










Preview text:
Đô thị cổ Việt Nam Tổng quan
Vị trí địa lý: Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc
khu vực Đông Nam Á. Việt Nam phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và
Campuchia, phía tây giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông.
Điều kiện tự nhiên:
Khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và
độ ẩm lớn, chia ra làm hai đới khí hậu lớn:
- Miền bắc ( từ đèo Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ
rệt, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam
- Miền Nam ( từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên
khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa rõ rệt ( mùa khô và mùa mưa).
Địa hình: Địa hình của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra ( Bắc Bộ và Nam
bộ) ở giữa thu hẹp và dài ( Trung Bộ). Địa hình miền bắc tương đối phức tạp. Địa
hình Trung bộ với dải Trường Sơn trải dọc phía Tây về dải đồng bằng hẹp ven biển.
Địa hình Nam bộ bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tây là vựa lúa của cả nước,
hàng năm đang tiếp tục lần ra biển hàng trăm mét.
Sông ngòi: Hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Vân
Nam (Trung Quốc) bồi đắp lên hai châu thổ lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng
sông Cửu Long. Việt Nam còn có hệ thống sông ngòi phân bổ đều khắp từ bắc tới
nam với lưu vực lớn, hình thành nền văn minh lúa nước lâu đời của người Việt bản địa
Tóm tắt về lịch sử giai đoạn xây dựng:
Giai đoạn nhà nước sơ sử:
Nước Văn Lang: cách đây hơn 4000 năm các tộc người Việt cổ ( Bách Việt) đã xây
dựng nên nhà nước Xích Quỷ ở miền nam sông Dương Tử ( Trung Quốc). Tới thế
kỷ 7 trước công nguyên, người Lạc Việt, lập nên nhà nước Văn Lang tại khu vực
miền Bắc Việt Nam, đóng đô ở Bạch Hạc - Phú Thọ, và kế tiếp là nhà nước Âu Lạc
vào giữa thế kỷ 3 trước công nguyên.
Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, người Việt bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị
trong 1000 năm. Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành của Bà Triệu, Mai Thúc
Loan, hoặc chỉ giành được độc lập ngắn của Hai Bà Trưng, Lý Bí,.. Việt Nam chính
thức giành được độc lập lâu dài sau trận Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy trước đoàn quân Nam Hán năm 938
Giai đoạn nhà nước phong kiến:
Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14 dân tộc Việt Nam đã xây
dựng đất nước trên cơ sở Phật giáo, tổ chức chính quyền tương tự thể chế chính trị
của các triều đại Trung Quốc, ảnh hưởng của Nho giáo dần tăng lên từ thế kỷ 15.
Trong suốt thời kỳ phong kiến, những lần chống lại sự xâm lược bởi các triều đại
phương Bắc của người Hán, Mông Cổ, Mãn Thanh và với những lần xâm chiếm mở
rộng lãnh thổ dần xuống phía nam nơi người Chăm, người Khmer sinh sống, Việt
Nam có ranh giới địa lý gần như hiện nay vào năm 1757. Từ đây kết thúc cuộc Nam
Tiến của dân tộc Việt Nam
Giai đoạn thuộc địa đến hết thế kỷ 19: Đến giữa thế kỷ 19, cùng với các nước ở
Đông Dương, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. trong thế chiến thứ hai, phát
xít Nhật chiếm Việt Nam và toàn thể Đông Dương, ngay sau khi hay tin đế quốc
Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Việt Minh đã giành lại chính quyền từ tay Nhật.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa
Quá trình hình thành và phát triển các đô thị cổ Việt Nam
Nước Đại Việt ta giành lại quyền tự chủ từ tay nhà Đường. Sau một thời gian quá độ
ở thế kỷ X, trung tâm chính trị dịch chuyển từ Cổ Loa với Ngô Quyền, Hoa Lư với
Đinh Lê (đây là một căn cứ quan trọng hơn là một đô thị cổ) đến đầu thế kỷ thứ XI
(1010) đã trở lại vùng đô thị cổ Đại La và phát triển thành một kinh đô lớn: Thành
Phố Rồng Bay (Thăng Long).
