PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC
BÀI 1. GIÁO DỤC HỌC MỘT KHOA HỌC
I. Giáo dục học một khoa học về giáo dục con người
1. Giáo dục một hiện tượng hội đặc biệt
Để tồn tại phát triển con người cũng như mọi sinh vật khác phải luôn luôn
tự vận động và phát triển mọi tiềm năng sức mạnh bản chất của mình nhằm tạo
ra những điều kiện thuận lợi để thỏa mãn nhu cầu và thích ứng, hòa nhịp với môi
trường sống. Những thành tựu của sự vận động phát triển ấy không mất đi
được tích lũy dần, được củng cố và đề lại dấu vết
Đối với động vật, sự tích lũy được ghi lại trên đặc điểm cơ thể chúng, trong
các bản năng và truyền lại cho thế hệ sau bằng cơ chế di truyền.
con người, thành tựu phát triển của hội loài người không chỉ tích lũy
trong di truyền mà còn trong các kinh nghiệm lịch sử xã hội.
Kinh nghiệm lịch sử hội loài người kết quả của quá trình loài người
nhận thức thế giới và lao động tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và xã hội.
Ngay tkhi xuất hiện trên Trái Đất, để tồn tại con người phải lao động đấu
tranh chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Trong cuộc sống lao động hằng
ngày, con người nhận thức thế giới xung quanh, trước là để thích nghi với môi
trường sống, sau đó để khai thác cải tạo môi trường phục vụ cuộc sống của
mình. Trong quá trình đó loài người dần dần tích lũy được các kinh nghiệm lịch sử
xã hội.
Những kinh nghiệm lịch sử hội được biểu hiện bảo tồn dưới dạng
những giá trị vật chất (công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt, công trình kiến trúc…)
các gtrị tinh thần (ngôn ngữ, tri thức, năng lao động sản xuất, phong tục tập
quán, chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử…)
Khác với mọi sinh vật khác, hoạt động của con người mang tính kế thừa
sáng tạo. Để hội loài người tồn tại phát triển, những kinh nghiệm lịch s
hội phải được truyền đại lĩnh hội từ thế hệ này sang thế hkhác. Giáo dục nảy
sinh để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó của loài người. Nói cách khác, bản chất của
giáo dục quá trình truyền đạt lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử hội từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ có ở loài người.
2. Tính quy định của hội đối với giáo dục
Mục đích giáo dục do xã hội đặt ra tổ chức thực hiện thông qua giáo dục
Phương tiện giáo dục con người kinh nghiệm hội đã được khái quát
hóa thành các giá trị vật chất tinh thần mà ta gọi văn hóa.
Giáo dục những tính chất sau:
- Giáo dục một hiện tượng chỉ hội loài người (tính nhân bản).
Giáo dục xuất hiện, gắn cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, đâu
con người đó giáo dục (tính phổ biến). Khi nào còn tồn tại loài người, lúc đó
còn tồn tại giáo dục (tính vĩnh hằng).
- Giáo dục là hiện tượng mang tính lịch sử, giáo dục ra đời do nhu cầu của
lịch sử, một mặt bị quy định bởi trình độ phát triển của lịch sử hội, phản ánh
trình độ phát triển của lịch sử, mặt khác giáo dục khả năng tác động trở lại tới
tiến trình phát triển của lịch sử xã hội.
- Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi địa phương, cộng đồng dân đều có
truyền thống lịch sử, có nền văn hóa riêng, sắc thái riêng trong cuộc sống sinh hoạt
lao động. Chúng được truyền lại cho nhau thông qua nội dung, phương pháp
giáo dục, thể hiện nét trong sản phẩm giáo dục. Do đó giáo dục mang tính dân
tộc
3. Chức năng hội của giáo dục
a. Chức năng kinh tế sản xuất
Chức năng quan trọng nhất hội đặt ra cho giáo dục chức năng kinh
tế - sản xuất. Giáo dục không thực hiện trực tiếp chức năng này thông qua con
người, thông qua hệ thống nguồn nhân lực giáo dục đào tạo ra. Do đó được
trang bị hệ thống tri thức, năng, xảo thích hợp hiện đại, người học sẽ trở
thành những những người lao động trình độ, thông minh, khéo léo, trách
nhiệm, làm việc có hiệu quả hơn trong các lĩnh vực kinh tế sản xuất khác nhau.
Để thực hiện tốt chức năng kinh tế sản xuất, giáo dục phải thỏa mãn một số
yêu cầu cơ bản sau đây:
- Giáo dục phải gắn với sự phát triển kinh tế - sản xuất thỏa mãn các yêu cầu
phát triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể (hiện nay là phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước).
- Xây dựng một hệ thống ngành nghề cân đối, đa dạng phù hợp với sự phát triển
kinh tế - sản xuất của đất nước
- Hệ thống giáo dục quốc dân không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp,
phương tiện...Đào tạo đội ngũ giáo viên chuyên môn, nghiệp vụ phẩm chất
đạo đức đáp ứng yêu cầu mới của dân tộc và xã hội.
b. Chức năng chính trị - hi
Thông qua giáo dục, những tưởng hội được thấm đến từng con người,
giáo dục hình thành con người thế giới quan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp
với chuẩn mực đạo đức hội, với luật pháp. Từ đó giáo dục duy trì sự ổn định của
xã hội.
Chức năng chính trị - hội của giáo dục bao gồm những nội dung sau đây:
- Trang bị cho thế hđang lớn lên cũng như toàn thể hội lý tưởng phấn
đấu một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, hội công bằng, dân chủ,
văn minh”
- Thông qua việc nâng cao dân trí, nâng cao trình độ văn hóa cho toàn dân,
thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực góp phần xóa đói, giảm nghèo, góp phần
chuyển đổi cấu sản xuất, thay đổi cấu trúc, lao động hội tạo ra sự bình
đẳng trong các tầng lớp dân cư
- Góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản theo tinh thần “do dân
dân”.
c. Chức năng văn hóa ởng
Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra
trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - hội, các giá trị đó nói lên mức đ
phat triển của xã hội loài người
Chức năng văn hóa tư tưởng của giáo dục được thể hiện việc
- Giáo dục nâng cao trình độ nhận thức của người dân, xóa bỏ các phong tục
tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệ nạn hội, thực hiện kế hoạch hóa gia đình
và hình thành ở họ tư tưởng chấp hành luật pháp nghiêmc, tự giác
- Giáo dục hình thành và phát triển thế hệ trẻ bản sắc văn hóa dân tộc, đó
là tinh thần yêu nước, đoàn kết, lòng nhân ái, hiếu học, chăm chỉ, cần kiện…
- Giáo dục thỏa mãn nhu cầu học tập suốt đời của mỗi người dân. Do đó
giáo dục không còn một phúc lợi hội một quyền bản của mỗi thành
viên trong xã hội.
II. Giáo dục mt khoa học
1. Đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học
a. Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học
Giáo dục một hiện tượng hội, tính phức tạp về nhiều mặt, nhiều khía
cạnh và đã có nhiều ngành khoa học đi nghiên cứu nó như kinh tế học, xã hội học,
triết học…Song những nghiên cứu này chưa đề cập tới được bản chất của giáo dục,
tới những quan hệ của các quá trình phát triển con người như một nhân cách, tới sự
phối hợp giữa nhà giáo dục với người được giáo dục trong quá trình phát triển đó,
cùng với các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển. Việc nghiên cứu các khía cạnh
nêu trên cần phải có khoa học chuyên ngành nghiên cứu, đó là giáo dục học.
Như vậy, Giáo dục học được coi là khoa học nghiên cứu bản chất, quy luật,
các khuynh hướng và tương lai phát triển của quá trình giáo dục, với các nhân tố
và phương tiện phát triển con người như một nhân cách trong suốt toàn bộ cuộc
sống. Trên sở đó, Giáo dục học nghiên cứu luận cách tổ chức quá trình đó,
các phương pháp, hình thức hoàn thiện hoạt động của nhà giáo dục, các hình thức
hoạt động của người được giáo dục, đồng thời nghiên cứu sự phối hợp hành động
của nhà giáo dục với người được giáo dục.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu của Giáo dục học
Bất cứ một khoa học nào cũng bao gồm một hệ thốngc nhiệm vụ cần giải
quyết. Giáo dục học là một khoa học cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng giáo dục,
phân biệt các mối quan hệ tính quy luật tính ngẫu nhiên. Tìm ra các quy luật
chi phối quá trình giáo dục để tổ chức chúng đạt hiệu quả tối ưu.
- Giáo dục học nghiên cứu dự báo twong lai gần và tương lai xã của giáo dục,
nghiên cứu xu thế phát triển mục tiêu chiến lược của giáo dục trong mỗi giai
đoạn phát triển của xã hội để xây dựng chương trình giáo dục đào tạo.
- Nghiên cứu xây dựng các lí thuyết giáo dục mới, hoàn thiện các mô hình giáo
dục, dạy học, phân tích kinh nghiệm giáo dục, tìm ra con đường ngắn nhất c
phương tiện để áp dụng chúng vào thực tiễn giáo dục
- Trên sở các thành tựu của khoa học công nghệ, Giáo dục học còn nghiên
cứu tìm tòi phương pháp phương tiện giáo dục mới nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục.
Ngoài ra còn rất nhiều các nhiệm vụ khác phạm vi khía cạnh cụ thể
(kích thích tính tích cực học tập của học sinh, nguyên nhân của việc kém nhận
thức, các yếu tố lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, tiêu chuẩn giáo viên…)
2. Các khái niệm bản của giáo dục học
Khi nhắc đến giáo dục học với cách một khoa học, chúng ta không
nhắc đến các khái niệm, phạm trù của nó. Đây chính những viên gạch để đầu
tiên trong việc nghiên cứu và tổ chức quá trình giáo dục đào tạo.
Trong học phần này sẽ phân tích những khái niệm bản của giáo dục học
là giáo dục (nghĩa rộng), dạy học, giáo dục (nghĩa hẹp)
a. Giáo dục (nghĩa rộng)
Giáo dục (nghĩa rộng)là quá trình tổ chức một cách mục đích, kế
hoạch, thông qua các hoạt động các quan hệ giữa n giáo dục người được
giáo dục, nhằm phát triển sức mạnh vật chất tinh thần của thể hệ đang lớn lên,
trên sở giúp họ chiếm lĩnh những kinh nghiệm lịch sử hội của loài người.
Việc tổ chức quá trình đó chủ yếu do những người có kinh nghiệm,
chuyên môn, gọi nhà giáo dục, nhà phạm đảm nhiệm. Nơi tổ chức chủ yếu
quá trình đó gọi là nhà trường.
Quá trình giáo dục bao gồm ba thành phần cơ bản: thầy giáo, học sinh tài
liệu giáo khoa. Quá trình giáo dục không thể xảy ra nếu thiếu một trong ba thành
phần này.
b. Dạy học
Dạy học một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng) quá trình tác
động qua lại giữa giáo viên học sinh, nhằm truyền thụ lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử hội loài người (kiến thức, năng, xảo…) để phát triển những
năng lực phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục
Thế mạnh của dạy học hình thành hệ thống tri thức (bao gồm các khái
niệm, phạm trù, quy luật, phương pháp nhận thức…), hình thành các năng
xảo chung riêng, làm sở cho việc hình thành năng lực chung, năng lực
chuyên biệt và phẩm chất của người học.
Trong dạy học, những kinh nghiệm đồ sộ của hội loài người thể được
khái quát hóa và truyền thụ cho thế hệ đang lớn lên trong một thời gian ngắn và
hệ thống. Nhờ đó, họ điều kiện để kế thừa phát triển sức mạnh tinh thần
vật chất của bản thân và góp phần vào việc phát triển xã hội
c. Quá trình giáo dục (nghĩa hẹp)
Quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) một bộ phận của quá trình giáo dục
(nghĩa rộng), quá trình hình thành niềm tin, tưởng, tình cảm, thái độ…
Việc hình thành tưởng, niềm tin, thái độ…là thế mạnh của quá trình giáo
dục thường được tiến hành thông qua sinh hoạt tập thể, các hoạt động xã hội,
lao động xã hội công ích, trong và ngoài nhà trường.
* Một số đặc trưng của dạy học giáo dục (nghĩa hẹp)
Dạy học
Giáo dục nghĩa hẹp
-Về chức năng, nhiệm vụ
thế mạnh trong việc hình thành
các biểu tượng, khái niệm, định luật,
thuyết, các kỹ năng, xảo chung
riêng, nghĩa ảnh hưởng thiên về
trí tuệ, nhận thức
thể mạnh trong việc hình thành niềm tin,
chuẩn mực, tưởng, động cơ, nguyên tắc
hành vi đạo đức, lao động thẩm mỹ…
nghĩa ảnh hưởng thiên về thái độ, xúc
cảm, tâm hồn
- Về nội dung tổ chức
Chương trình, kế hoạch dạy học được
quy định chặt ch
Nội dung giáo dục chỉ mang tính định
hướng: thể một sinh hoạt văn hóa,
chính trị, hội, lao động, nghệ thuật, thể
thao, du lịch…có tính chất quần chúng. Nội
dung giáo dục được xác định chủ yếu dựa
theo nhu cầu xã hội, nguyện vọng hứng
thú của tập thể học sinh lứa tuổi khác
nhau. Người thầy kết hợp học sinh với phụ
huynh để lựa chọn cac hoạt động giáo dục
nhằm đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện.
- Về hình thức tổ chức
Khi dạy học, các hình thức thường
được sử dụng là: giờ lên lớp, xemina,
thực hành, thí nghiệm…
Trong quá trình giáo dục thi các hình thức
thường được sử dụng là: sinh hoạt tập thể,
hoạt động hội, tham quan, lao động
hội - công ích…
- Về quản (người tổ chức)
Người lãnh đạo quá trình dạy học chủ
yếu là thầy giáo
Người lãnh đạo đại diện của tập thể học
sinh như lớp trưởng, cán bộ đoàn, đội với sự
giúp đỡ của các thầy giáo chủ nhiệm.
* Mối quan hệ giữa dạy học quá trình giáo dục (nghĩa hẹp)
Mối quan hệ giữa quá trình giáo dục (QTGD) theo nghĩa rộng, quá trình dạy
học (QTDH) và QTGD theo nghĩa hẹp có thể biểu hiện dưới dạng sau:
QTGD (nghĩa rộng)= QTDH + QTGD (nghĩa hẹp)
Công thức trên đây tuy đơn giản, dễ hiểu và dễ nhớ, những khi sử dụng cần
chú ý một số vấn đề sau:
- QTDH QTGD (nghĩa hẹp) đều một mục đích chung đào tạo con
người phát triển toàn diện, nhưng mỗi quá trình có một thế mạnh riêng.
- QTDH QTGD (nghĩa hẹp) trong thực tế luôn gắn chặt chẽ với nhau,
quá trình này bổ sung cho quá trình kia, rất ít trường hợp xảy ra một cách độc lập.
Thí dụ:
+ Trước khi tchức hoạt động giáo dục như cho các em tham quan một di
tích lịch sử, tiến hành một động hội công ích, bao giờ cũng phải giới thiệu mục
đích, ý nghĩa, lịch sử vấn đề, những tri thức cần thiết liên quan…nghĩa là phải thực
hiện một quá trình dạy học.
+ QTDH không chỉ làm nhiệm vụ hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng,
xảo,…mà bao giờ giáo viên cũng phải quan tâm đến trạng thái cảm xúc của học
sinh, quan tâm hình thành học sinh tình cảm, tưởng sống đúng đắn, thói quen
tốt…nghĩa giáo viên cũng phải thực hiện QTGD (nghĩa hẹp) thông qua nghệ
thuật phạm của mình, thông qua những buổi hoạt động ngoại khóa họp phụ
huynh…
- Trong thực tiễn dạy học hiện nay, nhà trường tập thường tập trung mọi nỗ
lực của mình vào qtrình dạy học , ít chú ý đến quá trình giáo dục (nghĩa hẹp),
chẳng hạn ít tổ chức sinh hoat tập thể, hoạt động hội, hoạt động lao động công
ích và lao động sản xuất,… ít chú ý đến việc rèn luyện vận dụng kiến thức giải
quyết vấn đề thực tiễn, rèn luyện ý chí…Do đó học sinh rất bất ngỡ khi bước vào
cuộc sống
Vì vậy việc tách biệt quá trình dạy học và quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) chỉ
mang ý nghĩa nghiên cứu. Trong thực tế giáo dục, người giáo viên phải thực hiện
đồng thời 2 quá trình này. Nếu thiếu 1 trong 2 quá trình đều gây ra những ảnh
hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
3. Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
a. Phương pháp luận nghiên cứu Giáo dục học học
Khoa học chỉ phát triển khi không ngừng bổ sung những tri thức mới.
Cách thức tìm ra tri thức mới đgiải quyết các vấn đề thực tiễn, đồng thời định
hướng thực tiễn chính phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong khoa học
nghiên cứu nói chung, hai vấn đề bản phương pháp luận và phương pháp
nghiên cứu (cụ thể)
Phương pháp luận được hiểu thuyết về các nguyên tắc để tiến hành các
phương pháp, các hình thức của hoạt động nhận thức khoa học, h thống các
quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của chủ thể. Các quan điểm phương
pháp luận mang màu sắc triết học. Đây kim chnam hướng dẫn các nhà khoa
học tìm tòi nghiên cứu khoa học, thể đề cập một số quan điểm phương pháp
luận nghiên cứu Giáo dục học như sau:
- Quan điểm duy vật biện chứng: khi nghiên cứu, các nhà khoa học phải xem xét
sự vật hiện tượng, quá trình giáo dục trong các mối quan hệ phức tạp của chúng và
trong quá trình vận động phát triển của chúng.
- Quan điểm lịch sử - logic: u cầu khi nghiên cứu phải phát hiện nguồn gốc nảy
sinh, quá trình diễn biến của đối tượng nghiên cứu không gian, thời gian với những
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
- Quan điểm thực tiễn: Yêu cầu khi nghiên cứu giáo dục cần xuất phát từ thực tiễn,
phải khái quát để tìm ra quy luật phát triển của chúng từ thực tiễn, kết quả nghiên
cứu được kiểm nghiệm trong thực tế và phải được ứng dụng trong thực tiễn.
- Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu đối tượng phải phân tích chúng thành
những bộ phận để xem xét một cách u sắc toàn diện, phải phân tích mối quan
hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình cũng như mối quan hệ giữa các bộ
phận trong từng sự vật, hiện tượng và quá trình đó.
b. Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
Phương pháp nghiên cứu giáo dục học cách thức, con đường mà nhà
khoa học sử dụng để khám phá bản chất, quy luật của quá trình giáo dục, nhằm vận
dụng chúng vào thực tiễn giáo dục. Các phương pháp được sử dụng trong nghiên
cứu Giáo dục học bao gồm:
* Các phương pháp nghiên cứu thuyết
- Phương pháp phân tích tổng hợp thuyết
Phân tích thuyết: thao tác chia tài liệu lí thuyết thành các đơn vị kiên
thức, cho phép ta thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong
thuyết.
Tổng hợp thuyết: sự liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành một
tổng thể. Trong phân tích cũng cần sự liên kết các yếu tố nhưng tính bộ
phận hơn là tính toán thế, còn trong phạm trù tổng hợp, sự chế biến những yếu tố
đã cho thành một tổng thể có nhấn mạnh hơn đến tính thống nhất và tính sáng tạo.
Phân tích tổng hợp cho phép xây dựng được cấu trúc của các vấn đcần
nghiên cứu.
- Phương pháp hình a
phương pháp nghiên cứu các hiện tượng quá trình giáo dục dựa vào
hình của chúng. Mô hình đối tượng hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần.
hình tương tự như đối tượng nghiên cứu tái hiện những mối liên hệ cấu,
chức năng, nhân, quả của đối tượng. Nghiên cứu trên mô hình sẽ giúp cho các nhà
khoa học khám phá ra bản chất, quy luật của đối tượng
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Quan sát trong nghiên cứu giáo dục phương pháp thu thập thông tin về sự
vật hiện tượng, quá trình giáo dục trên stri giác trực tiếp các hoạt động giáo
dục các điều kiện khách quan của hoạt động đó. Quan sát trực tiếp đối tượng
giáo dục nhằm phát hiện ra những biến đổi của chúng trong những điều kiện cụ
thể, từ đó phân tịch nguyên nhân rút ra những kết luận về quy luật vận động của
đối tượng. Mục đích quan sát kết luận về để phát hiện, thu thập các thông tin về
vấn đề nghiên cứu, phát hiện bản chất vấn đề và xác định giả thuyết nghiên cứu.
- Phương pháp trưng cầu ý kiến bằn phiếu hỏi (bảng u hỏi)
Điều tra bằng bảng câu hỏi phương pháp được sử dụng phổ biến trong
nghiên cứu khoa học hội nói chung trong nghiên cứu khoa học giáo dục nói
riêng. Thực chất của phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn
vói một hệ thống đặt ra cho đối tượng nghiên cứu, nhằm thu thập những thông tin
phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, được sử dụng để nghiên cứu đối tượng trên
diện rộng. Vấn đề quan trọng khi sử dụng phương pháp này là xây dựng chất
lượng bảng câu hỏi điều tra. Bảng câu hỏi một hệ thống các câu hỏi được sắp đặt
trên sở nguyên tắc nội dung nhất địnhm nhằm tạo điều kiện cho người được
hỏi thể hiện quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu, qua đó nhà nghiên cứu thu
thập được thông tin đáp ứng yêu cầu của để tài và mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn
Trong nghiên cứu giáo dục học, phương pháp phỏng vấn được tiến hành
thông qua tác động trực tiếp giữa người hỏi người được hỏi nhằm thu thp
thông tin phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ của đtài nghiên cứu. Nguồn thông
tin trong phỏng vấn bao gồm toàn bnhững câu trả lời phản ánh quan điểm, nhn
thức của người được hỏi. Hành vi cử chỉ của người được hỏi trong thời gian phỏng
vấn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Kinh nghiệm giáo dục tổng thể những tri thức năng, xảo người
làm công tác giáo dục đã tích lũy được trong thực tiễn công tác giáo dục
Tổng kết kinh nghiệm giáo dục vận dụng lí luận về giáo dục. Từ đó rút ra
những khái quát tính chất luận. Đó những khái quát về nguyên nhân, điều
kiện, biện pháp, bước đi dẫn tới thành công hay thất bại, đặc biệt tìm ra những
quy luật phát triển của các sự kiện giáo dục nhằm tổ chức tốt hơn các quá trình
phạm tiếp theo.
Những kinh nghiệm rút ra tphương pháp này cần được kiểm nghiệm, bổ
sung bằng cách: thông qua các hội thảo khoa học, qua các phương tiện thông tin
(tài liệu, tạp chí của trung ương, ngành) vận dụng các địa bàn các phạm vi
khác nhau.
- Phương pháp thực nghiệm phạm
Phương pháp thực nghiệm xuất hiện trong khoa học đã đánh dấu một bước
ngoặt lớn chuyển từ sự quan sát, tả bề ngoài sang sự phân tích về mặt định tính,
định lượng những mối liên hệ bản chất, những thuộc tính bản của các sự vật
hiện tượng. Thực nghiệm phạm phương pháp thu nhận thông tin về sự thay
đổi số lượng chất lượng trong nhận thức hành vi của các đối tượng giáo dục
do nhà khoa học tác động nên chúng bằng một số tác nhân điều khiển đã được
kiểm tra.
Phân loại theo môi trường diễn ra thực nghiệm thực nghiệm tnhiên
thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, phân loại theo mục đích thực nghiệm có thực
nghiệm tác động và thực nghiệm thăm dò.
