













Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ------------ BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Sản xuất hàng hóa và vai trò của sản xuất hàng hóa trong
nền kinh tế hàng hóa Việt Nam.
Họ và tên sinh viên: Tạ Thị Trà My
Mã sinh viên: 11202645
Lớp chuyên ngành: Marketing 62B
Lớp học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin (121)_19 Hà Nội, 10/2021 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
PHẦN 1: NỘI DUNG..............................................................................................4
I. Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về sản xuất hàng hóa 4
………………………….
II. Liên hệ thực tiễn: Vai trò của sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam... 7
……………………………………………………………………………………….
PHẦN 2: KẾT LUẬN............................................................................................11
PHẦN 3: TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................12 LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước bước vào tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế với
“hành trang” là một nền sản xuất lạc hậu, khép kín. Tuy nhiên, sau 35 năm đổi
mới, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển và trở thành nước đang phát
triển có thu nhập trung bình, có nền kinh tế thị trường sôi động và mức độ hội nhập
cao, nền kinh tế tăng trưởng khá cao, liên tục và bao trùm, đảm bảo mọi người
được hưởng lợi ích từ quá trình phát triển. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, không thể phủ nhận sản xuất hàng hóa chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, nhất là trong xu thế phát triển hội nhập hiện nay;
không chỉ góp phần thúc đẩy có hiệu quả sự phát triển của nền kinh tế, đất nước ta
cũng được mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Tuy nhiên,
trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta vẫn gặp phải những hạn chế
nhất định trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá. Việt Nam,
cũng như các nước khác trên thế giới, cần phải có một hướng đi cho nền nền kinh
tế phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực, thế giới và
thời đại. Chính vì vậy việc nghiên cứu về điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của
sản xuất hàng hóa là vô cùng quan trọng, từ đó liên hệ với tình hình phát triển nền
kinh tế hàng hóa ở nước ta và làm cho quá trình sản xuất hàng hóa của nước ta
ngày càng phát triển. Bởi những lý do trên, em xin phép lựa chọn đề tài “Sản xuất
hàng hóa và vai trò của sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế hàng hóa Việt Nam”. 3 PHẦN 1: NỘI DUNG.
I. Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về sản xuất hàng hóa.
1. Sơ lược về sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hoá là hình thức tổ chức sản xuất mà sản phẩm làm ra dùng
để bán hoặc trao đổi trên thị trường. Đây cũng là hình thức tổ chức sản xuất
phổ biến trên thế giới và là cơ sở cho tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Sản xuất hàng hóa đã từng tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội
Trong các hình thái xã hội trước Chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá chưa
phát triển. Đầu tiên nền kinh tế tự cung tự cấp xuất hiện, gắn liền với nền
kinh tế tự nhiên sau đó xuất hiện sự chuyên môn hóa. Đến thời kỳ Tư bản
chủ nghĩa, nó đã phát triển tới đỉnh cao nhất, trở thành quan hệ thống trị, phổ
biến trong xã hội. Cho đến xã hội xã hội chủ nghĩa, sản xuất hàng hoá vẫn
còn quy luật giá trị quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vẫn còn hoạt
động, mặc dù mục đích của sản xuất xã hội chủ nghĩa là nhằm thoả mãn nhu
cầu vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong xã hội, chứ không phải để
buôn bán nhằm thu lợi nhuận.
2. Điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi xã hội có đủ hai điều kiện:
- Sự xuất hiện của phân công lao động xã hội:
+ Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội vào các
ngành nghề khác nhau trong đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một
vài loại sản phẩm nhất định.
+ Biểu hiện của sự phân công lao động xã hội: trình độ phân công lao
động xã hội ngày càng chi tiết.
+ Cơ sở của sự phân công lao động xã hội dựa vào ưu thế, lợi thế tự nhiên,
khả năng kỹ thuật; sở trường năng khiêu của từng người, từng đơn vị.