Lịch sử đô thị và thương nghiệp cổ Việt Nam cũng được lật sang trang mới
Việt Trì (và vùng chung quanh, ta gọi là Đất Tổ) là đô thị cổ nhất ở bắc Việt Nam, nó
xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên với thời đại các vua Hùng, thời
đại mở nước của Việt Nam.
a) Nghề nông trồng lúa, xuất hiện cách ngày nay 5-6000 năm, ban đầu phát sinh ở
miền thung lũng và bồn địa giữa núi, với hệ thống thuỷ lợi mương – khai kiểu Tày
Thái và hệ thống xã hội bản (làng) – mường (liên làng) và cơ cấu quyền lực thủ lĩnh
(châu mường, lang cum, phìa tạo…) mang tính chất tiền nhà nước.
b) Với thời đại Đông Sơn (đồng thau và sắt sớm) phát triển rực rỡ trong suốt thiên
niên kỷ I trước công nguyên, văn hoá lúa nước đã phát triển mạnh nhất và sớm nhất
Đông Nam Á xuống miền châu thổ sông Hồng, cho tới tận miền ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Không chỉ có lúa nếp mà đã có lúa tẻ mùa. Không chỉ có “hoả canh – thuỷ nậu” (đốt
cỏ ruộng, cho nước vào ruộng ngâm cỏ rồi dùng trâu và người dẫm cho mềm đất để
cấy lúa) mà đã biết cày bừa rồi mời cấy (hàng trăm lưỡi cày đồng tìm thấy ở Sơn
Tây, Phú Thọ cũ, đặc biệt ở Cổ Loa và Đông Sơn (trên lưu vực sông Mã)).
Nông nghiệp phát triển, thủ công nghiệp, đặc biệt nghề đúc đồng, rèn sắt, làm đồ
gốm, dâu tằm phát triển và bước đầu tách khỏi nghề nông (phân công lao động xã
hội theo quy mô lớn lần II, theo F. En-Ghen). Nhu cầu trao đổi phát triển mạnh: Miền
núi cần muối, hải sản, gạo…, miền xuôi cần quặng mỏ (thiếc, đồng, chì, kẽm, sắt…)
và lâm sản… Trong bối cảnh đó, miền trung du trở thành trạm dịch: Việt Trì, thành
phố cổ ngã ba sông, nơi tụ hội của 3 lưu vực sông (Đà, Hồng, Lô) cũng là 3 vùng núi
có quặng mỏ và lâm sản, ở vùng thung lũng cấy lúa nếp và toả rộng xuống châu thổ
ven biển, trở thành đô thị – trạm dịch đầu tiên của người Việt cổ, trở thành trung tâm
của nhà nước Văn Lang. Một hình thái nhà nước cổ đại đầu tiên đã phát triển cao
hơn bản (làng) mường (liên làng) tới mức liên mường và siêu làng. Ngã ba Việt Trì,
bản thân nó là một vùng (bộ hay bộ lạc của sử cũ) trồng lúa (liên làng), nhưng được
khoác thêm chức năng trạm dịch, cái gạch nối của miền núi – miền xuôi, do đó đã
siêu việt lên trên nông nghiệp mà trở thành đô thị – dịch trạm với hệ thống thuyền
mảng dưới sông và hệ thống voi – gùi trên đường bộ xuyên sơn, xuyên dọc thung lũng.
Bối cảnh hình thành:
Các đô thị cổ Việt Nam ban đầu được hình thành trên cơ sở các trung tâm chính trị
và quân sự, ở đó các tòa thành phục vị cho mục đích phòng thủ và bên trong là nơi
đồn trú của các thế lực phong kiến.
Bên cạnh phần “đô” còn tồn tại phần “thị”; là nơi tập trung các thợ thủ công sản xuất
các hàng hóa tiêu dùng và những cư dân làm nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa cần
thiết, đó là những người không sản xuất nông nghiệp. Như vật thành thị đã ra đời,
mang tính chất chính trị quân sự và kinh tế. Các trung tâm này đóng vai trò chủ đạo
của cả nước hay chỉ là trung tâm ở các địa phương. Đó là các kinh đô của các triều
đại phong kiến như Cổ Loa, Thăng Long, Huế và các lỵ sở của quan lại địa phương
như tỉnh lỵ, huyện lỵ, phủ lỵ như Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển, tính chất chính trị quân sự chi
phối và trội hơn tính chất kinh tế thương nghiệp.