Phương pháp thực nghiệm đòi hỏi nhà nghiên cứu chủ động tạo nên tình
huống, sau đó quan sát các hành vi, các sự kiện trong tình huống, sau đó quan sát
các hành vi, các sự kiện trong các tình huống nhân tạo đó. Tuy nhiên để được
những thông tin tthực nghiệm thì trong quá trình tiến hành thực nghiệm ng
phải sử dụng hàng loạt các phương pháp khác nhau (quan sát, phỏng vấn, trưng cầu
ý kiến, trắc nghiệm…) với ý nghĩa này, phương pháp thực nghiệm rộng hơn, phức
tạp hơn.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động phạm
phương pháp mà nhà nghiên cứu thông qua các sản phẩm sư phạm để tìm
hiểu tính chất, đặc điểm, tâm lí của con người các hoạt động tạo ra sản phẩm ấy
nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình giáo dục.
- Phương pháp sử dụng toán thống
Phương pháp toàn học được sử dụng để nghiên cứu các số liệu đã nhận được
từ các phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi và từ phương pháp thực
nghiệm, nó thiết lập sự phụ thuộc về số lượng giữa các hiện tượng nghiên cứu.
Chúng giúp cho việc đánh giá các kết quả thực nghiệm, nâng cao độ tin cậy của
các kết luận, làm cơ sở cho việc tổng kết lí thuyết.
BÀI 2. GIÁO DỤC SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
I. Khái niệm con người, nhân, nhân cách
1. Khái niệm con người
Tiếp cận theo một quan điểm tổng quan, toàn diện khoa học, chủ nghĩa
duy vật biện chứng đã đưa ra luận điểm về con người: Con người vừa một thực
thể tự nhiên vừa một thực thể hội. Bản chất con người tổng hòa các mối
quan hệ xã hội”.
Luận điểm trên của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ ra được bản chất
của con người. Con người không phải tồn tại tiền định của Thượng đế, cũng
không phải một sinh vật sống nhờ vào bản năng…mà con người là sự thống nhất
biện chứng giữa yếu tố tự nhiên và đặc tính xã hội.
- Bản tính tự nhiên của con người được phân tích dưới giác độ sau:
+ Thứ nhất, con người kết quả của tiến hóa phát triển lâu dài của giới tự
nhiên. sở khoa học của kết luận này được chứng minh bằng toàn bộ sự phát
triển của chủ nghĩa duy vật khoa học tự nhiên, đặc biệt học thuyết của
Charles Darwin về sự tiến hóa
+ Thứ hai, con người và xã hội loài người chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp
bởi các quy luật tự nhiên (quy luật thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, quy luật chọn lọc
tự nhiên,…). Môi trường tự nhiên là nơi diễn ra sự trao đổi vật chất của con người,
ngược lại hoạt động của con người luôn tác động trở lại môi trường tnhiên. Đây
là mối quan hệ biến chứng giữa loài người và các tồn tại khác của giới tự nhiên.
- Bản tính hội của con người được phân tích từ giác độ sau:
+ Thứ nhất, sự hình thành con người, hội loài người không chỉ nguồn gốc
sự tiện hóa, mà còn có nguồn gốc xã hội của nó, đặc biệt là yếu tố lao động. Chính
nhờ lao động loài người khnăng vượt qua các loài động vật khác để tiến
hóa và phát triển thành con người
+ Thứ hai, sự tồn tại của con người hội loài người bị chi phối mạnh mẽ bởi
các quy luật hội (chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, quy tắc ứng xử,…)
hội biến đổi thì mỗi con người cũng thay đổi tương ứng. Cho nên loài người
cũng sản phẩm của tiến trình phát triển văn minh, văn hóa lâu dài. Ngoài mối
quan hệ xã hội, con người chỉ tồn tại với tư cách một sinh vật tự nhiên thuần túy.
+ Thứ ba, con người chủ thể các mối quan hệ hội. Nói cách khác, con người
không chỉ bị chi phối bởi các quy luật hội, mối quan hệ hội thông qua các
hoạt động của mình còn sản sinh làm thay đổi các quy luật hội mối quan
hệ xã hội.
Như vậy, hai phương diện tự nhiên hội cùng tồn tại thống nhất, quy
định lẫn nhau, tác động qua lại tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người.
Giới tự nhiên tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại phát
triển của con người. Mặt hội khiến con người khác xa về chất so với các động
vật của giới tnhiên. Đánh giá nhân cách của nhân, người ta tạm nhấn mạnh
đến yếu tố xã hội hơn nhưng không phủ nhận yếu tố tự nhiên. Mà thực chất, yếu tố
tự nhiên trong mỗi nhân cách đã được trừu xuất, được ý thức hóa, xã hội hóa.
2. Khái niệm nhân
nhân một con người, một thành viên trong hội loài người nhưng
cũng mang nét đặc thù riêng lẻ để phân biệt với các thành viên khác trong một tập
thể, một cộng đồng.
3. Khái niệm nhân cách
Cho đến nay đã rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về nhân cách,
sau đây là một số khái niệm thường gặp:
- Theo truyền thống trong đời sống của người Việt Nam coi nhân cách con
người gồm 2 mặt: Đức và Tài.
+ Đức (phẩm chất) hthống thái độ của con người, bao gồm các mặt: các
phẩm chất hội (các quan điểm, niềm tin tưởng chính trị, thế giới quan khoa
học, thái độ đối với hoạt động); các phẩm chất nhân (nếp sống, thói quen, những
ham muốn…); các phẩm chất ý chí: tính kỉ luật, tính tgiác, tính tchủ, tính mục
đích
+ Tài (năng lực) hiệu quả tác động của nhân cách tới các đối tượng xung
quanh. Bao gồm các mặt: Khả năng thích ứng, năng lực sáng tạo, linh hoạt, mềm
dẻo trong cuộc sống hoạt động; Khả năng biểu hiện tính độc đáo, cái riêng cái bn
lĩnh của cá nhân.
- Nhân cách toàn thể những thuộc tính đặc biệt một thể được trong hệ
thống các quan hệ hội, trên sở hoạt động giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá
trị văn hóa, trên sở hoạt động giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá trị văn hóa
vật chất tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo
đức, thẩm mỹ, thể chất…
- Nhân cách tổ hợp những đặc điểm, thuộc tính nhân, quy định bản sắc, g
trị cốt cách làm người của cá nhân đó trong xã hội.
Mặc các quan điểm, định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung sự
thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:
- Những phẩm chất năng lực giá trọ đối với nhân hội được hình
thành và phát triển qua hoạt động và giao lưu mà cá nhân tham gia
- Mỗi nhân một nhân cách riêng, bao gồm hai mặt: mặt tự nhiên mặt
hội, trong đó mặt hội ý nghĩa quan trọng đặc biệt, thể hiện đặc tvề nhân
cách của mỗi con người.
- Nhân cách tổ hợp những phẩm chất, năng lực không nhất thành bất biến
thường xuyên vận động, biến đối theo chuẩn mực, giá trị hội. vậy, mọi
nhân không chỉ phải thường xuyên giữ gìn, bảo vệ còn phải rèn luyện, bồi
dưỡng để nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn.
II. Khái niệm sự phát triển nhân cách
Sự phát triện nhân cách một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh về
thể chất tinh thần cả về lượng chất, tính đến đặc điểm của mỗi lứu tuổi. Sự
phát triển nhân cách thể hiện qua những dấu hiệu sau:
- Sự phát triển về mặt thể chất: đó sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng,
bắp, sự hoàn thiện chức năng các giác quan, sự phối hợp các chức năng vận động
của cơ thể.
- Sự phát triển về mặt tâm lí: thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức,
xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…
- Sự phát triển về mặt hội: thể hiện thái độ, hành vi ng xử trong các mỗi quan
hệ với những người xung quang, tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt
động cải biến, phát triển xã hội.
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển nhân cách.
1. Vai trò của yếu tố di truyền bẩm sinh
Từ xa xưa, cha ông ta đã câu “Cha nào con nấy”, “Con nhà tông không
giống lông cũng giống cánh” nhằm phản ánh sự giống nhau giữa con cái với cha
mẹ và với thế hhệ đi trước. Tuy nhiên dân gian cũng câu “Cha mẹ sinh con
trời sinh tính” để ám chỉ tính chất tiền định về “số phận, tính cách” của con người.
Trong thực tiễn đời sống, chúng ta dnhận thấy rằng người Châu Âu da
trắng, mắt xanh, người Châu Phi da đen tóc xoăn thì con cái của họ khi mới sinh
cũng bmẹ. Đây là sự truyền lại từ thế hệ cha mẹ đến con cái những đặc trưng
sinh học nhất định của nòi giống, được ghi lại trong một chương trình độc đáo
được gọi là gen. Gen là vật mang mã di truyền những đặc điểm sinh học của giống
loài trong quá trình tồn tại, phát triển theo con đường sinh học của giống loài trong
quá trình tồn tại, phát triển theo con đường tiến hóa tự nhiên.
Di truyền sự truyền lại từ thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc điểm cấu
trúc giải phẫu của thể; về đặc điểm sinh học riêng nhưn: màu da, màu tóc, vóc
dáng, thẻ trạng, các chất của hệ thần kinh,…trước hết nói đảm bảo cho loài
người tồn tại, thích ứng với những biến đổi của các điều kiện sinh tồn sau đó
giúp loài người phát triển. Di truyền những đặc điểm sinh học của cha mẹ truyền
lại cho con cái không phải chỉ biểu hiện một cách hiện hữu khi đứa trẻ mới sinh mà
thể những mầm mống, chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu
của một số năng khiếu như: Hội họa, thơ ca, toán học…hoặc thiểu ng trong
những vực cần thiết trong cuộc sống. Bẩm sinh những thuộc tính, đặc điểm sinh
học có ngay khi đứa trẻ mới sinh.
Vai trò của di truyền, bẩm sinh
Trong thực tế, một số gia đình liên tục xuất hiện những người tài, hoặc có
sự giống nhau đáng ktừ thế hệ trước với thế hệ sau. Những biểu hiện đó, phản
ánh phàn nào ảnh hưởng của di truyền bẩm sinh đến sự phát triển nhân cách
nhân. Di truyền bẩm sinh chỉ tiền đề vật chất (mầm mống) của sự phát triển tâm
lí, nhân cách. Di truyền bẩm sinh nói lên chiều hướng, tốc độ, nhịp độ cua sự phát
triển. Những đứa trẻ gen di truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc
lộ thiên hướng về nh vực hoạt động đó. Tuy nhiên, di truyền bẩm sinh không phải
yếu tố quyết định tương lai của nhân cách đó. Nói cách khác, đứa trẻ muốn trở
thành một tài năng cần phải môi trường thuận lợi, những tác động giáo dục
đúng hướng và hoạt động tích cực của cá nhân.
di truyền mang bản chất, sự sống t nhiên tích cực hoặc tiêu cực
những mầm mống, tư chất tạo tiên đề vô cùng thuận lợi cho người đó hoạt động có
kết quả trong một lĩnh vực nào đó. Theo nghiên cứu của giáo sư, bác Evgineny
Ziliaev Giám đốc trung tâm y học cao cấp (SEM) Nga và giáo Victor
Rogozkin Giám đốc Viện Thể thao (IFIS) Nga thì: người kiểu gen DD thích
hợp với các môn thể thao đòi hỏi sức mạnh tốc độ như điền kinh nặng, quyền anh,
vật, cử tạ…còn người kiểu gen II thì thích hợp với các môn thể thao dẻo dai,
bền bỉ như trượt tuyết, chạy cự li trung bình…Tuy nhiên phát triển thành năng
lực, phẩm chất, tài năng hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố môi trường,
hoàn cảnh sống và sự giáo dục, tự giáo dục.
Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta cần quan tâm đúng mức yếu tố
di truyền, bẩm sinh đó những mầm mống, chất sinh học có vai trò tiền đề phát
triển một số phẩm chất, năng lực của nhân cách. Tất nhiên, nếu chúng ta quá coi
nhẹ hoặc tuyệt đối hóa, đánh giá quá cao nhân tố di truyền sinh học thì sẽ phạm sai
lầm khi phân tích, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò, tác động của môi trường, hoàn
cảnh và của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
2. Vai trò của yếu tố môi trường
Tục ngữ Việt Nam có câu “Gần mực thì đen - Gần đèn thì rạng”, “Ở bầu thì
tròn - ống thì dài”. Nhà giáo dục Trung Hoa cổ đại Mạnh Tử cũng khẳng định
“Nơi làm thay đổi tính nết, việc ăn uống làm thay đổi thể. Nơi quan trọng
lắm thay”. ràng quan niệm dân gian cũng như tưởng của nhiều nhà giáo dục
từ xa xưa đã khẳng định “nơi ở” hiểu theo nghĩa rộng môi trường, hoàn cảnh
tác động hầu như quyết định đến việc hình thành và phát triển nhân cách.
Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và hội hiệu hữu ảnh hưởng lớn
lao đến đời sống nhân cách con người. Môi trường bao quanh con người gồm
môi trường tnhiên môi trường hội. Môi trường tnhiên gồm khí hậu, đất
nước, sinh thái môi trường hội, đó các điều kiện về kinh tế, chính trị, n
a…
Hoàn cảnh được hiểu một yếu tố hoặc một môi trường nhỏ hợp thành của
môi trường lớn, môi trường nhỏ tác động trực tiếp, mạnh mẽ, quyết liệt trong một
thời gian, không gian nhất định tạo nên hướng hình thành và phát triển nhân cách.
Vai trò của môi trường
Mỗi một người ngay từ khi sinh ra đã phải sống trong một môi trường, hoàn
cảnh nhất định, thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát triển thể
chất, tinh thần của nhân. Tuy nhiên chính nhờ môi trường hội loài người
mỗi đứa trẻ mới hình thành phát triển các nét nhân cách người.
Môi trường tnhiên và hội với các điều kiện kinh tế, thể chế chính trị,
chuẩn mực đạo đức… đã tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành phát triển
động cơ, mục đích, quan điểm tình cảm, nhu cầu hứng thú…chiều hướng phát triển
của cá nhân. Thông qua hoạt động và giao lưu trong môi trường mà cá nhân chiếm
lĩnh được các kinh nghiệm, gtrị xã hội loài người, từng bước điều chỉnh, hoàn
thiện nhân cách của mình.
Tác động của môi trường đối với sự phát triển của nhân cùng mạnh
mẽ, phức tạp, có thể cùng chiều hay ngược chiều, có thể tốt hoặc xấu, chủ yếu theo
con đường tự phát. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của môi trường bị “khúc xạ” bởi
yếu yếu tố giáo dục, bởi trình độ nhận thức, niềm tin, quan điểm, ý chí, xu hướng
năng lực củanhân. Vì vậy C Mác đã khẳng định: “Hoàn cảnh sáng tạo ra con
người, trong một mức độ con người lại sáng tạo ra hoàn cảnh”
Như vậy trong sự tác động qua lại giữa nhân cách môi trường cần chú ý
đến hai mặt của vấn đề:
- Thứ nhất, tính chất tác động của môi trường, hoàn cảnh vào quá trình phát
triển nhân cách
- Thứ hai là tính tích cực của nhân cách tác động vào môi trường, hoàn cảnh
nhằm điều chỉnh, cải tạo nó phục vụ nhu cầu, lợi ích của mình.
thể khẳng định ảnh hưởng to lớn của yếu tố môi trường đến quá trình
hình thành phát triển nhân cách. Tuy nhiên nếu tuyệt đối hóa vai trò của môi
trường phủ nhận vai trò ý thức, sáng tạo của chủ thể, đó sai lầm vnhận thức
luận. Ngược lại, việc hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của yếu tố môi trường cũng
phạm sai lầm của thuyết “Giáo dục vạn năng”. Do đó phải đặt quá trình giáo dục,
quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong mối quan hệ tương tác giữa các
yếu tố để có thể đánh giá đúng đắn.
3. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách
Giáo dục qtrình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo
dục) đối tượng (người được giáo dục) nhằm hình thành phát triển nhân cách
theo những yêu cầu của hội. Đây quá trình tác động tgiác mục đích,
nội dung, phương pháp, phương tiện…được lựa chọn, tổ chức một cách khoa học
giúp cho mọi nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị hội
của nhân loại bằng con đường ngắn nhất. Như vậy, đặc trưng của quá trình giáo
dục:
- Tác động tự giác được điều khiển bởi quan, lực lượng chuyên trách,
khác với tác động tự phát, tản mạn của môi trường
- mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện chương trình…được tổ
chức, lựa chọn khoa học, phợp với mọi đối tượng, giúp họ chiếm lĩnh được
những kinh nghiệm giá trị xã hội của nhân loại bằng con đường ngắn nhất
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành, phát triển nhân
cách. Bởi được thực hiện theo định hướng thống nhất mục đích nhân cách
tưởng hội đang yêu cầu. Ba lực lượng giáo dục gia đình, ntrường
đoàn thể hội, trong đó nhà trường vai trò, vị trí cùng quan trọng trong việc
thực hiện mục đích, nội dung giáo dục bằng các phương pháp khoa học tác động
mạnh nhất giúp cho học sinh hình thành năng lực ngăn ngừa, đấu tranh những ảnh
hưởng tiêu cực từ môi trường di truyền bẩm sinh. Giáo dục gia đình được tiến
hành sớm nhất từ khi trẻ cất tiếng khóc chào đời, tạo nên những phẩm chất nhân
cách đầu tiên rất quan trọng làm nền tảng cho giáo dục ntrường. Giáo dục hội
qua các đoàn thể, các tổ chức nhà nước với thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa
đạo đức, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách toàn tiện theo sự phát
triển xã hội.
Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành phát triển
nhân cách của học sinh còn tổ chức chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá
trình đó đến kết quả mong muốn.
Giáo dục những tác động tự giác điều khiển, thể mang lại những
tiến bộ các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo
ra được do tác động tự phát.
Giáo dục sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành vi phẩm chất lệch
lạc không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của hội. Đó chính kết quả quan
trọng của giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc vi phạm pháp luật.
Giáo dục tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc
thiểu năng do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ có sự can thiệp
sớm, nhờ phương pháp giáo dục, n luyện đặc biệt cùng với sự hỗ tr của
phương pháp khoa học thể giúp cho người khuyết tật, thiểu năng phục hồi một
phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm trừ những
chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng.
Để phát huy vai tchủ đạo của mình, giáo dục cần tích cực góp phần cải
tạo môi trường sống (gia đình, nhà trường, hội) làm cho ngày càng lành
mạnh, văn minh, thống nhất tác động của các lực lượng giáo dục theo mục tiêu
chung phát triển nhân cách. Đồng thời, giáo dục phảt phát hiện và phát triển những
tiềm năng bên trong mỗi người học (bẩm sinh, di truyền, năng khiếu, tố chất) biến
chúng trở thành hiện thực. Đặc biệt tránh tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, coi
“giáo dục là vạn năng”.
4. Vai trò của hoạt động nhân đối với sự phát triển nhân cách
Hoạt động của nhân ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sở, nhân tố
quyết định trực tiếp sphát triển nhân cách. Hoạt động của nhân xuất phát từ
mục đích nhu cầu của nhân, nhu cầu luôn thúc đẩy nhân hoạt động
ngược lại hoạt động lại là cơ sở, là điều kiện để nảy sinh nhu cầu.
Hoạt động là quá trình con người thực hiện mối quan hệ với tự nhiên, với xã
hội, với người khác và bản thân. Thông qua hoạt động, con người chuyển hóa ng
lực, phẩm chất tâm lí của bản thân thành sản phẩm thực tế, ngược lại những sản
phẩm thực tế đó làm phong phú, hoàn thiện them vốn liếng tinh thần của chủ thể.
Thông qua hoạt động con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến nền văn
hóa của loài người thành vốn riêng của mình, vận dụng chúng vào cuộc sống, làm
cho nhân cách ngày càng phát triển. Hoạt động giúp cho nhân hiện thực hóa khả
năng về tố chất thành hiện thực, đồng thời nó là nguồn quan trọng nhất cung cấp
cho cá nhân những kinh nghiệm xã hội.
Thông qua hoạt động con người có thể cải tạo những nét tâm línét nhân
cách đang bị suy thoái, hoàn thiện chúng theo chuẩn mực đạo đức của hội. Mỗi
con người sản phẩm hoạt động của chính mình, đó chính con đường để thành
đạt, để vươn tới lí tưởng.
Nhiệm vụ cùng quan trọng của giáo dục phải giúp người học được giáo
dục thông qua hoạt động. Từ đó biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
để hoàn thiện nhân cách của mình phải sống trong những môi trường, hoàn
cảnh phức tạp
Hoạt động của nhân vai trò quyết định trực tiếp đối với sự hình thành
phát triển nhân cách. Muốn phát huy vai trò của hoạt động nhân đối với s
hình thành và phát triển nhân cách, nhà giáo dục cần:
- Nhà giáo dục phải am hiểu hoạt động chủ đạo của từng giai đoạn lứa tuổi
từ đó xây dựng những chương trình hoạt động cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi
học sinh
- Tổ chức học sinh tham gia các hoạt động đa dạng về nội dung, phương
pháp, hình thức, coi hoạt động là phương tiện giáo dục cơ bản
BÀI 3. MỤC ĐÍCH, NGUYÊN GIÁO DỤC
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
I. Mục đích, mục tiêu giáo dục
1. Mục đích giáo dục phạm trù bản của giáo dục học
Mục đích của một hoạt động nói chung kết quả dkiến mỗi người,
mỗi hệ thống cần phấn đấu để đạt được. Mục đích có tác dụng định hướng, chỉ đạo
toàn bộ quá trình hoạt động. Chất lương, hiệu quả của một hoạt động phụ thuộc
vào việc xác định mục đích ban đầu. vậy, mục đích một trong những phạm
trù cơ bản nhất được quan tâm nhất trong khoa học và thực tiễn.
Trong giáo dục, vấn đề mục đích, mục tiêu được các nhà chính trị hội,
các nhà luận giáo dục hết sức quan tâm, vì nó hình nhân cách ta cần
đào tạo, nên liên quan đến vận mệnh, đến sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc. thường được xác định trong các cương lĩnh, các chương trình kế hoạch
quốc gia, các tài liệu sư phạm.
2. Khái niệm mục đích, mục tiêu giáo dục
Mục đích giáo dục mong muốn, dự kiến về kết quả cuối cùng cần đạt
được của một quá trình giáo dục nhất định. Những mong muốn này tính chất
tưởng, cái con người đang hướng tới, đang phấn đấu để đạt được. tác
dụng định hướng, điều khiển hoạt động giáo dục trong một giai đoạn lịch sử nhất
định.
Các loại mục đích giáo dục: khi xây dựng mục đích giáo dục, người ta
thường chú ý đến hai loại:
- Mục đích hệ thông: kết quả dự kiện hệ thống giáo dục cần đạt được sau
một giai đoạn nhất định. Các nhà quản lí thường quan tâm đến mục đích hệ thống.
Điều 61, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
“1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
2. Nhà nước ưu tiên đầu thu hút các nguồn đầu khác cho giáo dục;
chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học bắt buộc, Nhà nước
không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại
học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý.
3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số vùng điều kiện kinh tế - hội đặc biệt kkhăn; ưu tiên sử
dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được
học văn hoá và học nghề.”
- Mục đích nhân cách: thường được các nhà giáo quan tâm tới, bao gồm:
+ Mục đích nhân cách nhân mô hình con người, mỗi nhân cần
phấn đấu để đạt được.