+ Vai trò: Sự xuất hiện và phát triển của phân công lao động xã hội là
khách quan, tất yếu. Sự phân công lao động xã hội là tiền đề của sản xuất
hàng hóa vì kéo theo chuyên môn hóa sản xuất. Mỗi người, mỗi đơn vị chỉ
sản xuất một hoặc vài loại sản phẩm nhất định tuy nhiên nhu cầu cuộc
sống đòi hỏi phải có nhiều sản phẩm khác nhau, do đó dẫn đến nhu cầu
trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất. Từ đây trao đổi hàng hóa
xuất hiện dẫn đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa Điều này còn góp phần 4
tăng năng suất lao động chính vì vậy ngày càng có nhiều sản phẩm thặng
dư được mang đi trao đổi.
Như vậy, có thể nói, phân công lao động xã hội chính là cơ sở, là tiền đề,
là điều kiện cân của quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa.
- Sự tách biệt tương đối về kinh tế, hữu tư giữa các chủ thể sản xuất hay
hình thức sở và sự xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất:
+ Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất biểu hiện ra là tư liệu sản xuất chủ yếu
trong xã hội thuộc về các chủ thể (các cá nhân, các gia đình...) trong xã
hội. Do sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng thì sự tách biệt về
kinh tế không chỉ ở sự khác biệt về quyền sở hữu mà còn khác biệt ở quyền
sử dụng những khối lượng tư liệu sản xuất khác nhau của cùng một chủ thể sở hữu.
+ Những người sản xuất hàng hóa có quyền độc lập tự chủ trong sản xuất
kinh doanh và phân phối sản phẩm. Khi sự tách biệt về kinh tế giữa những
chủ thể sản tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội thì việc
trao đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm bảo được lợi ích
của họ. Điều đó chỉ có thể có được khi trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang
giá, có đi có lại tức là trao đổi hàng hóa, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa.
Như vậy, phân công lao động xã hội đã làm này sinh các quan hệ kinh tế
giữa những chủ thể sản xuất trong xã hội, làm cho họ có liên quan đến
nhau, phải dựa vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Còn sự tách biệt về lợi ích
kinh tế giữa các chủ thể sản xuất trong xã hội khiến cho việc trao đổi sản
phẩm giữa họ trở thành trao đội hàng hóa và do đó sản xuất sản phẩm giữa
họ là sản xuất hàng hóa. Đây là điều kiện đủ để xuất hiện sản xuất hàng hóa.
Kết luận: Như vậy, đây chính là hai điều kiện cần và đủ để sản xuất hàng
hóa ra đời, tồn tại và phát triển, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy sản
xuất hàng hóa sẽ không tồn tại.
3. Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa.
a) Đặc trưng của sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hoá ra đời từ sản xuất tự cấp tự túc và thay thế nó trong
quá trình lịch sử lâu dài. Ở các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất
hàng hoá là sản xuất giản đơn chỉ giữ vai trò phụ thuộc. Tuy nhiên chính
sản xuất hàng hoá giản đơn đã tạo khả năng phát triển lực lượng sản xuất 5
thiết lập các mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế trước đó vốn tách
biệt nhau. Quan hệ hàng hoá phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ
phong kiến tan rã và góp phần thúc đẩy quá trình đó diễn ra mạnh mẽ hơn.
Hình thức điển hình nhất, cao nhất, phổ biến nhất của sản xuất hàng hoá
là sản xuất hàng hoá TBCN. Dưới CNTB quan hệ hàng hoá thâm nhập
vào mọi lĩnh vực, mọi chức năng của nền sản xuất xã hội, hàng hoá trở
thành tế bào của nền sản xuất xã hội. Nó mang đặc điểm: Dựa trên sự
tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động trên cơ sở bóc lột lao động làm
thuê dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư.
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển dưới CNXH. Đặc điểm
của sản xuất hàng hoá XHCN là nó không dựa trên cơ sở chế độ người
bóc lột người và nó nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần
của mọi thành viên xã hội trên cơ sở sản xuất kinh doanh.
b) Ưu điểm của sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội là sản
phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người. Bởi vậy nó có nhiều
ưu thế, và là một phương thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với
sản xuất tự cấp tự túc.
Nó làm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất
lao động xã hội. Nó thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh trong
làm cho sự phân công chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp
tác hoá chặt chẽ hình thành các mối liên hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn
nhau của những người sản xuất hình thành thị trường trong nước và thế giới.
