



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN -------***------- BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về khủng hoảng kinh tế và
liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.
Họ và tên SV: Trần Vân Anh Lớp tín chỉ: LLNL1106 Mã SV: 11220649 Số thứ tự: 10
Hà Nội, tháng 10 năm 2023 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
I. LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ...................................................3
1. Khái niệm về khủng hoảng kinh tế:.................................................................3
2. Các loại khủng hoảng kinh tế:.........................................................................3
4. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế:...........................................................5
5. Chu kỳ Kinh tế:................................................................................................7
II. LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:..................................................8
Sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009 đến
lĩnh vực FDI (Đầu tư nước trực tiếp nước ngoài) của Việt Nam.................8
1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 - 2009 ....................8
2. Hệ quả .................................................................................................................8
3. Lĩnh vực FDI của Việt Nam trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-
2009 diễn ra .............................................................................................................9
4. Các ảnh hưởng....................................................................................................9
5. Nguyên nhân ...................................................................................................10
6. Biện pháp đối phó của chính phủ Việt Nam.....................................................11
Khủng hoảng kinh tế 2022 – 2023: Chiến tranh Nga – Ukraine................12
1. Nguyên nhân....................................................................................................12
2. Hệ quả..............................................................................................................13
3. Biện pháp đối phó của chính phủ Việt Nam.....................................................14 III.
KẾT LUẬN:.................................................................................................16 2 LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng kinh tế là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử kinh tế thế
giới. Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2009, khi các nền
kinh tế lớn trên thế giới đồng loạt gặp khó khăn và gây ảnh hưởng mạnh đến các nền
kinh tế nhỏ hơn. Trong lịch sử, nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu và phát triển các lý
thuyết về khủng hoảng kinh tế, trong đó có Chủ nghĩa Mác Lênin.
Trong bài luận này, chúng ta sẽ trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin
về khủng hoảng kinh tế và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam. Chủ nghĩa Mác Lênin đã
đưa ra quan điểm về bản chất của khủng hoảng kinh tế và cách giải quyết vấn đề này
trong một nền kinh tế chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam là một trong những quốc gia phát triển nhanh chóng ở Đông Nam
Á và cũng đã từng gặp phải những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế. Bài
luận sẽ phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế
giới đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực FDI. Cuối cùng, chúng ta sẽ
đề xuất những giải pháp và biện pháp để giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng kinh tế và
giúp Việt Nam phát triển kinh tế bền vững hơn. 3
I. LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
1. Khái niệm về khủng hoảng kinh tế:
Khủng hoảng kinh tế là trạng thái suy thoái, mất cân bằng các hoạt động kinh
tế theo chiều hướng kéo dài, gây rối loạn đến đời sống kinh tế-xã hội của một
quốc gia hay một khu vực. Tuy nhiên với xu hướng phát triển toàn cầu hóa hiện
nay thì các cuộc khủng hoảng kinh tế dần mở rộng ra, có thể lan rộng ra phạm vi toàn cầu.
Khủng hoảng kinh tế xảy ra do nhiều nguyên nhân như bong bóng kinh tế,
khủng hoảng tài chính, sự mất cân bằng trong nguồn cung và cầu, do sự sụp đỏ
của các doanh nghiệp lớn hoặc do các yếu tố chính trị, thiên tai tác tộng vào nền kinh tế.
2. Các loại khủng hoảng kinh tế: a) Khủng hoảng thừa:
Khủng hoảng thừa là khủng hoảng kinh tế do sức sản xuất tư bản vượt quá
nhiều so với sức mua của người tiêu dùng. Vì cung lớn hơn cầu nên làm cho hàng hóa
bị ứ lại, giá cả hàng hóa bắt buộc giảm xuống gây nên tình trạng suy giảm của nền kinh tế.
Khủng hoảng thừa xảy ra do nhiều nguyên nhân bao gồm tình trạng sản xuất
vượt quá nhu cầu xã hội, tình trạng sản xuất tự phát, lơ là quy luật cung cầu dẫn đến
mất cân bằng trong việc tiêu thụ hàng hàng hóa. Ngoài ra một số nguyên nhân dẫn đến
khủng hoảng thừa đó là việc quá tập trung phát triển vào một số ngành nghề nhất định
gây mất cân bằng về cơ cấu thị trường, điều này gây ảnh hưởng lớn đến sự cung cầu
của các ngành nghề khác.
Biện pháp để giải quyết khủng hoảng thừa bao gồm chính phủ cần đối phối
các doanh nghiệp sản xuất có quy hoạch hợp lý, khắc phục tình trạng sản xuất manh
mún, nhỏ lẻ, tự phát của các cơ sở sản xuất không đạt yêu cầu để cải thiện cơ cấu nền kinh tế. b) Khủng hoảng thiếu:
Trái ngược với khủng hoảng kinh tế thừa, khủng hoảng thiếu là tình trạng
nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng
khiến giá cả sản phẩm tăng lên.
