện, và các tổ chức giáo dục khác.
Câu 2. Trình bày vai trò của giáo dục và đào tạo.
- ĐỐI VỚI QUỐC GIA - ĐỐI VỚI CÁ NHÂN
Giữ gìn phát triển và truyền bá văn minh
Giúp cá nhân có được kiến thức, tri thức, nhân loại
có tư duy, độc lập, có khả năng tự định
động lực quan trọng trong việc thúc đẩy
hướng, tự phân biệt đúng sai và tự mình
cộng nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước tham gia xã hội.
Phát huy nguôn lực con người
Góp phần nâng cao, tăng trưởng nền kinh
Dân cao dân trí , thúc đầy phát triển và
tế quốc dân, nâng cao lợi nhuận, giá trị
tiến bộ của môi trường quốc gia của bản thân.
Mở ra cơ hội để cá nhân lựa chọn cuộc
sống ổn định, hạnh phúc hơn.
Biến con người sinh học thành con người
XH (Quá trình nhập thân văn hoá).
Gia đình, cá nhân có nền tảng giáo dục
tốt — nhiều thành công.
Câu 3. Trình bày yếu tố tác động đến phát triển giáo dục và đào tạo. TNTN
Nhân lực ( nguồn lực con người ) - GD VÀ ĐT Khoa học công nghệ Tài chính
Câu 4. Mô tả hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay.
- Khái quát hệ thống giáo dục quốc dân : sắp xếp theo thứ tự chặt chẽ ( mầm non -> phổ thông , đại học ) …
- Mục tiêu : hướng đến sự phổ cập giáo dục cho toàn công dân trong 1 nhà nước, tìm ra nhân tài
cống hiến , bình đẳng trong giáo dục , không có phân biệt đối xử.
Sự phổ cập giáo dục ở nước ta ( toàn quốc ) hiện nay mới dừng lại ở : THCS – học vấn trung
bình của người việt nam.
-Đề cập tới hệ thống giáo dục quốc dân theo luật.
1. Hệ thống giáo dục là gì?
Hệ thống giáo dục là toàn bộ tổ chức và cấu trúc các loại cơ quan giáo dục – dạy học và văn hóa
– giáo dục khác nhau, đảm nhiệm việc dạy học và giáo dục và công tác giáo dục – văn hóa cho
thế hệ trẻ và người lớn của một quốc gia. Hệ thống giáo dục bao gồm nhiều tổ chức khác nhau và
được cấu trúc theo những nguyên tắc xác định tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong việc thực
hiện mục đích và chiến lược giáo dục của quốc gia.
Điều 6. Hệ thống giáo dục quốc dân – Luật Giáo dục năm 2019
1. Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
2. Cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;
c) Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các
chương trình đào tạo nghề nghiệp khác;
d) Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
3. Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và
Khung trình độ quốc gia Việt Nam; quy định thời gian đào tạo, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào
tạo, khối lượng học tập tối thiểu đối với trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định ngưỡng đầu vào trình độ cao đẳng, trình độ đại
học thuộc ngành đào tạo giáo viên và ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe.
II. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Hệ thống giáo dục phản ánh đặc điểm của hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội có tính
chất lịch sử cụ thể của mỗi nước, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay là sự kế thừa của quá
trình xây dựng, phát triển của hệ thống giáo dục trong quá trình phát triển của lịch sử.
Hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt nam hiện nay được hình thành trên cơ sở Nghị định 90/CP
của Chính phủ ngày 24 tháng 11 năm 1993 về “Quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục
quốc dân, hệ thống văn bằng, chứng chỉ về giáo dục đào tạo của nước CHXHCN Việt Nam” và
các điều khoản về hệ thống giáo dục quốc dân của Luật Giáo dục 1998. Theo quy định tại
chương I Điều 6 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam năm 1998, hệ thống giáo dục
quốc dân Việt Nam như sau:
– Giáo dục mầm non có Nhà trẻ và Mẫu giáo.
– Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc Tiểu học và bậc Trung học, bậc trung học có hai cấp
học là cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
– Giáo dục nghề nghiệp có Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề.
– Giáo dục đại học, đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học, giáo dục sau đại
học, đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
Hệ thống giáo dục quốc dân được nêu tại Điều 4 của Luật Giáo dục được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam khoá XI kì họp thứ 7 thông qua vào ngày 14 tháng 6 năm 2005 như sau:
1) Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
2) Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a. Giáo dục mầm non có Nhà trẻ và Mẫu giáo.
b. Giáo dục phổ thông có Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.
c. Giáo dục nghề nghiệp có Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề.
d. Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng,
trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Câu 5. Khái quát những thành tựu nổi bật trong việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW
về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
Trong bài tham luận của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII,
những kết quả mà ngành giáo dục đào tạo đạt được như sau:
Những kết quả nổi bật
Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cơ bản được hoàn thiện
Bộ GD-ĐT đã rà soát, trình Chính phủ, Quốc hội ban hành và ban hành theo thẩm quyền các cơ
chế, chính sách khắc phục những hạn chế, bất cập tồn tại từ nhiều năm trước. Lần đầu tiên trong
2 năm liên tiếp, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Luật Giáo dục (sửa đổi, ban hành mới) năm
2019, giải quyết những “nút thắt” và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục, đào tạo.
Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Đến nay, về cơ bản các chủ trương của Nghị quyết 29 đã được thể chế hóa và được cụ thể trong
các văn bản hướng dẫn thực hiện.
Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non; duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở
Chỉ tiêu về đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trên toàn quốc cho trẻ 5 tuổi đã hoàn thành
ngay từ đầu năm 2017 với tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,98%.
Bên cạnh đó, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 18/63 tỉnh,
thành phố đạt mức độ; cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1, trong đó
có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ 2, mức độ 3...
Theo Bộ trưởng Nhạ, chủ trương một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa nhằm khuyến khích
sự sáng tạo trong dạy và học của giáo viên đã có những thành công bước đầu.
