Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI:
GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Nhóm thực hiện Nhóm 5 Mã lớp học phần 251_HCMI0111_17 Giảng viên hướng dẫn
ThS. Nguyễn Thị Lan Phương Hà Nội – 2025 ĐÁNH GIÁ THẢO LUẬN MSSV WORD TRẢ THUYẾT PHẢN LỜI STT Thành viên Nhiệm vụ SLIDE TRÌNH BIỆN CÂU HỎI 23D131031 Mở đầu + Kết KIỀU luận 1 BÌNH Danh mục MINH tài liệu tham khảo 23D131083 1.1.TTHCM VŨ MAI về độc lập 2 x LINH dân tộc và CNXH 23D131026 1.2.TTHCM về ĐCSVN NGUYỄN và nhà nước 3 THỊ BẢO của nhân x LINH dân, do nhân dân, vì nhân dân 23D131082 1.3.TTHCM về đại đoàn kết dân tộc 3.1. Thực tiễn PHẠM sự nghiệp NGUYỄN đổi 4 mới ở KHUÊ Việt Nam LINH cần vận dụng sâu sắc giá trị và tầm vóc của TTHCM 23D131030 1.4.1+1.4.2. BẠCH TTHCM về 5 TUYẾT văn hóa, x MAI đạo đức 23D131084 1.4.3. TTHCM về con người 3.2.3. Vận dụng TTHCM trong công cuộc đổi mới ở VN hiện nay về văn hóa, PHẠM THỊ giáo dục, 6 PHƯƠNG x đạo đức LY 3.2.4. Vận dụng TTHCM trong công cuộc đổi mới ở VN hiện nay về hội nhập quốc tế (ngoại giao đa phương) 23D131081 2.1. Giá trị x NGUYỄN TTHCM THỊ 7 LINH đối với cách x x mạng (NT) Việt Nam 23D131085 2.2. Gía trị x ĐẶNG TTHCM đối với TUYẾT sự 8 phát MAI triển tiến bộ của (Thư Ký) nhân loại (thế giới) 23D131029 3.2.1. Vận dụng TTHCM trong công cuộc đổi mới ở VN hiện nay về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện ĐÀO THỊ nay 9 LUYÊN 3.2.2. Vận dụng TTHCM trong công cuộc đổi mới ở VN hiện nay về phát triển kinh tế - xã hội
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 5 STT Họ và Lớp Mã sinh Nhiệm
Mức độ đánh giá thực hiện tên hành viên vụ NHẬN XÉT Đánh chính giá 1 Vũ Mai K59EE2 23D131083 Nội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ và A Linh dung,
đúng thời hạn được giao phản Chất lượng bài tốt biện
Tích cực tham gia đóng góp 2 Đào Thị K59EE1 23D131029 Nội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ và A Luyên dung,
đúng thời hạn được giao thuyết Chất lượng bài tốt trình
Tích cực tham gia đóng góp 3 Phạm K59EE2 23D131084 Nội Hoàn thành nhiệm vụ và A Thị dung,
đúng thời hạn được giao Phương slides
Chất lượng bài khá, nội dung Ly Word còn phải sửa nhiều
Tích cực tham gia đóng góp 4 Bạch K59EE1 23D131030 Nội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ và A Tuyết dung,
đúng thời hạn được giao Mai slides Chất lượng bài tốt
Tích cực tham gia đóng góp 5 Đặng K59EE2 23D131085 Nội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ và A Tuyết dung,
đúng thời hạn được giao Mai tổng Chất lượng bài tốt hợp Tích cực tham gia đóng Word góp 6 Kiều K59EE1 23D131031 Nội Hoàn thành nhiệm vụ và B Bình dung
đúng thời hạn được giao Minh Chất lượng bài khá 7 Nguyễn K59EE2 23D131086 Nội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ và A Thị dung,
đúng thời hạn được giao Linh tổng Chất lượng bài tốt (NT) hợp Tích cực tham gia đóng Word, góp slides 8 Nguyễn K59EE1 23D131032 Nội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ và A Thị Bảo dung,
đúng thời hạn được giao Linh phản Chất lượng bài tốt biện
Tích cực tham gia đóng góp 9 Phạm K59EE1 23D131033 Nội Hoàn thành nhiệm vụ và B Nguyễn dung
đúng thời hạn được giao Khuê
Chất lượng bài khá, nội dung Linh word còn phải sửa nhiều
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2025 BIÊN BẢN HỌP NHÓM I. Thời gian, địa điểm 1.
