Bài 1: Ngân hàng thương mại X (Ngân hàng X) shữu 15% tổng số cổ phần
phát hành của Công ty cổ phần Y (Công ty Y). Số cổ phần này hình thành do hoán đổi
khoản nợ của Ngân hàng X thành cổ phần của Công ty Y, Ngân hàng X cứng viên
được bầu vào Hội đồng quản trị của Công ty Y. Ông Z là cổ đông của Ngân hàng X có
sở hữu 10% cổ phần tại Công ty Y được các cổ đông tín nhiệm đề cử để được bầu vào
Ban kiểm soát của Ngân hàng X.
1. Cho biết quan hệ sở hữu giữa Ngân hàng X, Công ty Y và Ông Z?
Ngân hàng X sở hữu 15% tổng số cổ phần phát hành của Công ty Y thông qua
hoán đổi khoản nợ. Xét về quan hệ giữa Ngân hàng X và ông Z có thể thấy ông Z là
cổ đông của Ngân hàng X. Đối với Công ty Y, ông Z sở hữu 10% cổ phần công
ty Y nên ông Z được coi cổ đông của Công ty Y được hưởng 1 số quyền của
cổ đông từ 10% c phần trở lên tùy theo ông Z loại hình cổ đông nào theo
Điều 115, 116, 117, 118 Luật Doanh nghiệp 2014
2. Điều kiện để Ông Z được bầu vào Ban kiểm soát của Ngân hàng X là gì?
Căn cứ vào Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định. Theo đó, điều
kiện để được bầu vào Ban kiểm soát của Ngân hàng thương mại là:
Điều 50. Tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành
một số chức danh khác của tổ chức tín dụng
3. Thành viên Ban kiểm soát phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
a) Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này;
b) Có đạo đức nghề nghiệp;
c) Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh,
luật, kế toán, kiểm toán; có ít nhất 03 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng,
tài chính, kế toán hoặc kiểm toán;
d) Không phải là người có liên quan của người quản lý tổ chức tín dụng;
đ) Thành viên Ban kiểm soát chuyên trách phải trú tại Việt Nam trong thời
gian đương nhiệm.
Bên cạnh đó, để được bầu làm thành viên Ban kiểm soát, ông Z không được
một trong các đối tượng bị cấm theo Điều 33 Luật tổ chức tín dụng 2010. Theo đó,
những người không được đảm nhiệm chức vụ thành viên Ban kiểm soát gồm:
- Người thuộc đối tượng không được tham gia quản lý, điều hành theo quy định
của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về phòng, chống tham nhũng
- Người đã từng chủ doanh nghiệp nhân, thành viên hợp danh của công ty
hợp danh, Tổng giám đốc (Giám đốc), thành viên Hội đồng quản trị, thành viên
Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát của doanh nghiệp, Chủ nhiệm
các thành viên Ban quản trị hợp tác tại thời điểm doanh nghiệp, hợp tác
bị tuyên bố phá sản, trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác bị tuyên bố
phá sản vì lý do bất khả kháng
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp bị
đình chỉ hoạt động, bị buộc giải thể do vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trừ
trường hợp là đại diện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm
chấn chỉnh, củng cố doanh nghiệp đó
- Người đã từng bị đình chỉ chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên
Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành
viên, Trưởng Ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám
đốc) của tổ chức tín dụng theo quy định tại Điều 37 của Luật này hoặc bị
quan thẩm quyền xác định người đó vi phạm dẫn đến việc tổ chức tín
dụng bị thu hồi Giấy phép
- Người liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng
thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) không được thành viên Ban kiểm
soát của cùng tổ chức tín dụng
Bài 2: Công ty cổ phần F (Công ty F) hoạt động trong lĩnh vực đầu công nghệ.
Công ty mua cổ phiếu trên sàn chứng khoán sở hữu 9% cổ phần của Ngân hàng cổ
phần L (Ngân hàng L). Đại hội đồng cổ đông năm 2017 bầu đại diện của Công ty F
làm kiểm soát viên được chọn làm Trưởng ban kiểm soát (Ông M). Ông M trước
thời điểm được bầu đã làm kiểm soát viên tại Công ty F.
Hỏi:
1. Ông M được kiêm nhiệm chức danh kiểm soát viên của Công ty F Ngân
hàng L không, tại sao?
Căn cứ theo khoản 2, điều 34, Luật các tổ chức tín dụng 2010 Những trường
hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ
“2. Trưởng Ban kiểm soát không được đồng thời thành viên Ban kiểm soát,
người quản lý của tổ chức tín dụng khác.”
Căn cứ theo điểm b, khoản 3, điều 103 Luật doanh nghiệp 2020
“Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải tiêu chuẩn điều kiện sau
đây:
…. không được Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải doanh
nghiệp nhà nước.”
→ Ông M không được kiêm nhiệm chức danh kiểm soát viên của Công ty F
Ngân hàng L.
2. Cho biết xung đột lợi ích có thể xảy ra?
Xung đột lợi ích thể xảy ra khi M kiểm soát viên của cả Công ty F
Ngân hàng L các lợi ích của hai công ty này có thể trái ngược hoặc gây ảnh hưởng
đối với nhau. Dưới đây là một số ví dụ về xung đột lợi ích có thể xảy ra:
- Nếu Công ty F quyết định mua hoặc bán cổ phiếu của Ngân hàng L, Ông M cần phải
đảm bảo rằng quyết định này được thực hiện theo quy tắc công bằng không ảnh
hưởng xấu đến lợi ích của Công ty F hoặc Ngân hàng L.
- Nếu Công ty F và Ngân hàng L cùng cạnh tranh trong lĩnh vực đầu tưcông nghệ,
Ông M cần phải đảm bảo rằng Công ty F Ngân hàng L không tận dụng thông tin
hay tài nguyên từ một bên để ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của bên kia vi phạm quy
định về bảo vệ thông tin.
- Ông M cần phải tránh mọi tình huống thể dẫn đến lợi ích nhân của ông trong
vai trò kiểm soát viên của cả hai công ty, ví dụ như việc thúc đẩy các giao dịch lợi
ích riêng cho mình hoặc người thân của ông.
Bài 3: Ông A nhà đầu nhân, chuyên đầu tư vào các ngân hàng thương mại cổ
phần. Năm 2018, Ông A sở hữu 1% tổng số cổ phần phát hành, được Đại hội đồng cổ
đông của Ngân hàng C bầu làm kiểm soát viên và bầu làm Trưởng ban kiểm soát. Tại
thời điểm này ông A đang sở hữu cổ phần của Ngân hàng D (0,5% tổng số cổ phần
phát hành) và là kiểm soát viên của Ngân hàng D.
1. Ông A có được cùng một lúc là kiểm soát viên của 2 ngân hàng không?
2. Ông A được thừa kế cphần của Mẹ tại Ngân hàng D, số cổ phần nắm giữ
trên 6,5%/ tổng số cổ phần phát hành. Hỏi: việc sở hữu cổ phần trên hợp
pháp không?
1. Ông A có được cùng một lúc là kiểm soát viên của 2 ngân hàng không?
Theo Khoản 2, Điều 44, Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định về Ban
kiểm soát và cơ cấu Ban kiểm soát:
2. Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng ít nhất 03 thành viên, số lượng cụ thể do
Điều lệ của tổ chức tín dụng quy định, trong đó phải ít nhất một phần hai tổng số
thành viên là thành viên chuyên trách, không đồng thời đảm nhiệm chức vụ, công việc
khác tại tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp khác.