Ban hành và tích cực triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới
Cuối năm 2019, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã phê duyệt 5 bộ sách
giáo khoa lớp 1, với tổng số 46
quyển của 9 môn học và hoạt động giáo dục cho phép sử dụng trong năm học 2020-2021. Việc
lựa chọn sách giáo khoa được các địa phương thực hiện cơ bản nghiêm túc, công khai, minh
bạch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành giáo dục nước ta thực hiện chủ trương này và đã có
kết quả bước đầu đáng khích lệ.
Công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả hơn
Đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và trung
học phổ thông được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học.
Các bậc học sau phổ thông đã chuyển việc tổ chức đào tạo theo niên chế sang tích lũy mô đun
hoặc tín chỉ. Viê ~c kiểm tra, đánh giá trình đô ~ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ được thực hiê ~n chặt chẽ
hơn; chất lượng các luận văn, luận án từng bước theo tiêu chuẩn quốc tế.
Công tác đổi mới thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng được triển
khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học, giảm áp
lực và tốn kém cho xã hội.
Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao
Theo báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới về Vốn nhân lực, thành phần kết quả giáo dục
của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển.
Nhiều chỉ số về Giáo dục của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ học sinh đi
học và hoàn thành Chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối
ASEAN; kết quả Chương trình Đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học các nước Đông
Nam Á (SEA PLM) năm 2019 cho thấy chất lượng giáo dục tiểu học của Việt Nam đứng vào tốp
đầu của các nước ASEAN. Trong các đợt đánh giá PISA, Việt Nam có kết quả vượt trội so với
trung bình của các nước trong khối OECD trong khi mức đầu tư cho giáo dục thấp hơn hẳn.
Kết quả thi Olympic của học sinh Việt Nam những năm vừa qua có bước tiến bộ vượt bậc với 49
huy chương Vàng trong giai đoạn 2016-2020 so với 27 huy chương Vàng trong giai đoạn 2011-
2015; nhiều học sinh Việt Nam đạt điểm số cao nhất ở các nội dung thi.
Nếu như trước đây chỉ có hai đại học quốc gia được giao quyền tự chủ cao, thì từ năm 2014 đã
có 23 cơ sở giáo dục đại học được thí điểm thực hiện tự chủ tương đối toàn diện theo Nghị quyết 77 của Chính phủ.
Năm 2019, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12
bậc so với năm 2018. Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000
trường đại học tốt nhất thế giới; có 11 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam nằm trong danh sách 500
trường đại học hàng đầu Châu Á.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên có nhiều
chuyển biến tích cực
Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống
tiếp tục được chú trọng, thực hiện thông qua tất cả các môn học, hoạt động giáo dục.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành giáo dục
Toàn ngành Giáo dục đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, dạy và học.
Lần đầu tiên, toàn ngành Giáo dục đã xây dựng cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục mầm non và
giáo dục phổ thông. Công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi trong các trong các hoạt động
dạy và học; dạy học qua internet, trên truyền hình được thực hiện mạnh mẽ, nhất là trong thời
gian thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19.
Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác giáo dục với hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Nguồn khác : https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/03/19/doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-
duc-va-dao-tao-thuc-trang-va-giai-phap/
Giáo dục và đào tạo (GDĐT) luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện GDĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ mục tiêu: “Tạo chuyển biến
căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công
cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng
tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và
phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao
chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo
dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm
2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.
Sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ra đời, mặc dù trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn và
nguồn lực còn hạn hẹp, song với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của đội ngũ nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD), sự nghiệp GDĐT nước ta đã có những chuyển biến
căn bản về chất lượng và hiệu quả, được các tổ chức giáo dục thế giới ghi nhận, đánh giá cao. Cụ thể:
Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách về GDĐT tiếp tục được chú trọng hoàn thiện nhằm khắc
phục những hạn chế, bất cập, giải quyết những “nút thắt” trong hoạt động đổi mới giáo dục, tạo
hành lang pháp lý để các địa phương, các cơ sở GDĐT thực hiện. Bộ GDĐT đã trình và được
Quốc hội thông qua hai luật quan trọng, đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo
dục đại học năm 2018 và Luật Giáo dục năm 2019.
Chất lượng giáo dục mầm non có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
được quan tâm. Nếu như năm học 2013 – 2014, cả nước mới có 18 tỉnh được công nhận đạt
chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi thì đến năm 2017, tất cả 63 tỉnh, thành phố
đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Chất lượng phổ cập ngày càng được
nâng cao. Tháng 8/2018, Chính phủ đã thống nhất chủ trương thực hiện chính sách miễn học phí
đối với trẻ em mầm non 5 tuổi và hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em diện
phổ cập, nhất là đối với các thôn, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 29-NQ/TW.
Chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên, được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Theo báo
cáo “Tăng trưởng thông minh hơn: Học tập và Phát triển công bằng ở Đông Á – Thái Bình
Dương” năm 2018 của Ngân hàng Thế giới đã khẳng định 7 trong số 10 hệ thống giáo dục đổi
mới hàng đầu của thế giới nằm ở khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, trong đó sự phát triển
thực sự ấn tượng là ở hệ thống giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc. Báo cáo Phát triển 2018
của Ngân hàng Thế giới “Learning to realize education’s promise” tái khẳng định đánh giá trong
nhiều nghiên cứu là năng lực học sinh lứa tuổi 15 nước ta – một nước thu nhập trung bình thấp,
có kết quả vượt mức trung bình của học sinh các nước khối OECD .1
Việc triển khai chương trình, sách giáo khoa mới được tích cực thực hiện; thực hiện tốt việc đổi
mới phương pháp và hình thức dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát
triển phẩm chất và năng lực. Công tác giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học
sinh có bước chuyển biến.