+ Mục đích nhân cách hội mô hình con người, mà hội cần đào tạo.
Điều 2, Luật giáo dục 2005:
“…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
thẩm mỹ nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã
hội; hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Bốn trụ cột giáo dục do UNESCO đề xuất năm 1996:
- Học để biết (Learn to know)
- Học để làm (Learn to do)
- Học để chung sống (Learn to live together)
- Học để khẳng định bản thân (Learn to be).
Ngoài thuật ngữ mục đích giáo dục thường dùng trong các giáo trình giáo
dục học, trong các đề án, kế hoạch giáo dục ta thường gặp thuật ngữ mục tiêu giáo
dục cũng dùng để chỉ những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục
trong một thời gian nhất định.
Mục tiêu giáo dục sự vận dụng, cụ thể hóa mục đích giáo dục trong từng
cấp học, ngành học, bài học…Ta thể phân biệt thuật ngữ mục đích mục tiêu
qua một số dấu hiệu như sau:
Mục đích
Mục tiêu
1. tính chất định hướng,tưởng
tính cụ thể với hành động phương
tiện xác định
2. Thời gian thực hiện dài
2. Thời gian thực hiện ngắn, xác định.
3. Tính rộng lớn, khái quát của vấn đề
3. Tính xác định của vấn đề
4. Khó đo được kết quả tại mt thời
điểm nhất định
4. thể đo được kết quả một thời
điểm cụ thể
5. Cấu trúc phức tạp, được tạo thành do
nhiều mục tiêu kết hợp lại
5. mt bộ phận của mục đích
Hai mô hình này cần thống nhất với nhau thì mới tạo ra động lực lành mạnh
trong quá trình giáo dục. Trong trường hợp ngược lại, động học tập sẽ bị tước
đoạt, đó là nguyên nhân quan trọng làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục.
Cấu trúc của mục đích, mục tiêu giáo dục:
- thể nói mục tiêu một bộ phận của mục đích, mục đích gần. Nói
cách khác cần phải thực hiện nhiều mục tiêu thì mới đạt được mục đích
- Mục đích giáo dục cấu trúc phức tạp, do nhiều mục tiêu tạo thành, Tuy
nhiên, mục đích không phải tổ số các mục tiêu, không phải phép cộng giản
đơn một sự kết hợp quy luật, điều đó cũng giống như gạch thể xây
thành cung điện nguy nga, tòa nhà đồ sộ hay cái bếp con con đều do bàn tay của
người kiến trúc thiết kế. Như vậy việc nghiên cứu cấu trúc mục đích, mục tiêu
quy luật chuyển hóa mục tiêu thành mục đích ý nghĩa hết sức quan trọng,
ảnh hưởng rất lớn tới kết quả đào tạo, nhưng tiếc rằng, vấn đề này n chưa
được nghiên cứu ở mức độ cần thiết.
Trong số các mục đích giáo dục thì mục đích nhân cách hội thường được
nghiên cứu, trao đổi nhiều hơn cả. Đó là mô hình nhân cách mà xã hội cần đào tạo
thường được xác định trong các cương lĩnh, các chương trình, kế hoạch quốc
gia.
3. Mục đích giáo dục Việt Nam hiện nay
* Ơ cấp độ hi
Mục đích xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam để nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ
nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
xây dựng một hội công bằng, dân chủ văn minh
Mục đích giáo dục Việt Nam đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ nghề nghiệp, trung thành với
tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa hội; hình thành bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
bảo vệ Tổ quốc
* cấp độ hệ thống giáo dục
Mục đích giáo dục Việt Nam được cụ thể hóa thành các mục tiêu giáo dục
cụ thể cho từng bậc học, ngành học…Luật giáo dục của nước Cộng hòa hội
Chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ như sau:
- Mục tiêu của giáo dục mầm non giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em
vào học lớp một.
- Mục tiêu của giáo dục phổ thông giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ các knăng bản, phát triển năng lực nhân, tính
năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam hội chủ
nghĩa, xây dựng cách trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn lâu dài vđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ các
kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
+ Giáo dục trung học sở nhằm giúp học sinh củng cố phát triển những
kết quả của giáo dục tiểu học; học vấn phổ thông trình độ sở những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
+ Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố phát triển
những kết quả của giáo dục trung học sở, hoàn thiện học vấn phổ thông
những hiểu biết thông thường về kỹ thuật hướng nghiệp, điều kiện phát huy
năng lực nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
- Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp đào tạo người lao động kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp c trình độ khác nhau, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý
thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao
động khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - hội, củng
cố quốc phòng, an ninh.
- Mục tiêu của giáo dục đại học đào tạo người học phẩm chất chính trị, đạo
đức, ý thức phục vụ nhân dân, kiến thức năng lực thực hành nghề nghiệp
tương xứng với trình độ đào tạo, sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu y dựng bảo vệ
Tổ quốc.
II. Nguyên giáo dục
1. Khái niệm nguyên giáo dục
Theo nghĩa thông thường, nguyên những luận điểm chung nhất, tính
quy luật của một thuyết khoa học, vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong
lĩnh vực đó. Ta vẫn thường nói: nguyên lí vận hành hệ thống thiết bị, nguyên tổ
chức xã hội…
Nguyên lí giáo dục là những luận điểm chung nhất của lí thuyết giáo dục, có
tính quy luật, được khái quát trên các căn cứ khoa học và thực tiễn giáo dục, có vai
trò định hướng, chỉ đạo các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Nguyên lí giáo dục những luận điểm khái quát mang tầm tư tưởng tính
quy luật của quá trình giáo dục (giáo dục nghĩa rộng) chỉ dẫn toàn bộ hệ thống giáo
dục quá trình phạm tổng thể, trong đó quá trình giáo dục quá trình dạy
học (là những bộ phận cấu thành)
2. Nội dung nguyên giáo dục
Điều 3 của Luật Giáo dục của nước Cộng Hòa hội Chủ nghĩa Việt Nam
được thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã ghi: “Hoạt động giáo dục phải được
thực hiện theo nguyên học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội.”
Đây chính một luận điểm giáo dục quan trọng của Đảng Nhà nước ta,
kim chỉ nam hướng dẫn toàn bộ các hoạt động giáo dục trong nhà trường cả
trong xã hội.
Nội dung của nguyên này gồm bốn điểm quan trọng cần lưu ý:
- Học đi đôi với hành
- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất
- luận gắn với thực tiễn
- Giáo dục ntrường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục hội
a. Học đi đôi với hành một tư tưởng giáo dục vừa truyền thống vừa hiện
đại, vừa tính khoa học vừa giá trị thực tiễn. Bản chất của tưởng này như
sau:
+ Học sinh đến trường đhọc hành. Học là quá trình nhận thức chân khoa
học. Hành luyện tập để hình thành c năng vận dụng những tri thức, kĩ năng
lao động hoạt động, biến kiến thức đã tiếp thu thành vốn sống, năng lực hoạt
động của cá nhân.
+ Học đi đôi với hành phương pháp học tập hiệu quả, bởi vừa học, vừa làm
hỗ trợ cho nhau rất nhiều trong quá trình học tập. Trong quá trình học tập nếu biết
vận dụng kiến thức đã học để thực hành sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức, làm giảm
thuyết “suông” lúc đó thực hành không phải mẫm được dựa trên một
sở thuyết khoa học vững chắc. Kết quả kiến thức trở nên sâu sắc hành
động trở nên sáng tạo, tinh thông.
+ Trong học tập cần sử dụng nhiều mức độ thực hành và phải gắn với nội dung các
môn học, với quy trình và mục tiêu đào tạo. Các trường phổ thông có hệ thống các
bài tập thực hành môn học, các giờ thực hành, thí nghiệm trong các phòng thí
nghiệm, các vườn thí nghiệm. Các trường dạy nghề xưởng thực hành chuyên
môn, các trường đại học các hoạt động thực hành nghiên cứu khoa học…c
loại thực hành thể tiến hành trong trường,ngoài trường, các mức độ thực hành
đều làm tăng chất lượng và hiệu quả học tập của học sinh .
b. Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất tưởng giáo dục của nhà
trường hiện đại, ta có thể nhạn thấy như sau:
+ Học sinh hôm nay những người lao động trong tương lai, vậy nhà trường
phải chuẩn bị cho các em cả m lí, ý thức, kiên thức và kĩ năng sẵn sang bước vào
cuộc sống lao động. Các môn học như thủ công, công nghệ, giáo dục hướng nghiệp
được đưa vào chương trình dạy học mục đích đó. Các trường dạy nghề, giáo
dục chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học chính là dạy các nghiệp vụ nghề nghiệp.
+ Lao động sản xuất vừa môi trường vừa phương tiện đgiáo dục con người.
Gia đìnhnhà trường tổ chức học sinh lao động tự phục vụ và tham gia lao động
công ích xã hội để giáo dục ý thức và kĩ năng lao động cho học sinh.
+ Để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, các trường dạy nghề, trường trung cấp
trung học chuyên nghiệp đại học thường xuyên đưa sinh viên tới các nhà máy,
nghiệp để thực tập sản xuất, đó chính là phương thức tổ chức dạy học trong lao
động và bằng lao động.
c. luận gắn với thực tiễn đó một yêu cầu quan trọng đối với quá trình
giáo dục đào tạo trong nhà trường Việt Nam
+ Chúng ta đều biết, mục đích giáo dục phục vụ sự phát triển của hội.
Nội dung giáo dục phải phản ánh, cập nhật những thành tựu phát triển của hội.
Trong khi giảng dạy, giáo viên thường xuyên liên hvới thực tiễn sinh động của
cuộc sống. với những diễn biến sôi động hàng ngày, hàng giờ trong nước trên
thế giới, đây là những dụ minh họa cùng quan trọng đhọc sinh nắm vững
luận và hiểu rõ thực tiễn.
+ Học tập liên hệ với thực tiễn làm cho luận không còn khô khan, khó
tiếp thu trở nên sinh động ngược lại, các sự kiện, hiện tượng thực tiễn được
phân tích, được soi sáng bằng những lí luận khoa học vững chắc.
d. Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình giáo dục hội
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ hội. Con người sống
không đơn độc luôn gia đình, bạn cả cộng đồng hội. Trong sự phát
triển nhân, con người bị rất nhiều yếu tố tác động, do vậy quá trình giáo dục sẽ
đạt được hiểu quả nếu ta biết phối hợp giữa các lực lượng giáo dục.
Giáo dục quá trình nhiều lực lượng tham gia, trong đó ba lực lượng
quan trọng nhất: gia đình, nhà trường, và các đoàn thể hội. Ba lực lượng giáo
dục này đều có chung mt mục đích là hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.
Gia đình nơi sinh ra, nơi nuôi dưỡng giáo dục trẻ em. Giáo dục gia
đình dựa trên tình cảm huyết thống, các thành viên gắn với nhau trong suốt cuộc
đời và như vậy giáo dục gia đình trở nên bền vững nhất. Gia đình sống có nề nếp,
truyền thống gọi là gia phong. Gia đình hóa thuận, cha mẹ gương mẫu, lao động
sáng tạo, có phương pháp giáo dục tốt, đó là gia đình có văn hóa. Nhiều công trình
nghiên cứu đã khẳng định giáo dục gia đình ảnh hưởng rất lớn đối với thế hệ trẻ.
Giáo dục xã hội là giáo dục trong môi trường nơi trẻ em sinh sống. Mi địa
phương trình độ phát triển đặc thù, truyền thống bản sắc văn hóa riêng.
Địa phương có phong trào hiếu học, có nhiều người thành đạt, có bạn bè tốt môi
trường ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của trẻ em.
Giáo dục hội còn bao hàm cả giáo dục của các đoàn thể: Sao Nhi đồng,
Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên là các tổ chức quần chúng tổ
chức, tôn chỉ mục đích phù hợp với mục đích giáo dục của Nhà nước nhà
trường, cũng như đặc điểm tâm sinh lứa tuổi cho nên tác dụng giáo dục rất lớn
đối với thế hệ trẻ.
Tuy nhiên quá trình giáo dục phải lấy nhà trường làm trung tâm. Giáo dục
nhà trường mục đích nội dung giao dục toàn diện, dựa trên sở khoa học và
thực tiễn, kế hoạch với đầy đủ các phương tiện đóng vai trò chủ đạo trong toàn
bộ quá trình giáo dục trẻ em.
Nhà trương phải chịu trách nhiệm chính trong sphối hợp với tất cả lực
lượng giáo dục .
III. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
1. Khái niệm hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước toàn bộ các quan chuyên
trách việc giáo dục học tập cho thanh thiếu niên công dân của nước đó.
Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm hai hệ thống lớn: hệ thống nhà trường
hệ thống các quan giáo dục ngoài nhà trường. Hệ thống nhà trường được
chia thành từng ngành học, từng bậc học, từng cấp học, từng loại trường.
Nhà trường đơn vị cấu trúc bản của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà
trường là cơ quan Nhà nước chuyên trách việc giáo dục đào tạo con người. Với nội
dung giáo dục được chọn lọc bản sắp xếp hệ thống, với phương pháp khoa
học, với những phương tiện điều kiện giáo dục tốt, với những nhà phạm
học vấn rộng, kinh nghiệm nghề nghiệp nhân cách chuẩn mực, với quá
trình giáo dục được tổ chức một cách khoa học, chặt chẽ, liên tục, trong một thời
gian dài, nhà trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển nhân cách.
Hệ thống các quan giáo dục ngoài nhà trường cũng những tổ chức do
Nhà nước quản hoặc do các đoàn thể hội trực tiếp phụ trách, bao gồm các nhà
văn hóa, các câu lạc bộ, các thư viện, các nhà hát, các rạp chiếu phim, các trạm
thuật…dành riêng cho thanh thiếu niên đhọc tập, vui chơi giải trí, bồi dưỡng
chính trị và đạo đức, phát triển năng khiếu.
2. cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Theo Luật giáo dục Việt Nam 2005, cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam như
sau:
- Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy giáo dục thường xuyên.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
+ Giáo dục mầm non có nhà trẻ mẫu giáo;
+ Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học sở, trung học phổ thông;
+ Giáo dục ngh nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp dạy nghề;
+ Giáo dục đại học sau đại học (gọi chung giáo dục đại học) đào tạo
trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
a. Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba
tháng tuổi đến sáu tuổi.
Giáo dục mầm non nhiệm vụ phải đảm bảo hài hòa giữa nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí của trẻ em, giúp trẻ em
phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh nhanh nhẹn, biết kinh trọng, yêu mến, lễ phép
với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, giáo người trên, yêu quý anh, chị, em bạn bè,
thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học.
Phương pháp chủ yếu trong giáo dục mầm non là thông qua việc tổ chức các
hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương,
động viên, khích lệ.
sở giáo dục mm non bao gồm:
- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ từ ba tháng đến ba tuổi
- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi
- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và trường mẫu giáo, nhận trẻ
em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
b. Giáo dục phổ tng
Giáo dục phổ thông gồm:
- Giáo dục tiểu học bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu đến ời một
tuổi, được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh
vào học lớp một là sáu tuổi.
- Giáo dục trung học sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp
chín. Học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi
- Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến
lớp mười hai. Học sinh học lớp mười phải bằng tốt nghiệp trung học sở,
tuổi là 15 tuổi.
Bộ Giáo dục Đào tạo quy định những trường hợp thbắt đầu học
tuổi cao hơn hay thấp hơn tuổi quy định đã nói.
Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, bản, toàn
diện, hướng nghiệp và hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh
lí lứa tuổi của học sinh đáp ứng mục tiêu giáo dục giáo dục ở mi bậc học, cấp học
Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có thể hiểu biết đơn giản, cần
thiết về tự nhiên, xã hội và con người, có kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết
tính toán, thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, hiểu biết ban đầu về
hát, mùa, âm nhạc, mỹ thuật
Giáo dục trung học sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học
tiếu học, bảo đảm vtiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác vkhoa học
hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, những hiểu biết cần
thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp
Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã
học trung học sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông. Ngoài nội dung
chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, bản, toàn diện hướng
nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn hc để phát triển
năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Nội dung, phương pháp giáo dục ph thông được thể hiện thành chương
trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Trưởng phòng Giáo dục Đào tạo, huyện quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (gọi chung là cấp huyện) cấp bằng tốt nghiệp tiểu học
Giám đốc Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
(gọi chung là cấp huyện) cấp bằng tốt nghiệp trung học sở, trung học phổ thông.
c. Giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
- Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm đối với những người
đã hoàn thành Trung học sở, từ một đến hai năm đối với người bằng tốt
nghiệp Trung học phổ thông.
- Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghtrình độ cấp, từ
một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
- Trường trung cấp chuyên nghiệp
- Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề (gọi chung
sơ sở nghề)
sở dạy nghề thể được tổ chức độc lập hoặc găn với sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác.
d. Giáo dục đại học
- Đào tạo trình độ cao đẳng, được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành
nghề đào tạo đối với người bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc tốt
nghiệp Trung cấp, từ một năm rưỡi đến hai năm đối với người bằng tốt nghiệp
trung cấp cùng chuyên ngành
- Đào tạo trình độ Đại học được thực hiện từ bố đến sáu năm học tùy theo ngành
nghề đào tạo đối với người bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc bằng tốt
nghiệp Trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm đối với người bằng tốt nghiệp
Trung cấp chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người bằng
tốt nghiệp Cao đẳng cùng chuyên ngành.
- Đào tạo trình độ Thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người
bằng Đại học
- Đào tạo trình độ Tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng
tốt nghiệp Đại học, từ hai đến ba năm học đối với người bằng Thạc sĩ. Trong
trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ Tiến thể được kéo dài theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
sở giáo dục đại học bao gồm:
- Trường Cao đẳng đào tạo trình độ Cao đẳng
- Trường Đại học đào tạo trình độ Cao đẳng, trình độ Đại học, đào tạo trình độ
Thạc sĩ, trình độ Tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao
Điều 48 Chương III trong luật Giáo dục đã quy định nhà trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:
- Trường công lập do nhà nước thành lập, đầu sở vật chất, đảm bảo kinh phí
cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
- Trường dân lập do cộng đồng dân sở thành lập, đầu xây dựng sở vật
chất và đảm bảo kinh phí hoạt động
- Trường Tư thục do các tổ chức hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh
tế hoặc nhân thành lập, đầu xây dựng sở vật chất đảm bảo kinh phí hoạt
động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
e. Giáo dục thường xuyên (tên gọi giáo dục không chính quy)
Giáo dục thường xuyên phương thức giáo dục mọi người vừa làm, vừa
học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng
cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống,
tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Nội dung giáo dục thường xuyên được thể hiện trong các chương trình sau
đây:
- Chương trình xóa nạn chữgiáo dục tiếp tục sau khi biết chữ
- Chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kì, bồi dưỡng nâng cao trình
độ, cập nhật kiến thức, kĩ năng
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học
- Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân
theo hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học và học có hướng dẫn.
Nội dung giáo dục thường xuyên phải được thực hiện theo đúng quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo
sở giáo dục thường xuyên bao gồm:
- Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Các trường phổ thông, trường trung học chuyên nghiệp, sở dạy nghề, trường
cao đẳng, đại học học qua mạng internet thông qua các phương tiện truyền
thông đại chúng
sở giáo dục chính quy thực hiện các chương trình giáo dục theo phương
thức giáo dục không chính quy phải đảm bảo nhiệm vụ của mình, chỉ thực hiện các
chương trình đó khi đang được thực hiện ở hệ chính quy và được các cơ quan quản
lý Nhà nước về giáo dục có thẩm quyền cho phép.
Trung tâm giáo dục thương xuyên không thực hiện các chương trình giáo
dục để lấy bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp cao đẳng,
bằng tốt nghiệp đại học
Học viên học hết chương trình giáo dục nếu đủ điều kiện theo quy định của
Bộ Giáo dục - Đào tạo thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được cấp văn bằng tốt
nghiệp theo phương thức giáo dục không chính quy, trên văn bằng ghi hình thức
học tập, nếu đủ điều kiện theo quy định của thi tốt nghiệp hệ chính quy thì
được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp của hệ chính quy.
Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên cấp chứng chỉ giáo dục không
chính quy.
PHẦN 2. LUẬN TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
CHƯƠNG 1. THUYẾT QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
BÀI 1. QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
I. Khái niệm quá trình dạy học
Quá trình được xem xét như một hệ thống toàn vẹn. Hệ thống toàn vẹn
một hệ thống bao gồm những thành tố liên h tương tác với nhau tạo nên chất
lượng mới. Quá trình dạy học theo tiếp cận hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố
cấu trúc quan hệ biện chứng với nhau. Trong hệ thống mối thành tố đều chức
năng riêng tuân theo chức năng chung của hệ, mỗi thành tố trong hệ thông vận
động theo quy luật riêng vận động theo quy luật chung của hệ. Hệ thống bao giờ
cũng tồn tại trong một môi trường. Môi trường các thành tố của hệ thống cũng
có sự tương tác lẫn nhau.
Khi xem xét quá trình dạy học một thời điểm nhất định, bao gồm những
thành tố như: Mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy
học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh... Mục đích dạy học đơn đặt
hàng của hội đối với nhà sư phạm, mục đích dạy học định hướng cho các thành
tố khác trong quá trình dạy học, mục đích này được thực hiện hóa bằng nội dung
dạy học, người giáo viên với hoạt động dạy của mình, với những phương pháp,
phương tiện, hình thức tổ chức dạy học tác động đến động của người học để
thúc đẩy người học tập với việc sdụng những phương pháp học tập, phương tiện
và hình thức tổ chức hoạt động dạy của mình. Sự tác động lẫn nhau giữa hoạt động
dạy của giáo viên hoạt động dạy của học sinh tạo nên kết quả dạy - học, nghĩa
làm biến đổi nhân cách của người học. Hoạt động dạy của giáo viên cũng phụ
thuộc vào việc dạy cái , nghĩa nội dung dạy học thể hiện mục đích sư phạm
của hoạt động dạy. Hoạt động học của học sinh cũng vậy, nó bị quy định bởi động
cơ, nội dung dạy học, vai tcùa môi trường hội phản ánh trong đơn đặt hàng
của xã hội, trong hoạt động của giáo viên.
Môi trường của quá trình dạy học bao gồm môi trường bên ngoài, môi
trường mô, đó sự phát triển kinh tế - hội, văn hóa, khoa học, công nghệ,
chúng phản ánh tới những thành tố cùa quả trình dạy học. Ngoài ra còn môi
trường vi mô, đó môi trường được tạo nên do sự tương tác giữa người giáo viên
học sinh và giữa học sinh với nhau, ng với việc vận dụng phương pháp,
phương tiện hình thức tổ chức dạy học tác động vào nội dung dạy học, hướng
vào thực hiện mục đích dạy học. Môi trường tạo nên sự thuận lợi hay không thuận
lợi cho quá trình dạy học.
Quá trình dạy học sự thống nhất biện chứng của hai thành tố bản
trong qúa trình dạy học - hoạt động dạy hoạt động học.
Dạy và học hai hoạt động tác động phối hợp với nhau, nếu thiếu một
trong hai hoạt động đó thì quá trình dạy học không diễn ra. Chẳng hạn, nếu thiếu
hoạt động dạy của giáo viên thì quá trình đó chuyển thành quá trình tự học của
nguời học. Còn thiếu hoạt động học của người học thì hoạt động dạy không diễn
ra, do đó không diễn ra quá trình dạy học.Quá trình dạy học liên hệ mật thiết với
nhau, diễn ra đồng thời phối hợp chặt chẽ tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động
dạy và hoạt động học, từ đó sẽ tạo nên hiệu quả cho quá trình dạy học.