Theo đó, ông A hiện đang kiểm soát viên của ngân hàng D n sẽ 2
trường hợp xảy ra:
TH1: Ông A là thành viên chuyên trách của ban kiểm soát tại ngân hàng D thì ông
A sẽ không thể đồng thời đảm nhiệm chức vụ, công việc khác tại ngân hàng C.
Ông A không thể đồng thời kiểm soát viên của 2 ngân hàng trong
trường hợp ông A thành viên chuyên trách trong Ban kiểm soát của
Ngân hàng Dđảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Kiểm soát tại ngân hàng
C.
TH2: Ông A không phải thành viên chuyên trách của ban kiểm soát tại ngân
hàng D thì ông A có thể đảm nhiệm chức vụ, công việc khác tại ngân hàng C.
Theo Khoản 2, Điều 34, Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định về Những trường
hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ:
2. Trưởng Ban kiểm soát không được đồng thời thành viên Ban kiểm soát, người
quản của tổ chức tín dụng khác. Thành viên Ban kiểm soát không được đồng thời
đảm nhiệm một trong các chức vụ sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, người điều hành,
nhân viên của cùng một tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó
hoặc nhân viên của doanh nghiệp thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội
đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng thành viên Hội
đồng quản trị, người điều hành hoặc là cổ đông lớn của doanh nghiệp đó;
b) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, người điều hành
của doanh nghiệp mà thành viên Ban kiểm soát và doanh nghiệp đó đang là thành viên
Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, người điều hành tại tổ chức tín
dụng.
Do đó, khi ông A hiện đang thành viên ban kiểm soát của ngân hàng D thì không
thể đồng thời đảm nhiệm là Trưởng Ban kiểm soát của ngân hàng C.
Tuy nhiên theo quy định, không trường hợp cấm kiểm soát viên đảm nhiệm chức
vụ kiểm soát viên tại tổ chức tín dụng khác nên ông A vẫnthể đảm nhiệm chức vụ
là kiểm soát viên của ngân hàng C.
Ông A thể đồng thời đảm nhiệm chức vụ kiểm soát viên của 2 ngân
hàng trong trường hợp ông A không là thành viên chuyên trách trong Ban
kiểm soát của ngân hàng D không đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban
Kiểm soát của ngân hàng C.
0. Ông A được thừa kế cổ phần của mẹ tại Ngân hàng D, scổ nắm giữ trên
6,5% tổng số cổ phần phát hành. Hỏi việc sở hữu cổ phần trên hợp pháp
không?
Câu hỏi pháp lý:
Cổ đông nhân được nắm giữ bao nhiêu % cổ phần? Cổ đông kiểm soát
viên thì được nắm giữ bao nhiêu % cổ phần?
Ông A đang nắm giữ 0,5% cổ phần tại ngân hàng D, sau khi nhận thừa kế lại sở
hữu 6,5% tổng số cổ phần phát hành Mẹ ông A đang nắm giữ 6% cổ phần
→ 6% cổ phần ông A nhận thừa kế từ mẹ có hợp pháp không?
Trả lời câu hỏi:
Theo Khoản 1, Điều 55, Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định về Tỷ lệ sở
hữu cổ phần:
1. Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ
chức tín dụng.
Ông A đang nắm giữ 0,5% cổ phần do đó ông A là cổ đông phổ thông của ngân
hàng thương mại cổ phần D nên theo đó ông A không được sở hữu quá 5% vốn điều
lệ của ngân hàng.
Ông A đang nắm giữ 0,5% cổ phần, sau khi nhận thừa kế từ mẹ thì sở hữu
6,5% cổ phần → Ông A nhận thừa kế từ mẹ 6% cổ phần.
Theo Điểm d, đ Khoản 28, Điều 4 quy định:
28. Người liên quan tổ chức, nhân quan h trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ
chức, cá nhân khác thuộc một trong các trường hợp sau đây:
d) Cá nhân với vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của người này;
đ) Công ty hoặc tổ chức tín dụng vớinhân theo quy định tại điểm d khoản này của
người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, thành viên góp vốn hoặc cổ đông sở hữu từ
5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của công ty hoặc tổ chức
tín dụng đó và ngược lại;
Mẹ ông A và ông A là người có liên quan🡺
Theo Khoản 3, Điều 55, Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định về Tỷ lệ sở
hữu cổ phần:
3.31 Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần vượt
quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng, trừ trường hợp quy định tại các điểm a,
b và c khoản 2 Điều này. Cổ đông lớn của một tổ chức tín dụng và ngườiliên quan
của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần từ 5% trở lên vốn điều lệ của một tổ chức
tín dụng khác.
Mẹ ông A (6% cổ phần) và người có liên quan - ông A (0,5% cổ phần) có tổng số cổ🡺
phần là 6,5% chưa vượt quá 20% vốn điều lệ.
Theo Khoản 26, Điều 4, Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định:
26. Cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ
5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần đó.
Mẹ ông A là cổ đông lớn của ngân hàng D. Sau khi nhận thừa kế ông A sở hữu tổng🡺
số cổ phần là 6,5% cổ phần, vì vậy ông A là cổ đông lớn của ngân hàng D.
Theo Điểm đ, Khoản 1, Điều 29, Luật Các Tổ chức tín dụng quy định về
Những thay đổi phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận:
đ)13 Mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp của chủ sở hữu; mua bán, chuyển
nhượng phần vốn góp của thành viên góp vốn; muan, chuyển nhượng cổ phần của
cổ đông lớn; mua bán, chuyển nhượng cổ phần dẫn đến cổ đông lớn thành cổ đông
thường và ngược lại.
Việc ông A trở thành cổ đông lớn của ngân hàng D cần được sự chấp thuận của🡺
Ngân hàng Nhà nước sau khi nhận thừa kế ông A đã chuyển từ cổ đông thường
(nắm giữ 0,5% cổ phần) thành cổ đông lớn (nắm giữ 6,5% cổ phần).
Theo Điểm a, Khoản 2, Điều 34, Luật Các Tổ chức tín dụng quy định về
Những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ:
2. Trưởng Ban kiểm soát không được đồng thời thành viên Ban kiểm soát, người
quản của tổ chức tín dụng khác. Thành viên Ban kiểm soát không được đồng thời
đảm nhiệm một trong các chức vụ sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, người điều hành,
nhân viên của cùng một tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó
hoặc nhân viên của doanh nghiệp thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội
đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng thành viên Hội
đồng quản trị, người điều hành hoặc là cổ đông lớn của doanh nghiệp đó;
Theo đó, ông A thành viên ban kiểm soát của ngân hàng D không được đồng thời
đảm nhiệm là cổ đông lớn của ngân hàng A.
vậy việc ông A nắm giữ 6,5% cổ phần sau khi nhận thừa kế từ mẹ tại ngân
hàng D đang đảm nhiệm chức vụ kiểm soát viên của ngân hàng D không
hợp pháp. Ông A có 2 lựa chọn như sau:
Ông A sẽ trở thành cổ đông lớn của ngân hàng D (nắm giữ 6,5% cổ phần)
sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận nhưng không được đảm
nhiệm chức vụ kiểm soát viên của ngân hàng D.
Ông A tiếp tục đảm nhiệm chức vụ kiểm soát viên của ngân hàng D nhưng
sở hữu cổ phần không vượt quá 5% cổ phần theo quy định.