Đến nay, Bộ GDĐT đã hoàn thành và ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tổ
chức thực nghiệm chương trình môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương
trình phổ thông mới thay đổi căn bản cách tiếp cận từ “theo nội dung” sang theo hướng “phát
triển năng lực và phẩm chất”, dạy học “tích hợp” ở cấp dưới, dạy “phân hóa” ở cấp trên, tăng
cường các môn tự chọn. Mặc dù chương trình chưa áp dụng chính thức, nhưng các yếu tố về
phương pháp giáo dục, dạy học và kiểm tra đánh giá đã được áp dụng từng phần ở các bậc học.
Chất lượng giáo dục đại học (GDĐH) ngày càng được quan tâm, văn hóa chất lượng từng bước
được hình thành trong các cơ sở GDĐH. Một số trường đại học đã triển khai đào tạo hiệu quả
nguồn nhân lực theo các chương trình tiên tiến được chuyển giao từ các nước phát triển; đẩy
mạnh việc triển khai thực hiện hỗ trợ khởi nghiệp đối với sinh viên. Những năm qua, chất lượng
GDĐH từng bước được thế giới công nhận thông qua kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học quốc tế.
Nếu như trước năm 2014, chỉ có 15 chương trình đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại
học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh được các tổ chức của khu vực ASEAN hay quốc tế đánh giá thì
đến năm 2018 đã có tổng số 104 chương trình đào tạo từ 13 trường đại học khác của Việt Nam
được các tổ chức quốc tế (AUN-QA của ASEAN, CTI của Pháp, ABET và AACSB của Hoa Kỳ)
đánh giá và công nhận. Đồng thời, có 05 cơ sở GDĐH tham gia kiểm định cấp trường, được Hội
đồng Cấp cao về đánh giá nghiên cứu và GDĐH Pháp và Mạng lưới bảo đảm chất lượng các
trường đại học ASEAN đánh giá và công nhận.
Thứ hạng trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế của các cơ sở GDĐH Việt Nam ngày càng
được cải thiện. Nếu như trước năm 2014, cả Việt Nam chỉ có duy nhất Đại học Quốc gia Hà Nội
lọt vào bảng xếp hạng đại học châu Á của Tổ chức xếp hạng đại học QS với vị trí trong nhóm
250 trường hàng đầu thì đến năm 2018, có 7 cơ sở GDĐH lọt top 500 của bảng xếp hạng đại học
QS châu Á. Trong đó, Đại học Quốc gia Hà Nội xếp vị trí 124 của châu Á. Đặc biệt, năm 2018,
lần đầu tiên lĩnh vực Vật lý của Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng 502 trên thế giới theo
US News. Ngoài ra, cũng có 3 trường đại học đạt mức 3 sao, 1 trường đạt mức 4 sao theo chuẩn
gắn sao đại học thế giới (QS Star Rating) .2
Tự chủ đại học được đẩy mạnh thông qua việc triển khai Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày
24/10/2014 của Chính phủ. Kể từ khi được giao quyền tự chủ, số lượng các đề tài khoa học đấu
thầu thành công, số lượng các công bố trong nước, quốc tế, các chương trình mở mới của các
trường đại học đều tăng, quy mô đào tạo ổn định, thu nhập của giảng viên, người lao động tăng.
Thứ hai, chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQLGD các cấp được nâng lên và chuẩn hóa. Tính
đến ngày 15/8/2018, toàn quốc có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 858.772,
ngoài công lập 23.691). Trong đó, mầm non: 309.770 người (công lập 262.155, ngoài công lập
47.615); tiểu học: 395.848 người (công lập 390.873, ngoài công lập 4.975); trung học cơ sở:
305.815 người (công lập 300.990, ngoài công lập 4825; trung học phổ thông: 149.710 người
(công lập 135.819, ngoài công lập 13.891). Đội ngũ nhà giáo, CBQLGD tăng mạnh về số lượng,
đồng thời đạt chuẩn, trên chuẩn trình độ đào tạo. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn với mầm
non là 96,6%; tiểu học: 99,7%; trung học cơ sở: 99%; trung học phổ thông: 99,6%; đại học:
82,7%, tạo tiền đề để Bộ GDĐT đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong sửa đổi Luật Giáo dục3.
Bên cạnh đó, Bộ GDĐT cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án nâng cao năng lực đội ngũ
giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở GDĐH và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu
đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT giai đoạn 2018 – 2030. Xây dựng khung năng lực giáo viên
phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng cơ
chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng
nhà giáo, CBQLGD. Đồng thời, rà soát mạng lưới, quy mô, phương thức đào tạo của các cơ sở
đào tạo giáo viên; triển khai Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực
đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP); khảo sát nhu cầu sử dụng
giáo viên của địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu ra sư phạm.
Khung năng lực giáo viên ngoại ngữ, bộ tiêu chí đánh giá các đơn vị tổ chức bồi dưỡng giáo viên
ngoại ngữ, các hệ thống trực tuyến bồi dưỡng giáo viên về năng lực ngoại ngữ và năng lực sư
phạm đã được hoàn thành; số lượng giáo viên đạt yêu cầu về năng lực ngoại ngữ của các cấp học được nâng lên.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và
trong dạy học ngày càng được đẩy mạnh. Cơ sở dữ liệu của các cấp học đã được thống kê; dữ
liệu về đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được đưa vào sử dụng làm cơ sở cho cơ quan quản lý ra
các quyết định về chính sách hiệu quả, khắc phục tối đa những bất cập hiện nay như thừa, thiếu
giáo viên, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, chính sách cho nhà giáo. Kiểm định chất
lượng giáo dục được triển khai tích cực, hiệu quả, đánh giá đúng chất lượng đào tạo của các cơ
sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lượng làm căn cứ để xác định chất lượng GDĐH, vị thế và uy tín của cơ sở GDĐH.
Thứ tư, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, nhiều thỏa thuận, biên bản ghi nhớ được ký kết. Nhiều
cơ sở GDĐT đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế thông qua các chương trình liên kết đào tạo
với nước ngoài và các chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên, hợp tác nghiên cứu.