Nó thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, đó là cơ sở để
thúc đẩy quá trình dân chủ hoá, bình đẳng và tiến bộ xã hội. Do sản xuất
hàng hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản
xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của
từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời,
sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động xã
hội, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng. mối quan hệ giữa các
ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho
năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn. 6
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi
nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà
nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực xã hội. Từ đó, tạo
điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kĩ thuật vào sản
xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất
phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao
năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu
của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển,
năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Kết luận: Sản xuất hàng hóa làm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản
xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy quá trình xã hội hoá
sản xuất nhanh chóng làm cho sự phân công chuyên môn hoá sản xuất
ngày càng sâu sắc, hợp tác hoá chặt chẽ hình thành các mối liên hệ kinh
tế và sự phụ thuộc lẫn nhau của những người sản xuất hình thành thị
trường trong nước và thế giới. Như vậy, sản xuất hàng hóa có hiệu quả
hơn hẳn tự cung tự cấp và tạo động lực phát triển sản xuất, thay đổi diện mạo nền kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực như đã nêu trên, sản xuất hàng hóa
cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những
người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng kinh tế -
xã hội, phá hoại môi trường sinh thái, …
II. Liên hệ thực tiễn: Vai trò của sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam.
1. Khái quát về sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa Việt Nam.
Việt Nam đi lên từ một nước phong kiến thuộc địa lạc hậu, tiếp đó là chiến
tranh kéo dài. Khi kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, Việt Nam có
thời gian nhìn lại mình thì đã tụt hậu về kinh tế quá xa so với thế giới. Sự hỗ
trợ to lớn của các nước XHCN là hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến
nhưng lại hầu như không hiệu quả trong thời kì hòa bình, xây dựng lại đất
nước. Cùng với sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âu, nước ta đứng
trên bờ khủng hoảng kinh tế xã hội. Thu nhập bình quân đầu người được
đánh giá vào nhóm các nước nghèo nhất thế giới. Trước đây, việc thực hiện
chính sách và cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp khiến
cho sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa 7
các tầng lớp dân cư tăng nhanh, đời sống một bộ phận dân cư, nhất là một số
vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, đồng bào dân tộc còn khó khăn
vất vả. Chất lượng đào tạo, y tế nhiều nơi rất thấp. Xuất phát từ nhu cầu thực
tế của đời sống xã hội, để ổn định kinh tế trong nước và hội nhập quốc tế ta
phải xây dựng một nền kinh tế mở, một nền kinh tế nhiều thành phần, đa
dạng hóa các hình thức sở hữu.
Sự thành công của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN không chỉ
biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao, mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi
tầng lớp dân cư đều được nâng lên; y tế, giáo dục phát triển; khoảng cách
giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa được giữ
vững; môi trường được bảo vệ.
2. Vai trò của sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế hàng hóa Việt Nam.
Nền kinh tế hàng hóa mới xuất hiện ở Việt Nam một thời gian ngắn, nhưng
nhìn lại sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trong những năm qua, chúng
ta không khỏi bất ngờ trước tốc độ tăng trưởng và phát triển của nó. Điều
này chứng tỏ khả năng ứng dụng và lợi thế của kinh tế hàng hoá đối với toàn
thế giới, đặc biệt là đối với nền kinh tế. Đối với nền kinh tế quốc dân, sản
xuất hàng hoá mang lại nhiều lợi ích:
Sản xuất hàng hoá ra đời nhằm tận dụng những lợi thế về tự nhiên, xã hội và
công nghệ của mỗi người, mỗi nơi, mỗi vùng trên đất nước Việt Nam.
Chẳng hạn, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cung cấp lương thực
chính phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu do có điều kiện phát triển
nông nghiệp lúa nước rất thuận lợi.