____________________________________________________________________
1.Phân tích các điều kiện cấp phép của ngân hàng thương mại cổ phần? Các
bất cập
2.Phân tích các điều kiện cấp phép của chi nhánh ngân hàng nước ngoài? Các
bất cập
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài muốn hoạt động tại Việt Nam cần đáp ứng các
điều kiện về cấp phép của chi nhánh theo pháp luật Việt Nam. Điều kiện cấp phép của
chi nhánh ngân hàng được quy định cụ thể trong khoản 3 Điều 20 Luật các tổ chức tín
dụng năm 2010 Điều 11 Văn bản hợp nhất 06/VBHN-NHNN ngày 24 tháng 01
năm 2022 hợp nhất Thông quy định về cấp Giấy phép tổ chức, hoạt động của
ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, văn phòng đại
diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác hoạt động ngân
hàng tại Việt Nam. Cụ thể đã quy định điều kiện đối với chi nhánh ngân hàng nước
ngoài và điều kiện đối với ngân hàng mẹ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
I. Điều kiện cấp phép đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài:
1. Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có vốn điều lệ hoặc vốn được cấp tối thiểu
bằng mức vốn pháp định theo quy định của chính phủ. Theo Điều 19 Luật các Tổ
chức tín dụng năm 2010 Chính phủ quy định mức vốn pháp định đối với từng loại
hình tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài phải duy trì giá trị thực của vốn điều lệ hoặc vốn được cấp tối
thiểu bằng mức vốn pháp định”. Theo Nghị định 10/2011/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ
sung một sđiều của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 về
ban hành danh mục mức vốn pháp định ca các tổ chức tín dụng đã quy định mức vốn
pháp định của chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD.
Bất kỳ tổ chức kinh tế nào cũng cần vốn để thực hiện các hoạt động kinh
doanh. Đối với một ngành nghề đặc thù như ngân hàng thì tiền tệ đối tượng lưu
thông trong thị trường nên khi thành lập hoạt động ngân hàng thì cần phải mức
vốn pháp định. Bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài có sức chi phối mạnh tới hệ thống ngân hàng, tới nền kinh tế và
trật tự hội. thế, pháp luật quy định đối với các doanh nghiệp kinh doanh ngành
nghề này phải đáp ứng mức vốn tối thiểu nhất định (vốn pháp định) nhằm đảm bảo an
toàn cho hoạt động ngân hàng duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân
hàng.
2. Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập pháp nhân đang hoạt động hợp pháp
đủ năng lựci chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viênng
lập nhân năng lực hành vào i dân sự đầy đủ đủ khả năng tài chính để
góp vốn.
Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,
cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ
năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập
nhân năng lực nh vi dân sự đầy đủ đủ khả năng tài chính để góp vốn.
Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Trong lĩnh vực ngân hàng - một ngành nghề đặc thù với đối tượng kinh doanh
chính là tiền tệ thì đòi hỏi người kinh doanh phải có uy tín cao. Uy tín và khả năng tài
chính cũng như khả năng huy động vốn của chủ ngânng ảnh hưởng rất lớn đến
với uy tín của tổ chức tín dụng đó.
3. Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát đủ các
tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
Ví dụ, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên phải có đạo
đức nghề nghiệp; bằng đại học trở lên; ít nhất 03 năm người quản lý, người
điều hành của Tổ chức tín dụng hoặc ít nhất 05 năm người quản lý, người điều
hành của doanh nghiệp hoạt động trong ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm
toán hoặc của doanh nghiệp khác có vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định
đối với loại hình tổ chức tín dụng tương ứng hoặcít nhất 05 năm làm việc trực tiếp
tại bộ phận nghiệp vụ về tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán.
thể thấy, những tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành
không chỉ cần đảm bảo về mặt chuyên môn mà còn chú trọng về thâm niên làm nghề.
Bởi lẽ, người quản yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành bại trong hoạt động kinh
doanh của tổ chức kinh tế và không ngoại lệ với hoạt động kinh doanh của các tổ chức
tín dụng. Đối với việc kinh doanh của các Tổ chức tín dụng thì cần phải đòi hỏi người
quản trị điều hành phải đủ chuyên môn cao và từ đó mớiđiều kiện đảm bảo cho
việc hoạt động của các Tổ chức tín dụng an toàn, hiệu quả, tránh để các Tổ chức tín
dụng lâm vào tình trạng phá sản.
4. đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh
hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc
quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ
chức tín dụng.
Thứ nhất, điều kiện này điều kiện quan trọng đối với bất kỳ tổ chức tín dụng
nào, bởi lẽ hoạt động ngân hànghoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn, ảnh hưởng đến
nhiều đối tượng. vậy phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả thì mới thể tạo
điều kiện cho tổ chức tín dụng tồn tại hoạt động, phát triển cạnh tranh lành
mạnh với các tổ chức tín dụng khác.
Thứ hai, đây là điều khoản nhằm bảo vệ quyền tự do kinh doanh của các tổ chức
tín dụng khác cùng tham gia trên một thị trường, giải phóng các tổ chức tín dụng khác
khỏi sự kiềm toả của những biểu hiện không lành mạnh. Từ đó, tạo ra môi trường kinh
doanh lành mạnh, bình đẳng, tự do giữa các chủ thể trên thị trường. Hoạt động của các
chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam với các nội dung đa dạng của nó, nếu
không được pháp luật điều chỉnh thường xuyên hoàn thiện cho phù hợp với từng
thời kỳ, thì các quan hệ ngân hàng sẽ phát triển tự phát, cạnh tranh không lành mạnh,
ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế hội. Tình trạng này không những làm cho
quyền lợi của các chủ thể tham gia hoạt động ngân hàng không được bảo đảm mà còn
ảnh hưởng tiêu cực và gây thiệt hại khôn lường đến sự phát triển của nền kinh tế.
5. Tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo
quy định của pháp luật của nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở
chính
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài một đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước
ngoài, không cách pháp nhân, nhiệm vụ thực hiện các hoạt động của ngân
hàng mẹ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản,
thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của ngân hàng nước ngoài được cấp
phép, hoạt động một số quốc gia khác với quốc gia ngân hàng mẹ mang quốc
tịch. Do đó, ngoài việc chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam thì chi nhánh ngân
hàng nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật của quốc gia công ty mẹ
mang quốc tịch.
6. Hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải hoạt động
tổ chức tín dụng nước ngoài đang được phép thực hiện tại nước nơi tổ chức tín
dụng nước ngoài đặt trụ sở chính
Đây điều kiện chung thành lập chung đối với tổ chức tín dụng liên doanh, tổ
chức tín dụng 100% vốn nước ngoài chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên,
chi nhánh ngân hàng nước ngoàiđơn vị phụ thuộc của ngân hàng mẹ được ngân
hàng mẹ chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ cam kết của chi nhánh tại Việt
Nam. Chính phụ thuộc vào ngân hàng mẹ nên hoạt động của chi nhánh ngân hàng
nước ngoài sẽ ít nhiều bị hạn chế hơn hai loại hình ngân hàng còn lại, chi nhánh chỉ
thực hiện những hoạt động nào mà ngân hàng mẹ thực hiện và cho phép. Bên cạnh đó,
Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài ngân hàng liên doanh các doanh
nghiệp Việt Nam, cách pháp nhân, trụ sở chính tại Việt Nam được thành
lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. thế hoạt động của ngân hàng
thương mại 100% vốn nước ngoài ngân hàng liên doanh sẽ không bị hạn chế
phụ thuộc vào một tổ chức nào ở nước ngoài như chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Về phạm vi hoạt động: chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện mọi hoạt
động như một ngân hàng thương mại, trong phạm vi những hoạt động ngân hàng
mẹ của chi nhánh được cấp phép ở nước mà họ mang quốc tịch, trừ hoạt động góp vốn
mua cổ phần. Tức chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không được
góp vốn, thành lập, mua lại phần vốn góp, cổ phần của bất một thực thể nào khác.