Thời gian: 21h00 ngày 15/09/2025 2.
Địa điểm: Họp online (Google meet) II. Thành phần tham gia 1. Nguyễn Thị Linh (NT) 2. Nguyễn Thị Bảo Linh 3. Phạm Nguyễn Khuê Linh 4. Vũ Mai Linh 5. Đào Thị Luyên 6. Phạm Thị Phương Ly 7. Bạch Tuyết Mai 8. Đặng Tuyết Mai (Thư ký) 9. Kiều Bình Minh III. Nội dung cuộc họp
Đóng góp ý kiến, hoàn thiện đề cương thảo luận
Phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên trong nhóm IV. Đánh giá
Các thành viên trong nhóm đóng góp ý kiến tích cực, nhiệt tình. Buổi họp
kéo dài từ 21h00 - 22h00 (15/09/2025) Thư ký Nhóm trưởng Mai Linh Đặng Tuyết Mai Nguyễn Thị Linh MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN .........................................................2
1.1. Khái niệm tư tưởng HCM ............................................................................ 2
1.1.1. Định nghĩa ................................................................................................ 2
1.1.2. Những nội hàm cơ bản .............................................................................2
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh ................................................................. 2
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và thời kỳ quá
độ lên CNXH ở Việt Nam .............................................................................................2
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐCSVN và nhà nước của dân, do dân, vì dân
........................................................................................................................................6
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc ....................................10
1.2.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, đạo đức, con người ...................... 11
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH .......................................14
2.1. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam ................. 14
2.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh đưa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
đến thắng lợi và bắt đầu xây dựng một xã hội mới trên đất nước ta .......................... 14
2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách
mạng Việt Nam ............................................................................................................15
2.2. Giá trị tư tưởng HCM đối với sự phát triển tiến bộ của nhân loại ....... 16
2.2.1. Tư tưởng HCM góp phần mở ra cho các dân tộc thuộc địa con đường
giải phóng dân tộc gắn với sự tiến bộ xã hội .............................................................. 16
2.2.2. Tư tưởng HCM góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc,
dân chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển trên thế giới .................................................18
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ VẬN DỤNG ......................................................20
3.1. Thực tiễn sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam cần vận dụng sâu sắc giá trị và
tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh .............................................................................20
3.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ở VN hiện
nay ................................................................................................................................... 21
3.2.1. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay .................................................. 21
3.2.2. Phát triển kinh tế - xã hội .......................................................................23
3.2.3. Văn hoá, giáo dục, đạo đức ....................................................................24
3.2.4. Hội nhập quốc tế (ngoại giao đa phương) ............................................. 27
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 30 LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh là nhà cách mạng kiệt xuất, người
sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời để lại di sản vô giá – tư tưởng
Hồ Chí Minh. Đây là hệ thống quan điểm toàn diện, khoa học và cách mạng về con
đường giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước, bồi dưỡng con người và văn hóa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác
– Lênin, truyền thống văn hóa yêu nước, nhân văn của dân tộc cùng tinh hoa văn hóa
nhân loại và kinh nghiệm cách mạng thế giới. Vì vậy, tư tưởng của Người vừa mang tính
khoa học, cách mạng, vừa đậm tính dân tộc và nhân văn, trở thành kim chỉ nam cho hành
động của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những biến động phức tạp hiện nay, việc nghiên
cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thiết thực. Điều này giúp thế hệ
trẻ củng cố niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa, gắn lý luận với thực tiễn, truyền
thống với hiện đại, góp phần vào công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Do đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, trở thành nội dung quan trọng trong học tập, rèn luyện của sinh
viên và của toàn dân tộc. 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm tư tưởng HCM 1.1.1. Định nghĩa
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần
vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Cộng sản Việt Nam năm 2011).