Công tác thanh tra được đẩy mạnh, góp phần phòng ngừa, phát hiện những sai phạm, hạn chế,
thiếu sót trong quản lý và kịp thời kiến nghị xử lý vi phạm, đề xuất các biện pháp khắc phục, góp
phần chấn chỉnh, duy trì kỷ cương, nền nếp trong hoạt động giáo dục…
6. Làm rõ những hạn chế cơ bản trong việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới
căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
Cũng theo Bộ trưởng Nhạ, sau 7 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 29 của Trung ương, ngành
giáo dục vẫn còn một số hạn chế, bất cập.
Đó là công tác quản lý nhà nước, quản trị nhà trường còn bất cập, trách nhiệm còn chồng chéo;
việc kiện toàn Hội đồng trường các cơ sở giáo dục đại học còn chậm, hoạt động chưa thực chất,
chưa phát huy tốt vai trò của Hội đồng trường.
Thứ hai là tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để ở một số địa
phương; chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới, cá biệt có những giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc xã hội.
Thứ ba là quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở một số địa phương chưa
phù hợp, còn tình trạng thiếu trường, lớp ở một số khu đô thị, khu công nghiệp; thiếu đất cho xây
dựng trường học, đặc biệt là ở các thành phố lớn; quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại
học và sư phạm còn chậm.
Thứ tư là hệ thống quản lý, quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu ngành phục vụ công tác quản lý,
điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số nơi hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối
còn thiếu, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,chưa đáp
ứng yêu cầu chuyển đổi số.
Và bất cập thứ năm là công tác truyền thông về giáo dục còn hạn chế, chưa tạo được đồng thuận
cao trong xã hội khi bắt đầu triển khai nhiều chủ trương, chính sách mới của ngành. Truyền
thông nội bộ ngành chưa hiệu quả, còn những ý kiến trái chiều ngay trong đội ngũ giáo viên khi
triển khai chính sách mới.
Hạn chế : Nguồn : https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/03/19/doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-
duc-va-dao-tao-thuc-trang-va-giai-phap/
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT
cũng còn một số hạn chế, như: công tác sắp xếp mạng lưới trường, lớp học ở một số địa phương
còn bất cập do chưa hoàn thiện quy hoạch tổng thể về phát triển trường, lớp. Nguồn lực tài chính
thực tế cho đổi mới GDĐT còn thiếu do quy mô ngân sách nước ta còn nhỏ, vì vậy, chi thực tế
cho giáo dục còn ít so với nhu cầu của một nền giáo dục đang phát triển.
Năng lực đội ngũ quản lý giáo dục, nhà giáo các cấp còn yếu, chưa theo kịp với tiến trình đổi
mới. Mặc dù tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo cao, nhưng năng lực ứng dụng những
phương pháp dạy học và giáo dục mới, năng lực thực hiện các phương pháp kiểm tra đánh giá
mới, năng lực ngoại ngữ và ứng dụng CNTT còn kém. Cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông mất
cân đối, tạo ra sự thừa, thiếu cục bộ. Chính sách tiền lương cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên
mầm non chưa phù hợp nên chưa thu hút được sinh viên giỏi vào ngành sư phạm.
Công tác phân luồng, giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông chưa hiệu quả do nhận
thức của học sinh, gia đình học sinh và xã hội đối với giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế. Hệ
thống thông tin thị trường lao động chưa được cập nhật; nội dung, phương thức hoạt động giáo
dục hướng nghiệp trong các nhà trường chậm được đổi mới. Chất lượng GDĐH còn thấp so với
mặt bằng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học còn thiếu, lạc hậu; tỷ lệ phòng học kiên cố thấp;
một số địa phương nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất trường, lớp còn hạn hẹp, đầu tư dàn
trải, hiệu quả chưa cao; việc huy động các nguồn lực khác còn hạn chế… Giải pháp ( + ) :
Trước thực trạng trên, để thực hiện hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT theo tinh
thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần tập trung vào những giải pháp sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính về GDĐT. Các địa
phương cần rà soát, quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp, tạo điều kiện cho người dân tham
gia học tập. Triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH năm 2018 và Luật
Giáo dục năm 2019; thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQLGD các cấp. Rà soát, sắp xếp đội ngũ
giáo viên bảo đảm quy định về định mức số lượng, chuẩn giáo viên đối với các cấp học; không
để xảy ra tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ. Nâng cao đạo đức nhà giáo, tăng cường chỉ đạo,
kiểm tra việc thực hiện các quy định về đạo đức nhà giáo. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách
cho đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục, triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ
thông mới. Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả của giáo dục thường xuyên; tăng cường giáo
dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên. Thực hiện tốt chủ
trương giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, hướng
dẫn các địa phương thực hiện có hiệu quả Đề án giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân
luồng học sinh trong giáo dục phổ thông. Triển khai hiệu quả các giải pháp của Đề án hỗ trợ học
sinh, sinh viên khởi nghiệp nhằm khơi dậy tinh thần khởi nghiệp cho học sinh ngay từ cấp học phổ thông.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của Hội đồng trường cơ sở GDĐH. Các cơ sở GDĐH cần
tích cực, chủ động đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy theo hướng
tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng ứng dụng và thực hành, chú trọng đạo đức nghề nghiệp và
hiểu biết xã hội. Tăng cường gắn kết doanh nghiệp với cơ sở GDĐH cùng tham gia xây dựng
chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, thực tập và tạo cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo.
Phát triển, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ, đặc biệt là đội
ngũ giáo viên phổ thông, đáp ứng yêu cầu và tiến độ triển khai chương trình giáo dục phổ thông
mới và dạy các môn học khác bằng ngoại ngữ. Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp thi,
kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên theo chuẩn đầu ra và trong quá
trình GDĐT. Tăng cường các điều kiện dạy và học ngoại ngữ theo hướng ứng dụng triệt để
CNTT; đầu tư có trọng điểm, hệ thống hỗ trợ dạy và học ngoại ngữ trực tuyến đáp ứng mục tiêu
đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và người học.