So với ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài ngân hàng liên doanh thì chi
nhánh ngân hàng nước ngoài có phạm vi hoạt động hẹp hơn, vì ngân hàng thương mại
100% vốn nước ngoài ngân hàng liên doanh được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. So với văn phòng đại diện
của tổ chức tín dụng nước ngoài thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài thẩm quyền
hoạt động rộng hơn, thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ ngân hàng hơn.
7. Tổ chức tín dụng nước ngoài phải hoạt động lành mạnh, đáp ứng các
điều kiện về tổng tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước.
Tổ chức tín dụng nước ngoài một thành phần quan trọng của hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Do đó, việc tổ chức tín dụng nước ngoài có hoạt động lành mạnh, đáp
ứng các điều kiện về tổng tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn
cần thiết để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Thêm vào đó, các
TCTD nước ngoài này còn làm thúc đẩy sự phát triển ca nền kinh tế và bảo vệ quyền
lợi của người gửi tiền hoặc các chủ thể có liên quan;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện nội dung quản nhà nước bao quát
với chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ các vấn đề như: thành lập, hoạt động, tái
cấu, đảm bảo an toàn, giải thể bằng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh, thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với các hoạt động của chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
Tổ chức tín dụng nước ngoài tổ chức tín dụng Việt Nam đều các tổ chức
kinh doanh được phép thực hiện các hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Do đó, việc
cho phép tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo
quy định của pháp luật nước sở tại một cách đ đảm bảo sự bình đẳng giữa các tổ
chức tín dụng, không phân biệt giữa tổ chức tín dụng trong nước tổ chức tín dụng
nước ngoài. Bên cạnh đó, hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam với các nội dung đa dạng của nó, nếu không được pháp luật điều chỉnh
thường xuyên hoàn thiện cho phù hợp với từng thời kỳ, thì các quan hệ ngân hàng sẽ
phát triển tự phát, cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh
tế hội. Tình trạng này không những làm cho quyền lợi của các chủ thể tham gia
hoạt động ngân hàng không được bảo đảm mà còn ảnh hưởng tiêu cực và gây thiệt hại
khôn lường đến sự phát triển của nền kinh tế .Việcthêm các tổ chức tín dụng nước
ngoài đầu vào Việt Nam sẽ làm thúc đẩy sự hợp tác thương mại giữa Việt Nam
thế giới đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của tổ chức tín
dụng nước ngoài do các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ được phép áp dụng các quy
định thủ tục của pháp luật nước sở tại, vốn đã được các tổ chức này quen thuộc
áp dụng thành thạo.
8. quan thẩm quyền của nước ngoài đã kết thỏa thuận với Ngân
hàng Nhà nước về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng, trao đổi thông tin giám sát
an toàn ngân hàngn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối
với hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài.
Việc quan thẩm quyền của nước ngoài kết thỏa thuận với Ngân ng
Nhà nước về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng, trao đổi thông tin giám sát an
toàn ngân hàng vàvăn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với
hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài là một bước quan trọng trong việc đảm bảo
an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
các chủ thể có liên quan.
9. Ngân hàng nước ngoài phải văn bản bảo đảm chịu trách nhiệm về
mọi nghĩa vụ cam kết của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; bảo đảm
duy trì giá trị thực của vốn được cấp không thấp hơn mức vốn pháp định thực hiện
các quy định về bảo đảm an toàn của Luật này.
Nếu 08 điều kiện phía trên đều những điều kiện được lấy từ điều kiện cấp
phép của tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn
nước ngoài, thì điều kiện số 09 y điều kiện quy định dành riêng cho chi nhánh
ngân hàng nước ngoài. Bởi lẽ, không như tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng liên
doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
mối quan hệ chặt chẽ, chịu sự chi phối lớn, một bộ phận phụ thuộc vào ngân hàng
mẹ ở nước ngoài. Vì thế, ngân hàng mẹ ở nước ngoài phải chịu trách nhiệm về vấn đề
tài chính cũng như các nghĩa vụ phát sinh từ chi nhánh.
II. Điều kiện đối với ngân hàng mẹ:
Theo Điều 11 Văn bản hợp nhất 06/VBHN-NHNN ngày 24 tháng 01 năm 2022
hợp nhất Thông quy định về cấp Giấy phép tổ chức, hoạt động ca ngân hàng
thương mại, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ
chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác hoạt động ngân hàng tại Việt
Nam thì điều kiện đối với ngân hàng mẹ gồm:
1. Không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt động ngân hàng và các quy
định pháp luật khác của nước nguyên xứ trong vòng 05 năm liên tiếp liền kề
trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép
2. Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế, được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế
xếp hạng từ mức ổn định trở lên, mức khả năng thực hiện các cam kết tài
chính hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến
đổi theo chiều hướng không thuận lợi.
3. lãi trong 05 m liên tiếp liền kề trước năm nộp hồ đề nghị cấp Giấy
phép và đến thời điểm cấp Giấy phép.
4. Được quan thẩm quyền của nước nguyên xứ đánh giá đảm bảo tỷ lệ an
toàn vốn, các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác, tuân thủ đầy đủ các quy định về quản
trị rủi ro và trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định của nước nguyên xứ vào
năm liền kề năm nộp hồ đề nghị cấp Giấy phép đến thời điểm cấp Giấy
phép.
5. Ngân hàng mẹ tổng tài sản ít nhất tương đương 20 tỷ đôla Mỹ vào năm
liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép.
Với những điều kiện trên nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro về mặt pháp lý trong suốt
quá trình hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đảm bảo quyền lợi của
người góp vốn và khách hàng.
Thêm vào đó, với điều kiện thứ hai, hướng đến đánh giá đúng mức độ uy tín của
ngân hàng mẹ dựa trên xếp loại tín nhiệm quốc tế để xây dựng được niềm tin đối với
khách hàng cũng như đảm bảo sự ổn định ca nền kinh tế tại nước chi nhánh ngân
hàng . Trên thế giới, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Standard & Poors’s,
Moody’s, và Fitch Ratings đã đóng vai trò là người cung cấp thông tin đáng tin cậy về
chất lượng tín dụng. Ngân hàng mẹ phải thứ hạng tín nhiệm từ mức AA- trở lên
(theo Standard & Poor’s hoặc Fitch Ratings) hoặc từ mức Aa3 trở lên (theo Moody’s).
Trường hợp tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế thang thứ hạng tín nhiệm khác
thang thứ hạng tín nhiệm của Standard & Poor’s hoặc Moody’s hoặc Fitch Ratings thì
tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đó phải chuyển đổi thứ hạng tín nhiệm tương ứng,
phù hợp với thang thứ hạng tín nhiệm của Standard & Poor’s hoặc Moody’s hoặc
Fitch Ratings. Xếp hạng tín nhiệm giúp hoạt động đo lường, kiểm tra, giám sát rủi ro
hệ thống ca Nhà nước diễn ra một cách hiệu quả hơn, sở để thiết lập các quy
định đảm bảo an toàn cho hệ thống.