Đến thế kỷ XVI - XVII do ngoại thương phát triển mạnh làm xuất hiện một số đô thị
mang tính chất kinh tế thương mại thuần túy như Phố Hiến, Hội An, Gia Định và có
cấu trúc tương đối hoàn chỉnh
Thế nghĩa là, chỉ do những nguyên nhân thuần tuý nội tại của những xã hội trồng
lúa, như xã hội Việt Nam cổ truyền, cũng đã nảy sinh những nhu cầu trao đổi, những nhu cầu thương mại.
Nhưng khi xét về đô thị và thương nghiệp Việt Nam cổ, ta còn phải đặt nó trong một
bối cảnh rộng hơn, về những nhu cầu liên quốc gia, liên miền.
Việt Nam nằm trong bối cảnh Đông Nam Á.
Có Đông Nam Á lục địa như Lào, Miến Điện…
Có Đông Nam Á hải đảo như Indonesia, Miến Điện…
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, lại chiếm trọn phần Đông của bán đảo
này, nên tính chất bán đảo của Việt Nam lại càng nổi bật.
Việt Nam không chỉ nằm trong bối cảnh Đông Nam Á mà còn là gạch nối giữa thế
giới Đông Á (Trung Hoa) và thế giới Nam Á (Ấn Độ). Những nhu cầu bành trướng
chính trị (Hoa), văn hoá (Ấn), những nhu cầu giao lưu trao đổi kinh tế – văn hoá giữa
hai nền văn minh lớn nhất châu Á này, đã tác động – như một yếu tố ngoại sinh –
đến vùng châu Á gió mùa trồng lúa nước (Việt Nam Đông Nam Á), lôi cuốn vùng này
vào những luông thương mại quốc tế ở phương Đông.
Tình hình thương nghiệp Hoa – Ấn như trên vừa sơ phác đã kích thích thêm sự ra
đời của các đô thị – trạm dịch và đô thị – cảng ở miền ven biển Đông Nam Á và Việt Nam. Đặc trưng Kinh tế
Nông nghiệp phát triển vùng châu Á gió mùa trồng lúa nước
thủ công nghiệp, đặc biệt nghề đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm,
Giới thiệu quan niệm của xã hội ảnh hưởng đến thiết kế tổng mặt bằng:
Việt Nam nằm trên hệ tọa độ giao lưu giữa các nền văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ,
trong không gian văn hóa của khu vực Đông Nam Á. Do sự bành trướng của Trung
Hoa về phương Nam mang theo sự áp đặt của văn hóa Trung Quốc nên kiến trúc
Việt Nam tiếp nhận giao lưu với văn hóa phương Bắc, trong đó có việc thiết kế đô thị
Trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật Giáo đến Việt Nam bằng con đường hòa bình còn văn
hóa Trung Hoa vào Việt Nam bằng nhiều nguồn như: các nho sĩ, chính sách đồng
hóa văn hóa,.. Vào thời Lê, xu hướng tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trở thành chủ
đạo. Trong đó, ảnh hưởng lớn nhất đối với thiết kế kiến trúc là tư tưởng nho giáo.
Đến thời Tây Sơn trở về sau, văn hóa Việt Nam giao thoa với văn hóa phương Tây,
dẫn đến sự thay đổi về quan niệm thiết kế đô thị theo phương Tây cà sự du nhập của đạo thiên chúa.
Việt Trì (và vùng chung quanh, ta gọi là Đất Tổ) là đô thị cổ nhất ở bắc Việt Nam, nó
xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên với thời đại các vua Hùng, thời
đại mở nước của Việt Nam.
a) Nghề nông trồng lúa, xuất hiện cách ngày nay 5-6000 năm, ban đầu phát sinh ở
miền thung lũng và bồn địa giữa núi, với hệ thống thuỷ lợi mương – khai kiểu Tày
Thái và hệ thống xã hội bản (làng) – mường (liên làng) và cơ cấu quyền lực thủ lĩnh
(châu mường, lang cum, phìa tạo…) mang tính chất tiền nhà nước.