Hoạt động dạy của người giáo viên: Đó hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều
khiển hoạt động nhận thức - học tập của của hoc sinh, giúp học sinh tìm tòi khám
phá tthức, qua đó thực hiện hiệu quả chức năng học của bản thân. Hoạt động
lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên đối với hoạt động nhận thức -
học tập của người học sinh thể hiện như sau:
- Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức - học tập.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động tương ứng
của người học.
- Tổ chức thực hiện hoạt động dạy của mình với hoạt động nhận thức - học
tập tương ứng của người học.
- Kích thích tính tự giác, tính tích cực, độc lập, chủ động sáng tạo của người
học bằng cách tạo nên nhu cầu, động cơ, hứng thú, khêu gợi tính mò, ham hiểu
biết của người học, làm cho họ ý thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ học tập ca mình.
- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, qua đó
những biện pháp điều chỉnh. sửa chữa kịp thời nhừng thiếu sót, sai lầm của họ
cũng như trong công tác giảng dạy của mình.
Hoạt động học của học sinh: hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ
chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thu nhận, xử
biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể
hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.
Tiến hành thực hiện những hành động, thao tác nhận - học tập nhằm giải
quyết những nhiệm vụ học tập được đề ra.
- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác động kiểm
tra, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá cùa bản thân.
- Phân ch những kết qủa hoạt động nhận thức - học tập duới tác dộng của
giáo viên, qua dó mà cải tiến hoạt động học tập.
Trong trường hợp thứ hai, quá trình hoạt động độc lập, học tập thiếu sự lãnh
đạo trực tiếp của giáo viên thì điều đó được thể hiện như sau:
- Tự lập kế hoạch hoặc cụ thể hoá các nhiệm vụ học tập của mình.
- Tự tổ chức hoạt động học tập bao gồm việc ỉựa chọn các phương pháp và
phương tiện của mình.
- Tự kiểm tra, tự đánh giá qua đó tự điều chỉnh trong tiến trình hoạt động
học tập của mình.
- Tự phân tích các kết quả hoạt động nhận thức - học tập mà cải tiến phương
pháp học tập của mình.
Hoạt động dạy học đạt được hiệu quả tối ưu trong trong trường hợp sự
thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy hoạt động học của học sinh, trong đó
sự nỗ lực của giáo viên của học sinh trùng với nhau tạo nên sự cộng hưởng của
chính quá trình dạy học đó.
Học sinh tồn tại vừa là đối tượng điều khiển của giáo viên (đối tượng, khách
thể của hoạt động dạy), với cách này học sinh chịu tác động sư phạm; vừa chủ
thể nhận thức, với cách này, quá trình nhận thức của học sinh quá trình phản
ánh thế giới khách quan vào ý thức.
Hai mặt hoạt động dạy hoạt động học phối hợp chặt chẽ với nhau, kết quả
của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và ngược lại.
Mối quan hệ thống nhất giữa hoạt động dạy hoạt động học như sau:
- Giáo viên đưa ra nhiệm vụ, yêu cầu nhận thức, những nhiệm vụ, yêu cầu
này tác dụng đưa học sinh vào tình huống vấn đề, kích thích duy của học
sinh, học sinh tự đưa ra nhiệm vụ học tập cho mình.
- Học sinh ý thức được nhiệm vụ cần giải quyết, nhu cầu giải quyết
nhiệm vụ, biến các nhiệm vụ khách quan thành yêu cầu chủ quan, giải quyết nhiệm
vụ dưới sự chỉ đạo của giáo viên ở các mức độ khác nhau.
- Giáo viên thu các tín hiệu ngược từ học sinh để giúp cho học sinh điều
chỉnh hoạt động học, đồng thời giúp cho giáo viên tự điều chỉnh hoạt động dạy của
mình. Học sinh cũng thu tín hiệu ngược (tín hiệu ngược trong) để tự phát hiện, tự
đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình.
- Trên sở xử những tín hiệu ngược, giáo viên đưa yêu cầu mới, học
sinh cũng đưa yêu cầu cho bản thân, giúp học sinh hoàn thành những nhiệm vụ học
tập nhất định.
- Giáo viên phân tích đánh giá kết quả học tập của học sinh và của mình.
Để phát triển tư duy sáng tạo, các ntâm học cũng đã chỉ ra rằng năng
lực tư duy sáng tạo không chỉ lĩnh hội được một khối lượng tri thức còn cả
chất lượng tri thức và đặc biệt cấu trúc quá trình tư duy, hệ thống những thao tác
tư duy và những hành trang trí tuệ mà người học nắm vững được.
Ngoài ra, cùng với sự bùng nổ tri thức cũng diễn ra sự lão hóa tri thức với
tốc độ rất nhanh. Do vậy để tránh được sự lạc hậu, mỗi người cần phải học tập liên
tục, học tập suốt đời. vậy quá trình dạy học không chỉ dạy cho người học lĩnh
hội tri thức mà cần phải dạy cho họ học cách học mt cách sáng tạo.
Hiểu hoạt động học như trên không thể không nhận thấy vai trò của người
học đã được tăng cường, họ không ch thụ động tiếp thu những điều giáo viên
truyền đạt còn chủ thể của hoạt động nhận thức - học tập. Vai trò của người
giáo viên cũng hoàn toàn thay đổi, trong quá trình dạy học người giáo viên đóng
vai trò như người tổ chức hoạt động nhận thức độc lập của người học, làm cho
người học phát huy tiềm năng của bản thân và học một cách sáng tạo. Chính điều
này sở chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục nói chung và dạy học nói
riêng.
Quá trình dạy học một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển
của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy
học.
II. Bản chất của quá trình dạy học
Như trên đã trình bày, qtrình dạy học bao gồm quá trình dạy quá trình
học.Hoạt động học của học sinh phải hoạt động nhận thức?Nhận thức sự
phản ánh thế giới khách quan vào não người - đó sự phản ánh tâm của con
người bắt đầu từ cảm giác đến duy, tưởng tượng.Sự học tập của học sinh cũng
quá trình như vậy. Sphản ánh đó sự phản ánh đi trước, tính chất cải tạo
mức độ cao nhất của tính chất cải tạo đó sự sáng tạo. Sự phản ánh đó không phải
thụ động như chiếc gương mà bao giờ cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của
mỗi người như thông qua tri thức, kinh nghiệm nhu cầu hứng thú... của chủ thể
nhận thức. Sự phản ánh đó tính tích cực thể hiện chỗ được thực hiện trong
tiến trình hoạt động phân tích - tổng hợp của não người tính lựa chọn.Trong
số những svật qtrình của hiện thực khách quan, chủ thể tích cực lựa
chọn những cái trở thành đối tượng phản ánh của họ.Vì vậy, với cách một
thực thể hội ý thức, học sinh khả năng phản ánh một cách khách quan về
nội dung ch quan về hình thức, nghĩa về nội dung học sinh khả năng phản
ánh đúng bản chất những quy luật của thế giới khách quan, còn về hình thức
mỗi học sinh phương pháp phản ánh riêng của mình, cách hình thành khái
niệm, xây dựng cấu trúc lôgic riêng của mình. vậy, quá trình học tập của học
sinh cũng diễn theo công thức nổi tiếng của V. I. Lênin về quá trình nhận thức: Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ duy trừu tượng đến thực tiễn, đó
con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan”.
Toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của học sinh đều thể
hiện theo công thức đó; song, trong từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điểm xuất phát
trong quá trình nhận thức thể hoặc đi tcụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu
tượng đến cụ thể, từ đơn nhất đến khái quát hoặc từ khái quát đến đơn nhất.
Trong thực tiễn dạy học, do không hiểu đúng công thức đó đã dẫn tới cách
xây dựng nội dung sử dụng phương pháp dạy học không đúng. Thứ nhất cho
rằng bản chất của quá trình dày học tạo nên những điều kiện đảm bảo thường
xuyên tính trực quan sinh động, nhận thức cảm tính trực tiếp, vậy, khi lĩnh hội
một khái niệm mới nào cũng phải bắt đầu bằng những cảm giác trực tiếp. Từ đó
quá đề cao vai trò của tính trực quan, tư duy hình ảnh cụ thể mà xem nhẹ vai trò tư
duy lôgíc, duy khái quát, trừu tượng.Thứ hai vận dụng những phạm trù tổng
quát của thuyết nhận thức vào quá trình dạy học đã dẫn tới thay thế việc xem xét
nhận thức nhân bằng nhận thức hội. Họ đã quên mất luận điểm rất quan trọng
của C. Mác, rằng không phải hội nhận thức nhân, do đó đã thiếu quan
tâm đến hoạt động nghiên cứu của học sinh trong qúa trình học tập.
Trong dạy học, quá trình nhận thức của học sinh thể hiện tính độc đáo:
Quá trình nhận thức của học sinh không phải qúa trình tìm ra cái mới cho
nhân loại chủ yếu sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra, nên họ
nhận thức những điều rút ra từ kho tàng tri thức chung của loài người, đối với bản
thân họ còn là mới mẻ.
Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mẫm,
thử sai nquá trình nhận thức nói chung của loài người, diễn ra theo con
đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình, nội dung dạy
học gia công sư phạm. Chính vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh có thể
lĩnh hội khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi.
Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình
dạy học: Lĩnh hội tri thức mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức,
năng, kĩ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của bản thân.
Thông qua hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học, cần
hình thành học sinh thế giới quan, động cơ, các phẩm chất của nhân cách phù
hợp với chuẩn mực xã hội.
Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò
chủ đạo của giáo viên (lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) cùng với những điều kiện
phạm nhất định.
Bản chất của quá trình dạy học quá trình nhận thức độc đáo của học
sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên.
Quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính độc đáo đó trong quá trình nhận
thức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người
với quá trình nhận thức của người học sinh. Song, không quá coi trọng tính độc
đáo mà thiếu quan tâm đến việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm hiểu và tập tham
gia các hoạt động tìm i khám phá khoa học vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị
cho họ tự khai thác tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học trong tương lai.
III. Nhiệm vụ của dạy học
1. sở để xác định các nhiệm vụ dạy học
Nhiệm vụ dạy học được đề ra dựa trên những sở chủ yếu sau đây:
- Mục tiêu đào tạo
- Sự tiến bộ khoa học công nghệ
- Đặc điểm tâm - sinh lí của học sinh
- Đặc điểm hoạt động dạy học của nhà tờng
2. Nhiệm vụ dạy học
Dạy học ba nhiệm vụ sau:
a. Nhiệm vụ 1, Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ
thông bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, hội -
nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống năng, xảo tương ứng
Để tồn tại phát triển, loài người đã không ngừng đi sâu khám phá những
mật của thế giới khách quan để nhận thức, cải tạo phục vụ cho lợi ích của con
người. Trong quá trình đó loài người tích luỹ khái quát hoá những kinh nghiệm
xã hội dưới dạng các sự kiện khoa học, khái niệm, định luật, định lí, tưởng khoa
học, học thuyết được gọi những tri thức khoa học. Những tri thức này vô
cùng lớn, mỗi một con người trong suốt cuộc đời của mình không sao thể nắm
hết được.Vì vậy, nhiệm vụ của trường phổ thông là giúp học sinh nắm vững những
tri thức phổ thông bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn đất nước.Nắm vững tri
thức có nghĩa là hiểu, nhớ và vận dụng những tri thức đó vào trong hoàn cảnh thực
tiễn đã biết hoặc trong hoàn cảnh mới.
Tri thức phổ thông bản những tri thức đã được lựa chọn xây dựng từ
các lĩnh vực khoa học khác nhau. Đó những tri thức tối thiểu nhất, cần thiết nhất,
làm nền tảng giúp học sinh thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, các
trường dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống tự lập, trực tiếp tham lao động sản xuất
tham gia các công tác xã hội, cuộc sống tinh thần phong phú. Những tri thức
cơ bản này được biến đổi theo những biến đổi của yêu cầu xã hội.
Những tri thức bản cần cung cấp cho học sinh phải là những tri thức hiện
đại, đó là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của văn hoá.khoa học
công nghệ phợp với chân khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời
đại.
Những tri thức đó phải phù hợp vối thực tiễn của đất nước ng như phù hợp
với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh, đảm bảo được
tính hệ thống, tính lôgíc khoa học và mối liên hệ chặt chẽ giữa các môn học.
Trong quá trình lĩnh hội những tri thức đó hình thành cho học sinh hệ thống
năng, xảo nhất định tương ứng với nội dung môn học, đặc biệt những năng,
kĩ xảo có liên quan đến hoạt động nhận thức - học tập và tập dượt nghiên cứu khoa
học mức độ thấp nhằm giúp cho các em không những nắm vững tri thức mà còn
biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo chúng trong các tình huống khác nhau. năng
của học sinh phải được diễn ra theo các mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ nhận biết tái hiện đến kĩ năng sáng tạo.
Các nhà tương lai học cho rằng, muốn nhập vào hội tương lai của thế kỉ
XXI, thếhệ trẻ cần được chuẩn bị thật tốt về mặt học vấn phổ thông cốt lõi hệ
thống thái độ, tri thức và kĩ năng, đặc biệt là các kì năng cơ bản sau:
- năng nắm bắt thông tin và giao tiếp hội;
- năng làm việc hiệu quả trong mt nhóm cộng đồng;
- năng nhận thức về hội nhân n;
- năng vận dụng ngoại ngữ và vi tính;
- năng cảm thụ sáng tạo nghệ thuật;
- năng phân tích giải quyết các tình huống ứng xử;
- năng tổ chức và điều hành một guồng máy;
- năng phòng vệ sự sống và gia tăng sức khoẻ;
- năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ...
Hệ thống những năng trên cần được hình thành rèn luyện thường
xuyên trong các loại hình trường, trong đó hoạt động dạy học phthông một
khâu cực kì quan trọng.
b. Nhiệm vụ 2. Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực
phâm chất trí tuệ, đặc biệt năng lực duy độc lập, sáng tạo
Sự phát triển trí tuệ nói chung nét đặc trưng riêng bởi stích luỹ vốn tri
thức các thao tác trí tuệ thành thạo, vững chắc của con người. Đó là quá trình
chuyển biến vchất trong qtrình nhận thức của người học.Năng lực hoạt động
trí tuệ được thể hiện năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ. Quá trình chiếm lĩnh
tri thức diễn ra một cách thống nhất giữa một bên là nội dung những tri thức với
cách “cái được phản ánh”, một bên các thao tác hoạt động trí tuệ với cách
“phương thức phản ánh”. Như vậy, hệ thống những tri thức được học sinh lĩnh
hội thông qua các thao tác hoạt động trí tuệ của họ và ngược lại, chính các thao tác
trí tuệ cũng được hình thành phát triển trong q trình chiếm lĩnh tri thức, rèn
luyện năng, xảo. thế, các nhà tâm học cho rằng sự phát triển nét đặc
trưng bởi quá trình tích luỹ vốn tri thức những thao tác trí tuệ của người học
sinh.
Trong quá trình dạy học, với vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên, học
sinh không ngừng phát huy tính tích cực nhận thức, tự mình rèn luyện các thao tác
trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất hoạt động trí tuệ như:
Tính định hướng của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ người học nhanh
chóng xác định chính xác được đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt
tới kịp thời phát hiện, điều chỉnh những lệch lạc trong qtrình giải quyết các
nhiệm vụ học tập.
Bề rộng của hoạt động trí tuệ thể hiện chỗ, trong quá trình học tập, học
sinh thể lĩnh hội tri thức, năng trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, đáp
ứng nhu cầu mong muốn hiểu biết những vấn đề liên quan đến nội dung chương
trình dạy học trong phạm vi nhà trường.
Chiều sâu của hoạt động trí tuệ phản ánh nàng lực đi sâu tìm hiểu bản chất
của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Người học sinh học tốt phải
người biết cách duy sâu sắc, nắm vững được bản chất vấn đề, phân biệt được
các phạm trù nội dung hình thức, bản chất hiện tượng cái khách quan cái
chủ quan..., để thể chiếm lĩnh nội dung dạy học một cách chất lượng hiệu
quả cao.
Tính linh hoạt trong hoạt động trí tuệ của học sinh đươc thể hiện chỗ, các
em không những tiến hành hoạt động nhận thức một cách nhanh chóng, hiệu
quả còn khả năng di chuyển hoạt động duy từ nh huống này sang tình
huống khác một cách sáng tạo. Nhờ đó, các em thể thích ứng nhanh chóng với
các tình huống nhận thức khác nhau và đạt được kết quả tối ưu trong học tập.
Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ nét đặc trưng của hoạt động nhận
thức, đặc biệt là quá trình duy quá trình đó được tiến hành một cách linh hoạt,
sáng tạo theo các chiều hướng xuôi, ngược khác nhau; từ cụ thể đến trừu tượng
ngược lại; từ cái riêng đến cái chung và ngược lại...
Tính độc lập trong hoạt động trí tuệ của học sinh trong học tập thể hiện
chỗ các em tự mình phát hiện vấn đề, tlực suy nghĩ tìm ra các phương án giải
quyết vấn để bằng chính hoạt động thao tác của mình chọn phương án giải
quyết tối ưu nhất.
Tính nhất quán trong hoạt động trí tuệ phản ánh lôgíc hoạt động nhận thức
của học sinh, đảm bảo sự thống nhất tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối, không mâu
thuẫn.
Tính phê phán của hoạt động trí tuệ thể hiện chỗ, trong quá trình học tập,
học sinh biết nhận xét, phân tích, đánh giá một vấn đề, một sự kiện, một hiện tượng
hoặc nhận xét, đánh giá những quan điểm, phương pháp, thuyết của người khác
nêu lên được ý kiến chủ quan của mình bảo vệ được quan điểm của chính
nh.
Tính khái quát của hoạt động trí tuệ thể hiện khi giải quyết một loại nhiệm
vụ nhận thức nhất định, học sinh thể hình thành được hình giải quyết một
cách khái quát tương ứng. Từ hình giải quyết khái quát đó, các em thể vn
dụng để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể ng loại dễ dàng thích ứng với việc
giải quyết các nhiệm vụ học tập tương ứng để tìm i, phát hiện những tri thức,
năng và phương pháp mới.
Như vậy, sự phát triển trí tuệ của học sinh được phản ánh thông qua sự phát
triển không ngừng của các chức năng tâm phẩm chất trí tuệ, đặc biệt quá
trình duy độc lập, sáng tạo của người học, bởi l“tư duy sắc sảo thì tài năng
của con người mới lấp lánh”.
Sự phát triển trí tuệ mốỉ quan hệ biện chứng với hoạt động dạy học.Dạy
học được tổ chức đúng sẽ thúc đẩy sự phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ của
học sinh ngược lại, sphát triển đó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động dạy học đạt
chất lượng cao hơn.Đó cũng là một trong những quy luật của dạy học.
Điều kiện cần thiết để thúc đẩy mạnh mẽ sphát triển của học sinh hoạt
động dạy học phải luôn luôn đi trước sự phát triển trí tuệ dạy học phải luôn
mức độ khó khăn vừa sức học sinh tạo điều kiện đphát triển tối đa những tiềm
năng vốn có của họ.
c. Nhiệm vụ 3. Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành sở thế giới quan
khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng phát triển nhân cách nói chung
Trên cơ sở làm cho học sinh nắm vững tri thức và kĩ năng, kĩ xảo, phát triển
năng lực nhận thức hình thành cho họ sthế giới quan khoa học, những
phẩm chất đạo đức nói riêng sự phát triển nhân cách nói chung theo mục đích
giáo dục đã đề ra.
Thế giới quan hệ thông những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng
trong tự nhiên và trong hội.Nó quy định xu hướng chính trị, tưởng, đạo đức
những phẩm chất khác.Nó chi phối cách nhìn nhận, thái độ hành động của
mỗi nhân.Trong hội giai cấp, thế giới quan nhân đều mang tính giai
cấp.Chính thế trong quá trình dạy học cần phải quan tâm đầy đđến việc hình
thành những sở thế giới quan khoa học cho học sinh đhọ suy nghĩ, thái độ
hành động đúng. Đồng thời cần bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức theo mục
đích giáo dục đã đề ra như làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước
CNXH, năng động, chủ động, sáng tạo, thích ứng nhanh với những yêu cầu
CNH HĐH đất nước... thông qua nội dung, phương pháp hình thành tổ chức
dạy học.
Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ dạy học
Trong quá trình dạy học ba nhiệm vụ đó mối quan hệ mật thiết với nhau,
tác động, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục đích giáo dục hiệu qủa.Thiếu trí
thức, năng, kĩ xảo tương ứng, thiếu phương pháp nhận thức thì không thể tạo
điểu kiện cho sự phát triển trí tuệ thiếu sở để hình thành thế giới quan khoa
học.Phát triển trí tuệ vừa là kết qua, vừa là điểu kiện của việc nắm vừng tri thức, kĩ
năng, xảo và cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học những phẩm chất
đạo đức.Phải trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp học sinh cách
nhìn, thái độ hành động đúng.Nhiệm vụ thứ ba vừa mục đích vừa kết
quả của hai nhiệm vụ trên.Nó yếu tố kích thích chỉ đạo việc nắm tri thức, hình
thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực nhận thức.
IV. Động lực của quá trình dạy học
1. Khái niệm
Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng không ngừng
vận động phát triển. Sở như vậy do sự đấu tranh và thống nhất giữa các
mặt đối lập, nghĩa do mâu thuẫn bên trong mâu thuẫn bên ngoài. Mâu
thuẫn bên trong là nguồn gốc của sự phát triển, mâu thuẫn bên ngoài điểu kiện
của sự phát triển.
Quá trình dạy học trong hiện thực khách quan cũng vận dộng phát triển
do không ngừng giải quyết các mâu thuẫn bên trong mâu thuẫn bên ngoài. Mâu
thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố giữa các
yếu tố trong từng thành tố của quá trình dạy học. Chẳng hạn mâu thuẫn giữa những
thành tố như trình độ của thầy của trò, giữa nội dung dạy học đã được cải tiến
nhưng phương pháp chưa được đổi mới, giữa phương pháp đổi mới với phương
tiện dạy học chưa đảm bảo. Mâu thuẫn giữa những yếu tố của tưng thành tố trong
quá trình dạy học, chẳng hạn như trong phương pháp dạy học xuất hiện mâu thuẫn
giữa việc sử dụng nhóm phương pháp dùng lời với nhóm phương pháp trực quan.
Nếu quá lạm dụng phương pháp trực quan sẽ làm giảm sự phát triển tư duy trừu
tượng, nếu quá lạm dụng phương pháp dùng lời bài giảng strnên trừu tượng.
Mâu thuẫn bên ngoài mâu thuẫn giữa sự tiến bộ khoa học, công nghệ, văn hoá,
sự phát triển kinh tế - xã hội với từng thành tố của quá trình dạy học. Động lực của
quá trình dạy học giải quyết tốt được những mâu thuẫn bên ngoài, bên trong của
quá trình dạy học, trong đó giải quyết các mâu thuẫn bên trong ý nghĩa quyết
định. Song trong những điều kiện nhất định, các mâu thuẫn bên ngoài của quá trình
dạy học lại có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự vận động và phát triển của nó.
Từ đó thể nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn cần phải giải quyết, song điều
quan trọng nhất để quá trình dạy hoc phát triển đúng, nhanh hiệu quả phải
xác định và giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của nó.
Mâu thuẫn bản của quá trình dạy học mâu thuẫn giữa một bên
nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra một bên trình độ tri thức,
năng, xảo trình độ phái triển trí tuệ hiện của người học.