Với điều kiện thứ ba, việc lãi trong 05 năm liên tiếp liền kề cho thấy khả
năng quản lý, điều nh tốt cũng như khả năng tài chính vững mạnh của ngân hàng
mẹ bởi lẽ rủi ro lãi suất là một trong những thách thức lớn nhất đối với hoạt động quản
tài sản của ngân hàng . Từ đó giảm thiểu rủi ro cho thị trường tài chính trong nước
một việc cần thiết khi mở cửa hội nhập quốc tế, tạo môi trường lành mạnh, an toàn
lâu dài cho khách hàng.
Với điều kiện thứ tư, các tỷ lệ bảo đảm an toàn có thể là tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu, trạng thái vàng, ngoại t tối đa so với vốn tự có…. Những tỷ
lệ này nhằm định lượng độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng. ý nghĩa
quan trọng trong việc định tính tình trạng của một ngân hàng, những tác động của
tới hệ thống tín dụng và còn nhằm cung cấp thông tin minh bạch cho khách hàng.
Cuối cùng với điều kiện thứ năm, Ngân hàng mẹ có tổng tài sảnít nhất tương
đương 20 tỷ đôla Mỹ vào năm liền kề năm nộp hồ đề nghị cấp Giấy phép đến
thời điểm cấp Giấy phép. thể thấy, điểm khác biệt ngân hàng mẹ nước ngoài
khi thành lập chi nhánh phải có tổng tài sản ít nhất tương đương 20 tỷ đô la Mỹ, nhiều
gấp đôi so với yêu cầu đối với ngân hàng nước ngoài khi thành lập ngân hàng con
100% vốn nước ngoài. Vì, ngân hàng mẹ phải chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính
cũng như các nghĩa vụ phát sinh từ chi nhánh. vậy, ngân hàng nước ngoài khi
thành lập chi nhánh phải tài sản lớn văn bản đảm bảo chịu trách nhiệm đối
với mọi nghĩa vụ cam kết của chi nhánh tại Việt Nam. Trong khi ngân hàng nước
ngoài muốn thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài thì chỉ cần một số vốn nhỏ
hơn và chỉ cần cam kết về việc hỗ trợ tài chính, công nghệ, quản trị điều hành và hoạt
động của ngân hàng con.
Như vậy, để thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài
phải có năng lực tài chính mạnh, có uy tín trong hoạt động vàquy mô lớn. So sánh
điều kiện cấp phép thành lập hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài với
các loại hình ngân hàng có yếu tố nước ngoài khác, chúng ta thể thấy những điểm
tương đồng, khác biệt nhất định.
Thêm vào đó, Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư số 40/2011/TTNHNN
của Ngân hàng đã quy định khá cụ thể về điều kiện cấp phép đối với chi nhánh ngân
hàng nước ngoài cũng như đối với các loại hình tổ chức tín dụng khác, theo hướng
nâng cao các yêu cầu, tiêu chí về đảm bảo an toàn của từng loại hình tổ chức tín dụng,
quy định cụ thể điều kiện cấp phép hoạt động đối với ngân hàng thương mại trong
nước, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài hay chi nhánh ngân hàng nước
ngoài. Đây điểm mới của Luật các tổ chức tín dụng 2010 Thông 40 so với
Luật các tổ chức tín dụng trước đây (chỉ quy định một loạt các điều kiện cấp phép cho
các tổ chức tín dụng nói chung, không sự phân biệt điều kiện cấp phép theo
từng loại hình).
Quy định mới của pháp luật hợp bởi các loại hình tổ chức tín dụng khác
nhau những đặc thù riêng biệt khác nhau, vậy quy định về điều kiện cấp phép
của chi nhánh ngân hàng nước ngoài được rà soát theo hướng chặt chẽ nhưng cũng tạo
điều kiện cho các nhà đầu nước ngoài khi đầu thành lập chi nhánh nước ta.
Quy định về điều kiện cấp phép đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chặt chẽ
về điều kiện năng lực của ngân hàng mẹ, năng lực của người quản lý, điều kiện số vốn
được cấp, tính khả thi và an toàn của phương án hoạt động… để đảm bảo tính an toàn
cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam. Điều này là cần thiết và phù hợp với
tính chất hoạt động của ngân hàng hoạt động này nguy rủi ro cao kết quả
hoạt động ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế đời sống hội. Bên cạnh đó các quy
định của pháp luật cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài khi xin cấp phép
thành lập chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam, như quy định vốn pháp định của chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam (15 triệu USD) không quá cao phù hợp
với năng lực tài chính của các nhà đầu tư, quy định cụ thể chi tiết từng nội dung của
điều kiện cấp phép để các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng xác định năng lực của mình,
không bị lúng túng khi quyết định đầu tư vào nước ta.
II. Những bất cập trong cấp phép hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước
ngoài
Một số quy định về điều kiện mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn chưa
ràng dẫn đến không ít khó khăn trong thực tiễn thi hành:
- Điều kiện về vốn điều lệ tối thiểu. Vốn điều lệ tối thiểu 15 triệu USD một
mức vốn điều lệ khá cao, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ vừa các nước
đang phát triển. Điều này thể gây khó khăn cho các ngân hàng nước ngoài muốn
mở chi nhánh tại Việt Nam.
- Thông 40/2011 yêu cầu các ngân hàng nguyên xứ “Không vi phạm nghiêm
trọng các quy định về hoạt động ngân hàng các quy định pháp luật khác của nước
nguyên xứ trong vòng 05 năm liên tiếp liền kề trước năm nộp hồ đề nghị cấp Giấy
phép đến thời điểm cấp Giấy phép” ( Điểm a, Khoản 2, Điều 11) và coi đây như
một điều kiện các ngân hàng nước ngoài phải thoả mãn để được mở chi nhánh tại
Việt Nam. “Không vi phạm nghiêm trọng” thể được hiểu được phép vi phạm
nhưng chưa tới mức nghiêm trọng, nhưng Thông lại không hề làm vi phạm như
thế nào mới được coi nghiêm trọng, vi phạm như thế nào vẫn thể chấp nhận
được. Khái niệm “vi phạm nghiêm trọng” mang tính định tính rất khó xác định,
vậy khi xét duyệt hồ sơ, việc xem xét điều kiện này phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ
quan của quan xét duyệt. Điều này có thể gây ra những khó khăn nhất định cho
quan xét duyệt và trong trường hợp nào đó thể dẫn đến sự thiệt thòi với nhà đầu
nước ngoài.
- Tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 Thông tư 40/2011 quy định về điều kiện của công
ty mẹ phải có tổng tài sản có ít nhất tương đương 20 tỷ đôla Mỹ vào năm liền kề năm
nộp hồ đề nghị cấp Giấy phép đến thời điểm cấp Giấy phép. 20 tỷ đô la Mỹ
con số khá lớn, sẽ rào cản đối với ngân hàng nước ngoài khi muốn thành lập chi
nhánh Việt Nam. Đây được xem một trong những yêu cầu mang tính kỹ thuật để
trước mắt hạn chế sự tham gia của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong điều
kiện các ngân hàng nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế về kh năng trong việc cạnh
tranh với các đối thủ nước ngoài.