1.1.2. Những nội hàm cơ bản
Khái niệm trên đây chỉ rõ nội hàm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở hình
thành cũng như ý nghĩa của tư tưởng đó. Cụ thể:
- Bản chất khoa học và cách mạng cũng như nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh: đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam, từ đó phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam.
- Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa Mác - Lênin - giá trị cơ bản
nhất trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh; các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại.
- Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá
của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành làm
nên nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
1.2.1.1. Cách mạng giải phóng dân tộc
- Mục tiêu, tính chất và nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc
Ở các nước thuộc địa phương Đông, sự phân hóa giai cấp có những điểm khác so
với các nước tư bản phương Tây. Trong xã hội thuộc địa phương Đông, mâu thuẫn cơ bản 2
và sâu sắc nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân. Do đó, đối
tượng chủ yếu của cách mạng thuộc địa là chủ nghĩa thực dân và các thế lực tay sai phản
động. Yêu cầu bức thiết nhất của nhân dân các nước thuộc địa là giành lại độc lập dân tộc.
Chính vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm của cách mạng ở các nước thuộc địa là giải
phóng dân tộc, đưa đất nước thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành lại
quyền tự quyết cho dân tộc. Mục tiêu cao nhất của cách mạng giải phóng dân tộc theo tư
tưởng Hồ Chí Minh là đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do
cho dân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân – chính quyền của dân, do dân và vì dân.
- Lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc
Từ thực tiễn phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh
đã rút ra bài học sâu sắc từ sự thất bại của các con đường cứu nước trước đó. Các khuynh
hướng phong kiến và tư sản đều không đem lại thắng lợi vì không đáp ứng được yêu cầu
lịch sử của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ bị thực dân xâm lược. Người nhận thấy rằng
cách mạng tư sản là không triệt để: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là
cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong
thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Bởi lẽ đó, Người không lựa
chọn con đường cách mạng tư sản. Qua nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917, Hồ Chí Minh khẳng định đây không chỉ là một cuộc cách mạng vô sản, mà còn là
một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Người “hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ
ba”, bởi vì V.I. Lênin và Quốc tế thứ ba đã “bênh vực cho các dân tộc bị áp bức”. Từ đó,
Hồ Chí Minh khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản. Đây là con đường cách mạng triệt để nhất, gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đưa dân tộc đi tới tự do, hạnh phúc và phát triển bền vững.
- Phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc
Trong phong trào cộng sản quốc tế, từng tồn tại quan điểm cho rằng thắng lợi của
cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản
ở chính quốc. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã phát triển và bổ sung sáng tạo lý luận này.
Theo Người, giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính
quốc có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau, chứ không
phải quan hệ phụ thuộc hoặc quan hệ chính phụ. Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò chiến 3
lược của cách mạng thuộc địa và sức mạnh dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng
giải phóng dân tộc ở thuộc địa hoàn toàn có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở
chính quốc. Đây là một luận điểm sáng tạo có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cống
hiến quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.
- Tính tất yếu của bạo lực cách mạng
Xuất phát từ thực tiễn các thế lực đế quốc dùng bạo lực để thống trị thuộc địa, đàn
áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng con
đường để giành và giữ vững độc lập dân tộc không thể không sử dụng bạo lực cách mạng.
Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tran
h gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và
của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy
chính quyền và bảo vệ chính quyền.”
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin coi sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân.
Bạo lực cách mạng được thể hiện kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ
trang, trong đó đấu tranh chính trị giữ vai trò nền tảng, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh vũ
trang để tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
1.2.1.2. Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
a) Loại hình, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng
giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Đây là con đường tất yếu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều
kiện lịch sử cụ thể của dân tộc ta.
Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là “từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, kinh tế kém phát triển, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà không phải trải qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa”. Điều đó quy định tính chất “lâu dài, phức tạp, khó khăn,
gian khổ” của thời kỳ quá độ.
b) Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam 4
Đấu tranh cải tạo, xoá bỏ tàn tích của chế độ xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới
phù hợp với các quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó:
- Về chính trị: xây dựng được chế độ dân chủ; chống tất cả các biểu hiện của chủ
nghĩa cá nhân; bồi dưỡng, giáo dục để nhân dân có tri thức, có năng lực làm chủ chế độ xã hội.
- Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại.
- Về văn hoá: tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế
quốc; xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng.
- Về các quan hệ xã hội: triệt để những quan hệ cũ; xây dựng được một xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh.
c) Biện pháp xây dựng CNXH tron
g thời kỳ quá độ ở Việt Nam - Nguyên tắc:
+ Mọi tư tưởng, hành động phải được thực hiện trên nền tảng chủ nghĩa Mác -
Lênin: Người luôn nhắc nhớ, khuyến khích, động viên mọi người phải không ngừng “học
tập lập trường, quan điểm và phương pháo của chủ nghĩa Mác - Lênin”, phải “cụ thể hoá
chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”.
+ Phải giữ vựng độc lập dân tộc: Đây là mục tiêu trước hết của mỗi dân tộc; còn
đặt trong mối quan hệ với CNXH thì độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện
CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc trường tồn với đầy đủ
ý nghĩa chân chính của nó.
+ Phải đoàn kết, học tập kinh nghiệm của các nước anh em: “sự đoàn kết giữa lực
lượng các nước XHCN và sự đoàn kết nhất trí giữa các đảng cộng sản và công nhân tất cả
các nước có ý nghĩa quan trọng bậc nhất” song không được áp đặt một cách máy móc mà
phải vận dụng nó một cách sáng tạo.
+ Xây phải đi đôi với chống: Theo Hồ Chí Minh, muốn đạt được và giữ được
thành quả của cách mạng thì cùng với việc xây dựng các lĩnh vực của đời sống xã hội
phải chống lại mọi hình thức của các thế lực cản trở, phá hoại sự phát triển của cách mạng. 5
- Phương châm thực hiện:
+ Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa
xã hội” không có nghĩa là nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn, mà phải tiến từng bước
vững chắc, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.
+ Người đặc biệt coi trọng vai trò của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa – đây là
nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ. - Biện pháp cụ thể
+ Phải kết hợp cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực,
trong đó xây dựng là chủ yếu, cơ bản và lâu dài.
+ Kết hợp xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược khác
nhau trong phạm vi một quốc gia, phù hợp với đặc điểm từng vùng.
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kế hoạch, biện pháp và quyết tâm cao, như
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chỉ tiêu một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi.”
+ Chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, nên
phải “đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”; Nhà nước giữ vai trò tổ chức,
hướng dẫn, giúp đỡ chứ không làm thay dân.
+ Phát huy cao độ mọi tiềm năng và nguồn lực trong nhân dân để phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm “làm cho người nghèo đủ ăn, người đủ ăn thì
khá giàu, người giàu thì giàu thêm”, tiến tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của toàn dân.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐCSVN và nhà nước của dân, do dân, vì dân
1.2.2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam
- Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh
+ Theo Lênin, Đảng Cộng Sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
+ Hoàn cảnh lịch sử: Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước ở Việt Nam nổ ra
sôi nổi với phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Châu
Trinh, khởi nghĩa Yên Thế, khởi nghĩa Yên Bái,..Tuy nhiên, tất cả đều thất bại. Nguyên
nhân cơ bản là do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo đủ bản lĩnh, có hệ
tư tưởng cách mạng khoa học. 6
→ Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng muốn thành công hết phải có Đảng cách mệnh, để tron
g thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp lực
và vô sản giai cấp mọi nơi”.
+ Vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam, Hồ Chí Minh xác định: Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp
chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
+ Sự kết hợp của ba yếu tố:
Chủ nghĩa Mác Lê-nin: cung cấp lý luận cách mạng khoa học, là kim chỉ nam cho hành động.
Phong trào công nhân: đại diện cho lực lượng xã hội tiến bộ, có khả năng lãnh đạo cách mạng.
Phong trào yêu nước Việt Nam: nguồn động lực mạnh mẽ, truyền thống ngàn đời của dân tộc.
+ Vai trò của Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người đã
thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt
Nam (03/02/1930). Đây được coi là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt tình trạng khủng hoảng
về đường lối cứu nước.
- Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công
nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai công nhân. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp công nhân là
“bản chất cấp 1” của Đảng Cộng Sản; đồng thời, Đảng Cộng Sản còn có những bản chất ở
cấp độ khác như “bản chất nhân dân lao động” và “bản chất dân tộc”. Năm 1951, Hồ Chí
Minh đã nêu rõ: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động là một, chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.
Đảng không chỉ đấu tranh vì lợi ích của giai cấp công nhân mà còn đấu tranh cho
quyền lợi của tập thể, của dân tộc. Đảng đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc nên nhân
dân Việt Nam coi Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình. 7
Đảng kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, song không rập khuôn máy móc, mà vận
dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa Mác –
Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới sự thành lập
Đảng Cộng sản Đông Dương”.
- Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam
Là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam: Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, mở ra kỷ nguyên mới độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ thắng lợi, thống nhất đất nước. Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới.
Đảng tổ chức và định hướng cách mạng: Đề ra đường lối chiến lược, sách lược phù
hợp với từng thời kỳ. Huy động, đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH.
Điều kiện để Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo: Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đảng
muốn làm tròn sứ mệnh lãnh đạo thì phải “thật sự tron
g sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với nhân dân”.
+ Đảng phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, quan liêu.
+ Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu.
+ Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa có đạo đức cách
mạng, vừa có trình độ chuyên môn - tức “vừa hồng vừa chuyên”.
1.2.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân. - Nhà nước của dân
Nhà nước của nhân dân nghĩa là “dân là chủ”, toàn bộ quyền lực trong nhà nước
và xã hội đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao, là chủ nhân của đất nước.
Người từng viết: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu
quyền hạn đều của dân. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Khác với nhà nước
phong kiến, nơi quyền lực phục vụ giai cấp thống trị ngoại bang, nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà đặt nhân dân vào vị trí trung tâm. Người dân có quyền kiểm soát nhà nước,
cử tri bầu ra các đại biểu, uỷ quyền cho các đại biểu quyết định những vấn đề quốc kế, 8
dân sinh. Quan niệm “của dân” là xác định vị thế của dân - dân là chủ và nghĩa vụ của dân - dân làm chủ. - Nhà nước do dân
Nhà nước Việt Nam do chính nhân dân lập nên “dân làm chủ”, thông qua bầu cử
phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Điều này thể hiện rõ ngay trong Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội khóa I ngày 06/01/1946, khi mọi công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở
lên, không phân biệt nam nữ, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, đều có quyền đi bầu cử. Đây là
cuộc tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc, thể hiện ý chí và nguyện vọng
của toàn thể nhân dân. Tính “do dân” còn thể hiện ở chỗ, nhà nước chỉ tồn tại nhờ sự ủng
hộ và đóng góp của nhân dân, từ việc đóng thuế, tham gia xây dựng chính quyền cơ sở
đến việc bảo vệ Tổ quốc khi cần thiết.
Đồng thời, nhân dân còn có quyền kiểm tra, giám sát, thậm chí bãi miễn những đại
biểu hoặc cán bộ nhà nước không còn giữ được phẩm chất, năng lực, hoặc xa rời nhân
dân. Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà.
Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ”. Nhà nước do nhân dân không chỉ
tuyên bố quyền làm chủ của nhân dân, cũng không chỉ đưa nhân dân tham gia công việc
nhà nước, mà còn chuẩn bị và động viên nhân dân chuẩn bị tốt năng lực làm chủ, quan
điểm đó thể hiện tư tưởng dân chủ triệt để của Hồ Chí Minh khi nói về nhà nước do nhân dân. - Nhà nước vì dân
Là bản chất cao đẹp nhất của chế độ mới, Nhà nước tồn tại không phải để áp bức,
bóc lột hay thống trị nhân dân, mà để phục vụ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân. Người
nhiều lần nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì
hết sức tránh”. Đây vừa là nguyên tắc chỉ đạo vừa là tiêu chuẩn đánh giá mọi chính sách,
pháp luật và hành động của bộ máy nhà nước. Theo Hồ Chí Minh, một nhà nước vì dân
phải chăm lo đời sống của dân cả về vật chất lẫn tinh thần, từ việc xây dựng kinh tế, giáo
dục, y tế, văn hóa, đến bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
Tư tưởng “vì dân” cũng gắn liền với yêu cầu về phẩm chất của đội ngũ cán bộ,
công chức – những người trực tiếp thực hiện công việc của nhà nước. Hồ Chí Minh coi
cán bộ là “công bộc của dân”, là người đầy tớ trung thành của nhân dân, chứ không phải
“quan cách mạng”. Người căn dặn cán bộ phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gần dân, trọn
g dân, học dân và lắng nghe dân”. Bất cứ biểu hiện quan liêu, đặc quyền, 9
tham nhũng, cửa quyền nào cũng đi ngược lại bản chất “vì dân” của nhà nước. Hồ Chí
Minh từng nói: “làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu”, đồng thời chỉ rõ:
“muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi
của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.2.3.1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược: Đại đoàn kết dân tộc trong tư
tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên
suốt tiến trình cách mạng. Để quy tụ một lực lượng tạo thành khối thống nhất đem lại sức
mạnh tổng hợp toàn dân tộc cần phải có chính sách và phương pháp tập hợp phù hợp với
từng đối tượng, từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng.