Mâu thuẫn bản tồn tại suốt từ đầu đên cuối quá trình, việc giải quyết các
mâu thuẫn khác, xét cho cùng đều phục vụ cho việc giải quyết nó.
Mâu thuẫn bản khi xuất hiện dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, học
sinh tự lực hoặc được sự hỗ trợ của giáo viên sẽ giải quyết nó.Nhờ đó người học
được nâng cao trình độ và đáp ứng được nhiệm vụ dạy học đề ra.Quá trình dạy học
quá trình liện tục đề ra các nhiệm vụ học tập khi một nhiệm vụ được giải
quyết lại nhiệm vụ khác xuất hiện và lại được giải quyết, cứ nvậy q
trình dạy học không ngừng vận động phát triển.Sự thúc đẩy giải quyết các mâu
thuẫn cơ bản đó tạo ra động lực cơ bản của quá trình dạy học.
Song, muốn quá trình dạy học phát triển thì quá trình học của học sinh phải
tiến triển.Vì vậy, mâu thuẫn bản của quá trình dạy học phải chuyển hoá thành
mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh.
Sự lĩnh hội, theo I. M. Xêsênốp, hoà những sản phẩm kinh nghiệm của
người khác với kinh nghiệm của bản thân. Điều đó có nghĩa là làm cho những điều
được mang từ bên ngoài vào phải hoà vào tài sản bên trong của bản thân, tạo nên
môt cấu trúc mới. vậy, mâu thuẫn bản của quá trình lĩnh hôi tri thức, năng,
xảo là mâu thuẫn giữa điều đã biết và điểu chưa biết, điều đã biết ở đây chính
kinh nghiệm, sự hiểu biết của bản thânđiều chưa biết chính kinh nghiệm của
người khác, nghĩa là tri thức mới cần lĩnh hội.
Để chuyến hoá mâu thuẫn bản của quá trình dạy học thành mâu thuẫn
bản của quá trình lĩnh hội tri thức, năng, xảo của người học cần phải ba
điều kiện:
- Mâu thuẫn phải được người học ý thức đầy đủ sâu sắc. Họ phải nhận
thức rõ những yêu cầu của nhiệm vụ học tập được đề ra, thấy hết và đánh giá đúng
mức trình độ tri thức, năng, xảo, trình độ phát triển trí tuệ hiện của
mình.Điềuđó thể hiện chỗ người học nhận thấy khó khăn trong nhận thức
nảy sinh nhu cầu giải quyết khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Mâu thuẫn phải khó khăn vừa sức. Điều đó nghĩa lànhiệm vụ học tập
được đề ra mức đtương ứng với giới hạn trên của vùng phát triển gần nhất của
học sinh h thể giải quyết được với sự nỗ lực cao nhất về trí lực cũng như
thể lực của mình.
- Mâu thuẫn phải do tiến trình dạy học dẫn dến. Điều đó nghĩa mâu
thuẫn xuất hiện tại thời điểm nào đó sự tất yếu trên con đường vận động đi lên
của quá trình dạy học nói chung quá trình nhận thức của học sinh nói riêng.
Không nên đốt cháy giai đoạn làm cho mâu thuẫn xuất hiện sớm quá hoặc làm cho
xuất hiện muộn quá. Nhiệm vcủa người giáo viên là không nên lảng tránh, để
cho xuất hiện không đúng lúc, trái lại cần làm cho mâu thuẫn xuất hiện đúng
lúc, như vậy các mâu thuẫn sẽ trở nên sâu sắc.
BÀI 2. NGUYÊN TẮC DẠY HỌC
I. Khái niệm nguyên tắc dạy học
“Nguyên tắc từ tiếng La tinh “Principium”, là tư tưởng chỉ đạo quy tắc cơ
bản, yêu cầu bản đối với hoạt động và hành vi rút ra từ tính quy luật được khoa
học thiết lập.
Từ đó ta thể định nghĩa: Nguyên tắc dạy học hệ thống xác định những
yêu cầu bản, tính chất xuất phát để chđạo việc xác định nội dung, phương
pháp hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, với nhiệm v
dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học.
Nguyên tắc dạy học phạm trù lịch sử.Lịch sử phát triển nhà trường
luận nhà trường đã chỉ ra rằng mục đích giáo dục biến đổi dưới tác động của những
yêu cầu của sự phát triển hội đã dẫn tới sự biến đổi các nguyên tắc dạy học.
luận dạy học phải nhạy bén nắm bắt sbiến đổi những yêu cầu của xã hội đối với
việc giáo dục thế hệ trẻ, phản ứng kịp thời trước những yêu cầu đó, xây dựng hệ
thống những nguyên tắc dạy học, chỉ ra một cách đúng đắn phương hướng chung
đi đến mục đích. Đồng thời cũng cần bảo toàn hoàn thiện những phương pháp
dạy học trước đây mà chưa mất ý nghĩa trong hoàn cảnh mới của nhà truờng PT.
Nguyên tắc dạy học phản ánh những tính quy luật của quá trình dạy
học.Điều đó nghĩa nguyên tắc dạy học không phải tạo ra một cách tuỳ tiện mà
rút ra từ bản chất của quá trình dạy học.Vì vậy mặt này chúng có tính khách quan.
II. Hệ thống nguyên tắc dạy học
1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học tính giáo dục
trong dạy học:
* Nội Dung :Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải trang
cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa
học, công nghệ và văn hoá hiện đại, phải dần dần giúp học sinh tiếp cận với những
phương pháp học tập, nhận thức, thói quen suy nghĩ làm việc một cách khoa
học. Thông qua đó dần dần hình thành sở thế giới quan khoa học, tình cảm
và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện đại.
Dạy học không chỉ làm phát triển trí của con người cung cấp cho người
học một khối lượng kiến thức nào đó phải làm cháy lên họ lòng khát khao
học tập một cách nghiêm túc. Thiếu điều đó thì cuộc sống không thể nào một
cuộc sống xứng đáng và hạnh phúc.
Ảnh hưởng giáo dục của khoa học là người đồng hành không tránh khỏi của
dạy học.Song từ đó sẽ không đúng khi cho rằng dạy học bao giờ cũng tác động
như nhau đến học sinh và sự nỗ lực một cách tự giác, nghệ thuật của ngiáo dục
không ý nghĩa quan trọng. Trái lại, tính chất giáo dục của dạy học, phương
hướng tư tưởng sức mạnh ảnh hưởng của tới học sinh do nội dung,
phương pháp dạy học, sự tổ chức tiết học do tác động của chính nhân cách
người giáo viên quyết định.
* Cách thực hiện : để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
- trang cho người học những tri thức khoa học chân chính, hiện đại nhằm
giúp cho họ nắm được quy luật phát triển của tự nhiên, hội, duy, cách nhìn
thái độ hành động đúng đắn đối với hiện thực.
- Cung cấp cho họ những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, hội, con người
Việt Nam, những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử dựng nước bảo vệ đất nước
của dân tộc ta qua hàng ngàn năm, đặc biệt truyền thống đó ngày càng phát triển
mạnh mẽ dưới lãnh đạo của Dảng. Từ đó giáo dục cho học sinh tinh thần trách
nhiệm, nghĩa vụ công dân trước sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
trong học tập và tu dưỡng.
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức năng lực phân tích, biết phê phán một
cách đúng mức những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng,
những quan niệm khác nhau về một vấn đề.
- Vận dụng các phương pháp các hình thức tổ chức dạy học theo hướng
giúp học sinh làm quen với một số phương pháp nghiên cứu khoa học mức đ
đơn giản nhằm dần dần tiếp cận với hoạt động khoa học, rèn luyện những tác
phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.
2. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa luận thực tiễn, học đi đôi với
hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển của
đất nước
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học nắm vững tri thức, nắm vững
sở khoa học, kỹ thuật, văn hoá khi kết hợp hai điều kiện: 1) Tri thức những
điểm hệ thống, quan trọng then chốt hơn cả. 2) Tri thức đó phải được vận
dụng trong thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân. Thông qua đó giúp
họ ý thức tác dụng của tri thức thuyết đối với đời sống, với thực tiễn, với
công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước, hình thành cho họ những kỹ năng vận
dụng chúng ở những mức độ khác nhau mà mức độ cao nhất là góp phần phát triển
kinh tế- xã hội và văn hoá- khoa học của đất nước.
Bản thân nội dung luận liên hệ với thực tiễn” đã phản ánh nội dung
“học đi đôi với hành”. Theo Hồ Chí Minh thì luận phải đem ra thực hành.
Thực hành phải nhằm theo luận. luận cũng như cái tên.Thực hành cũng n
cái đích đbắn. tên không bắn hoặc bắn lung tung cũng như không tên.
Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời phải hành”.
Theo Bác, học phải toàn diện: Trong giáo dục không những phải tri
thức phổ thông còn phải đạo đức cách mạng”. Còn hành” theo Người
vận dụng những điều đã học vào việc giải quyết những vấn đdo thực tiễn đề ra.
“Hành” đối với Người không chỉ là những việc to lớn mà cả trong những việc bình
thường, ai cũng làm được. Song việc làm đó ý nghĩa hội, ý nghĩa cách mạng
rất lớn, tác dụng hình thành con người tưởng cao cả, tình cảm hành vi
đẹp đẽ, góp phần vào sự nghiệp đại của tập thể, của dân tộc từ những công việc
bình thường hàng ngày.
Từ đó thể nhận thấy nội dung khái niệm học hành quện vào nhau, đan
kết chặt chẽ với nhau. Trong nội dung học nội dung hành ngược lại, trong
nội dung hành đã nội dung học, thể hiện động cơ, mục đích, thái độ cách
học: Học làm người.
Nguyên tắc này dựa trên nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lênin
tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Theo Bác, thống nhất luận thực tiễn
nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng
dẫn thì thành thực tiễn quáng.Lý luận không liên hệ với thực tiễn luận
suông”. Một mặt, Người chống lại luận suông, nhưng mặt khác Người cũng
chống lại bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường luận: kinh nghiệm
không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”.
Để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
- Khi xây dựng kế hoạch chương trình dạy học cần lựa chọn những môn học
những tri bản, phù hợp với những điều kiện thiên nhiên, với hoàn cảnh thực
tiễn xây dựng phát triển kinh tế hội, chuẩn bị cho người học thích ứng
nhanh và tham gia có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
- Về nội dung dạy học phải làm cho người học nắm vững tri thức lý thuyết,
thấy nguồn gốc của những tri thức đó vai trò của tri thức khoa học đối với
thực tiễn; phải vạch ra phương hướng ứng dụng tri thức khoa học vào hoàn cảnh cụ
thể đất nước, của địa phương; phải phản ámh tình hình thực tiễn vào nội dung dạy
học.
- Về phương pháp dạy học cần khai thác vốn sống của người học để minh
hoạ, để đặt ra giải quyết những vấn đluận. Cần vận dụng có đổi mới những
phương pháp như thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu các tài liệu thực tiễn…làm
cho học sinh nắm nhanh nắm chắc những tri thức thuyết vận dụng những
tri thức thuyết đó vào giải quyết những tình huống khác nhau.Thông qua đó,
bước đầu giúp học sinh làm quen với những phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Về hình thức tổ chức dạy học thì cần kết hợp các hình thức tổ chức dạy học
khác nhau, đặc biệt hình thức lên lớp với hình thức tham quan học tập, hình thức
thực hành, thực tập ở phòng thí nghiệm, ở các trung tâm kỹ thuật tổng hợp…
Dạy học kết hợp với lao động sản xuất hoạt động công ích là điều kiện
quan trọng để thực hiện hiệu quả nguyên tắc này.
3. Nguyên tắc đảm bảo nh hệ thống tính tuần tự trong dạy học
Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm cho người học lĩnh hội những tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo trong mối liên hệ logic tính kế thừa, phải giới thiệu cho họ hệ
thống những tri thức khoa học hiện đại, hệ thống đó được xác định không chỉ
nhờ vào cấu trúc logic khoa học cả tính tuần tự phát triển những khái niệm
định luật khoa học trong ý thức của họ. Tính tuần tự phát triển những khái niệm và
định luật khoa học trong ý thức của người học khác rất nhiều (đặc biệt lứa tuổi
tiểu học) với hệ thống tri thức khoa học do những nhà bác học trình bày, nhưng nó
phải dựa trên cơ sở khoa học nhất định.
Để thực hiện nguyên tắc này, về mặt nội dung dạy học cần:
- Xây dựng hthống môn học, chương, chủ đề những tiết học phụ thuộc
vào thuyết, từ đó làm scho sự khái quát. Dựa trên thuyết của một số nhà
tâm học đề ra thì hệ thống xây dựng những giáo trình bậc phổ thông cần thay
đổi theo nguyên tắc từ cái chung đến cái riêng. Tính tuần tự tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển tư duy lí luận cho học sinh.
- Khi xây dựng nội dung dạy học phải tính tới những mối liên hệ giữa các
môn học, mối liên hệ giữa những tri thức trong bản thân của từng môn tích hợp
tri thức của các môn học.
- Tính hệ thống tính tuần tự không những được theer hiện trong hoạt động
của người giáo viên ngay cả trong công việc học tập của học sinh. Chính
vậy, điều hết sức quan trọng là phải hình thành cho HS thói quen lập kế hoạch một
cách hợp cho hoạt động của mình, thói quen lập dàn bài 1 cách logic cho những
câu hỏi miệng, những bài tập làm văn thực hiện những nguyên tắc trong phòng
thí nghiệm.
4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc
lập, sáng tạo của học sinh vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy
học.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự
giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ
đạo của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng ca hoạt động dạy và hoạt động học.
- Tính tự giác nhận thức thể hiện chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích,
nhiệm vụ học tập qua đó nỗ lực nắm vững tri thức, tránh chủ nghiã hình thức
trong quá trình lĩnh hội tri thức.
- Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể
thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những
vấn đề học tập, nhận thức. vừa mục đích hoạt động, vừa phương tiện, vừa
điều kiện để đạt được mục đích vừa kết quả của hoạt động.Tính tích cực
nhận thức cũng là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
Cần phải phân biệt tính tích cực và trạng thái hành động, về bngoài chúng
giống nhau nhưng về bản chất là khác nhau.
Tuỳ theo sự huy động những chức năng m nào mức độ sự huy động
đó thể diễn ra nh tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi tính tích cực
sáng tạo.
- Tính độc lập nhận thức về nghĩa rộng sự sẵn sàng tâm lý đối với stự
học.Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức năng lực, phẩm chất, nhu cầu học
tập và năng lực tự tổ chức học tập, cho phép người học tphát hiện, tự giải quyết
vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình và qua đó cho phép
người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học.
- 3 phẩm chất nêu trên mối liên hệ mật thiết với nhau. Tính tự giác nhận
thức là cơ sở của tính tích cực và tính độc lập nhận thức.Tính tích cực nhận thức là
điều kiện, kết quả, định hướng biểu hiện của sự nảy sinh phát triển
của tính độc lập nhận thức.Tính độc lập nhận thức sự thể hiện tính tịư giác, tính
tích cực ở mức độ cao.
Kết hợp tính tích cực của giáo viên học sinh một cách hài hoà trong hoạt
động phối hợp với nhau sẽ cho phép đạt được những kết quả dạy học giáo dục
trong một thời gian ngắn nhất.
Trong hoàn cảnh đổi mới nước ta nói chung đổi mới sự nghiệp giáo dục
nói riêng, trong điều kiện nhân tố con người động lực cho sự phát triển của
hội thì tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo ý nghĩa đặc biệt quan
trọng.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Quan tâm đúng mức đến việc giáo dục cho người học ý thức đầy đủsâu
sắc mục đích, nhiệm vụ học tập nói chung từng môn học nói riêng để họ xác
định đúng động cơ và thái độ học tập.
- Khuyến khích, động viên tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn trình bày ý
kiến, ý tưởng và những thắc mắc của mình, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học, óc
phê phán, tác phong độc lập suy nghĩ, chống lối học vẹt, học đối phó, chủ nghĩa
hình thức trong học tập.
- Cần sdụng phương pháp dạy học nêu giải quyết vấn đề những mức
độ khác nhau, đặc biệt tăng dần tỷ trọng mức độ tự nghiên cứu, tự giải quyết những
bài tập nhận thức.
- Cần tăng cường sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học.
- Cần kết hợp tính tự giác, tính tích cực học tập với việc nâng cao tinh thần
trách nhiệm trong học tập của người học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá tự kiểm
tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học.
- Hình thành cho người học những thao tác duy, những hành động thực
hành,những biện pháp hoạt động sáng tạo tạo điều kiện cho họ thể hiện khả
năng hoạt động sáng tạo trong quá trình nghiên cứu, học tập những sở khoa học,
nghệ thuật và lao động.
5. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển
duy thuyết:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học thể cho học sinh tiếp xúc
trực tiếp với sự vật, hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành những
khái niệm, quy luật, thuyết; ngược lại, thể từ việc lĩnh hội những tri thức
thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể sau.Trong việc vận dụng
nguyên tắc này bao giờ cũng đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư
duy trừu tượng.
Từ đó ta thể nhận thấy rằng: a) Tính trực quan thể điểm xuất phát
chyếu các lớp tiểu học. b) Tuỳ theo mức độ vận động của trẻ từ các lớp dưới
lên các lớp trên thì điểm xuất phát của quá trình dạynhọc stiếp cận lịch sử đối
với sự phát minh một quy luật nào đó. Lúc đầu nêu lên vấn đề, tiếp theo trình
bày lịch sử giải quyết vấn đề đó cuối cùng trạng thái hiện nay. Sau đó cần
phải tiến hành công tác thực hành hoặc làm thí nghiệm. Đó con đường tính
quy nạp lịch sử trong việc nghiên cứu tri thức. đây tính trực quantham gia hai
lần như minh hoạ sự phát minh, nghĩa sự phát minh đó diễn ra trong lịch sử
khoa học như thế nào và vạch ra cách giải quyết vấn đề hiện nay ra sao. Tuy nhiên
cần phải thấy rằng việc trình bày theo quan điểm lịch sử mất nhiều thời gian học
tập không phải bao giờ cũng cần thiết. sở xuất phát thể những luận
điểm lý thuyết, tiên đề, hệ thống khái niệm đã được lĩnh hội ở những giai đoạn dạy
học trước đây hoặc thậm chí được đưa vào bằng con đường lý luận. Chỉ sau khi đã
nắm được những định luật có tính chất lý luận đó, trực quan được sử dụng để minh
hoạ svận dụng chúng hoặc dưới hình thức công việc phòng thí nghiệm khi bài
tập nhận thức được giải quyết bằng con đường thực nghiệm.
Ngay cả học sinh tiểu học cũng tiến hành dạy học từ cái chung đến cái riêng
nhằm phát triển tư duy lý luận cho trẻ.
Nguyên tắc này đã được J.A.Comenxki ( 1592-1670) lần đầu tiên đra
được gọi nguyên tắc vàng ngọc. Sau này được J.J.Rutxo (1712-1778),
J.A.Pextalogi (1746-1827), K. Đ. Usinxki ( 1824-1870) kế tục phát triển. Dưới
ánh sáng của nhận thức luận Macxit, nội dung của nguyên tắc ngày càng được
hoàn thiện và phát triển.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với cách
phương tiện và nguồn nhận thức.
- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan và lời nói sinh động, diễn
cảm, nghĩa là kết hợp hai hệ thống tín hiệu.
- Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu
tượng đã để hình thành những biểu tượng mới, qua đó hình thành những
khái niệm, định luật mới.
- Cần vận dụng một trong những cách sử dụng trực quan nêu trên phù hợp
với lứa tuổi, nội dung và hoàn cảnh cụ thể nhằm hình thành phát triển duy lý
thuyết cho họ.
Trong quá trình trình bày đdùng trực quan cần hình thành cho học sinh óc
quan sát để nhìn thấy những dấu hiệu bản chất, qua đó mà rút ra những kết luận
tính khái quát.
- Cần sử dụng phối hợpc hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả.
- Đề ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối
quan hệ giữa cái cụ thể, cái trừu tượng và ngược lại.
6. Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức sự phát triển năng lực
nhận thức của học sinh:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm
vững nội dung dạy học với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt sự
tưởng tượng (Tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo), trí nhớ (chủ yếu trí
nhớ logic), tư duy sáng tạo, năng lực động viên tri thức cần thiết để thực hiện công
việc nhận thức, học tập đã đề ra.
Tâm học đã khẳng định việc lĩnh hội nội dung dạy học phát triển năng
lực nhận thức là hai mặt của một quá trình, liên hệ mật thiết với nhau. Khi lĩnh
hội những tri thức khoa học thì trí não đồng thời thực hiện những nhiệm vụ nhận
thức khác nhau, cùng với điều đó, năng lực nhận thức của học sinh được phát
triển.
Trong cách hiểu như trên, nguyên tắc này cần phải kết hợp với nguyên tắc tự
giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nghĩa là phải làm cho họ nhớ lại điều
đã học một cách tự giác, đã được suy ngẫm, tránh lối học thuộc l òng một cách
máy móc thiếu suy nghĩ sâu sắc về tài liệu đó, và do vậy chẳng hiểu được điều
mình học.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Cần phải giúp học sinh kết hợp hài hoà giữa ghi nhớ chủ định không
chủ định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập.
- Cần hình thành cho học sinh những kỹ năng tìm ra những tri thức tính
chất tra cứu khác nhau để giúp họ tránh học thuộc lòng không cần thiết những tài
liệu đó.
- Cần đặt ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá những tri thức
đã học để giải quyết, qua đó giúp hnhớ sâu, nắm vững tri thức tạo điều
kiện phát triển năng lực nhận thức. Cùng với điều đó việc ôn tập luyện tập
được thực hiện thường xuyên, có hệ thống.
- Cần tổ chức quá trình dạy học như thế nào để một bộ phận đáng knhững
tri thức, knăng, kỹ xảo được củng cố tại tiết học. Muốn vậy, việc trình bày tài
liệu học tập của giáo viên phải logic, ràng, dễ hiểu, phải tác động mạnh về mặt
cảm xúc.
- Giáo viên phải tiến hành kiểm tra, đánh giá học sinh phải tiến hành tự
kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đều đặn, toàn diện về các mặt
số lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng hoạt động sáng tạo thông qua bài tập sáng
tạo, có tính chất chẩn đoán.
7. Nguyên tắc đảm bảo nh vừa sức chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm
biệt tính tập thể của việc dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong q trình dạy học, khi lựa chọn nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải không ngừng nâng cao mức đkhó
khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần thiết.
Nói cách khác, dạy học vừa sức nghĩa trong dạy học phải tạo nên khó
khăn vừa sức, những yêu cầu nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới
hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất. Dạy học vừa sức không nghĩa
sức học sinh đến đâu thì dạy đến đó, mà bao giờ cũng đề ra những khó khăn
dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, người học bằng sự nỗ lực của mình cũng đều
khắc phục được.Dạy học như vậy mới đảm bảo đi trước sự phát triển, thúc đẩy s
phát triển của học sinh.
Sự khó khăn vừa sức đối với người học khác với sự quá tải về mặt trí lực và
thể lực.Sự quá tải đó sẽ làm yếu đi sự nỗ lực ý chí, khả năng m việc bị hạ thấp
một cách rõ rệt và làm cho học sinh sớm mệt mỏi.
Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Mỗi độ tuổi gắn
liền với strưởng thành của những quan trong thể và những chức năng của
các quan đó, cũng nvới sự tích luỹ những kinh nghiệm về mặt nhận thức
về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó. Lứa tuổi thay đổi thì nhu
cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng biến đổi.
