



Preview text:
2.5 Quan hệ giữa gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Trước hết ta cần hiểu rõ, công bằng xã hội l% bảo đảm sự “ngang nhau” giữa
người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến với hưởng thụ, quyền lợi v%
nghĩa vụ, vinh dự với trách nhiệm. Thực tế phát triển của lịch sử nhân loại, công
bằng xã hội l% vấn đề mang tính lịch sử, được quy định bởi chế độ xã hội cụ thể.
Mỗi xã hội đều đưa ra chuẩn mực riêng về công bằng xã hội, tùy theo tính chất giai
cấp nhất định. Mặt khác, tiến bộ, công bằng xã hội còn h%m chứa nội dung bảo
đảm cuộc sống ấm no, ổn định của mọi th%nh viên trong đất nước, đặc biệt l%
những người yếu thế, nhóm xã hội có đời sống còn nhiều khó khăn; thực hiện an
sinh xã hội theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện gắn
tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội; phát triển kinh tế đi đôi với phát triển
văn hoá - xã hội; thực hiện tiến bộ v% công bằng xã hội ngay trong từng chính
sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch v% từng giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường.
Đây l% đặc trưng phản ánh thuộc tính quan trọng mang tính định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, bởi tiến bộ v% công bằng xã hội vừa
l% điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, vừa l% mục tiêu
thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa m% chúng ta phải hiện thực
hoá từng bược trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ng%y nay ở các nước tư bản chủ nghĩa người ta cũng đặt ra vấn đề giải quyết công
bằng xã hội. Song, thực chất nó chỉ được đặt ra khi tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường đã l%m gay gắt các vấn đề xã hội, tạo ra sự bùng nổ các vấn đề xã hội, đe
doạ sự tồn vong của chế độ tư bản. Vì vậy, họ giải quyết vấn đề xã hội chỉ trong
khuôn khổ tính tư bản chủ nghĩa, cách thức để duy trì sự phát triển của chế độ tư
bản chủ nghĩa. Còn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải
quyết công bằng xã hội không chỉ l% phương tiện để duy trì sự tăng trưởng ổn định;
m% còn l% mục tiêu phải hiện thực hoá. Do đó, ở bất cứ giai đoạn n%o, mỗi chính
sách kinh tế đều phải hướng đến mục tiêu phát triển xã hội v% mỗi chính sách xã
hội cũng nhằm phải tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; phải coi trọng đầu
tư cho các vấn đề xã hội (giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục, thể thao,..) l% đầu tư cho
sự phát triển bền vững. Hướng tới khi nền kinh tế phát triển cao mới thực hiện tiến
bộ v% công bằng xã hội, v% c%ng không thể “hy sinh” tiến bộ v% công bằng xã hội
để chạy theo tăng cường kinh tế đơn thuần.
Tuy nhiên thực hiện tiến bộ v% công bằng xã hội không phải c%o bằng hay kiểu
bình quân, chia đều các của cải nguồn lực tạo ra bất chấp chất lượng, hiệu quả sản
xuât kinh doanh v% sự đóng góp của mỗi người cho sự phát triển chung của nền
kinh tế. Nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của tiến bộ xã hội, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng cũng như trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta xác định:
“Thực hiện tiến bộ v% công bằng xã hội ngay trong từng bước v% từng chính sách
phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục…, giải
quyết tốt vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”. Các đại hội Đảng gần
đây đều xác định con người vừa l% trung tâm chiến lược, vừa l% mục tiêu, động lực
của phát triển; thực hiện công bằng v% tiến bộ xã hội ngay trong từng bước, từng
chính sách phát triển. Cụ thể:
-Ngay từ Đại hội VI (năm 1986) của Đảng, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với
việc giải quyết các mục tiêu xã hội nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội được
đặt ra: “Trình độ phát triển kinh tế l% điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã
hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại l% mục đích của các hoạt động kinh tế”; do
đó, cần “thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng v% Nh% nước về sự
thống nhất giữa chính sách kinh tế v% chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ
yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”
-Đến đại hội XI (năm 2011), sự phát triển nhanh v% bền vững trở th%nh yêu cầu
xuyên suốt, đồng thời, chỉ rõ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ
v% công bằng xã hội v% bảo vệ môi trường
-Năm 2016, Đại hội XII của Đảng có nhiều bước phát triển mới về nhận thức, quan
điểm, khi khẳng định: “Phát triển nhanh v% bền vững (hướng tới các mục tiêu phát
triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc); giải quyết h%i hòa giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ v% công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”
-Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Gắn kết chặt chẽ, h%i hòa giữa phát triển kinh tế
với phát triển văn hóa v% thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân”.
-Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng phát triển tiếp tục nắm vững v% xử lý
tốt mối quan hệ lớn “giữa tăng trưởng kinh tế v% phát triển văn hóa, thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”.