- Tại Khoản 9 Điều 17 Thông 40/2011, trong hồ đề nghị cấp Giấy phép
thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần phải “Văn bản hoặc tài liệu của tổ
chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng tín nhiệm đối với ngân ng mẹ trong thời
hạn 06 tháng trước thời điểm nộp hồ sơ”. Như vậy ngân hàng mẹ phải được các tổ
chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế xếp hạng tốt như tổ chức xếp loại tín nhiệm
Moody’s, Standard & Poor… nhưng cho đến thời điểm hiện nay pháp luật lại không
hề quy định như thế nào một “tổ chức xếp hạng quốc tế uy tín”, không đưa ra
tiêu chuẩn cụ thể đối với một tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế. thế rất khó xác
định ngoài ba tổ chức được nêu tại Thông 40 thì những tổ chức nào nữa được thực
hiện việc xếp hạng cho các ngân hàng, nếu chỉ phụ thuộc vào những tổ chức này rất có
thể dẫn đến những điều không trung thực về ngân hàng mẹ, gây không ít khó khăn cho
Ngân hàng nhà nước khi thẩm định hồ xin cấp giấy phép thành lập chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
- Những quy định của pháp luật liên quan đến trụ sở hoạt động của chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, để đi vào hoạt động, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài phải có trụ sở đáp ứng yêu cầu tại Khoản 3, Điều 23 Thông tư 40/2011, trong đó
quy định phải “Đảm bảo an toàn tài sản phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân
hàng”, nhưng pháp luật hiện hành lại không quy định cụ thể như thế nào là một trụ sở
phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng, vừa gây khó khăn cho các ngân hàng nước
ngoài khi tìm kiếm lựa chọn một trụ sở phù hợp tại Việt Nam, vừa gây khó khăn
cho cơ quan thẩm định khi tiến hành thủ tục cấp phép. Bên cạnh đó, theo quy định của
Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan về nhà ở, các ngân hàng nước ngoài
không được phép mua nhà, nhận chuyển giao quyền sử dụng đất tại Việt Nam, do đó,
một yêu cầu bắt buộc đó là ngân hàng ở nước nguyên xứ phải có Hợp đồng thuê trụ sở
hoạt động của chi nhánh trước khi nộp hồ xin cấp phép thành lập hoạt động chi
nhánh đó. Luật Nhà ở 2014 (có hiệu lực từ 01/07/2015) đã mở rộng quyền của tổ chức
nước ngoài khi cho phép tổ chức cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam
tại Điều 159:
Đối tượng tổ chức, nhân nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam bao
gồm: a) Tổ chức, nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà theo dự án tại Việt Nam
theo quy định của Luật này pháp luật có liên quan; b) Doanh nghiệp vốn đầu
nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu
nước ngoài chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Như
vậy các doanh nghiệp nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại
Việt Nam có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam, tuy nhiên chỉ được sử dụng nhà ở để bố
trí cho những người đang làm việc tại các chi nhánh không được dùng nhà để
cho thuê, làm văn phòng hoặc sử 64 dụng vào mục đích khác. vậy chi nhánh ngân
hàng nước ngoài vẫn phải Hợp đồng thuê trụ sở tại Việt Nam trước khi nộp hồ
xin cấp phép. Tuy nhiên trong quá trình thẩm định hồ cấp phép, để đáp ứng được
đầy đủ điều kiện về trụ sở hoạt động phù hợp của chi nhánh, các Hợp đồng thuê này
rất có thể sẽ phải sửa lại hoặc thay thế cho phù hợp với yêu cầu cụ thcủa Ngân hàng
Nhà nước. dụ trong trường hợp ngân hàng nước ngoài đã Hợp đồng thuê trụ sở
Việt Nam, nộp hồ xin cấp phép lên Ngân hàng nhà nước nhưng quan thẩm
định cấp giấy phép lại yêu cầu chuyển trụ sở do trụ sở đó “không phù hợp” với hoạt
động của ngân hàng, không đáp ứng đủ tiêu chuẩn về diện tích hay mặt tiền…, dẫn tới
việc ngân hàng nước ngoài phải huỷ hợp đồng thuê trụ sở tìm kiếm một trụ sở
mới cho phù hợp. Điều này không những làm gián đoạn thời gian xin cấp phép thành
lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn gây thiệt hại cho các ngân hàng nước
ngoài khi phải trả phí bồi thường hủy hợp đồng. Đây cũng một trong những khó
khăn cho các ngân hàng nước ngoài.
3.Phân tích điều kiện cấp phép của NHTM 100% vốn nước ngoài? Các bất
cập
1. Khái niệm:
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài ngân hàng thương mại được thành lập tại
Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc shữu của tổ chức tín dụng nước ngoài. Ngân
hàng này được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên
chủ sở hữu một ngân hàng nước ngoài hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên
trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu 50% vốn điều lệ. Đây là pháp nhân
Việt Nam, trụ sở chính tại Việt Nam. NH này thể thành lập chi nhánh, văn
phòng đại diện. Các tổ chức này khôngtư cách pháp nhân, là đơn vị phụ thuộc của
NH.
Khoản 8 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi năm 2017 quy định:
"Tổ chức tín dụng nước ngoài tổ chức tín dụng được thành lập nước ngoài theo
quy định của pháp luật nước ngoài.
Tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức
văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100%
vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính
100% vốn nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài loại hình ngân hàng
thương mại."
Theo quy định trên, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được xem tổ chức tín
dụng, thuộc loại hình ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt
Nam hiện hành.
2. Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động
2.1. Đối với TCTD nói chung (bao gồm ngân hàng thương mại 100% vốn nước
ngoài)
Thứ nhất, vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định.
Theo
Điều 19 Luật Các TCTD năm 2010
, “Chính phủ quy định mức vốn pháp định
đối với từng loại hình TCTD, chi nhánh NH nước ngoài. TCTD, chi nhánh NH nước
ngoài phải duy trì giá trị thực của vốn điều lệ hoặc vốn được cấp tối thiểu bằng mức
vốn pháp định”. Hoạt động NH của các TCTD có sức chi phối mạnh tới hệ thống NH,
tới nền kinh tế trật tự hội, vậy nên pháp luật quy định đối với các doanh nghiệp
kinh doanh ngành nghề này khi thành lập phải đáp ứng mức vốn tối thiểu nhất định
(vốn pháp định) nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động NH duy trì niềm tin của
công chúng vào hệ thống NH.
Thứ hai, chủ sở hữu của TCTD công ty TNHH một thành viên, c đông
sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực
tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập nhân
năng lực hành vi dân sự đầy đủ đủ khả năng tài chính để góp vốn
(Theo
Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật Các TCTD).
Uy tín và năng lực tài chính các yếu tố
rất cần thiết đối với người sáng lập các TCTD, trên s đó thể gây dựng được
niềm tin của khách hàng và duy trì hoạt động NH của các TCTD.
Thứ ba, người quản lý, người điều hành, thành viên BKS có đủ các tiêu chuẩn,
điều kiện nhất định theo quy định tại
Điều 50 của Luật Các TCTD
. Ví dụ, Thành viên
HĐQT, thành viên HĐTV phải đạo đức nghề nghiệp; có bằng đại học trở lên;ít
nhất 03 năm người quản lý, người điều hành của TCTD hoặc ít nhất 05 năm
người quản lý, người điều của doanh nghiệp hoạt động trong ngành tài chính, NH, kế
toán, kiểm toán hoặc của doanh nghiệp khác vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức
vốn pháp định đối với loại hình TCTD tương ứng hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực
tiếp tại bộ phận nghiệp vụ về tài chính, NH, kế toán, kiểm toán.