Sản xuất hàng hoá là để trao đổi đáp ứng nhu cầu của xã hội nên người sản
xuất có điều kiện chuyên môn hoá cao. Nâng cao trình độ kỹ năng bằng cách
tích lũy kinh nghiệm và tiếp thu kiến thức mới. Việc cải tiến các công cụ đặc
biệt và áp dụng công nghệ mới dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt làm
tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Lấy hiệu quả kinh
tế làm mục tiêu đánh giá hoạt động của các thành phần kinh tế. Mở rộng quy
mô sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Sự ảnh hưởng của các quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật
cạnh tranh,... Bắt buộc người sản xuất phải luôn duy trì sức mạnh, phản ứng
nhanh, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng, hiệu
quả kinh tế. Nền sản xuất hàng hoá phát triển đã làm cho đời sống vật chất
và văn hoá ngày càng cao quý, phong phú và đa dạng. Các quan hệ hàng
hoá, tiền tệ và thị trường ngày càng được người sản xuất hàng hoá sử dụng 8
có hiệu quả hơn, từ đó, bên cạnh các quan hệ kinh tế phát triển, các quan hệ
pháp luật xã hội, phong tục, tập quán cũng thay đổi. Tăng trưởng kinh tế đạt
tốc độ cao. Sau giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP
bình quân hằng năm đạt 4,4%. Giai đoạn 1996-2000, tốc độ tăng GDP đạt
7%. Với sự điều hành quyết liệt và quyết tâm cao của Chính phủ, Việt Nam
đã từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng,
biểu hiện ở việc tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt mức
6,8%, đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5% đến 7% của kế hoạch 5 năm
2016-2020. Mặc dù năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch
Covid-19 nhưng nền kinh tế vẫn tăng trưởng gần 3%, là một trong những
nước hiếm hoi có tăng trưởng dương trong khu vực và trên thế giới. Quy mô
nền kinh tế được mở rộng đáng kể, GDP đạt khoảng 262 tỷ USD vào năm
2019, tăng 18 lần so với năm đầu đổi mới, thu nhập bình quân đầu người đạt
khoảng 2.800 USD/người và thuộc các nước có mức thu nhập trung bình
trên thế giới. Chất lượng tăng trưởng được nâng cao, năng suất lao động tăng
từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên 5,8%/năm giai đoạn 2016 - 2020,
đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm 2016 -
2020 đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 đến 35%).
Sản xuất hàng hóa làm cho Việt Nam từ một đất nước kém phát triển trở
thành một đất nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Đời sống vật chất càng ngày càng đầy đủ cũng như đời sống tinh thần
được cải thiện và ngày càng phong phú.
Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm:
Làm phân hóa đời sống dân cư, phân hóa giàu nghèo dẫn đến khủng hoảng
kinh tế, thất nghiệp, lạm phát. Có nhiều yếu tố tiêu cực trong xã hội, và các
tệ nạn xã hội liên quan đến sự suy giảm địa vị kinh tế, gây hỗn loạn xã hội
Vì theo đuổi lợi nhuận tối đa nên dẫn đến lạm dụng, hủy hoại tài nguyên,
hủy hoại môi trường, sinh thái (thông thường doanh nghiệp xả thải ra môi
trường và gây ô nhiễm môi trường). Năm 2004, năm doanh nghiệp tư nhân
nhập khẩu 230 tấn thép phế liệu không đúng công bố thực tế và vi phạm các
quy định về bảo vệ môi trường tại Cảng Sài Gòn. Đặc biệt, vụ án Formosa
Sông Lặng năm 2016 đã khơi dậy sự phẫn nộ của người dân cả nước. Nước
thải công nghiệp của Công ty TNHH Gang thép Hongyi Formosa Hejing xả
ra môi trường biển trái phép mà không qua xử lý, làm hải sản chết hàng loạt
ở 4 tỉnh miền Trung, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và môi trường
sinh thái biển, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, du lịch và sức khỏe của
người dân. Ở Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều "làng ung thư". 9
Để tối thiểu hóa đầu tư, tối đa hóa lợi nhuân, các doanh nghiệp bất chấp sức
khỏe người tiêu dùng, làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Các
vụ việc làm sữa lậu, trà sữa làm từ nguyên liệu kém chất lượng, ngộ độc trà sữa,… ngày càng nhiều.