Bốn là, tăng cường công tác khảo thí và kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục. Tổ chức
giám sát, đánh giá các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục; kiểm tra việc tổ chức thi đánh
giá năng lực ngoại ngữ, tin học, công tác quản lý, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, công tác bảo
đảm và kiểm định chất lượng giáo dục. Từng bước xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu các điều kiện
bảo đảm chất lượng của các cơ sở giáo dục để quản lý chất lượng bảo đảm thực chất và hiệu quả.
Năm là, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy, học và quản lý giáo dục. Xây dựng và đưa
vào khai thác cơ sở dữ liệu trực tuyến về GDĐH; hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục
mầm non, giáo dục phổ thông; tích hợp các hệ thống thông tin quản lý ngành hiện có vào cơ sở
dữ liệu ngành; xây dựng và triển khai các phần mềm quản lý, kết nối liên thông dữ liệu với phần
mềm cơ sở dữ liệu ngành. Tăng cường ứng dụng CNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá và
quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; thực hiện giải pháp tuyển sinh trực tuyến đầu cấp học và
sử dụng hồ sơ điện tử (sổ điểm, học bạ, sổ liên lạc); triển khai mô hình giáo dục điện tử, lớp học
thông minh ở những nơi có điều kiện. Triển khai giải pháp dạy học kết hợp (blended learning),
nâng cao chất lượng đào tạo CNTT trong GDĐT; bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT
cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo.
Sáu là, đẩy mạnh việc phân cấp và thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các
cơ sở giáo dục theo quy định. Tăng cường kiểm tra, thanh tra công tác quản lý nhà nước trong
lĩnh vực GDĐT. Rà soát, hướng dẫn thành lập, kiện toàn và giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt
động của Hội đồng trường trong các cơ sở GDĐH.
Bảy là, tăng cường các nguồn lực đầu tư cho GDĐT. Phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn
kinh phí được giao bảo đảm tỷ lệ chi tối thiểu 20% ngân sách cho giáo dục, trong đó chi thường
xuyên bảo đảm tỷ lệ tối thiểu 18% dành cho chuyên môn; bố trí hợp lý cho chi đầu tư phát triển
góp phần nâng cao chất lượng GDĐT.
Tăng cường cơ sở vật chất bảo đảm chất lượng các hoạt động GDĐT. Chuẩn bị cơ sở vật chất,
thiết bị thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đặc biệt là lớp 1 năm học
2020 – 2021; triển khai có hiệu quả Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục
mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017 – 2025. Rà soát các tiêu chí về cơ sở vật chất,
thiết bị của các trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia bảo đảm đúng quy định. Xây dựng và
thực hiện kế hoạch bổ sung, duy tu, bảo dưỡng cơ sở vật chất, thiết bị đối với các tiêu chí trường
chuẩn quốc gia đã quá hạn, bị xuống cấp.
Tám là, thực hiện hội nhập quốc tế trong GDĐT. Xây dựng và tổ chức triển khai Chiến lược
hội nhập quốc tế trong GDĐT của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 tầm nhìn 2045. Tạo điều kiện
thuận lợi cho các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, GDĐH, giáo dục thường xuyên
đẩy mạnh hội nhập quốc tế thông qua việc hợp tác với các cơ sở giáo dục có uy tín của nước
ngoài hoặc được cấp có thẩm quyền công nhận.
Các cơ sở giáo dục mở rộng hợp tác quốc tế trong trao đổi học sinh/sinh viên, giáo viên/giảng
viên, nghiên cứu khoa học; tăng số lượng các chương trình giảng dạy bằng tiếng nước ngoài;
phát triển nhóm nghiên cứu quốc tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo; đẩy
mạnh liên kết đào tạo với các cơ sở GDĐT của các nước có uy tín hoặc được cấp thẩm quyền
công nhận. Khuyến khích công nhận tín chỉ, văn bằng, liên thông chương trình với các trường
đại học nước ngoài có uy tín hoặc được cấp có thẩm quyền công nhận để thu hút học sinh, sinh
viên, nhà khoa học nước ngoài đến học tập và nghiên cứu, làm việc tại Việt Nam.
Tăng cường thu hút các cơ sở giáo dục nước ngoài có uy tín hoặc được cấp có thẩm quyền công
nhận vào Việt Nam dưới hình thức thành lập các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài hoặc
liên danh, liên kết với các cơ sở giáo dục của Việt Nam theo quy định của pháp luật./.
7. Trình bày quan điểm tổng quan chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
https://luatminhkhue.vn/quan-diem-chi-dao-cua-dang-ve-giao-duc-va-dao-tao-theo-van-
kien-dai-hoi-xiii.aspx#4-noi-dung-co-ban-cua-nhung-diem-moi
Nghị quyết 29 , văn kiện đại hội XIII
1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội.
2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết,
từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều
kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt
động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và
bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới,
tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức,
việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại
đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết
hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ
quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo
dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp
ứng yêu cầu số lượng.
5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và
giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo.
6- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo
dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào
tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng
xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và
đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
Là quốc sách hàng đầu , đổi mới đòa
Tạo đột phá trong ......... thu hút và trọng dụng nhân tài
Đồng bộ mục tiêu
Gắn GD .. kỉ năng sống ..
XD đồng bộ thể chế chính sách , có hiệu quả .. quốc sách hàng đầu
Điểm mới : https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-
kien-dang/nhung-diem-moi-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang-ve-giao-duc-va-dao-tao- 3742
Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội XIII
- Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên
định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương
Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và
bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh
tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo
đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.
- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa,
sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng
sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài,
thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa
học và công nghệ, nhất là những thành tựu
của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích
cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực,
trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.
- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng
cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn
diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu
lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược,
người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với
nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất
nước và bảo vệ Tổ quốc.