Trong cùng một lứa tuổi, học sinh cũng những đặc điểm khác nhau về
hoạt động hthần kinh cấp cao, sự phát triển vthể chất và tinh thần, về năng lực,
hứng thú… Vì vậy sự vừa sức phải chú ý đến những đặc điểm cá biệt.
Điều kiện dạy học hiện nay ở nước ta dạy từng lớp với khoảng 40- 50 học
sinh. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải tiến hành dạy học giáo dục cả lớp
như một tập thể học tập, tạo điều kiện tổ chức công tác học tập của tất cả học
sinh, đồng thời phải tính tới những đặc điểm biệt của từng học sinh nhằm đạt
được hiệu quả dạy học và góp phần phát triển những tư chất tốt đẹp của các em.
Để đảm bảo tính vừa sức chú ý tới những đặc điểm biệt trong điều kiện
tiến hành dạy – học với cả tập thể cần:
- Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập
những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức
của học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp với từng học
sinh.
- Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập công tác của học sinh hình
thức học tập nhóm tại lớp. Trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vchung
dưới sự chỉ đạo của giáo viên, từng nhân suy nghĩ cách giải quyết. Trong thời
gian đó, giáo viên giúp đỡ những học sinh yếu m.Với cách tổ chức như vậy thì
chỉ sự làm việc cùng nhau của những nhân cùng học. Đó hình thức phối
hợp đơn giản nhất của các nhân trong tập thể người cùng học như
N.K.Crupxkaia đã nhận xét. Một hình thức tổ chức tiết học khác giáo viên chỉ
đạo việc thực hiện theo nhóm những ý kiến, những ý tưởng hoặc những cách giải
quyết vấn đề khác nhau của từng người để đi đến kết luận chung của cả nhóm, sau
đó cử đại diện của mình trình bày ý kiến. Trên sở đó, cả lớp trình bày và đi đến
kết luận chung, còn giáo viên lúc này đóng vai tngười chỉ đạo, người cố vấn,
người trọng tài. Với hình thức này thì sphối hợp giữa hoạt động nhân tập
thể đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Cũng thể từ một nhiệm vchung, mỗi nhóm được phân công giải quyết
những nhiệm vụ bphận, từng thành viên suy nghĩ độc lập để đi đến cách giải
quyết chung của cả nhóm. Các nhóm cử người lần lượt trình bày cách giải quyết
nhiệm vụ của mình. Lớp thảo luận và đi tới cách giải quyết nhiệm vụ chung.
Với cách tổ chức tiết học như vậy, học sinh làm việc không đơn thuần
ngồi cạnh nhau, mỗi người tìm cách giải quyết không chỉ cho bản thân mình
cho cả tập thể.Trong lớp xuất hiện không kthúc đẩy nhau tích cực suy nghĩ,
sự đồng cảm với nhau, hợp tác và kiểm tra lẫn nhau.
Cách tiến hành dạy học như vậy không chgiáo dục tinh thần tập thể cho
học sinh, từng học sinh giúp đlẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên
vừa sức mỗi người.
8. Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây cho người học sự
hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết, niềm vui tác động mạnh mẽ đến tình cảm
của họ.
Tình cảm vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người, thôi thúc
con người hành động, thậm chí đến mức xả thân mình cho sự nghiệp.Những tấm
gương của các nhà khoa học trước đây hiện nay đã khẳng định điều đó.Thực
tiễn cũng chứng minh rằng công việc được yêu thích thì sẽ được thực hiện
nhanh chóng và có hiệu quả, lại ít tốn sức. Ngược lại, thì không những không động
viên được sức lực còn đè nén sức lực, do đó không đạt được hiệu quả cao.Học
tập của học sinh cũng hoàn toàn như vậy. V.I.Lênin đã khẳng định: “Nếu thiếu tình
cảm con người thì không bao giờ sự tìm tòi chân lý”. Về vấn đề này, Paxcan
cũng đã nói: “ Ta hiểu được chân chẳng phải chỉ nhờ bộ óc mà còn nhờ con tim
nữa”.
Hơn nữa, hiện nay với sphát triển văn hoá, khoa học, sụ tiến bvkhoa
học thông tin đã tạo cho con người nhiều trò chơi hấp dẫn hơn nhiều so với công
việc học tập trong nhà trường. vậy, nếu dạy học trong trường PT chỉ quan tâm
nhiều đến vi ệc phát triển duy, trí nhớ ít quan tâm đến thức ăn cho tình cảm
và óc tưởng tượng của học sinh thì chưa hợp lý.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Thực hiện mối liên hệ dạy học với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng đất
nước, với kinh nghiệm sống của bản thân học sinh. Đó phương tiện hình thành
tình cảm nghĩa vụ và nâng cao hứng thú học tập.
- Trong nội dung và phương pháp học tập cần làm sao tăng cường hoạt động
tích cực tìm tòi, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, phát hiện. Điều đó sẽ tạo điều kiện
cho học sinh hình thành tình cảm trí tuệ.
- Cần sử dụng trò chơi nhận thức trong quá trình dạy học.
- Nên sử dụng các phương tiện nghệ thuật như: tác phẩm văn học, âm nhạc,
nghệ thuật tạo hình, kịch…trong quá trình dạy học, đó những phương tiện tác
động mạnh mẽ đến tình cảm của nguời học. Đừng sợ làm như vậy sẽ làm cho học
sinh thiếu tập trung vào ng việc học tập nghiêm túc, khoa học nghệ thuật
không phải không chung sống được với nhau. Khoa học nghệ thuật đều cùng
phản ánh hiện thực khách quan, nhưng phương tiện sử dụng của chúng khác
nhau.Khoa học phản ánh hiện thực bằng khái niệm, định luật, thuyết; còn nghệ
thuật bằng hình tượng. Cả hai cách phản ánh đó không mâu thuẫn nhau mà còn bổ
sung làm phong phú cho nhau, tạo điều kiện hình thành phối hợp duy
logic với tư duy thẩm mỹ.
Những tác phẩm nghệ thuật được sdụng vào những thời điểm, vị trí thích
hợp với liều lượng hợp trong tiết học thông qua những đồ dùng trực quan hoặc
những phương tiện kỹ thuật dạy học làm cho học sinh không chỉ hình dung tốt nhất
những sự kiện, hiện tượng còn làm rung động tình cảm của người học, làm
phong phú tâm hồn của tuổi trẻ.
- Tính cảm xúc của quá trình dạy học còn phụ thuộc vào ngữ cảnh, vào hoạt
động học tập. Hoạt động tập thể của học sinh càng có nội dung, càng phong phú về
hình thức thì càng kích thích nhu cầu hiểu biết, hứng thú với học tập. vậy, cần
chú ý tổ chức hoạt động tập thể của học sinh, cần tổ chức dạy học như một hình
thức tham quan học tập, hình thức ngoại khoá…
- Nhân cách người giáo viên vai trò rất lớn trong việc tác động về mặt
cảm xúc đối với người học. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, thể hiện thái
độ của giáo viên đối với những hiện tượng, sự kiện, tư tưởng được trình bày không
chỉ giúp cho học sinh tri thức về vấn đề nào đó còn kích thích hình thành
tình cảm tương ứng.
9. Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học:
Nguyên tắc này đòi hỏi phải hình thành cho người học có nhu cầu, năng lực,
phẩm chất tự học để thể chuyển dần quá trình dạy học sang qtrình tự học.
Nghĩa người học thể tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách khai thác bằng
hành động của chính mình, tự thể hiện mình hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt
động của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình.
Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ phát triển hiện nay đã dẫn tới sự bung
nổ thông tin làm cho ri thức từng người trở nên lạc hậu nhanh chóng. Để thích
ứng với cuộc sống, mỗi người phải tự học liên tục, học suốt đời. Hồ Chí Minh, một
tấm gương sáng về tự học đã từng nói: “Học tập công việc phải tiếp tục suốt
đời… Không ai thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi.Thế giới ngày nay
đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành
để đuổi kịp nhân dân”; “Lấy tự học làm cốt, thảo luận chỉ đạo giúp
vào”.Những lời khuyên bảo đó ngày càng ý nghĩa cấp thiết đối với thế hệ trẻ,
nhất là trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Thông qua phương pháp giảng dạy của giáo viên thúc đẩy học sinh
thực hiện hệ thống công tác độc lập nhằm lĩnh hội những tri thức về khoa học,
kỹ thuật, nghệ thuật mà họ yêu thích.
- Trong quá trình dạy học cần chú ý hình thành cho học sinh những kỹ năng
lập kế hoạch, kỹ năng tự tổ chức, kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động tự học
của chính mình. Thông qua công tác độc lập làm cho học sinh cảm thấy rằng việc
tự học không chỉ công việc của bản thân từng người sự quan tâm chung
của cả tập thể lớp, của giáo viên và của tập thể sư phạm.
- Trong các lần trò chuyện với học sinh cần làm cho họ hiểu ý nghĩa của
sự tự học trong thời đại ngày nay, m hiểu những khó khăn họ gặp phải trong
việc tự học và chỉ ra cho họ những biện pháp khắc phục khó khăn đó.
- Cần tận dụng những nội dung dạy học, những hoàn cảnh thuận lợi nêu
những tấm gương tự học của những nhân vật trong lịch sử đất nước, trong trường,
trong lớp để giáo dục học sinh.
- Cần tổ chức phong trào tự học trong lớp, trong trường.
- Cần tăng cường tỷ trọng tự học về khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho
học sinh để khi tốt nghiệp PT, tất cả học sinh phải được hình thành nhu cầu, ý chí
đối với tự học và những kỹ năng cơ bản, cần thiết, cho sự tự học.
3. Mối liên hệ giữa các nguyên tắc dạy học:
Các nguyên tắc dạy học mối liên hệ mật thiết với nhau. Nội dung của
từng nguyên tắc đan kết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm đảm bảo thực hiện quá trình
dạy học đạt được hiệu quả. Chẳng hạn khi thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính khoa
học tính giáo dục trong dạy học không thkhông chú ý tới nguyên tắc đảm bảo
sự thống nhất giữa luận thực tiễn, học đi đôi với hành; nguyên tắc đảm bảo sự
thống nhất giứa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của học sinh và vai
trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học; nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm nhân trong điều kiện dạy học tập thể;
nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học; nguyên tắc chuyển tdạy
học sang tự học.
Nếu xét các nguyên tắc dạy học khác thì cũng như vậy.Trong quá trình dạy
học, với nội dung những điều kiện dạy học nhất định, thể coi trọng một
nguyên tắc dạy học nào đó.Điều đó không nghĩa coi nhẹ những nguyên tắc
khác cần phải kết hợp các nguyên tắc thành một thể hoàn chỉnh thì mới đạt
được hiệu quả cao trong quá trình dạy học.
BÀI 3. NỘI DUNG DẠY HỌC
I. Khái quát về nội dung dạy học
1. Thành phần kinh nghiệm hội
Muốn duy trì phát triển hội, thế hệ đi sau phải lĩnh hội những kinh
nghiệm hội thế hệ đi trước đã tích lũy truyền lại, đồng thời thế hệ sau làm
phong phú thêm những kinh nghiệm đó. Những kinh nghiệm hội được kết tinh
dưới một hình thức đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người. hình thức đó là văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần.
Khi phân tích văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần bất dân tộc nào, thời
đại lịch sử nào cũng có thể nhận thấy có 4 yếu tố cơ bản sau:
- Những tri thức về tnhiên, về hội, tư duy, thuật, vnghệ thuật về
cách thức họat động mà xã hội đã tích lũy được.
- Những kinh nghiệm thực hiện những cách thức họat động đã biết. Sự lĩnh
hội yếu tố này giúp thế hệ đi sau lĩnh hội được những năng, xảo đgiúp họ
bảo tồn và tái tạo di sản văn hóa của các thế hệ trước đây.
- Những kinh nghiệm họat động tìm i, sáng tạo. yếu tố này giúp thế hệ trẻ
hình thành năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề mới. nhờ hoạt động sáng
tạo đó mà góp phần phát triển di sản văn hóa của các thế hệ trước đây.
- Kinh nghiệm vthái đcảm xúc đánh giá đối với hiện thực là đối tượng
hoặc phương tiện họat động. Sự lĩnh hội yếu tố này giúp điều chỉnh họat động phù
hợp với nhu cầu của bản thân, đồng thời lại mở rộng phạm vi các nhu cầu, hệ
thống giá trị, các động họat động, nghĩa mọi biểu hiện của thái độ cảm xúc
đánh giá đối với họat động, với sản phẩm họat động, với nhân, với cộng đồng
với xã hội.
Mỗi yếu tố của văn hóa nói trên chức năng riêng trong sự hình thành
nhân cách, nhưng lại liên hệ mật thiết với những yếu tố khác. Những yếu tố đi sau
được hình thành phải dựa vào những yếu tố trước đó
Song những kinh nghiệm hội đó một khối lượng cùng lớn, trong
cuộc đời một con người không thể nào lĩnh hội hết được phải lựa chọn, xử
như thế nào để phù hợp với từng lứa tuổi, với những chức năng hội con
người phải đảm nhiệm. Ngoài ra trong hội giai cấp, giáo dục công cụ sắc
bén và cùng quan trọng để củng cố quyền thống trị của mình nên nội dung dạy
học phải được định hướng về mặt chính trị của giai cấp đó.
2. Định nghĩa nội dung dạy học
Nội dung dạy học là một hệ thống những tri thức, những cách thức hạt động,
những kinh nghiệm họat động sáng tạo thái độ cảm c đánh giá đối với thế
giới phù hợp về mặt sư phạm và được định hướng về mặt xã hội.
Hệ thống những cơ sở của bốn yếu tố kinh nghiệm xã hội đó được phản ánh
dưới các dạng, các lĩnh vực họat động thể hiện trong các môn học trong chương
trình họat động ngoại khóa.
Từ định nghĩa khái niệm về nội dung dạy học, thể nhận thấy những đặc
trưng sau:
- một hệ thống bao gồm 4 yếu tố của cấu trúc văn hóa chỉ ra mối
liên hệ giữa các yếu tố đó với nhau, chức năng hội của là những kinh nghiệm
xã hội được truyền đạt cho thế hệ trẻ.
- những kinh nghiệm của hội loài người, được lựa chọn xây
dựng theo một định hướng chính trị nhất định. Điều đó nói lên tính lịch sử, tính
giai cấp được quán triệt trong nội dung dạy học.
- Kinh nghiệm hội đó được xử về mặt phạm để phù hợp với đặc
điểm tâm lí – sinh lí của học sinh ở từng lứa tuổi, từng cấp học, bậc học.
3. Những thành phn của nội dung dạy học
a. Thành phần đầu tiên, đồng thời thành phần bản của nội dung dạy
học, đó tri thức
Ý nghĩa của tri thức
Thiếu tri thức là thiếu sở để duy, để hình thành thế giới quan khoa học
nhờ đó để phương pháp luận đúng đắn trong họat động nhận thức thực
hành. Điều đó nghĩa thiếu tri thức thành động sẽ thiếu phương hướng.
Song tri thức loài người tích lũy được thì cùng phong phú từng người trong
cuộc đời mình không thể nắm được tất cả, chỉ thể nắm được bộ phận thôi.
vậy, điều quan trọng làm sao bộ phận tri thức đó phải bao gồm những lĩnh
vực tri thức khác nhau, là sở của những khoa học, những dạng bản của
họat động hội của đời sống. ngoài ra, bộ phận tri thức đó phải bao gồm
những dạng tri thức khác nhau đặc trưng cho những khoa học tính chất làm nền
tảng, chỉ với điều kiện đó thì tri thức mới thực hiện được những chức năng
bản của mình: chức năng của bản thể luận, chức năng định hướng, chức năng đánh
giá.
Các dạng tri thức
Trong các bộ môn trường Phổ thông, thường 6 dạng tri thức sau:
- Tri thức tính chất kinh nghiệm: đó những sự kiện khoa học, hiện
tượng của hiện thực khách quan.
- Tri thức thuyết: những tri thức này bao gồm khái niệm, thuật ngữ khoa
học, định luật, định lí, tư tưởng khoa học, quy tắc đạo đức, về thẩm mĩ và pháp lí.
- Tri thức thực hành: đó là những tri thức về cách thức hành động nhằm giúp
học sinh hình thành những năng xảo, trong đó những năng tìm tòi tri
thức mới, kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn.
- Tri thức thiết kế sáng tạo: đó những bài tập và phương tiện nhằm hình
thành tình cảm thẩm mĩ, đạo đức, tưởng tượng sáng tạo, những bài tập về tác phẩm
văn học, tạo hình, âm nhạc, dựa vào đó hình thành cho học sinh hình tượng
nghệ thuật. Đó những hình họa, bản thảo, hình vẽ thể hiện trong đó những
tưởng nhất định và tạo cho học sinh những hình ảnh thiết kế - kĩ thuật.
- Tri thức về phương pháp nghiên cứu tư duy khoa học đặc trưng đối với
từng ngành khoa học mà học sinh phải lĩnh hội.
b. Thành phần thứ hai của nội dung dạy học kinh nghiệm thực hiện
những cách thức họat động đã biết
Trong thành phần thứ nhất của nội dung dạy học đã bao gồm những tri thức
về cách thức hành động. Song chỉ nắm tri thức đó thì chưa đủ phải nắm được
cả kinh nghiêm dụng những cách thức hành động trong thực tiễn. năng xảo
kinh nghiệm về cách thức hành động khác nhau được con người tiếp thu. Các
nhà tâm học cho rằng, năng đẳng năng phức tạp. năng đẳng
được luyện tập nhiều lần biến thành xảo. Nói cách khác, xảo hành động
được tự động hóa trên sở luyện tập. Còn năng phức tạp bao gồm rất nhiều
xảo. dụ như kĩ ng giảii toán, năng phạm, năngm bài tập làm văn,
cần rất nhiều xảo khác nhau bao giờ cũng thực hiện sự tham gia của ý
thức. thể xảo, năng thực hành xảo, kĩ năng duy. Ngoài ra còn
xảo, năng chung cho các môn học như xảo, năng lập kế hoạch, xảo,
năng làm dàn bài, so sánh, phân tích những ý chính, ý phụ, rút ra kết luận,..
những xảo, năng đặc trưng cho từng môn học như xảo, năng làm thí
nghiệm trong các bộ môn Sinh vật, Hóa học, Vật lí,…Trong số xảo, năng đó,
những xảo, năng liên hệ trực tiếp với sự lĩnh hội tri thức, cũng
những năng xảo làm điều kiện để độc lập lĩnh hội tri thức, như xảo, kĩ năng
tóm tắt, nhận xét, phê bình, lập thư mục, sử dụng sách bào, tra cứu,…
c. Thành phần thứ 3 của nội dung dạy học kinh nghiệm họat động sáng
tạo
Thành phần này của nội dung dạy học nhằm chuẩn bị cho học sinh khả ng
tìm tòi, phát hiện giải quyết vấn đề mới, cải tạo thực tiễn. thực hiện một chức
năng hết sức quan trọng tạo cho thế hệ trẻ cải biến một cách sáng tạo hiện thực
khách quanlàm cho hiện thực đó phát triển bền vững. Do đó phải xây dựng nội
dung dạy học như thế nào để đòi hỏi học sinh phải thể hiện tính tự lực nhận thức
một cách hthống sáng tạo. Vậy, họat động sáng tạo những dấu hiệu đặc
trưng gì? Đó là:
- Thấy được chức ng mới của đối tượng đã quen biết.
- Nhìn thấy cấu trúc của đối ợng.
- Tự tổng hợp những cách thức họat động đã biết thành cách thức họat động
mới.
- Nhìn thấy những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề nào đó chọn
cách giải quyết phù hợp tối ưu với hoàn cảnh nhất định.
- Xây dựng những cách giải quyết hoàn toàn mới, khác với cách giải quyết
đã từng quen biết
Tất cả những dấu hiệu đặc trưng của họat động sáng tạo này không phải lúc
nào cũng thể hiện đồng thời trong cùng một lúc khi giải quyết bất một vấn đề
nào, thường kết hợp một cách khác nhau một i dấu hiệu họat động sáng tạo
đó mà thôi.
d. Thành phần thứ 4 của nội dung dạy học những tiêu chuẩn về thái độ
cảm xúc đánh giá đối với tự nhiên, hội con người
Thực chất đó tính giáo dục của nội dung dạy học. Thành phần nội dung
dạy học này tính đặc biệt chỗ không chỉ bao hàm những tri thức, năng,
xảo mặc dù điều đó hết sức cần thiết, mà còn cả thái độ đánh giá, thái độ cảm
xúc với thế giới, với con người, đối với họat động. Trong thực tế, thdễ dàng
nhận thấy thái độ của con người đối với hiện thực khách quan, tình cảm của họ bao
giờ cũng phù hợp với sự hiểu biết của họ, lời nói của họ không phải bao giờ cũng
đi đôi với việc làm.
Thành phần nội dung dạy học này được thể hiện một cách trực tiếp ở một số
môn như Đạo đức, Giáo dục công dân, trong các họat động lao động, họat động
hội, sinh họat tập thể phản ánh gián tiếp qua các bộ môn khác, đặc biệt các bộ
môn hội nhân văn trong các họat động khác của nhà trường. vậy, thành
phần này được thể hiện khi toàn bộ nội dung dạy học thấm nhuần sâu sắc thế giới
quan khoa học, chú ý giáo dục tình cảm, thái độ, đánh giá một cách đúng đắn với
những tri thức khoa học, những chuẩn mực đạo đức, thẩm mĩ cao đẹp.
* Mối liên hệ giữa các thành phần của nội dung dạy học
Tất cả bốn thành phần của nội dung dạy học liên hệ mật thiết với nhau,
quy định lẫn nhau. Thiếu tri thức thì không thể hình thành năng, xảo. Họat
động sáng tạo được thực hiện trên sở tri thức kinh nghiệm họat động đã biết.
Song, kinh nghiệm họat động sáng tạo của con người không phải tỉ lệ thuận với
khối lượng tri thức phụ thuộc vào cách thức lĩnh hội vận dụng tri thức đó.
Kinh nghiệm họat động sáng tạo đến lượt mình sẽ giúp người học lĩnh hội nhanh,
vững chắc, sâu sắc tri thức, năng, xảo, tạo cho họ tính linh họat, mềm dẻo
hơn. Tính giáo dục của nội dung dạy học đòi hỏi người học phải nắm vững tri thức
và kinh nghiệm họat động thực tiễn. các thành phần này sẽ tạo cho học sinh có thái
độ đánh giá thái độ cảm xúc đúng đắn đối với tự nhiên, với hội với con người
và quy định những kĩ năng kĩ xảo tương ứng của họ.
Toàn bộ nội dung dạy học phải thể hiện được bốn thành phần trên. Nếu coi
nhẹ một trong những thành phần đó sảnh hưởng tới tính chất lĩnh hội nội dung
dạy học và chất lượng của quá trình dạy học nói chung.
Trên đây khái niệm tổng quát về nội dung dạy học. nếu xem xét nội dung
dạy học theo thứ bậc thì đó là mức độ đầu tiên. Tiếp theo kế hoạch dạy học,
chương trình dạy học của môn học. mức độ thứ ba tài liệu dạy học, được thể
hiện ở sách khoa và các giáo trình khác.Ba mức độ này lập thành nội dung dạy học
được thiết kế ra, nhưng chưa được thể hiện trong hiện thực dạy học. cần được
giáo viên xử lí hình hành dưới dạng giáo án tiết học, tạo nên sự kết hợp giữa
mặt nội dung và mặt họat động của quá trình dạy học. Đó là mức độ thứ tư của nội
dung dạy học.
