TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 2022 –
(Phần dành cho sinh viên/ h c viên) ọ
Bài thi học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh Số báo danh: 61 Mã s ố đề thi: 20 Lớp: 2178HCMI0111 Ngày thi: 14/12/2021 S trang ố : 7
Họ và tên: Nguyễn Bá Thị Phượng Điểm kết luận: GV chấm thi 1:
…….………………………...... GV chấm thi 2:
…….………………………...... Bài làm Câu 1:
1, Luận điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc: “Cách mạng giải phóng
dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản”.
Từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị nước ta, vấn đề sống còn
của dân tộc được đặt ra là phải đấu tranh để giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân đế quốc.
Hàng loạt các phong trào yêu nước đã nổ ra nhưng không thành công, đều thất bại nguyên
nhân chính là do chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh phù hợp. Tiêu biểu có phong
trào Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng, khởi nghĩa Hương Khê do
Phan Đình Phùng lãnh đạo. Sang đầu thế kỉ XX, các phong trào yêu nước ở Việt Nam theo
khuynh hướng dân chủ tư sản tiêu biểu như: phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi
xướng; phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng; phong trào Đông
Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh đạo. Cách mạng Việt Nam rơi
vào khủng hoảng, bế tắc về giai cấp lãnh đạo và đường lỗi cách mạng.
Vượt qua tầm nhìn của các bậc tiền bối lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh có chí hướng là
muốn tìm kiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ở phương Tây, như người đã nói:
“Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như
thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Nhưng qua tìm hiểu thực tế sau đó, Người
quyết định không chọn con đường cách mạng tư sản – cách mạng tư sản là không triệt để vì
cho rằng: “ Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách
Họ tên SV/HV: Nguyễn Bá Thị Phượng - Mã LHP: 2178HCMI0111 Trang 1/7
mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông,
ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn
phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”.
Nghiên cứu cách mạng tháng 10 Nga và chủ nghĩa Mác – Leeni đi đến khẳng định con
đường cách mạng vô sản.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí
Minh trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người cho rằng: “Trong
thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân
chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giải
dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam…Nói tóm lại là phải theo chủ
nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.
Năm 1920, sau khi đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó con đường cứu nước, giải phóng
dân tộc: con đường cách mạng vô sản, như sau này Người khẳng định: “Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con
đường cách mạng triệt để nhất phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và xu thế phát
triển của thời đại. Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Người kể lại: “Luận
cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui
mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước
quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế
thứ ba”. Học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin được người vận dụng
một cách sáng tạo trong điều kiện cách mạng Việt Nam.
Giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, trong đó giải phóng dân tộc là trước
hết, trên hết. Theo Mác và Awngghen, con đường cách mạng vô sản ở châu Âu là đi từ giải
phóng giai câp – giải phóng dân tộc – giải phóng xã hội – giải phóng con người. Còn theo
Hồ Chí Minh, thì ở Việt Nam và các nước thuộc địa do hoàn cảnh lịch sử - chính trị khác
với châu Âu nên phải là: giải phóng dân tộc – giải phóng xã hội – giải phóng giai cấp – giải
phóng con người. Đây chính là quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là xóa bỏ ách áp bức dân tộc
mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được
giải phóng. Vì thế Người cho rằng, chỉ khi nào chúng ta tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
thiết lập được chế độ sở hữu công nông về tư liệu sản xuất thì chúng ta mới có thể xóa bỏ
tận gốc tình trạng áp bức bốc lột. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Hồ Chí
Minh đã khẳng định phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam: làm tư sản dân quyền
Họ tên SV/HV: Nguyễn Bá Thị Phượng - Mã LHP: 2178HCMI0111 Trang 2/7
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Phương hướng này vừa phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại vừa hướng tới giải quyết một cách triệt để những yêu cầu
khách quan, cụ thể mà cách mạng Việt Nam đặt ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Trong văn kiện Đại hội VI Quốc thế cộng sản, khái niệm “cách mạng tư sản dân
quyền” không bao hàm đầy đủ nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa. Còn trong Chánh cương vắn tắt, Hồ Chí Minh nêu rõ: Cách mạng tư sản dân
quyền trước hết là phải đánh đổ đế quốc và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn
toàn độc lập…Cũng theo Quốc tế cộng sả, thì hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến
phải được thực hiện đồng thời, khăng khít với nhau, nương tựa vào nhau, nhưng xuất phát
từ một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh không coi hai nhiệm vụ đó nhất loạt phải thực hiện
ngang nhau, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, còn nhiệm
vụ chống phong kiến, mang lại ruộng đất cho nông dân thì sẽ từng bước thực hiện. Cho nên
trong Chánh cương vắn tắt, Người chỉ nêu “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm
của công, chia cho dân cày nghèo” mà chưa nêu ra chủ trương “người cày có ruộng”. Đấy là
nét độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh.
2, Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, cách mạng giải phóng dân muốn thắng lợi
phải đi theo con đường cách mạng vô sản là một trong những sáng tạo nổi bật về mặt lý
luận của Hồ Chí Minh, và thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn này là hoàn toàn đúng
đắn. Năm 1930 là năm đánh dấu sự thắng lợi của khuynh hướng cách mạng vô sản, Đảng
cộng sản Việt Nam được thành lập vào năm này. Chính theo con đường cách mạng vô sản,
nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 “long trời lở đất” dưới sự
lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (2/9/1945). Trong Tuyên ngôn độc lập độc trước toàn thể đồng bào vào ngày
2/9/1945, Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc
lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Với Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã
tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ
và quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc
gia, toàn vẹn lãnh thổ vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết của chế độ dân chủ cho việc
xác lập và bảo vệ quyền con người.
Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng và Hồ Chí Minh lãnh đạo đã mở ra
một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam – thời đại độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Kiên trì với con đường đã lựa chọn, trải qua 30 năm trường kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không
chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; trên
Họ tên SV/HV: Nguyễn Bá Thị Phượng - Mã LHP: 2178HCMI0111 Trang 3/7
cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc,
quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của thực dân, đế quốc giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ này, tất cả người dân
Việt Nam đã kiên cường đấu tranh cho độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân. Quyền vốn dĩ
tự nhiên đó của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam được cộng đồng quốc tế đón
nhận như là một trong những tư tưởng lớn của thời đại. Câu 2:
1, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân”
Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân
dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo
đức bao trùm quan trọng nhất và chi phối các phẩm chất khác.
Trung và hiếu là những khái niệm đạo đức cũ đã có từ lâu trong tư tưởng đạo đức
truyền thống Việt Nam và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất và cũng là phẩm
chất bao trùm nhất nhưng có nội dung hạn hẹp: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh
bổn phận của dân đối với vua, con đối với cha mẹ. Phẩm chất này được Hồ Chí Minh vận
dụng và sử dụng với những nội dung mới, rộng lớn: “Trung với nước, hiếu với dân”, đã tạo
nên một cuộc cách mạng sâu sắc trong lĩnh vực đạo đức. Người nói: “ Đạo đức cũ như
người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng
vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”. Đầu năm 1946, Người chỉ rõ: “Đạo đức, ngày
trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải
mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”.
Tư tưởng “Trung với nước, hiếu với dân” của Hồ Chí Minh không những kế thừa giá
trị yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó.
Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước là của dân, còn
nhân dân là chủ của đất nước. “ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của
dân…Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đảng và Chính phủ là “đầy tớ
nhân dân” chứ không phải “quan nhân dân để đè đầu cưỡi cổ nhân dân”, thì quan niệm về
nước và dân đã hoàn toàn đảo lộn so với trước; rất ít lãnh tụ cách mạng đã nói về dân như
vậy, điều này càng làm cho tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vượt xa lên phía trước. Đây là
chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Trung với nước, hiếu với dân là suốt
đời đấu tranh hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng
hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi
hành động, vừa định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam không chỉ trong
cuộc đấu tranh cách mạng trước đây, hôm nay, mà còn lâu dài về sau nữa.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Bá Thị Phượng - Mã LHP: 2178HCMI0111 Trang 4/7