Câu 8. Trình bày mục tiêu chung phát triển giáo dục và đào tạo.
Chiến lược phát triển GD của ttg chính phủ định hướng đến 2030-2045 -
Phát triển toàn diện con người VN -
XD hệ thống GD mở , phục vụ học tập suốt đời …. -
Tầm nhìn đến 2045 XD nền GD VN hiện đại , kế thừa các giá trị nhân loại ,..
Nguồn : KẾ HOẠCH THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẾN NĂM 2025 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 (Ban hành
kèm theo Quyết định số 2161/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) 1. Mục tiêu chung
Xây dựng nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt
đời cho tất cả mọi người; các chỉ tiêu sẽ được cụ thể hóa vào kế hoạch phát triển giáo dục và đào
tạo hàng năm của các cấp, các ngành để đến 2030 đạt các mục tiêu chung sau:
1.1. Đảm bảo tất cả các trẻ em gái và trai hoàn thành giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở
miễn phí, công bằng, có chất lượng.
1.2. Tất cả trẻ em trong độ tuổi mầm non được chăm sóc, giáo dục có chất lượng để phát triển
toàn diện, chuẩn bị sẵn sàng vào tiểu học.
1.3. Đảm bảo tất cả mọi người được tiếp cận giáo dục sau phổ thông có chất lượng, với chi phí
học tập phù hợp với mức sống và mức thu nhập.
1.4. Xóa bỏ bất bình đẳng giới trong giáo dục; đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng trong giáo dục,
đào tạo ở tất cả các cấp học cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và trẻ em trong những
hoàn cảnh dễ bị tổn thương.
1.5. Tất cả thanh thiếu niên và hầu hết người trưởng thành, không phân biệt giới tính, đều biết
đọc, biết viết và biết tính toán.
1.6. Tất cả người học đều được trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết để thúc đẩy phát
triển bền vững, bao gồm: giáo dục về lối sống bền vững, quyền con người, bình đẳng giới, thúc
đẩy một nền văn hóa hòa bình, không bạo lực; thực hiện giáo dục công dân toàn cầu, thích ứng
cao với sự đa dạng văn hóa, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự đóng
góp của văn hóa đối với phát triển bền vững.
Câu 9. Trình bày các mục tiêu cụ thể phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể
2.1. Tăng tiếp cận giáo dục cho mọi người (Mục tiêu 4.1 toàn cầu)
- Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, giám sát kết quả thực
hiện để kịp thời có điều chỉnh tương ứng.
- Thay đổi chính sách về học phí cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, tiến đến miễn phí
hoàn toàn cho cấp trung học cơ sở.
- Có cơ chế hiệu quả hỗ trợ người dân đưa con trong độ tuổi đến trường, đặc biệt là trẻ em
khuyết tật, trẻ sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thi ểu số,
vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu. Thực hiện giáo dục hòa nhập, giáo dục đặc
biệt cho trẻ khuyết tật.
- Nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học và trung học cơ sở và tăng cường công tác quản lý chất
lượng giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, trong bối cảnh đổi mới chương trình, sách giáo khoa
giáo dục phổ thông bao gồm cả đổi mới hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng các cấp.
Giảm sự bất bình đẳng và chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền, giảm tỷ lệ trẻ
bỏ học, trẻ em ngoài nhà trường.
- Đảm bảo ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục được tập trung ưu tiên cho giáo dục phổ cập,
giáo dục ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số, vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai và
biến đổi khí hậu và các đối tượng chính sách xã hội.
- Tăng cường hiệu quả công tác thống kê, theo dõi bình đẳng giáo dục, bao gồm tiếp cận, chất
lượng và hiệu quả giáo dục.
- Thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục.
2.2. Chăm sóc, giáo dục trẻ thơ có chất lượng (Mục tiêu 4.2 toàn cầu)
- Xây dựng và thực hiện đề án huy động nguồn lực cho phát triển hệ thống giáo dục mầm non,
trong đó chú trọng mở rộng mạng lưới trường lớp nhất là ở vùng sâu, vùng xa; tăng cường lực
lượng giáo viên được đào tạo, phát huy vai trò của khu vực tư nhân trong cung ứng dịch vụ giáo
dục mầm non; huy động các thành phần kinh tế đầu tư hệ thống nhà trẻ, trường, lớp mầm non.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, hộ nghèo, hộ có trẻ em khuyết tật về sự cần thiết đối với phát triển toàn diện sức khỏe và trí
tuệ của trẻ em từ giai đoạn trẻ thơ.
- Tăng cường điều phối và phối hợp liên ngành để đảm bảo sự liên kết giữa các can thiệp phát
triển trẻ thơ lồng ghép có chất lượng.
- Có chính sách hỗ trợ thích hợp để bảo đảm các trẻ em nghèo, trẻ em bị khuyết tật, nhóm trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt có điều kiện tiếp cận dịch vụ chăm sóc giai đoạn trẻ thơ và giáo dục mầm non.
2.3. Phát triển giáo dục đại học có chất lượng (Mục tiêu 4.3 toàn cầu)
- Nâng cao chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học thông qua đổi mới cơ chế hoạt động của
các cơ sở này theo hướng gắn với thị trường lao động.
- Thực hiện hiệu quả các chiến lược đã ban hành liên quan tới giáo dục đại học, bình đẳng giới,
bảo đảm tất cả nam và nữ thanh niên và người trưởng thành có nhu cầu đều có thể tiếp cận dịch
vụ giáo dục đại học phù hợp.
- Tăng cường thực hiện chính sách hỗ trợ các đối tượng chính sách, người nghèo, người yếu thế
và dễ bị tổn thương có điều kiện tiếp cận dịch vụ giáo dục đại học theo nhu cầu.
- Đẩy nhanh việc thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học theo quan điểm dựa trên
cơ sở chất lượng, đảm bảo một hệ thống giáo dục đại học có hiệu quả, phù hợp với xu thế phát
triển của giáo dục đại học trong khu vực và thế giới.