II. Môn học, kế hoạch, chương trình dạy học sách giáo khoa trong
nhà trường phổ thông
1. Môn học
Môn học lĩnh vực nội dung dạy học được thực hiện trong nhà trường
cấu trúc và logic phù hợp với các ngành khoa học và thực tiễn tương ứng, phù hợp
với những quy luật tâm sinh lí của dạy học.
Bản chất của môn học một hệ thống toàn vẹn phản ánh các thành phần cấu
trúc của nội dung dạy học. Dấu hiệu cơ bản của môn học bao gồm:
- Sự phản ánh tính thống nhất các khía cạnh nội dung quá trình của dạy
học.
- Tổng thể những tri thức tổng thể những cách thức hoạt động (kĩ năng,
xảo cách thức tổ chức).
- Hoạt động giao tiếp bên trong của giáo viên học sinh khi thực hiện hoạt
động của mình (trong tương tác với hoạt động diễn ra cùng với hoạt động này).
2. Kế hoạch dạy học trường THCS
- Kế hoạch dạy học n kiện do Nhà nước ban hành trong đó quy định các
môn học, trình tự dạy các môn học qua từng năm học, số tiết học cho từng môn
trong mỗi năm học (số tuần học, số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hàng
tuần, hàng ngày).
- Với cách hiểu trên vkế hoạch dạy học, thể nhận thấy những yếu tố
bản trong mt kế hoạch dạy học là:
- Quan hệ giữa thành phần môn học với thành phần lớp học (môn học được
dạy ở lớp học nào và từng lớp học cụ thể sẽ phải học những môn nào).
- Quan hệ giữa thành phần môn học với phân bố thời gian (thời lượng dành
cho mỗi môn thời lượng học từng môn trong từng lớp theo ngày, tuần năm
học).
- Cấu trúc và thời gian của dạy học (thời lượng chung của năm học theo bậc
học, khối lớp và thời lượng của tuần học, ngày học, tiết học).
Kế hoạch từng cấp học bậc học khác nhau. Sự khác biệt trong kế
hoạch dạy học được thể hiện ở mt số khía cạnh như:
- Số lượng các môn học được xác định trong từng kế hoạch dạy học.
- Do mối quan hệ liên môn, do đặc điểm các bộ môn và đặc điểm nhận thức
của học sinh cũng nyêu cầu cân đối về số tiết hàng tuần các lớp nên trong kế
hoạch dạy học việc bố trí các môn học cũng khác nhau. môn được học ngay từ
đầu cấp, bậc học nhưng cũng môn được thực hiện các khối lớp xác định theo
cấp bậc học.
- Số tiết học dành cho mỗi môn học cũng khác nhau từng khối lớp thuộc
cấp học, bậc học khác nhau.
3. Chương trình dạy học trường THCS
Chương trình dạy học do Nhà nước ban hành, trong đó quy định mt cách cụ
thể: vị trí, mục đích môn học, phạm vi hệ thống nội dung môn học, số tiết dành
cho môn học nói chung cũng như từng phần, từng chương, từng bài nói riêng.
Cấu trúc chương trình dạy học của từng bộ môn trường THCS:
- Vị tmục tiêu môn học. Ngoài trình bày vị trí môn học để giúp giáo
viên thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của môn học, phần này còn trình bày các mục
tiêu cần đạt được.
- Nội dung môn học bao gồm các phần, chương,i, đề mục.
- Phân phối thời gian cho các phần, chương,i, đề mc.
- Giải thích chương trình hướng dẫn thực hiện chương trình.
Chương trình dạy học văn kiện do Nhà nước ban hành vậy trở thành
công cụ chủ yếu để Nhà nước lãnh đạo và giám sát hoạt động dạy học của nhà
trường thông qua các cơ quan quản lí giáo dục. Chương trình dạy học còn là cơ sở
để giáo viên lập kế hoạch dạy học (kế hoạch dạy học của cá nhân), tiến hành tổ
chức công tác dạy học của mình.
4. Sách giáo khoa các tài liệu học tập kc
Sách giáo khoa c tài liệu học tập khác dùn chung trong các trường học
do nhà nước quy định.
Nếu chương trình dạy học quy định phạm vi dạy học của các môn học thì
sách giáo khoa nhiệm vụ trình bày nội dung của môn học một cách ràng, c
thể chi tiết với cấu trúc xác định. Sách giáo khoa là hình thái vật chất của môn
học, của nội dung học vấn mà môn học thể hiện.
Sách giáo khoa trình bày những nội dung bản, những thông tin cần thiết,
vừa sức đối với học sinh và theo một hệ thống chặt chẽ. Chức năng của sách giáo
khoa là giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu được trên
lớp, phát triển năng lực trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh.
Mặt khác, sách giáo khoa cũng là cơ sở để giáo viên xác định nội dung, lựa chọn
phương pháp, phương tiện dạy học để tổ chức tốt công tác dạy học của mình.
Ngoài sách giáo khoa, nhà trường phổ thông còn những sách tài liệu
tham khảo khác dành cho giáo viên và học sinh như: sách hướng dẫn giảng dạy,
sách tra cứu, các loại từ điển, sách bài tập. Những bản đồ địa lý và lịch sử, sách
dùng cho các giờ ngoại khóa… Các tài liệu học tập này giúp học sinh mở rộng, bổ
sung, đào sâu kiến thức phù hợp với trình độ và hứng thú của mình.
Sách giáo khoa cũng như các tài liệu học tập khác phải đảm bảo những yêu
cầu sau:
- Những tri thức trình bày trong sách giáo khoa phải đảm bảonh khoa học,
tính hệ thống, tính vừa sức và phù hợp với chương trình quy định.
- Phải giúp học sinh nắm được phương pháp học tập một cách độc lập nhằm
giúp họ biết học tập suốt đời, liên tục tự giác học tập qua sách báo hoạt động
thực tiễn của mình. Vì vậy cần có những chỉ dẫn cho các bài tập quan sát luyện
tập; những câu hỏi ôn tập và tự kiểm tra.
- Sách giáo khoa phải kích thích sự suy nghĩ, mở rộng tầm hiểu biết cho HS.
Do đó, cầnu lên những vấn đề những hiện tượng trong đời sống đòi hỏi phải vận
dụng tri thức khai thác trong sách giáo khoa và tri thức đã biết để giải quyết.
- Ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, gọn chính xác.
- Đảm bảo các yêu cầu phạm về vệ sinh thẩm mĩ. Hình thức sách giáo
khoa phải đẹp, trình bày phải hấp dẫn, sử dụng khổ chữ thích hợp với đặc điểm tri
giác của HS. Những kiến thức trọng tâm phải có sự nhấn mạnh bởi các kĩ thuật
khác nhau để tập trung được sự chú ý của HS.
BÀI 4. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
I. Khái quát về phương pháp dạy học
1. Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên
nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học.
2. Đặc điểm của phương pháp dạy học
- Phương pháp dạy học bao gồm hai mặt: khách quan và chủ quan. Mặt khách
quan những quy luật tâm lý, quy luật dạy học chi phối hoạt động nhận
thức của người học giáo dục phải ý thức được. Mặt chủ quan những
thao tác, những hành động giáo viên lựa chọn phù hợp với quy luật chi
phối đối tượng.
- Phương pháp dạy học chịu sự chi phối của mục đích dạy học, không có
phương pháp nào là vạn năng chung cho tất cả mi hoạt động.
- Phương pháp dạy học chịu sự chi phối của nội dung dạy học, việc sử dụng
phương pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học cụ thể.
- Hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ phạm của
giáo viên.
II. Hệ thống các phương pháp dạy học
1. Các phương pháp dy học dùng ngôn ngữ
a. Phương pháp thuyết trình
a1. Khái niệm: phương pháp GV dùng lời nói để trình bày, giải thích ND bài
học một cách có hệ thống, lôgic cho HS tiếp thu
a2.Các dạng thuyết trình
+ Kể chuyện: GV tường thuật lại các sự kiện, hiện tượng một cách hệ thống.
Đượcng nhiều trong môn KHXH
+ Giải thích: Giáo viên dùng luận cứ, số liệu để giải thích, chứng minh, làm sáng
tỏ vấn.
+ Diễn giảng: Giáo viên trình bày một cách có hệ thống NDHT nhất định. Được
dùng nhiều ở lớp cuối THPT và ĐH
a3. Các bước thuyết trình:
+ Đặt vấn đề:u câu hỏi nhận thức
+ Giải quyết vấn đề: Bằng quy nạp hay diễn dịch, lựa chọn VD, kích thích HS
thực hiện các thao tác tư duy để đi đến KL
+ Tổng kết nhấn mạnh các KL để học sinh ghi nhớ
a4. Ưu điểm của phương pháp thuyết trình
+ Trong một thời gian ngắn, giáo viên thể trình bày một khối lượng kiến thức
lớn cho nhiều người học
+ HS có thể học được cách tư duy lôgic, cách đặt và giải quyết vấn, cách diễn
đạt chính xác, rõ ràng, súc tích của GV
+ PP dễ thực hiện nhất không cần đến TBDH nào
+ Khi được nâng lên thành thuyết trình nêu vấn đề sẽ kích thích được tính tích
cực tư duy của học sinh
+ Nếu kết hợp minh họa bằng các PTTQ, vấn đáp, thảo luận thực hành sẽ kích
thích được tính năng động tích cực của HS
a5. Hạn chế ca PP thuyết trình
+ PP độc thoại nên HS dễ hình thành thói quen thụ động, chóng mệt mi =>
thiếu sáng tạo, ghi nhớ kém bền vững
+ Học sinh thiếu hội phát triển ngôn ngữ nói
+ Giáo viên khó thể chú ý đày đủ đến trình độ nhận thức KT sự lĩnh hội tri
thức của từng học sinh
a6. Yêu cầu của PP thuyết trình:
+ Ngôn ngữ biểu đạt nội dung phải tính lôgic, phù hợp. GV càng nắm
vững ND thì ngôn ngữ biểu đạt càng phong phú và tăng tính thuyết phục
+ Phát âm ràng, chính xác, tốc độ tần số âm thanh vừa phải
+ Ngôn ngữ phải tính thuyết phục (giải thích, tả chứng minh bằng các
VD). Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, thiện cảm, giàu hình ảnh
+ Nên kết hợp thuyết trình với các phương pháp khác như trực quan, vấn đáp,
tình huống có vấn đề…
b. Phương pháp vấn đáp
b1. Khái niệm: Vấn đáp (hay đàm thoại) là PPDH trong đó GV tổ chức thực hiện
quá trình hỏi đáp giữa GV HS nhằm m sáng ttri thức mới, rút ra những
KL cần thiết.
b2. Các dạng câu hỏi
- Theo nhệm vụ dạy học câu hỏi: tái hiện, gợi mở, củng cố kiến thức câu
hỏi ôn tập hệ thống hóa kiến thức
- Theo mức độ khái quát ca vấn đề có: câu hỏi khái quát, câu hỏi theo chủ đề bài
học, câu hỏi theo ND bài học
- Theo mức độ tham gia của HĐ nhận thức ca người học câu hỏi tái tạo câu
hỏi sáng tạo
b3. Ưu điểm
- Nếu sử dụng khéo léo, phối hợp với PPTT sẽ kích thích được tính tích cực
duy, năng lực diễn đạt bằng lời của HS
- Cả giáo viên học sinh đều thể nhanh chóng thu được tín hiệu ngược đ
điều chỉnh HĐ của mình
- Tạo không khí sôi nổi trong giờ học
- Giáo viên có thể sửa chữa ngay những sai sót của học sinh.
b4. Hạn chế: Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến KH dự kiến
b5. u cầu xây dựng câu hỏi:
- Câu hỏi phải rõ ràng, đơn giản, số lượng vừa phải, tập trung vào trọng tâm bài
học
- Câu hỏi phải chính xác, giúp học sinh hiểu đúng và hình thành được câu trả lời
đúng vấn đề
- Cần căn cứ vào ND bài học để XD câu hỏi lôgic, chặt chẽ
- Hệ thống câu được XD từ dễ đến khó, từ c thể đến khái quát và ngược lại, từ
câu hỏi tái tạo đến câu hỏi sáng tạo
b6. Yêu cầu khi nêu câu hỏi cho học sinh:
- Câu hỏi đưa ra một cách ràng, hướng tới cả lớp
- Chỉ định một HS trả lời, cả lớp nghe phân tích
- Bình tĩnh khi HS trả lời sai, tránh nôn nóng, vội vàng cắt ý HS
- Giáo viên KL
2. Nhóm phương pháp dạy học trực quan
a. Phương pháp quan sát
a1. Khái niệm: Quan sát là PP tổ chức cho HS tri giác một cáchchủ định, có kế
hoạch, tiến trình sự biến đổi diễn ra đối tượng nhằm thu thập những sự kiện,
hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh, quan
sát gắn với tư duy.
a2. Ưu điểm:
- Giúp HS hình thành các biểu tượng và phát triển hoạt động nhận thức cảm
tính của HS
- HS có thể quan sát các sự vật, hiện tượng để vận dụng hình thành các khái
niệm, quy luật…
- Minh họa cho luận trừu tượng, giúp HS hiểu biết được chính xác cụ thể
n.
a3. Nhược điểm:Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến KH dự kiến
a4.Các bước tổ chức quan sát cho HS
- Bước chuẩn bị: giáo viên cần kế hoạch về những nội dung sau: Đối tượng
quan sát, thời gian quan sát, thời lượng quan sát, nhiệm vụ học tập cụ thể
của HS khi quan sát, hướng dẫn cách ghi chép cho HS, chuẩn bị phương tiện
( nếu cần).
- Tiến hành quan sát:
+ GV giao nhiệm vụ học tập cho HS
+ Hướng dẫn sự quan sát của HS
+ Kích thích suy nghĩ của HS
+ HS quan sát, suy nghĩ, kết luận ghi chép.
- Kết thúc quan sát
+ GV tóm tắt các kết qu học tập đạt được qua quan sát
+ Nhậnt thái độ làm việc của học sinh
+ Dặn
a5. Yêu cầu khi tổ chức quan sát cho HS
- QS gắn liền với giải quyết các nhiệm vụ dạy học c thể
- Công tác chuẩn bị cần chu đáo, đảm bảo an toàn thành công cho buổi
quan sát
- Kích thích được hoạt động tư duy và ngôn ngữ trong quá trình quan sát
- Trong quá trình quan sát cần yêu cầu HS phải sự ghi chép kết luận
b. Phương pháp biểu diễn thí nghiệm
b1. Khái niệm: là PP giáo viên làm các thí nghiệm, học sinh quan sát, tư duy
rút ra các kết luận khoa học cần thiết.
b2. Các bước tiến hành:
- Khâu chuẩn bị:
+ GV chuẩn bị phương tiện, thiết bị nguyên liệu phải đảm bảo các tiêu chuẩn
kĩ thuật, đảm bảo an toàn.
+ GV làm thử thí nghiệm trước khi đến lp
+ Chuẩn bị cho việc hướng dẫn, các câu hỏi định hướng, kích thích duy HS
+ HS nghiên cứu trước tài liệu để tham gia tích cực hơ vào quá trình biểu diễn
thí nghiệm
- Tiến hành thí nghiệm
+ Thực hiện sao cho HS quan sát được rõ ràng và đầy đủ các hiện tượng xảy ra
trong thí nghiệm
+Gv cần hướng dẫn HS chú ý vào các dấu hiệu hoặc hiện tượng, kích thích tư
duy HS bằng các câu hỏi
+HS quan sát, suy nghĩ ghi chép, đưa ra kết luận.
- Kết thúc tnghiệm
+GV nhấn mạnh lại các kết quả học tập đã đạt được
+ Gv nhận xét, đánh giá thái độ làm việc của HS
3. Nhóm phương pháp dạy học thực nh
a.
Phương pháp luyện tập
a1. Khái niệm: Luyện tập là phương pháp dạy học dưới sự chỉ dẫn của giáo
viên, học sinh lặp đi lặp lại những hành động nhất định trong hoàn cảnh khác nhau
nhằm hình thành và phát triển những kĩ năng, kĩ xảo.
a2.Phân loại luyện tp:
Dựa trên sở sự thể hiện của nó, người ta phân ra luyện tập nói, luyện tập viết,
luyện tập lao động. Dựa trên mức độ tính chất họat động, người ta phân ra:
luyện tập có tính chất tái hiện, luyện tập có tính vấn đề, tính sáng tạo.
a3.Những yêu cầu bản của vận dụng phương pháp luyện tập
- Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định
- Luyện tập phải tiến hành theo một trình tự chặt chẽ
- Phải nắm thuyết rồi mới luyện tập qua luyện tập để hiểu sâu lí thuyết
- Luyện tập phải đảm bảo tính khó khăn vừa sức trong những hoàn cảnh khác nhau
và theo nhiều phương án
b.
Phương pháp thực hành thí nghiệm
b1. Khái niệm: PP giáo viên tổ chức cho HS làm thí nghiệm trên lớp, trong
phòng thí nghiệm hoặc vườn trường, qua đó giúp HS lĩnh hội được kiến thức mới
hoặc củng cố, vận dụng kiến thức đã học.
b2.Ưu điểm:
- Giúp HS hình thành và rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học
- Giáo dục các phẩm chất của nhà khoa học tương lai như tính chính xác, cẩn
thận, trung thực và có ý thức tổ chức kỉ luật trong công việc.
b3. Nhược điểm
- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất, hoàn cảnh, bài học cụ thể mới có thể
tiến hành phương pháp này.
- thể gây nguy hiểm do tiến hành tnghiệm sai quy tắc
Tóm lại, trong quá trình dạy học người GV cần sử dụng phối kết hợp các
phương pháp dạy học để đạt được tốt nhất mục tiêu dạy học đã đề ra.
BÀI 5. HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
I. Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học
1 . Khái niệm: HTTCDH hình thức vận động của nội dung DH cụ thể trong
không gian, địa điểm những điều kiện xác định nhằm thực hiệm nhiệm vụ
mục tiêu dạy học
2. Phân biệt PPDH với HTTCDH
(PPDH con đường, cách thức vận động của NDDH. Nó gồm các cách thức
tổ chức HĐ của GV HS. Cụ thể đónhững biện pháp, hành động, thao tác của
họ khi thực hiện NDDH. Còn HTTCDH hình thức vận động của NDDH trong
một không gian, thời gian, địa điểm nào đó. Trong HTTCDH đó thể sử dụng các
PP, PT khác nhau. PP cách thức vận động bên trong của ND, HT là cách thức
vận động bên ngoài của ND)
- HTTCDH hình thức vận động của ND nên phản ánh quy mô, địa điểm,
thành phần học sinh tham gia vào việc thực hiện một NDDH nào đó (thực hiện
đâu, quy mô lớn hay nhỏ, học sinh tham gia cả lớp hay theo nhóm hay cá nhân…)
-
Các HTTCDH khác nhau tùy thuộc vào:
+ Mối quan hệ giữa việc dạy học tính tập thể hay nhân
+ Mức độ tính độc lập HĐ nhận thức của học sinh
+ Sự chỉ đạo chuyên môn của GV đối với học tập của HS
( Phần thì tổ chức học tại lớp, có phần thì chỉ đạo học ở nhà)
+ Chế độ làm việc (không gian, thời gian, ánh sáng...); Thành phần học sinh, địa
điểm, thời gian học tập.
II. Các HTTCDH trường ph tng
1. Hình thức dạy học trên lớp:
- Khái niệm: HTTCDH thời gian học tập được quy định một cách xác định
một địa điểm riêng biệt. Giáo viên chỉ đạo nhận thứccó tính chất tập thể
ổn định, thành phần không đổi, đồng thời chú ý đến từng HS để sử dụng c
PP và PTDH nhằm tạo ĐK thuận lợi cho HS nắm vững tài liệu mt cách trực tiếp
cũng như làm phát triển năng lực nhận thức và giáo dục họ.
- 3 dấu hiệu đặc trưng của hình thức tổ chức DH trên lớp:
+ Lớp có thành phần không đổi trong mọi giai đoạn của QTDH
(Tương đồng về lứa tuổi, trình độ nhận thức khả năng học tập lực)
+ Giáo viên chỉ đạo HĐ nhận thức của cả lớp và có chú ý đến đặc điểm của từng
HS
+ HS nắm tài liệu một cách trực tiếp tại lớp
* Ưu điểm của hình thức lên lớp:
-Hình thức bài lớp được thực hiện có tổ chức kế hoạch, có chương trình cụ thể.
-Hình thức này đào tạo được hàng loạt nguồn nhân lực cho hội với số lượng
rất lớn. (Vì dạy học với các học sinh có trình độ như nhau đầu vào và đầu ra)
-Tạo ra môi trường thi đua học tập giữa các học sinh khác nhau
-Giáo viên tiếp xúc trực tiếp thường xuyên với học sinh, để nắm được học sinh
còn yếu mặt nào, qua đó giúp học sinh hiểu vấn đề, thể kiểm tra thường xuyên
kết quả học tập của người học
-Học sinh lĩnh hội tri thức, nắm vững tài liệu học tập ngay tại lớp thông qua giáo
viên sẽ nhanh hơn.
-Tìm hiểu được nhiều kiến thức mới, trong một thời gian ngắn.
* Nhược điểm:
-Tính tích cực, chủ động ng tạo của học sinh chưa cao
-Bài giảng của giáo viên không tốt dễ làm cho người học mất tập trung.
* Cấu trúc bài học
- Cấu trúc vĩ mô: tính không đổi của cấu trúc bài học quy định cấu trúc vĩ
của bài học. Tính chất của những yếu tố thuộc cấu trúc này bị quy
định bởi những nhiệm vụ cần phải thường xuyên giải quyết trong những tiết
học của loại bài nhất định để đạt mục tiêu tiết học.
- Cấu trúc vi mô: tính động của cấu trúc bài học quy định cấu trúc vi mô cấu
trúc bên trong của bài học. những thành phần của cấu trúc vi mô là phương
pháp, phương tiện, biện pháp dạy học, cách xử lí, chế biến nội dung dạy học
kết hợp với nhau thành từng tổ hợp. quy định trình tự hợp những hành
động, những thao tác phạm của giáo viên những hành động, thao tác
học tập nhận thức của học sinh. Do đó, hiệu quả của mỗi tiết học không
chỉ bị quy định bởi cấu trúc vĩ mô mà còn bởi cả cấu trúc vi mô.
* Những yêu cầu đối với bài học
Về mặt tưởng: Thông qua nội dung dạy học trang bcho HS sluận của
CN Mác Lênin, tư tưởng HCM, đường lối của Đảng và NN.
- Qua việc sử dụng các PP và nh thức tổ chức dạy học giúp học sinh nắm được
PP duy vật biện chứng DVLS trong duy. Từ đó hình thành thế giới quan khoa
học và các phẩm chất nhân cách.
Về mặt luận dạy học:
- Giáo viên xây dựng hệ thống bài giảng theo chương mục. Soạn giáo án cho từng
tiết giảng. Trong đó cần xác định rõ: mục đích, yêu cầu, các
PP, PTDH, cấu trúc
bài giảng cho phù hợp với NDDH
- Khi triển khai bài giảng, cần biết kết hợp hài hòa của tập thể lớp, của nhóm
tổ với độc lập của từng học sinh, của GV với của HS để đảm bảo vai
trò của từng chủ thể.
- Phải quán triệt mọi nguyên tắc dạy học, lựa chọn sử dụng phối hợp các
PPDH, PTDH các HTTCDH. Qua đó rèn cho học sinh phẩm chất năng lực tự
nghiên cứu, củng cố, mở rộng tri thức năng xảo vận chúng để giải quyết
các bài tập nhận thức và các vấn đề thực tiễn
-
Cần kiểm tra chất lượng lĩnh hội tri thức năng xảo của HS để kịp thời
điều chỉnh của thầy và của trò. Đồng thời cần hình thành cho HS năng
lực tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập.