b) Với thời đại Đông Sơn (đồng thau và sắt sớm) phát triển rực rỡ trong suốt thiên
niên kỷ I trước công nguyên, văn hoá lúa nước đã phát triển mạnh nhất và sớm nhất
Đông Nam Á xuống miền châu thổ sông Hồng, cho tới tận miền ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Không chỉ có lúa nếp mà đã có lúa tẻ mùa. Không chỉ có “hoả canh – thuỷ nậu” (đốt
cỏ ruộng, cho nước vào ruộng ngâm cỏ rồi dùng trâu và người dẫm cho mềm đất để
cấy lúa) mà đã biết cày bừa rồi mời cấy (hàng trăm lưỡi cày đồng tìm thấy ở Sơn
Tây, Phú Thọ cũ, đặc biệt ở Cổ Loa và Đông Sơn (trên lưu vực sông Mã)).
Nông nghiệp phát triển, thủ công nghiệp, đặc biệt nghề đúc đồng, rèn sắt, làm đồ
gốm, dâu tằm phát triển và bước đầu tách khỏi nghề nông (phân công lao động xã
hội theo quy mô lớn lần II, theo F. En-Ghen). Nhu cầu trao đổi phát triển mạnh: Miền
núi cần muối, hải sản, gạo…, miền xuôi cần quặng mỏ (thiếc, đồng, chì, kẽm, sắt…)
và lâm sản… Trong bối cảnh đó, miền trung du trở thành trạm dịch: Việt Trì, thành
phố cổ ngã ba sông, nơi tụ hội của 3 lưu vực sông (Đà, Hồng, Lô) cũng là 3 vùng núi
có quặng mỏ và lâm sản, ở vùng thung lũng cấy lúa nếp và toả rộng xuống châu thổ
ven biển, trở thành đô thị – trạm dịch đầu tiên của người Việt cổ, trở thành trung tâm
của nhà nước Văn Lang. Một hình thái nhà nước cổ đại đầu tiên đã phát triển cao
hơn bản (làng) mường (liên làng) tới mức liên mường và siêu làng. Ngã ba Việt Trì,
bản thân nó là một vùng (bộ hay bộ lạc của sử cũ) trồng lúa (liên làng), nhưng được
khoác thêm chức năng trạm dịch, cái gạch nối của miền núi – miền xuôi, do đó đã
siêu việt lên trên nông nghiệp mà trở thành đô thị – dịch trạm với hệ thống thuyền
mảng dưới sông và hệ thống voi – gùi trên đường bộ xuyên sơn, xuyên dọc thung lũng.
Việt Trì (và vùng chung quanh, ta gọi là Đất Tổ) là đô thị cổ nhất ở bắc Việt Nam, nó
xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên với thời đại các vua Hùng, thời
đại mở nước của Việt Nam.
a) Nghề nông trồng lúa, xuất hiện cách ngày nay 5-6000 năm, ban đầu phát sinh ở
miền thung lũng và bồn địa giữa núi, với hệ thống thuỷ lợi mương – khai kiểu Tày
Thái và hệ thống xã hội bản (làng) – mường (liên làng) và cơ cấu quyền lực thủ lĩnh
(châu mường, lang cum, phìa tạo…) mang tính chất tiền nhà nước.
b) Với thời đại Đông Sơn (đồng thau và sắt sớm) phát triển rực rỡ trong suốt thiên
niên kỷ I trước công nguyên, văn hoá lúa nước đã phát triển mạnh nhất và sớm nhất
Đông Nam Á xuống miền châu thổ sông Hồng, cho tới tận miền ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Không chỉ có lúa nếp mà đã có lúa tẻ mùa. Không chỉ có “hoả canh – thuỷ nậu” (đốt
cỏ ruộng, cho nước vào ruộng ngâm cỏ rồi dùng trâu và người dẫm cho mềm đất để
cấy lúa) mà đã biết cày bừa rồi mời cấy (hàng trăm lưỡi cày đồng tìm thấy ở Sơn
Tây, Phú Thọ cũ, đặc biệt ở Cổ Loa và Đông Sơn (trên lưu vực sông Mã)).