- Tăng cường giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở năng lực, chất lượng
và khả năng tự chủ tài chính, giảm bớt gánh nặng đầu tư tài chính của Nhà nước.
2.4. Thực hiện chính sách giáo dục, đào tạo đảm bảo bình đẳng trong giáo dục và xóa bỏ
chênh lệch còn tồn tại đối với các đối tượng dễ bị tổn thương (Mục tiêu 4.5 toàn cầu)
- Xây dựng các chính sách phù hợp bảo đảm bình đẳng trong giáo dục đối với nhũng người dễ bị
tổn thương và hỗ trợ để họ có điều kiện tiếp cận dịch vụ giáo dục và đào tạo.
- Đảm bảo công tác lập kế hoạch và dự toán ngân sách phát triển giáo dục đào tạo hằng năm và
trung hạn có lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững và có các biện pháp phù hợp để
thúc đẩy tiếp cận và chất lượng giáo dục bao gồm phát triển toàn diện trẻ thơ, giáo dục phổ thông và sau phổ thông.
- Tăng cường, ưu tiên đào tạo nhân lực cho các dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn
bằng các hình thức phù hợp (tiếp tục chính sách cử tuyển, lồng ghép đào tạo cán bộ là người dân
tộc thiểu số trong Đề án đào tạo cán bộ, công chức cấp cơ sở, đào tạo cán bộ y tế cho tuyến xã,
các dự án đào tạo của Chương trình xóa đói, giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm …).
2.5. Xây dựng xã hội học tập (Mục tiêu 4.6 toàn cầu)
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020; xây dựng
bộ tiêu chí đánh giá “cộng đồng học tập”, “thành phố học tập”, “công dân học tập” theo định hướng của UNESCO.
- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ cho người học thuộc đối tượng chính sách, người dân tộc thiểu số,
phụ nữ theo địa bàn, đặc biệt là các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
- Củng cố, phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng; tăng cường các biện pháp nâng
cao chất lượng hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng địa bàn hoạt động đến
các thôn, bản, cụm dân cư; đa dạng hóa nội dung giáo dục; phấn đấu tăng số lượng trung tâm học
tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả; phát triển mô hình trung tâm học tập cộng đồng kết hợp
với trung tâm văn hóa thể thao xã hoạt động có hiệu quả.
2.6. Trang bị kỹ năng, kiến thức cần thiết cho người học để thúc đẩy phát triển bền v ững
(Mục tiêu 4.7 toàn cầu)
- Tăng cường các nội dung giáo dục về: phát triển bền vững, lối sống bền vững, quyền con
người, bình đẳng giới, ngăn chặn và chống bạo lực, công dân toàn cầu, ý thức tôn trọng sự đa
dạng văn hóa trong chính sách giáo dục quốc gia và trong nội dung chương trình giảng dạy ở tất cả các cấp học.
- Tăng cường các nội dung giáo dục có tính thực tiễn, sử dụng phương pháp dạy học tích cực,
học qua trải nghiệm/nghiên cứu, học qua các dự án/tình huống và phương pháp tiếp cận trường học toàn diện.
- Tăng cường năng lực của cơ sở giáo dục trong lồng ghép phát triển bền vững xuyên suốt hệ
thống giáo dục cả chính quy và không chính quy.
- Tăng nguồn cung giáo viên có trình độ cao, thông qua hợp tác quốc tế về đào tạo giáo viên (Mục tiêu 4.c toàn cầu).
2.7. Xây dựng môi trường học tập an toàn, không bạo lực, toàn diện và hiệu quả cho tất cả
mọi người (Mục tiêu 4.a toàn cầu)
- Rà soát, hoàn thiện và xây dựng hệ thống các tiêu chí/tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng giáo dục thân
thiện với trẻ em, người khuyết tật và bình đẳng giới tương ứng với các tiêu chí của Liên Hợp Quốc.
- Bảo đảm các cơ sở giáo dục xây mới đáp ứng các tiêu chí thân thiện với trẻ em, bao gồm cả trẻ
khuyết tật; đồng thời sửa chữa, nâng cấp các cơ sở giáo dục đang hoạt động để đáp ứng tiêu chí đề ra.
- Lồng ghép mục tiêu về cơ sở giáo dục thân thiện với trẻ em vào chiến lược giáo dục. Xây dựng
trường học an toàn, lành mạnh, không bạo lực; tăng cường giáo dục kỹ năng sống và tư vấn học đường.
- Huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho việc xây dựng và nâng cấp các cơ sở giáo dục.
2.8. Giáo dục, nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro
thiên tai (Mục tiêu 13.3.b toàn cầu)
- Tăng cường vai trò điều phối, mở rộng phối hợp đối tác để huy động nguồn lực và liên kết các
can thiệp ứng phó với thiên tai và tình huống khẩn cấp trong giáo dục để hạn chế tình trạng gián
đoạn học tập do thiên tai xảy ra, tăng cường theo dõi giám sát và nâng cao năng lực hệ thống
giáo dục trong việc chuẩn bị dự phòng, chống chịu và thích ứng với thiên tai và tác động của
biến đổi khí hậu trong khuôn khổ triển khai trường học an toàn.
- Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống
thiên tai vào trong chương trình giáo dục, đào tạo các cấp học; xây dựng các chương trình đào
tạo; phát triển và có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các chuyên ngành liên
quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.
- Thực hiện sáng kiến trường học an toàn, các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến
đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai lấy trẻ em/học sinh làm trung tâm.
Câu 10. Hiến pháp năm 2013 chỉ ra 3 mục tiêu của phát triển giáo dục, hãy làm rõ 3 mục tiêu đó. Điều 61.
1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục
mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ
cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách
học bổng, học phí hợp lý.
3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều
kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề.