Thứ , điều lệ phù hợp với quy định của Luật các TCTD các quy định
khác của pháp luật liên quan. Điều lệ của TCTD là sự cụ thể hoá các quy định của
pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức này và có giá trị pháp lý rất quan trọng.
Điều lệ xác định cụ thể mục tiêu, phương hướng, nội dung, phạm vi hoạt động, cách
thức tổ chức bộ máy quản lý, chế độ tài chính của TCTD.
Thứ năm, Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh
hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống TCTD; không tạo ra sự độc quyền hoặc
hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống TCTD. Đề án
thành lập doanh nghiệp tập hợp toàn bộ các kế hoạch kinh doanh, vận nh, quản
lý, phương án phát triển công ty….; nền tảng, sở để cho doanh nghiệp thể
tiến hành việc kinh doanh hiệu quả. Việc đánh giá Đề án thành lập tổ chức là vô cùng
quan trọng đối với bất kỳ TCTD nào, bởi lẽ hoạt động NH là hoạt động tiềm ẩn rủi ro
lớn, vậy phương án kinh doanh phải khả thi, hiệu quả thì mới thể tạo điều kiện
cho TCTD tồn tại, phát triển cạnh tranh lành mạnh được với tạo điều các TCTD
khác.
2.2. Đối với ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài nói riêng
Ngoài thỏa mãn các điều kiện nêu trên, việc cấp giấy phép thành lập hoạt
động ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện theo
quy định tại Khoản 2 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung
năm 2017:
- TCTD nước ngoài được phép thực hiện hoạt động NH theo quy định của pháp
luật của nước nơi TCTD nước ngoài đặt trụ sở chính.
- Hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải hoạt động
TCTD nước ngoài đang được phép thực hiện tại nước nơi TCTD nước ngoài
đặt trụ sở chính;
- TCTD nước ngoài phải có hoạt động lành mạnh, đáp ứng các điều kiện về tổng
tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của
NHNNViệt Nam.
- TCTD nước ngoài phải có văn bản cam kết hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản
trị, điều hành, hoạt động cho TCTD liên doanh, TCTD 100% vốn nước ngoài;
bảo đảm các tổ chức này duy trì giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn
mức vốn pháp định và thực hiện các về bảo đảm an toàn của Luật các TCTD;
- quan thẩm quyền của nước ngoài đã kết thỏa thuận với NHNN về
thanh tra, giám sát hoạt động NH, trao đổi thông tin giám sát an toàn NH và có
văn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với hoạt động của
TCTD nước ngoài.
3. Bất cập
TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, cho rằng với lợi thế về
mạng lưới hoạt động rộng rãi cùng nhiều kinh nghiệm hoạt động trên thị trường quốc
tế nên khi vào Việt Nam, ngân hàng nước ngoài không chỉ tập trung cung cấp các dịch
vụ cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dịch vụ liên quan đến thanh toán quốc tế mà
còn nhanh chóng mở rộng sang mảng dịch vụ cho vay tiêu dùng, bán lẻ. Do đó, việc
mở rộng thị trường của các ngân ng nước ngoài sẽ tạo s cạnh tranh quá dày đặc
giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế, cho rằng: Nếu
cho phép thành lập mới ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhiều cũng giống như cho
phép ạt nhập khẩu hàng hóa vào thị trường Việt Nam thiếu sự kiểm soát. Một
khi doanh nghiệp nước ngoài chi phối thị trường tài chính thì các ngân hàng Việt sẽ
ngày càng yếu thế. “Nếu trong hệ thống tài chínhđể các doanh nghiệp nước ngoài
khống chế sẽ là điều vô cùng nguy hiểm.”
1
TS. Phan Minh Ngọc cho rằng khi hạn chế số lượng các ngân hàng 100% vốn
nước ngoài vào Việt Nam thể làm giảm tính cạnh tranh của thị trường, giảm tính
hiệu quả đầu tư, tuy nhiên đổi lại sẽ giúp tăng tính ổn định của hệ thống. Việc hạn chế
sẽ buộc các ngân hàng muốn vào Việt Nam phải đi vòng, bằng cách mua lại ngân
hàng đang tái cơ cấu như Chính phủ mong muốn, cũng có thể làm xuất hiện một số vụ
M&A (sáp nhập và mua lại) mới giữa các ngân hàng ngoại tại Việt Nam.
2
Chính phủ sẽ hết sức hạn chế hoặc thể không cấp thêm giấy phép cho ngân
hàng 100% vốn nước ngoài, nhưng sẽ cho phép nhà đầu nước ngoài được mua, sở
hữu 100% vốn và tái cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém tại Việt Nam (nói cách khác là
cho phép ngân hàng nước ngoài mua ngân hàng yếu kém trở thành 100% vốn nước
ngoài). Việt Nam hiện đang 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Hơn nữa, ngân
hàng nước ngoài cũng ngân hàng thương mại, với con số 9 thì cũng không phải
là ít, nên hạn chế số lượng trong tương lai là điều dễ hiểu.
4.Phân tích mô hình quản trị NHTMCP tư nhân? Các bất cập
5.Phân tích mô hình quản trị NHTMCP Nhà nước? Các bất cập
1. Khái niệm:
Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức dưới
hình thức công ty cổ phần. Ngân ng thương mại cổ phần nhà nước do NN sở hữu
trên 50% vốn điều lệ.
2. Mô hình quản trị:
cấu tổ chức quản của ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước shữu trên
50% vốn điều lệ bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát,
Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc
(Điều 14 Nghị định 59/2009/NĐ-CP)
. Trong đó:
- Cơ quan quản lý bao gồm:
+ Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết,
quan quyết định cao nhất của tổ chức tín dụng. Đại hội đồng cổ đông
họp thường niên trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài
chính. Đại hội đồng cổ đông họp bất thường theo quyết định triệu tập
họp của hội đồng quản trị trong các trường hợp: Hội đồng quản trị xét
thấy cần thiết lợi ích của tổ chức tín dụng; Số thành viên hội đồng
1 https://cafef.vn/khi-canh-cua-ngan-hang-100-von-ngoai-khep-lai-20180821071146536.chn
2https://cafef.vn/han-che-cap-phep-thanh-lap-ngan-hang-100-von-ngoai-o-viet-nam-dieu-gi-se-den-
20180810115755767.chn
quản trị còn lại ít hơn số thành viên tối thiểu quy định; Theo yêu cầu của
cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông
trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng; Theo yêu cầu của ban kiểm soát;
Các trường hợp khác theo quy định tại điều lệ của tổ chức tín dụng.
+ Hội đồng quản trị cơ quan quản trịtoàn quyền nhân danh tổ chức
tín dụng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức tín
dụng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông. Hội
đồng quản trị của NHTMCP phải không ít hơn 05 thành viên không
quá 11 thành viên, trong đó có ít nhất 01 thành viên độc lập. Hội đồng
quản trị phải ít nhất ½ tổng số thành viên thành viên độc lập
thành viên không phải người điều hành tổ chức tín dụng. nhân
người liên quan của nhân đó hoặc những người đại diện vốn góp
của một cổ đông tổ chức người liên quan của những người này
được tham gia Hội đồng quản trị, nhưng không được vượt quá một phần
ba tổng số thành viên Hội đồng quản trị của một tổ chức tín dụng
công ty cổ phần, trừ trường hợp là người đại diện phần vốn góp của Nhà
nước. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị, quyền nghĩa vụ
của chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị được quy
định tại Điều 63, 64, 65 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Bộ máy giúp việc:
+ Hội đồng quản trị thành lập các ủy ban giúp việc Ủy ban quản rủi
ro, Ủy ban nhân sự.