Nông nghiệp phát triển, thủ công nghiệp, đặc biệt nghề đúc đồng, rèn sắt, làm đồ
gốm, dâu tằm phát triển và bước đầu tách khỏi nghề nông (phân công lao động xã
hội theo quy mô lớn lần II, theo F. En-Ghen). Nhu cầu trao đổi phát triển mạnh: Miền
núi cần muối, hải sản, gạo…, miền xuôi cần quặng mỏ (thiếc, đồng, chì, kẽm, sắt…)
và lâm sản… Trong bối cảnh đó, miền trung du trở thành trạm dịch: Việt Trì, thành
phố cổ ngã ba sông, nơi tụ hội của 3 lưu vực sông (Đà, Hồng, Lô) cũng là 3 vùng núi
có quặng mỏ và lâm sản, ở vùng thung lũng cấy lúa nếp và toả rộng xuống châu thổ
ven biển, trở thành đô thị – trạm dịch đầu tiên của người Việt cổ, trở thành trung tâm
của nhà nước Văn Lang. Một hình thái nhà nước cổ đại đầu tiên đã phát triển cao
hơn bản (làng) mường (liên làng) tới mức liên mường và siêu làng. Ngã ba Việt Trì,
bản thân nó là một vùng (bộ hay bộ lạc của sử cũ) trồng lúa (liên làng), nhưng được
khoác thêm chức năng trạm dịch, cái gạch nối của miền núi – miền xuôi, do đó đã
siêu việt lên trên nông nghiệp mà trở thành đô thị – dịch trạm với hệ thống thuyền
mảng dưới sông và hệ thống voi – gùi trên đường bộ xuyên sơn, xuyên dọc thung lũng.
5 – Việt Nam không chỉ nằm trong bối cảnh Đông Nam Á mà còn là gạch nối giữa
thế giới Đông Á (Trung Hoa) và thế giới Nam Á (Ấn Độ). Những nhu cầu bành
trướng chính trị (Hoa), văn hoá (Ấn), những nhu cầu giao lưu trao đổi kinh tế – văn
hoá giữa hai nền văn minh lớn nhất châu Á này, đã tác động – như một yếu tố ngoại
sinh – đến vùng châu Á gió mùa trồng lúa nước (Việt Nam Đông Nam Á), lôi cuốn
vùng này vào những luông thương mại quốc tế ở phương Đông.
Tình hình thương nghiệp Hoa – Ấn như trên vừa sơ phác đã kích thích thêm sự ra
đời của các đô thị – trạm dịch và đô thị – cảng ở miền ven biển Đông Nam Á và Việt Nam.
7 – Cũng trong bối cảnh lịch sử giao dịch Ấn – Hoa, giao dịch Đông Tây bằng đường
ven biển nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và trên nền tảng phát triển của nghề
nông trồng lúa, trồng dâu tằm, ở hạ lưu các sông miền Nam Trung Bộ đã ra đời một
loạt đô thị – cảng mà nổi tiếng nhất là Chiêm cảng ở hạ lưu sông Thu Bồn, tiền thân
của cảng Hội An ngày sau.
Giới thiệu quan niệm của xã hội ảnh hưởng đến thiết kế tổng mặt bằng:
Việt Nam nằm trên hệ tọa độ giao lưu giữa các nền văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ,
trong không gian văn hóa của khu vực Đông Nam Á. Do sự bành trướng của Trung
Hoa về phương Nam mang theo sự áp đặt của văn hóa Trung Quốc nên kiến trúc
Việt Nam tiếp nhận giao lưu với văn hóa phương Bắc, trong đó có việc thiết kế đô thị
Trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật Giáo đến Việt Nam bằng con đường hòa bình còn văn
hóa Trung Hoa vào Việt Nam bằng nhiều nguồn như: các nho sĩ, chính sách đồng
hóa văn hóa,.. Vào thời Lê, xu hướng tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trở thành chủ
đạo. Trong đó, ảnh hưởng lớn nhất đối với thiết kế kiến trúc là tư tưởng nho giáo.
Đến thời Tây Sơn trở về sau, văn hóa Việt Nam giao thoa với văn hóa phương Tây,
dẫn đến sự thay đổi về quan niệm thiết kế đô thị theo phương Tây cà sự du nhập của đạo thiên chúa.
2. Các nét đặc trưng chủ yếu của các đô thị cổ Việt Nam:
Đặc điểm chung: mục đích hành chính - chính trị, ít hình thành do mục đích kinh tế.