Một trong những nội dung quan trọng trong Hiến pháp năm 2013 là những quy định về giáo dục
và đào tạo, điều đó thể hiện qua khẳng định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều
39); “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút nguồn đầu tư khác cho giáo dục;
chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí;
từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thực
hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi,
hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học
văn hóa và học nghề” (Điều 61).
Những quy định này đã thể hiện quan điểm, đường lối của Ðảng, Nhà nước và ý nguyện của
nhân dân về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Ðây là cơ sở hiến định, là bảo đảm về mặt
chính trị - pháp lý để phát triển nền giáo dục quốc dân. Giáo dục là một hoạt động thực tiễn xã
hội có vai trò thúc đẩy và phát triển năng lực nội sinh của quốc gia. Năng lực nội sinh của quốc
gia thể hiện qua sức sản xuất của xã hội và được đánh giá thông qua chất lượng nguồn lực lao
động cả mặt vật chất và tinh thần. Khi được chăm lo giáo dục một cách đúng đắn thì con người
mới có điều kiện phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và năng lực, trở thành nhân tố quan
trọng của lực lượng sản xuất.
Việc Hiến pháp năm 2013 tiếp tục nhấn mạnh học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân
đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục trong đời sống xã hội, trong đó mọi công dân không
phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh
kinh tế có quyền được đi học, đều bình đẳng về cơ hội học tập. Nhà nước thực hiện công bằng xã
hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
Nhằm triển khai quy định trên, Nhà nước cần xây dựng chiến lược học tập suốt đời, theo đó mọi
người đều có cơ hội được đi học; các hình thức học tập phù hợp với từng đối tượng và được quản
lý một cách chặt chẽ theo tiêu chuẩn thống nhất tương ứng với trình độ. Đổi mới nền giáo dục
theo hướng phát triển năng lực và nhân cách người học, xây dựng nền giáo dục thực chất và hiện đại.
Chính sách phát triển giáo dục một lần nữa được khẳng định trong Hiến pháp là quốc sách hàng
đầu với mục đích “nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Mục đích
này trước hết nhằm nâng cao trình độ nhận thức, năng lực trí tuệ của nhân dân, bao gồm trình độ
văn hóa, kỹ thuật, khoa học công nghệ. Trình độ dân trí không chỉ là trình độ nhận thức mà bao
hàm cả chí khí của dân tộc, là sức mạnh tinh thần, là lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt ngàn năm văn hiến.
Muốn xây dựng và phát triển đất nước trước hết phải xuất phát từ nền tảng nhân dân. Nhân dân
có trí tuệ, có tài có đức thì đất nước mới hưng thịnh. Đồng thời chính sách của Nhà nước phải coi
trọng phát triển lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, có nghiệp vụ, tay nghề cao nhằm
cung ứng cho xã hội trong xu thế toàn cầu hóa.
Phát triển nguồn nhân lực cần chú trọng phát triển lao động công nghiệp có tay nghề trình độ cao
theo phương châm “thầy giỏi, thợ lành nghề”. Đặc biệt, bồi dưỡng, phát triển nhân tài là vấn đề
cốt lõi của quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam việc chảy máu chất xám đang diễn ra khá phổ biến.
Việc phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài còn thiếu chiến lược phù hợp. Cơ chế, điều kiện vật
chất và tinh thần nhằm phát huy tài năng và sự cống hiến của người giỏi bị hạn chế. Vì vậy, Nhà
nước cần chú trọng phát hiện, nuôi dưỡng, sử dụng nhân tài, qua đó phát huy tối đa năng lực nội
sinh để phát triển đất nước.
Để sử dụng có hiệu quả người tài, trước hết cần đánh giá đúng năng lực, thế mạnh của người tài,
giao quyền chủ động cao cho họ, tạo môi trường tốt để họ làm việc và cống hiến; đánh giá và tôn
vinh đúng sự cống hiến và thành quả lao động của người hiền tài. Bác Hồ đã dạy: “...tài to ta
dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt vào việc ấy...”.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà sự cạnh tranh kinh tế đang diễn ra quyết liệt trên quy mô
toàn cầu. Các nước kém phát triển sẽ chịu sự lệ thuộc vào các nước phát triển. Vì vậy, phát hiện,
tạo điều kiện để nhân tài có cơ hội phục vụ đất nước là chìa khóa vàng để đưa đất nước đến với
sự phồn vinh và giàu mạnh.
Bên cạnh đó, việc đầu tư cho giáo dục cần có trọng điểm và hiệu quả. Nhà nước cần rà soát lại
chính sách học phí và học bổng, bảo đảm học sinh giỏi được tạo điều kiện tốt nhất cho việc học
và phát triển tài năng của mình. Giáo dục nghề nghiệp cần được quan tâm đúng mức. Thay vì
thực hiện chính sách hỗ trợ vay vốn cho tất cả sinh viên theo kiểu “cào bằng” như hiện nay, cần
ưu tiên mức cao hơn cho học sinh học nghề, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh giỏi.
Việc phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, sau đại học cần được quản lý chặt chẽ,
chống tiêu cực, hình thức và đối phó.
Việc “ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” là đúng đắn, nhằm nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực, thúc đẩy KT-XH vùng đồng bào dân tộc, miền núi và hải đảo phát triển, tuy
nhiên cần có những giải pháp, cách làm hợp lý, hiệu quả, tránh tình trạng dàn trải, đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Muốn xây dựng và
phát triển đất nước trước hết phải phát triển giáo dục, đó là cội nguồn của mọi sức mạnh. Để thực
hiện tốt mục tiêu này, nhiệm vụ quan trọng hiện nay là tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp, bảo
đảm cho từng chế định của Hiến pháp nói chung và chế định về giáo dục nói riêng đi vào đời
sống. Muốn vậy, trước hết cần tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp để nhân dân biết và hiểu sâu sắc
tinh thần và nội dung của Hiến pháp. Thể chể hóa các nội dung cơ bản của Hiến pháp bằng các
văn bản Luật, tạo cơ sở thực thi các nội dung đó một cách đầy đủ và đúng đắn.