- Ban kiểm soát:
+ Thực hiện kiểm toán nội bộ, kiểm soát, đánh giá việc chấp hành quy
định của pháp luật, quy định nội bộ, điều lệ nghị quyết, quyết định
của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị;
+ Thẩm định báo cáo 06 tháng đầu năm, báo cáo ĐHĐCĐ về tính hợp lý,
hợp pháp, trung thực, mức độ cẩn trọng trong công tác kế toán, thống
kê, lập BCTC;
+ ít nhất 03 thành viên, phải có ít nhất một phần hai tổng số thành viên
thành viên chuyên trách, không đồng thời đảm nhiệm chức vụ, công
việc khác tại tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp khác;
+ Ban kiểm soát có bộ phận giúp việc, bộ phận kiểm toán nội bộ, được sử
dụng các nguồn lực của tổ chức tín dụng, được thuê chuyên gia tổ
chức bên ngoài để thực hiện nhiệm vụ của mình;
+ Số thành viên không đủ 2/3, trong 60 ngày phải bầu bổ sung.
- Tổng Giám đốc (Giám đốc):
+ Hội đồng quản trị bổ nhiệm một trong số các thành viên của mình làm
Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc thuê Tổng Giám đốc (Giám đốc).
+ Tổng Giám đốc (Giám đốc) người điều hành cao nhất của tổ chức tín
dụng, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình.
+ Tổng Giám đốc (Giám đốc) phải đủ các tiêu chuẩn, điều kiện như:
Không thuộc đối tượng không được đảm nhiệm chức vụ; Có đạo đức
nghề nghiệp; bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế,
quản trị kinh doanh, luật; ít nhất 05 năm làm người điều hành của tổ
chức tín dụng hoặc ít nhất 05 năm làm Tổng Giám đốc (Giám đốc),
Phó Tổng Giám đốc (phó Giám đốc) doanh nghiệp...
Mô hình hóa:
3. Các bất cập:
Mặc được nhận sự bảo hộ của nhà nước nhưng các NHTMCP nhà nước vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập về vốn và các hạn chế của một NHTMCP. Cụ thể:
Hạn chế về vốn dẫn đến hạn chế năng lực của các NHTMCP nhà nước trong việc
mở rộng kinh doanh, cung ứng vốn cho nền kinh tế:
Hiện nay, quy mô vốn điều lệ, hệ số an toàn vốn của các NHTMCP NN còn ở mức rất
khiêm tốn so với nhu cầu phát triển cũng như chuẩn mực quốc tế do đó các ngân hàng
trên thường thiếu tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khả năng cạnh tranh bình đẳng.
Nếu hoạt động không hiệu quả sẽ dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho nhà nước:
Do các NHTMCP nhà nước được nhà nước đầu tư huy động vốn nên đây vừa là điểm
thuận lợi, song cũng “con dao hai lưỡi” nếu NHTMCP nhà nước hoạt động không
hiệu quả.
Số lượng thành viên Hội đồng quản trị độc lập khiêm tốn:
Trong tổ chức hoạt động của Hội đồng quản trị, pháp luật mới chỉ quy định tối
thiểu 01 thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong cấu thành viên Hội đồng quản
trị của ngân hàng thương mại. Con số này khiêm tốn khi so sánh với pháp luật các
quốc gia khác. Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa chế kiểm tra tính độc
lập của các thành viên Hội đồng quản trị độc lập sau khi họ được bổ nhiệm.
Hoạt động kiểm soát chỉ mang tính hình thức:
Ban kiểm soát nhiệm vụ chính kiểm toán nội bộ, kiểm soát, đánh giá việc chấp
hành quy định pháp luật của ngân hàng. Tuy nhiên, các thành viên trong Ban kiểm
soát của NHTMCP không được tham gia điều hành hoạt động trong ngân hàng, nên
thực tế hoạt động kiểm soát chỉ mang tính hình thức, không đánh giá đúng bản chất
hoạt động giám sát khi tiến hành việc kiểm soát. Các thành viên Ban kiểm soát nhiều
lúc bị tác động bởi Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc của
ngân hàng nên các quyết định mà Ban kiểm soát đưa ra không thể hiện sự khách quan,
độc lập.
Quy định pháp luật về kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ chưa thực sự đầy đủ:
Để bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro các NHTMCP phải xây dựng
hệ thống kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, NHTMCP còn phải thành lập kiểm toán nội
bộ nhằm thực hiện soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát
nội bộ, tuân thủ chính sách nội bộ. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều NHTMCP thực hiện
chưa tốt quy định này dẫn đến xảy ra nhiều sai phạm gây thất thoát tài sản của ngân
hàng. Nguyên nhân dẫn đến bất cập này do chúng ta chưa thiết lập được chế
kiểm soát từ phía Ngân hàng Nhà nước để bảo đảm cho các NHTMCP tuân thủ đầy đủ
quy định pháp luật về hoạt động kiểm soát nội bộ kiểm toán nội bộ, từ đó giảm
thiểu rủi ro hoạt động cho ngân hàng.
Các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông chưa đầy đủ:
Về nguyên tắc, người quản lý, điều hành NHTMCP trong hoạt động của mình phải
thực hiện nhiệm vụ trung thực, cẩn trọng, công khai thông tin lợi ích của
NHTMCP, cổ đông. Tuy nhiên, việc tổ chức, quản trị, điều hành trong NHTMCP vẫn
còn thiếu các quyền lợi ích hợp pháp của các cổ đông như: Trong quá trình thực
hiện chức năng người quản lý, điều nh của NHTMCP nhiều lúc còn “gian dối”,
“bưng bít” thông tin, từ đó gây phương hại tới lợi ích của các cổ đông; Trình độ nhận
thức của cổ đông chưa cao trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Đặc
biệt, chưa quy định pháp luật nào về bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các cổ
đông.
Mức độ trung thực trong việc công bố thông tin và minh bạch hóa hoạt động của
các NHTMCP chưa cao:
Nhìn chung quy định pháp luật tương đối đầy đủ các thông tin mà NHTMCP bắt buộc
phải công bố, báo cáo như v quản lý, hoạt động, tài chính... Tuy nhiên, trong số các
thông tin này chưa chế bảo đảm tính trung thực của thông tin công bố nên các
nhà đầu tư rất khó xác minh chính xác để đầu tư. Mặc dù có quy định Ngân hàng Nhà
nước có chức năng giám sát các báo cáo, các thông tin được công bố bởi NHTMCP.
6.Phân tích mô hình quản trị NHTM 100% vốn nước ngoài? Các bất cập
1. Khái niệm, đặc điểm
Tại Khoản 7 Điều 3 Thông tư 21/2013/TT-NHNN đã định nghĩa:
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài là ngân hàng được thành lập tại Việt Nam
với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài, trong đó một ngân hàng
nước ngoài sở hữu trên 50% vốn nước ngoài (ngân hàng mẹ).
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn,pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam.
Như vậy, về bản chất, đây một tổ chức tín dụng nước ngoài đã được cấp
phép thành lập và vận hàng với tư cách là ngân hàng thương mại 100% vốn
nước ngoài tại Việt Nam.