Đại đoàn kết dân tộc có vai trò quyết định sự thành công của cách mạng: Qua thực
tiễn quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn
kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng
lợi”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”,...
Người khái quát nhiều luận điểm mang tính chân lý về vai trò và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc: Đại
đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả
dân tộc. Đại đoàn kết phải được quán triệt trong đường lối, chủ trương, chính sách và hoạt
động thực tiễn của Đảng. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dần
quần chúng, chuyển những nhu cầu khách quan, tự phát của quần chúng thành hiện thực
có tổ chức trong khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp cách mạng dân tộc.
1.2.3.2. Lực lượng và điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Lực lượng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân tức là
phải tập hợp, đoàn kết được toàn thể nhân dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt dân
tộc, giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, lứa tuổi… Ta đoàn kết để đấu tranh thống nhất 10
và độc lập Tổ quốc, hướng vào mục tiêu chung. Vậy “ai có tài, có đức, có sức, có lòng
phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.
Lực lượng nòng cốt cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí
Minh là “liên minh công - nông - trí thức”. Người khẳng định lực lượng làm nền tảng cho
khối đại đoàn kết dân tộc.
- Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
+ Phải lấy lợi ích chung làm điểm quy tụ, đồng thời tôn trọng các lợi ích khác biệt chính đáng.
+ Phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc.
+ Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người.
+ Phải có niềm tin vào nhân dân
1.2.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, đạo đức, con người 1.2.4.1. Văn hoá
Hồ Chí Minh nhìn nhận văn hoá như toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra để phục vụ sự tồn tại và phát triển. Văn hoá không chỉ là biểu hiện
của bản sắc dân tộc mà còn là sức mạnh tinh thần, định hướng cho tiến trình cách mạng.
Người khẳng định: “Văn hoá soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chí Minh, 2011, T.3, tr.
431). Như vậy, văn hoá vừa có vai trò nền tảng, vừa có chức năng dẫn dắt xã hội.
Hồ Chí Minh quan tâm đến việc xây dựng nền văn hoá mới với năm nội dung: xây
dựng tâm lý (Tinh thần độc lập tự cường); xây dựng luân lý (Biết hy sinh mình, làm lợi
cho quần chúng); xây dựng xã hội (Mọi sự nghiệp liên quan đến phúc lợi của nhân dân);
xây dựng chính trị (dân quyền); xây dựng kinh tế.
Theo Người, nền văn hoá mới của Việt Nam phải hội tụ ba đặc trưng cơ bản: tính
dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2021, tr. 214 - 218).
Tính dân tộc phải đảm bảo tính đặc trưng, không thể nhầm lẫn với các giá trị văn hoá
khác; tính khoa học thể hiện ở những giá trị tiên tiến, hiện đại, thuận với trào lưu, xu
hướng mới; tính đại chúng đảm bảo là sản phẩm sáng tạo của quần chúng và văn hoá phục vụ quần chúng.
Tư tưởng này được cụ thể hoá thành hai giai đoạn: văn hoá cứu quốc và văn hoá
kiến quốc. Nếu trong kháng chiến, văn hoá góp phần khơi dậy lòng yêu nước, cổ vũ đoàn 11