Một số đặc điểm về đô thị cổ việt nam
Tất cả những đô thị kinh tế Việt Nam đều hưng thịnh rồi lần lượt suy tàn và nông
thôn hóa ( Kỳ Lừa, Hưng Hóa, Vân Đồn,.. trừ Thăng Long)
Các đô thị cổ Việt Nam có một hiện tượng nổi bật: đô thị kinh tế phát triển mạnh ở
những thời kỳ nhất định rồi suy thoái hoặc biến mất. Đô thị hành chính kinh tế thì tồn tại lâu dài
Các đô thị cổ Việt Nam không có một quá trình phát triển liên tục từ thấp tới cao,
quá trình đô thị hóa diễn ra khó khăn, có những nguyên nhân sâu xa kiềm chế sự
phát triển và hạn chế vai trò của nó
Sự phân biệt ranh giới giữa Làng và đô thị Việt Nam không rõ ràng, mặc dù dân
thành phố là tứ chiếng, nông thôn là nơi cư trú của dân bản địa. Đô thị chịu sự níu
kéo đa dạng và dai dẳng của nông thôn
Chính quyền quản lý chặt chẽ sổ Đinh và sổ Điền của dân đô thị và làng xã lân cận
để đảm bảo tô thuế lao dịch và binh dịch. Nhà nước luôn kiềm chế sự phát triển của
giới công thương. Thương nhân giàu có không được giao thiệp với thương nhân ngoại quốc.
Hệ thống kinh tế làng xã, kinh tế nhà nước làm công nghiệp không tách ra khỏi nông
nghiệp, chủ nghĩa tư bản thương nghiệp không ra đời được, nền kinh tế hàng hóa,
ngoại thương bị kìm hãm, đô thị không phát triển.
Ở đô thị cổ Việt Nam, thị dân không có quyền tự quản trong khi ở nhiều nước Châu
Âu thời trung cổ đều có hội đồng quản hạt. Ở Việt Nam chỉ có tầng lớp có địa vị cao
nhất là quý tộc, quan lại đại diện cho nhà nước quân chủ. Chọn lựa vị trí: Theo vị trí địa lý:
- Đô thị miền núi ( Kỳ Lừa, Hưng Hóa)
- Đô thị cảng ( Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An)
- Đô thị nội địa ( Thăng Long, Huế, Gia Định)
Theo giai đoạn phát triển
- Giai đoạn sơ sử: Do tiềm lực đất nước còn kém nên đô thị mang nặng tính
quân sự, vị trí chủ yếu dựa vào địa hình tự nhiên
- Giai đoạn phong kiến: Ảnh hưởng của Nho giáo và Hoàng quyền, vị trí chịu
ảnh hưởng của phong thủy
- Giai đoạn thuộc địa: Ảnh hưởng của nghệ thuật quy hoạch phương Tây
Quan niệm tổ chức bố cục tổng thể
Đô thị cổ Việt Nam thường chia thành 2 phần: đô và thị
Đô ( thành): nơi ở, nơi thiết triều của vua và bộ máy chính quyền. Phần đô thành có
bố cục chặt chẽ. Yếu tố “ Đô” trong đô thị Việt Nam luôn gắn liền với “Thành”, “Dinh”’
“Trấn” là những trung tâm cai trị của chính quyền nhà nước quân chủ
Thị: nơi cư trú của cư dân, thường có bố cục tự do. Đây là nơi giao lưu của các
luồng hàng trong quan hệ thương mại, nơi tập trung của các cư dân buôn bán, tạo
thành các “thị”, sau đó do nhu cầu quản lý, nhà nước phong kiến đặt các cơ sở kiểm
soát, các nhiệm sở của mình, dần hình thành lên đô thị. Nghệ thuật quy hoạch
Nghệ thuật phong thủy Trung Hoa
Nghệ thuật thành quân sự Vauban -
một hệ thống phức hợp các công trình kiến trúc liên quan mật thiết với nhau
và mang tính phòng thủ toàn diện từ tường thành, pháo đài, đài giác bảo,
pháo môn, tường bắn… cho đến hào thành và đường bao ngoài hào. Khi
được tính toán kỹ về mặt sắp đặt và kích thước, khối công trình đồ sộ đó
hoàn toàn có thể tạo ra những “đô thị bất khả xâm phạm”
Triết lý nho giáo, phật giáo, ấn độ giáo, thiên chúa giáo