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua tình trạng
kém phát triển, trở th%nh quốc gia đang phát triển với thu nhập trung bình v% tốc độ
tăng trưởng kinh tế khá cao; việc quản lý, phát triển xã hội luôn được gắn liền với
nhiệm vụ thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Một số th%nh tựu có thể kể đến như sau:
-Nhận thức v% kết quả trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội của các cấp, ng%nh
v% to%n dân được nâng lên, được thể hiện qua các các chỉ tiêu về giảm thiểu bất
bình đẳng giới, rút ngắn khoảng cách gi%u, nghèo (điển hình l% Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025) được thực hiện trên
phạm vi cả nước, trọng tâm l% các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn ở vùng bãi
ngang, ven biển v% hải đảo; sự phân phối thu nhập được giữ trong ngưỡng khá an
to%n so với các nước cùng khung thu nhập. Đồng thời, mục tiêu thiên niên kỷ về
xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực v% thiếu đói được ho%n th%nh; tỷ lệ hộ nghèo
giảm dần theo thời gian cùng quá trình tăng trưởng kinh tế, tổng số hộ nghèo cả
nước khoảng 609 nghìn hộ (còn 2,23%).
-Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc l%m có xu hướng giảm dần (tỷ lệ thất
nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực th%nh thị giảm từ 4,3%
(năm 2010) xuống còn khoảng 3,1% (năm 2019), đến năm 2021 l% 3,22%). Bên
cạnh đó, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 60,9% (năm 2010) lên 91%
(năm 2021); tuổi thọ trung bình đạt 76,3 tuổi, số năm sống khỏe sau tuổi 60 đạt
17,2 năm (đứng thứ 42/183 nước).
-Hiện nay, nước ta đã thực hiện nhiều nỗ lực mạnh mẽ trong bảo đảm bình đẳng
giới thông qua các luật, chiến lược v% chính sách, được thể hiện trong hầu hết các
lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới văn hóa, xã hội; tỷ lệ phụ nữ tham gia v%o Quốc
hội nhiệm kỳ 2021 - 2026 l% 30,26%(20), tăng 3,54% so với nhiệm kỳ trước (trở
th%nh nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25% trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương).
- Lĩnh vực giáo dục, phát triển con người được đặc biệt chú trọng thông qua nhiều
định hướng, chính sách; giáo dục - đ%o tạo được xác định l% quốc sách h%ng đầu.
Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người, nước ta
tập trung ho%n th%nh nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học (năm
2000) v% phổ cập giáo dục trung học cơ sở (năm 2010); số lượng sinh viên đại học,
cao đẳng tăng gần 18 lần trong 36 năm qua; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15
đến 60 trên cả nước đạt 97,85%; 90,8% số người mới biết chữ tiếp tục học tập v%
không tái mù chữ trở lại; đồng thời, 63/63 tỉnh, th%nh phố đạt chuẩn phổ cập giáo
dục tiểu học mức độ 2; có 21/63 tỉnh, th%nh phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu
học mức độ 3. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động đã qua đ%o tạo cũng có xu hướng tăng
đều qua các năm, đặc biệt l% lao động có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu mới của
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội luôn phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ yêu cầu của sự phát triển to%n diện nhằm đạt
được những mục tiêu phát triển trong đa dạng các chiều cạnh xã hội, lĩnh vực hoạt
động của con người, các mối tương quan về lợi ích v% điều kiện phát triển (kinh tế,
xã hội, văn hóa, lịch sử,…). Bên cạnh đó, hiện nay, nhiều trở ngại, điểm nghẽn
xuất hiện, đặc biệt l% việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm
cách chống phá, phủ nhận những nỗ lực, th%nh quả của Đảng v% Nh% nước v% nhân
dân ta; cố tình bôi đen về một Việt Nam “thụt lùi”, “không có dân chủ”, “nhân
quyền”, “thiếu tiến bộ, công bằng xã hội”(?!) bằng thủ đoạn cắt ghép, ngụy tạo
hòng l%m trầm trọng hóa tình trạng khó khăn, phân hóa, chênh lệch gi%u
nghèo,....Vì vậy để khắc phục những hạn chế, bất cập đó, đồng thời đẩy mạnh hơn
nữa sự tiến bộ v% công bằng xã hội, Đảng v% Nh% nước cần đưa ra những chính
sách v% chủ trương thực hiện tiến bộ xã hội trong từng bước đi của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ng%y c%ng thể hiện tính ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa đang được Đảng, nhân dân đồng thuận xây dựng.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/
2018/827488/thuc-hien-tien-bo%2C-cong-bang-xa-hoi-gop-phan-hien-thuc-hoa-
ban-chat-tot-dep-cua-che-do-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam.aspx
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/823675/
phat-trien-kinh-te-di-doi-voi-tien-bo-va-cong-bang-xa-hoi.aspx