Nguyên nhân gây ra khủng hoảng thiếu bao gồm dân số tăng nhanh, do
thiên tai làm chậm nguồn cung, do cạn kiệt tài nguyên, do sự hạn chế về năng lực sản xuất,..
Biện pháp để khắc phục khủng hoảng thiếu là tăng gia sản xuất, chính phủ
đề ra các chính sách kinh tế để tạo điều kiện, khuyến khích, thúc đẩy các doanh 4
nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, từ đó năng suất của người lao động tăng nhanh
hơn, cải thiện nguồn cung hàng hóa và dịch vụ. c) Khủng hoảng nợ
Khủng hoảng nợ là cuộc khủng hoảng khi các chính phủ không thể thanh
toán được những khoản nợ của mình. Để giải quyết khủng hoảng nợ, các quốc gia
thường tăng thuế, tăng lãi suất hoặc cắt giảm chi tiêu chính phủ để chi trả các khoản
nợ. Tuy nhiên những biện pháp này khá là rủi ro bởi chúng có tác động tiêu cực đến
nền kinh tế của quốc gia.
3. Bản chất khủng hoảng kinh tế ở chủ nghĩa tư bản:
Trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác-Lênin, khủng hoảng kinh tế
được xem là một hiện tượng tự nhiên của kinh tế tư bản. C.Mác cho rằng, bản chất của
khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản là do sự mâu thuẫn giữa sự sản xuất hàng
hóa và sự tiêu dùng hàng hóa trong xã hội tư bản.
Theo C.Mác, các chủ doanh nghiệp sản xuất trong xã hội tư bản có xu
hướng sản xuất hàng hóa với mục đích lợi nhuận. Các sản phẩm của họ được sản xuất
với giá thành khá cao nên sản phẩm bán ra được áp đặt mức giá cao hơn nữa, nên chỉ
có một phần dân số xã hội có thể mua chúng. Điều này dẫn tới làm giảm nguồn tiêu
thụ và tạo ra tình trạng dư thừa hàng hóa sản xuất. Nguồn cung lớn hơn cầu dẫn tới giá
cả hàng hóa giảm xuất gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất.
Trong đó người lao động thì không đủ thu nhập để chi trả các mặt hàng hóa, từ đó dẫn
tới tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
Vậy nên, khủng hoảng kinh tế ở chủ nghĩa tư bản không phải do sự thiếu
nguồn nhân lực hay thiếu sản phẩm tiêu thụ, mà là do sự mất cân đối giữa sản xuất và
tiêu thụ trong hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản.
C.Mác từng đề cập trong tác phẩm “Das Kapital” của mình rằng: “Cản trở
của nền sản xuất tư bản chính là tư bản”
4. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế:
Trong cuốn sách “ Tư tưởng kinh tế của C.Mác và F.Engels” (1948) có đề
cập rằng: “Các khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản không phải là một điều bất
thường, mà chúng là hậu quả tất yếu của sự phát triển bất đẳng trong sản xuất và tích
trữ vốn, những sự lãng phí và xung đột của cạnh tranh, sự tập trung và các liên kết
của vốn. Các khủng hoảng này đưa ra dấu hiệu của sự tuyệt vọng cho hàng triệu
người lao động bị thất nghiệp và những nhà sản xuất bị phá sản, trong khi các sản
phẩm được sản xuất trong quá trình đó vẫn tồn tại nhưng không được sử dụng."
Qua đó ta thấy được nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính trong chủ
nghĩa tư bản được bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu
thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư 5
bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Từ mâu thuẫn này biểu hiện ra thành các nguyên nhân sau:
Sự mâu thuẫn giữa sự sản xuất và tiêu thụ:
Đây là nguyên nhân chính của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản. Các
chủ doanh nghiêp sản xuất trong hệ thống kinh tế tư bản sản xuất hàng hóa với
mục đích lợi nhuận, nhưng chỉ có một phần của dân số có khả năng mua chúng.
Điều này dẫn đến sự giảm sút trong nguồn cung tiêu thụ và tạo ra tình trạng dư
thừa sản phẩm trong thị trường, giảm giá và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các chủ nhân sản xuất.
Sự tăng trưởng kinh tế không ổn định:
Sự tăng trưởng kinh tế không ổn định có thể góp phần gây ra khủng hoảng kinh
tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nhanh, sự khuyến khích sản xuất và tiêu thụ
quá mức sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa sản phẩm từ đó giá các hàng hóa giảm.
Ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng quá chậm, thị trường sẽ giảm sút, tạo ra sự suy thoái kinh tế.
Sự tách biệt giữa tài sản và giá trị:
Trong chủ nghĩa tư bản, giá trị sản phẩm được xác định bằng thị trường, không
phải bằng giá trị thực sự của sản phẩm. Do đó, giá trị của các tài sản, chẳng hạn
như chứng khoán và bất động sản, có thể bị định giá quá cao, tạo ra sự bùng nổ
của các thị trường này và sau đó là sự suy giảm.
Sự cạnh tranh và sự không đồng đẳng trong hệ thống kinh tế tư bản: Trong hệ
thống kinh tế tư bản, sự cạnh tranh giữa các chủ nhân sản xuất để đạt được lợi
nhuận cao nhất có thể dẫn đến sự tập trung vốn và quyền lực tại một số chủ
nhân sản xuất lớn. Điều này gây ra sự không đồng đẳng trong hệ thống kinh tế,
khiến cho một số nhóm người sở hữu vốn và quyền lực quá lớn và phần còn lại
bị bỏ lại phía sau. Khi sự khủng hoảng kinh tế xảy ra, những nhóm người này
sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn, tạo ra sự khủng hoảng kinh tế và sự bất ổn trong xã hội.
Sự định hướng lợi nhuận ngắn hạn của các chủ nhân sản xuất: Trong chủ
nghĩa tư bản, các chủ nhân sản xuất tập trung vào mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn,
thay vì đầu tư cho những sản phẩm và dự án có thể mang lại lợi nhuận lâu dài.
Điều này dẫn đến việc thiếu hụt đầu tư và sự cô đặc vốn, tạo ra sự giảm sút về
mặt sản xuất và tăng lên những rủi ro kinh tế. 6
Những nguyên nhân này góp phần dẫn đến khủng hoảng kinh tế
trong chủ nghĩa tư bản, khiến cho các chủ nhân sản xuất, người lao động và xã
hội phải chịu những ảnh hưởng nặng nề của sự suy thoái kinh tế. 5. Chu kỳ Kinh tế:
Chu kỳ kinh tế là quá trình biến động của nền kinh tế qua các chu kỳ.
Chu kỳ kinh tế được đo lường bằng sự biến động của GDP thực tế của một quốc gia.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của chu kỳ kinh tế, nhưng
nguyên nhân chính là sự không đồng đều về sản xuất và tiêu dùng. Ngoài ra, sự thay
đổi trong nhu cầu của thị trường, các yếu tố tài chính như lãi suất và cá yếu tố liên
quan đến thị trường chứng khoán cũng góp phần dẫn đến sự biến bộng của chu kỳ kinh tế. Hình 1: Chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế có bốn giai đoạn khác nhau, bao gồm:
1. Suy thoái (Recession): Giai đoạn này xảy ra sau khi đỉnh điểm, nền kinh tế bắt
đầu suy giảm, sản xuất hàng hóa giảm, giá cả hàng hóa giảm và tình trạng thừa hàng hóa tăng lên.
2. Đáy (Trough): Đây là giai đoạn thấp nhất của chu kỳ kinh tế, là trạng thái mất
cân bằng trong từng lĩnh vực nhất định của nền kinh tế. Ở giai đoạn này có đặc
trưng là sản lượng thấp, giá cả thấp nhất và tình trạng thấp nghiệp gia tăng. 7
3. Phục hồi (Expansion): Giai đoạn này xảy ra sau khi nền kinh tế trải qua một
thời kỳ suy thoái. Nền kinh tế tăng trưởng trở lại với đặc trưng là tỷ lệ thất
nghiệp giảm, thu nhập tăng, thị trường hành hóa dịch vụ sôi động trở lại.
4. Đỉnh điểm (Peak): Đây là giai đoạn cao nhất của chu kỳ kinh tế. Sản lượng
thực tế, hoạt động tiêu dùng, tỷ lệ có việc làm trong nên kinh tế đạt đến mức
cực đại. Về cơ bản, đây là lúc thị trường phát triẻn hết tiềm năng của nó.
II. LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:
Sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009 đến lĩnh
vực FDI (Đầu tư nước trực tiếp nước ngoài) của Việt Nam
1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 - 2009
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 (GFC) bắt nguồn từ sự
khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính, bao gồm bảo hiểm, tín dụng, chứng
khoán, diễn ra từ năm 2007 cho tới năm 2008, khởi nguồn từ Mỹ.
Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 được
cho rằng là liên quan tới việc các tổ chức tài chính trong thị trường bất động
sản tại Mỹ khi họ bắt đầu đưa ra các khoản vay thế chấp mạo hiểm nhằm giải
cứu người mua bất động sản. Hình thức vay thế chấp nhắm vào những người
mua nhà có thu nhập thấp, rủi ro cho vay rất cao cùng với sự bùng nổ bong
bóng nhà đất tại Hoa Kỳ.
Yếu tố chủ chốt gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 chính là do sự
phát triển nhanh chóng của các sản phẩm tài chính kiểu săn mồi, nhằm vào
những đối tượng người mua nhà có thu nhập thấp, kém hiểu biết, ít thông tin.
Đứng đầu những tổ chức cho vay tài chính đó phải kể đến ngân hàng Lehman
Brothers – sự sụp đổ của ngân hàng này đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng.
Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, chính phủ Hoa Kỳ đã triển
khai các khoản cứu trợ đối với các tổ chức tài chính cũng như áp dụng chính
sách tài khóa và chính sách tiền tệ để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu. 2. Hệ quả
Tuy nhiên, những giải pháp và chính sách tài khóa đó đã quá muộn, cuộc
khủng hoảng kinh tế 2008 lan rộng ra các nước trên thế giới, đặc biệt là Liên minh
Châu Âu như Đức, Anh, Pháp cũng như các quốc gia khác. Cuộc khủng hoảng này đã
tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu với hơn 10.000 tỷ USD đã bị cuốn trôi,
hơn 30 triệu người thất nghiệp, gia tăng tỉ lệ vô gia cư và tự tử. 8
Ngoài ra, còn rất nhiều những tác động tiêu cực do cuộc khủng khoảng này gây ra như:
Bear Stearns – một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất tại phố Wall đã
lên tiếng cầu cứu và được JPMorgan Chase mua lại với giá 30 tỷ USD.
Ngân hàng Lehnam Brothers tuyên bố phá sản – đây là ngân hàng đầu tư
được thành lập từ năm 1844. Sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư hơn 160 năm
của Mỹ là dấu hiệu cho việc bán tháo lớn nhất trong lịch sử tài chính Mỹ.
Thị trường chứng khoán tại Hong Kong và Thượng Hải sụt giảm xuống mức
4,5 – 5,4%. Gía trị tài sản của một quỹ thị trường tiền tệ giảm dưới 1
USD/Cổ phiếu. Hơn 140 tỷ USD rút khỏi quỹ bởi các nhà đầu tư Mỹ.
3. Lĩnh vực FDI của Việt Nam trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 diễn ra:
Trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, Việt Nam đang trong giai đoạn phát
triển tương đối ổn định và đang thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt nam, trong năm 2007, Việt Nam
đã thu hút được hơn 20,3 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tăng 54,2% so
với năm 2006. Năm 2007 cũng là năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO, mở rộng
thị trường và cơ hội hợp tác đầu tư với các quốc gia thành viên khác.
Lĩnh vực FDI của Việt Nam trong giai đoạn này tập trung phát triển chủ yếu
vào các ngành nghề sản suất và công nghiệp. Các nhà đầu tư nước ngoài phần lớn đến
từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Mỹ.
Một số dự án lớn như dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất của Tập
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) đã thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà đầu tư nước ngoài.
4. Các ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008-2009 đến
thị trường FDI của Việt Nam: 9
- Giảm đáng kể về lượng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam:
Hình 2.1: Biều đồ thể hiện số liệu dòng vốN FDI vào Việt Nam giai đoạn 2006- 2010
(Nguồn: Tính toán từ niên giám Thống kê Việt Nam, GSO)
Năm 2008, Việt Nam đã thu hút được 71,724 triệu USD vốn đăng ký và
60,897 triệu USD vốn thực tế, tăng trưởng 30.5% so với năm trước. Tuy nhiên, sau đó
vào năm 2009, số vốn đăng ký và vốn thực tế đều giảm sút mạnh, chỉ còn 21,480 triệu
USD, giảm 64.9% so với năm trước đó. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 đến lĩnh vực FDI của Việt Nam.
-Tác động đến các lĩnh vực có liên quan đến FDI:
Cuộc khủng hoảng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn FDI đầu tư
vào Việt Nam mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực có liên quan đến FDI như
ngân hàng, bất động sản, du lịch, dịch vụ tài chính và các ngành công nghiệp
liên quan đến xuất khẩu.
-Ảnh hưởng đến thị trường lao động: Với sự giảm đáng kể của lượng vón đầu tư
FDI vào Việt Nam, nhiều công ty đầu tư nước ngoài đã tạm ngừng hoặc giảm
quy mô hoạt động tại Việt Nam, điều này gây ảnh hưởng xấu lên thị trường lao
động, tình trạng thất nghiệp tăng cao và mức lương của người lao động giảm. 10