Để khắc phục những khuyết điểm, hạn chế của nền sản xuất hàng hóa thì vai
trò của nhà nước rất quan trọng. Chính từ những ưu thế mà sản xuất hàng
hoá mang lại mà tại Đại hội VII Đảng ta đã xác định phương hướng: Phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Để khắc phục sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, phải đẩy
mạnh ổn định tái cơ cấu kinh tế, tăng năng suất, chất lượng để hiệu quả của
nền kinh tế tốt hơn và mang lại lợi ích cho toàn xã hội nhiều hơn. Đào tạo
việc làm cho người nông dân ở nông thôn miền núi, điều tiết thu nhập qua
thuế tốt hơn, an sinh xã hội có nhiều trụ cột khác nhau, đảm bảo quyền lợi
cần thiết cho người dân phải được tiến hành mạnh mẽ hơn, nhất là hỗ trợ tín
dụng cho người nghèo mạnh mẽ hơn.
Nhà nước cần phải tăng cường điều chỉnh và quản lý vĩ mô một cách kiên
quyết và khôn khéo để mọi hoạt động vào khuôn khổ và đều tuân theo pháp
luật; thiết lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế kết hợp với các luật về bảo vệ
môi trường sinh thái để xác định hành vi kinh doanh là hợp pháp hay không
và có biện pháp xử lý khi có cá nhân hoặc tổ chức vi phạm. Thêm vào đó,
Nhà nước phải sử dụng có ý thức các quy luật kinh tế khách quan vào quản
lý nền kinh tế sản xuất hàng hóa để phát huy những ưu thế vốn có và ngăn
ngừa, hạn chế những mặt trái khuyết điểm của nó. Chính vì vậy, sự tham gia
điều tiết của Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc vận động nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN.
Bên cạnh Nhà nước, các doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức về bảo vệ môi
trường nói chung và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thương mại nói riêng,
tiến tới thay đổi hành vi của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh
doanh. Đặc biệt áp dụng giải pháp công nghệ sạch. Ngoài ra, các doanh
nghiệp cũng cần có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên
môn về môi trường nhằm áp dụng các quy định của pháp luật môi trường có
khả năng vận hành các hệ thống xử lý, phân tích kiểm tra mức độ đảm bảo
tiêu chuẩn môi trường của các sản phẩm và chất thải,… Thêm nữa, việc thực
hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
cũng cần được chú trọng. Thông tin trung thực về sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ; có trách nhiệm trong giao dịch với người tiêu dùng và có các chính sách 10
chăm sóc khách hàng phù hợp. 11 PHẦN 2: KẾT LUẬN.
Việt Nam hiện nay trong giai đoạn quá độ lên CNXH đó là một thời kỳ phức tạp và
đầy biến động, một thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho CNXH để hoàn
thành cách mạng dân dân chủ. Với điểm xuất phát thấp, điều kiện kinh tế khó khăn
và có nhiều trở ngại. Muốn phát triển kinh tế bền vững ta thực hiện nền kinh tế
hàng hoá là một bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
là một tất yếu và cần thiết. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần đã xuất hiện nhiều khó khăn, phức tạp và đã tác động đến
mặt xã hội nói chung. Để hạn chế những tác động tiêu cực này ta cần định hướng
cho nền kinh tế phát triển phù hợp con đường mà ta lựa chọn là xây dựng CNXH.
Chính vì vậy chính sách phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có
sự định hướng XHCN là một yêu cầu cấp thiết và hợp lý của quy luật phát triển, nó
thể hiện tư tưởng tiến bộ, sáng suốt của Đảng. Đất nước ta phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhằm tăng trưởng kinh tế, khuyến khích làm giàu, xoá đói giảm nghèo,
gia tăng về mức sống; chính vì vậy, chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, kiên
quyết đẩy lùi và khắc phục những nguy cơ nhằm vượt lên để phát triển nhanh,
vững chắc và đúng hướng; nhờ đó, đất nước ta mới ngày càng phát triển giàu mạnh và vững chắc. 12
PHẦN 3: TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. PGS.TS. Ngô Tuấn Nghĩa và các cộng sự. Giáo trình “Kinh tế chính trị Mác
Lenin”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. TS. Nguyễn Đức Kiên (2021). Kinh tế Việt Nam - Nhìn lại sau 35 năm đổi mới, Báo Nhân Dân. 13