- Cần chú ý tới các đối tượng học sinh khác nhau trong lp.
Về mặt tâm
- Trong giờ học phải chú ý đến đặc điểm tâm lý của từng HS: Động cơ, nhu cầu,
thái độ học tập => GV phải tìm cách giúp HS xác định đúng động cơ, tạo ra nhu
cầu, thái đhọc tập tích cực tâm trạng vui mừng phấn khởi với kết quả học tập
đạt được
- Bản thân GV phải biết tự chủ, khắc phục trạng thái tâm tiêu cực trong giờ
giảng. Đề ra yêu cầu hợp lý, vừa sức. Kiểm tra đánh giá và đối xử với HS phải thể
hiện sự công minh, tôn trọng, thân ái.
Về mặt vệ sinh
- Tránh làm cho học sinh quá mệt mỏi về trí lực, thể lc.
- Quan tâm tới chế độ ánh sáng, nhiệt độ, sự sạch sẽ của lớp học, môi trường xung
quanh
2. Hình thức học tập theo nhóm tại lớp
Hình thức học tập này sự kết hợp tính tập thể tính nhân, trong đó học
sinh trong nhóm dưới sự chỉ đạo của giáo viên trao đổi những ý tưởng, nguồn kiến
thức với nhau, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành
năng, kĩ xảo. Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập
của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong
nhóm.
- Đặc trưng của hình thức học tập theo nhóm sự tác động trực tiếp giữa những
học sinh với nhau, sự cùng phối hợp họat động của họ
- Công tác với toàn lớp trong điều kiện học tập nhóm tại tiết học tính chất hoàn
toàn khác
- Việc học tập nhân cũng có những nét mới.
3. Hình thức học tập nhà
Học tập nhà stiếp tục một cách logic hình thức lên lớp. Học tập nhà khác
với hình thức lên lớp ở chỗ đòi hỏi học sinh phải tính tự lực học tập cao hơn
và thiếu sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên
Học tập nhà rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội, hoàn
thiện tri thức năng, xảo. tác dụng củng cố, đào sâu, khái quát hóa, hệ
thống hóa tri thức, kĩ năng, xảo tác dụng chuẩn bị lĩnh hội những tri thức
mới. Thông qua học tập ở nhà, học sinh bồi dưỡng, rèn luyện tinh thần trách nhiệm
trong học tập, tính chủ động, tự lực, phát huy tinh thần nỗ lực chủ quan, khắc phục
khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ đề ra trong thời gian quy định, tính tổ chức
tính kế hoạch trong học tập.
4. Hình thức tho luận
hình thức phát huy cao độ tính tích cực, độc lập của nhân kết hợp với sự giúp
đỡ, sự hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề đặt ra, giúp họ trình bày bảo vệ ý
kiến của mình trước một số đông người.
Tổ chức thảo luận thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Nêu vấn đề thảo luận: Đó những vấn đề quan trọng, ý nghĩa trong
chương trình
Bước 2: Giáo viên trình bày kế hoạch chuẩn bị thảo luận và giao nhiệm vụ cho cả
lớp, từng nhóm và từng cá nhân
ớc 3: Học sinh chuẩn bị trong một thời gian nhất định tùy theo nội dung và khi
lượng vấn đề thảo luận
Bước 4: Tiếnnh thảo luận
+ Giáo viên nêu ngắn gọn mục đích, yêu cầu, nội dung thảo luận
+ Học sinh trình bày ý kiến đã chuẩn bị
+ Lớp tiến hành thảo luận đ đi đến kết luận đánh giá các báo cáo
+ Trong khi thảo luận giáo viên cần động viên mọi người phát biểu ý kiến tranh
luận và điều khiển điều chỉnh cho buổi thảo luận đi đúng hướng.
+ Kết thúc thảo luận GV tổng kết các ý kiến phát biểu, nêu tóm tắt những vấn đề
đã thống nhất chưa thống nhất. GV thể bổ sung, sửa chữa sai lầm của báo
cáo. Nhận xét tinh thần thái độ thảo luận rồi đánh giá, cho điểm.
5. Hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học
Trong quá trình dạy học, hình thức hoạt động ngoại khóa tính chất tự
nguyện. Hình thức này tạo điều kiện cho học sinh khả năng mở rộng đào sâu tri
thức đã tiếp thu được chương trình bắt buộc. Đồng thời nó cũng tạo thêm hứng
thú học tập làm phát triển năng lực riêng của từng học sinh, qua đó góp phần
hướng nghiệp cho học sinh.
Những hình thức hoạt động ngoại khóa thể là: câu lạc bộ khoa học, hội
“các nhà khoa học trẻ tuổi”, dạ hội khoa học hay nghệ thuật…
6. Hình thức tham quan học tập
- Mục tiêu:
+ Tổ chức cho học sinh quan sát trực tiếp nghiên cứu các sự vật hiện tượng
trong tự nhiên, XH, cuộc sống, trong sản xuất…Giúp họ tích lũy, đào sâu, mở rộng
tri thức, nâng cao hứng thú, phát triển óc quan sát, trí tò mò khoa học.
+ Hình thành cho học sinh PP quan sát, phân tích, tổng hợp những tài liệu thu được
trong quá trình tham quan; Bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đát nước, con người và
cuộc sống.
- Ý nghĩa: hình tốt để thực hiện mối liên hệ giữa luận và thực tiễn, gắn nhà
trường với cuộc sống thực hiện nhiệm vụ giáo dục kthuật tổng hợp cho học
sinh
7. Hình thức giúp đỡ riêng
Hình thức này thường gọi phụ đạo, nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi hoặc
giúp đỡ học sinh yếu. đối với học sinh yếu, hình thức đó giúp hlấp được các lỗ
hổng tri thức kịp thời và nhờ đó ngăn ngừa tình trạng một bộ phân học sinh
không theo kịp được trình độ chung của lớp. còn đối với học sinh giỏi, hình thức
giúp đỡ riêng giúp họ phát triển hơn nữa những năng lực sẵn có, nghiên cứu sâu
một số vấn đề khoa học, thuật, nghệ thuật nào đó những buổi học trên lớp
không có điều kiện giải quyết
CHƯƠNG 2. THUYẾT QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
BÀI 1. QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
I. Khái niệm quá trình giáo dục
1. Quá trình giáo dục ?
Quá trình giáo dục quá trình hoạt động mục đích, tổ chức của giáo viên
hcj sinh hình thành những quan điểm, niểm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành
vi, thói quen phợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ,
văn hóa, làm phát triển nhân cách học sinh theo mục đích giáo dục của nhà trường
và xã hội.
QTGD đây được hiểu theo nghĩa hẹp, bộ phận của quá trình giáo dục tổng
thể.
QTGD có chức năng trội là làm cho học sinh có nhận thức đúng đắn về các yêu
cầu, chuẩn mực xã hội và có thói quen, hành vi tương ứng, nó là một trong những
kết quả, mục đích quan trọng nhất của hoạt động dạy học trong nhà trường.
2. Cấu trúc của quá trình giáo dục
Cũng giống như quá trình dạy học,cấu trúc của quá trình giáo dục cấu
trúc-hệ thống.Cấu trúc của quá trình giáo dục bao gồm các thành tố sau:
1).
Mục đích giáo dục
2).
Nhà giáo dục(GV)
3).
Đối tượng giáo dục(HS)
4).Nội dung giáo dục(NDGD)
5). Phương pháp giáo dục(PPGD)
6).Kết quả giáo dục(KQGD)
7).Môi trường(MT)
II. Bản chất đặc điểm của quá trình giáo dục
1. Bản chất của QTGD
* Căn cứ xác định bản chất:
- QTGD là quá trình hình thành một kiểu nhân cách trong xã hội. Quá trình xã
hội hóa cá nhân là quá trình biến cá nhân thành một thành viên của xã hội; có đầy
đủ giá trị hội để tham gia vào những hoạt động hội. Do đó muốn xác định
được bản chất của QTGD phải xuất phát từ chế tính hội của sự
truyển đạt lĩnh hội những kinh nghiệm lịch s- hội của các thế hệ đi trước
trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được
các giá trị văn hóa của loài người.
- Căn cứ vào quan hệ phạm giữa nhà giáo dục người được giáo dục. Đó
sự thống nhât giữa sự tác động giáo dục của nhà giáo dục stiếp nhận, tự
điều chỉnh của người được giáo dục trong quá trình giáo dục.
* Bản chất của QTGD:
- QTGD quá trình làm cho người được giáo dục (HS) ý thức được các quan
hệ hội các giá trị của (các quan hệ chính trị - tưởng, kinh tế, pháp luật,
đạo đức) để rồi vận dụng vào các lĩnh vực trong cuộc sống. Quá trình tham gia vào
các quan hệ xã hội giúp học sinh khẳng định những quan hệ mới, tích cực trong
cuộc sống loại bỏ những quan niệm, biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, không còn phù
hợp với xã hội hiện nay.
- QTGD là quá trình hình thành bản chất người hội trong mỗi cá nhân một
cách ý thức, quá trình tổ chức để mỗi nhân chiếm lĩnh được các lực lượng
bản chất hội của con người, được biểu hiện toàn bộ các quan hệ hội của họ.
- Quá trình giáo dục quá trình tổ chức cuộc sống ca mỗi nhân hoặc
nhóm, tầng lớp hội theo những chuẩn mực, các yêu cầu của sự phát triển xã hội,
làm cho cá nhân biết sống phù hợp với các chuẩn mực của xã hội.
- QTGD vừa mang bản chất của hoạt động vừa mang bản chất của giao u.
Bản
chất của QTGD quá trình tổ chức các hoạt động giao lưu trong
cuộc
sống nhằm giúp cho người được giáo dục tự giác, tích cực, độc lập chuyển hóa
những yêu cầu chuẩn mực của hội thành hành vi thói quen tương ng.
2. Đặc điểm của quá trình giáo dục
a. QTGD một quá trình mục đích xuất phát từ yêu cầu của hội diễn
ra lâu dài
Khái niệm Giáo dục bản thân nó đã nói lên tính mục đích.
Thật vậy, mỗi tác động của cha mẹ, của thầy giáo, của những người phụ
trách các đoàn thể hội đến con cái, học sinh lớn hay nhỏ đều nhằm tới một
mục đích nhất định.
Không mục đích không thể tồn tại cái gọi giáo dục”.
- Mục đích giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội xuất phát từ yêu cầu của xã
hội (về phẩm chất, nhân cách con người, với cách nguồn nhân lực phục vụ
cho sự phát triển kinh tế - hội theo từng thời kỳ phát triển của lịch sử hội).
Mục đích giáo dục hội bị chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế - hội, bởi
truyền thống văn hoá dân tộc và thời đại.
Như vậy, quá trình giáo dục quá trình định hướng giá trị hội cho các
thế hệ con người theo thời đại.
Tính lâu dài của QTGD được thể hiện:
- QTGD được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc đời con người, từ
lúc sinh ra đến khi mất đi.
- Việc hình thành trở nên bền vững, ổn định của một hành vi, thói quen
của nhân đòi hỏi một thời gian lâu dài không th một sớm một chiều ngay
được.
- Kết quả hoạt động giáo dục, nhất cac tác động nhằm hình thành nhận
thức mới, niềm tin,... thường knhận thấy ngay và khi kết quả đó lại bị biến
đổi hoặc mất đi.
- Việc sửa chữa, thay đổi những nếp nghĩ; thói quen cũ, lạc hậu, không đúng
(giáo dục lại) là việc rất khó khăn và lâu dài.
b. QTGD diễn ra với sự tác động của nhiều nhân tố
- Quá trình giáo dục quá trình phức tạp, chịu sự tác động của nhiều nhân
tố khách quan chủ quan, ý thức không ý thức, trong môi trường đầy
biến động.
- Giáo dục là quá trình hội, các yếu tố tác động từ nhiều phía đan xen với
nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất hướng tới việc hoàn thiện
nhân cách. Mức độ tác động của lực lượng tham gia với các mức độ bình diện
khác nhau, do đó sản phẩm giáo dục là sản phẩm chung của các lực lượng xã hội.
- Khi nói sản phẩm giáo dục kết quả phức hợp của những tác động giáo
dục của nhiều lực lượng tham gia, thì cần lưu ý rằng sản phẩm giáo dục còn kết
quả của quá trình tự giáo dục của bản thân học sinh trước các tác động của môi
trường.
- Đòi hỏi nhà giáo dục cần chủ động phối hợp thống nhất các tác động giáo
dục, đồng thời phải linh hoạt vận dụng các nguyên tắc, phương pháp giáo dục để
hạn chế tới mức tối đa những tác động tiêu cực, tự phát và phát huy những tác
động tích cực đối với quá trình giáo dục.
c. Quá trình giáo dục mang tính cụ th
được thể hiện như sau:
- Tác động giáo dục theo từng nhân người được giáo dục với những tihf
huống giáo dục cụ thể.
- Mỗi con người đặc điểm riêng về tâm - sinh lý, khả năng nhận thức,
kinh nghiệm, thói quen hành vi (sự khác biệt này được hình thành do hoàn cảnh
sống, do hoạt động và giao lưu của cá nhân, do phương pháp giáo dục của từng gia
đình). Do đó, quá trình giáo cần phải chú ý đến đặc điểm riêng của từng cá nhân.
- QTGD diễn ra trong những không gian, thời gian, địa điểm với những điều
kiện, hoàn canh cụ thể. Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể đối với từng loại
giáo dục.
QTGD luôn diễn ra cụ thể trong những tình huống giáo dục, điều kin
giáo dục đối tượng giáo dục cụ thể.
d. QTGD thống nhất biện chứng với quá trình dạy học
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường trong đó dạy học con
đường giáo dục ngắn nhất hiệu quả nhất. Thực tế cuộc sống đã chứng minh
giáo dục con người tốt nhất bằng khoa học và dạy khoa học là nội dung quan trọng
nhất để giáo dục nhân cách cho con người. Như vậy dạy học giáo dục hai quá
trình cùng mục đích hình thành phát triển nhân cách cho học sinh, tuy
nhiên chúng không đồng nhất.
Tính đa dạng của các hoạt động giáo dục làm cho quá trình giáo dục trở nên
hấp dẫn đối với học sinh do đó đạt được hiệu quả trong nhiều mặt. Tuy nhiên,
giáo dục được thực hiện thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học sẽ làm cho giáo
dục đạt đến chiều sâu vững chắc.
III. Động lực các khâu của quá trình giáo dục
1. Động lực của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục một hình thức phức tạp, đầy mâu thuẫn (trong ý thức,
thái độ, hành vi), mỗi người luôn đấu tranh, giằng co giữa cái tốt cái xấu, cái
tích cực tiêu cực, giữa cái mới sức của thói quen cũ. Vấn đề chỗ con
người có nhận thức được đầy đủ những mâu thuẫn đó không ? Lựa chọn cách thức
nào và giải quyết nó ra sao ?
Chính việc giải quyết các mâu thuẫn bằng phương thức nào sẽ dẫn con
người phát triển theo chiều hướng đó (mục đích cao đẹp) phương thức văn
minh đã dẫn con người đến thế giới văn minh. Ngược lại, mục tiêu thấp hèn,
phương thức sai lệch làm cho con người trở thành bệnh hoạn. Ngay cả mục
tiêu tốt nhưng phương thức giải quyết sai lầm cũng sẽ làm con người trở nên
tầm thường.
Như vậy QTGD nhiều mâu thuẫn, trong đó mâu thuẫn bản của bản
thân quá trình giáo dục trở thành động lực chủ yếu của QTGD.
Động lực của QTGD kết quả giải quyết mâu thuẫn giữa một bên
các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục mới đang đặt ra cho người được giáo dục với
một bên trình độ được giáo dục phát triển hiện của người được giáo
dục.
Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực:
- Đối tượng giáo dục phải ước mơ, hoài bão cho tương lai của mình.
- Chính họ phải cố gắng phấn đấu để biến ước thành hiện thực.
2. Các khâu của quá trình giáo dục
a. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức làm sở cho hành động
Giáo dục trước hết làm cho mỗi con người nhận thức đầy đv mục
đích, ý nghĩa giá trị cuộc sống, hiểu được chân lý, lẽ phải, tính nhân văn,
nhân đạo trong các mối quan hệ hội, từ đó hình thành thế giới quan,
tưởng sống.
Nhận thức đúng về các mối quan hệ hội kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của con người. sở để hình thành thái độ hành vi văn minh. (Ngược
lại, nhận thức sai lệch là nguyên nhân của những hành động sai lầm).
Nhận thức đúng sở để hành động đúng. Chính quá trình vận dụng,
trải nghiệm những điều đã thu nhận được trong quá trình giáo dục vào hoạt động,
thực tiễn lại củng cố nhận thức, xây dựng được ý thức, niềm tin cho cá nhân. Nhận
thức sở, kim chnam cho sự hình thành điều chỉnh tình cảm, thái độ
hành vi của mỗi cá nhân
Quá trình giáo dục quá trình làm cho (giúp) học sinh phát triển vmặt
nhận thức từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ biết những điều đơn
giản đến phức tạp hơn, cao hơn…để rồi biết vận dụng vào đời sống xã hội
Quá trình giáo dục làm cho học sinh từ nhận thức đúng đắn (lí trí) hình
thành tưởng, tình cảm, ước mơ, lối sống, hình thành thế giới quan, nhân sinh
quan…
b. Bồi dưỡng những tình cảm đúng đắn, lành mạnh phù hợp với c quan
niệm, chuẩn mực đạo đức, quan hệ úng xử hội
Quá trình giáo dục, trên sở làm cho con người nhận thức đúng đắn s
giúp cho họ thái độ, niềm tin vào những điều đã nhận thức được, vào chính
tương lai, cuộc sống của bản thân dân tộc. Thái độ, niềm tin chính biểu hiện
cụ thể của quan điểm sống, stôn trọng các giá trị đặc điểm, các chuẩn mực xã
hội.
Thái độ, niềm tin kết quả của quá trình giáo dục, nhưng lại giá trị
hướng dẫn con người hành động, chất men kích thích sự chuyển hoá ý thức
thành hành vi, là nội lực, sức mạnh tinh thần để biến những điều nhận thức được
thành phẩm chất nhân cách, đó cũng chế của tgiáo dục. (Nhận thức đúng,
nhưng không niềm tin thì hành động ca con người sẽ trở nên “vô cảm”, khô
khan và cứng nhắc).
Thực tiễn đời sống đã cho thấy: nhận thức đúng, nhưng do tình cảm sai
lệch thì chưa chắc đã dẫn đến hành động đúng, khi còn làm sai lệch, xuyên tạc,
bóp méo sự thật. như “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, “không ưa thì dưa giòi”,
“yêu nhau củ ấu thành tròn”… Điều đó nói lên sự chi phối ngược lại của tình cảm
đối với nhận thức. Để bồi dưỡng, hình thành được những tình cảm tốt đẹp cho học
sinh phải dựa vào chế hình thành của tình cảm: tạo nhiều hội nảy sinh các
xúc cảm đồng loại được tổng hợp lại. Muốn vậy, trong các quan hệ giáo dục
(quan hệ sư phạm) thầy trò phải tốt đẹp, tạo được nhiều ấn tượng tình cảm ở học
sinh. Quá trình giáo dục cũng càn chú ý uốn nắn sửa chữa, khắc phục những xúc
cảm, tình cảm sai lệch, thiếu trong sáng học sinh. Khi đã được tình cảm, thái
độ đúng về chính trị, đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ,…sẽ thúc đẩy mạnh mẽ học sinh
vươn tới chiếm lĩnh những giá trị tốt đẹp
c. Rèn luyện hình thành hành vi thói quen
Mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục tạo lập cho con người những
hành vi, thói quen văn hoá chúng phải được thể hiện trong cuộc sống hàng
ngày. Hành vi biểu hiện cụ thể nhất của bộ mặt tâm lý, đặc điểm của con người
đã hình thành được thói quen sống có văn hoá.
Hành vi, thói quen văn hoá chính kỹ năng cuộc sống, là kết quả của nhận
thức, đồng thời biểu hiện cụ thể sinh động nhất của thái độ, niềm tin của con
người. Hành vi, thói quen được hình thành trong hoạt động, trong các tình huống
cụ thể đó sản phẩm của quá trình học tập, tu dưỡng lâu dài. Hành vi văn hoá khi
đã trở thành thói quen sẽ làm thành một hệ thống vững chắc, sẽ tđộng hoá thể
hiện trong cách cư xử ở mọi tình huống của cuộc sống.
Như vậy, hành vi thói quen là kết quả của việc thực hiện tốt hai khâu bồi
dưỡng nhận thức và tình cảm trong QTGD.
Thực tiễn đời sống đã cho thấy: có nhận thức đúng, nhưng do tình cảm sai lệch thì
chưa chắc đã dẫn đến hành động đúng, khi còn làm sai lệch, xuyên tạc, bóp méo
sự thật. như “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, “không ưa tdưa giòi”, “yêu nhau
củ ấu thành tròn”… Điều đó nói lên schi phối ngược lại của tình cảm đối với
nhận thức. Để bồi dưỡng, hình thành được những tình cảm tốt đẹp cho học sinh
phải dựa vào chế hình thành của tình cảm: tạo nhiều hội nảy sinh các xúc
cảm đồng loại được tổng hợp lại. Muốn vậy, trong các quan hgiáo dục (quan
hệ phạm) thầy tphải tốt đẹp, tạo được nhiều ấn tượng tình cảm học sinh.
Quá trình giáo dục cũng càn chú ý uốn nắn sửa chữa, khắc phục những xúc cảm,
tình cảm sai lệch, thiếu trong sáng học sinh. Khi đã được tình cảm, thái độ
đúng về chính trị, đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ,…sẽ thúc đẩy mạnh mẽ học sinh
vươn tới chiếm lĩnh những giá trị tốt đẹp
Tóm lại, ba khâu của quá trình giáo dục liên quan chặt chẽ với nhau,
không thể tách rời nhau, thiếu một trong ba khâu không còn quá trình giáo dục
hoàn chỉnh, mỗi khâu tiền đề đồng thời kết quả của các khâu kia. Khi vận
dụng khâu của QTGD đòi hỏi nhà giáo dục phải y vào đối tượng, yêu cầu,
nhiệm vụ giáo dục cụ thể, đối tượng hoàn cảnh cụ thể đlựa chọn vận dụng
linh hoạt, sáng tạo các khâu cho phù hợp.
IV. Tự giáo dục giáo dục lại
1. Tự giáo dục
Tự giáo dục một bộ phận của QTGD. Tự giáo dục hoạt động ý thức
của con người hướng vào việc tự hoàn thiện mình theo những chuẩn mực của
hội. Tự giáo dục (tự tu dưỡng) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi con người,
biểu hiện trình độ phát triển nhân cách của nhân đến một giai đoạn mới,
phẩm chất cực kỳ quý báu của nhân cách.
Tự giáo dục bắt đầu từ việc nhận thức bản thân, thấy được ưu nhược
điểm, sở trường, sở đoản, cái đúng, cái chưa đúng, chưa đủ phấn đấu vươn
lên. Đồng thời, tự giáo dục được nh thành phát triển do nhu cầu cuộc
sống, được phát triển trong quá trình sống, học tập, lao động sinh hoạt tập thể
cộng đồng. Trong thời đại ngày nay, một trong các mục tiêu giáo dục làm
cho mỗi người biết tự tu dưỡng, vươn lên để khẳng định mình, hoà nhập với
cộng đồng…
Quá trình tự giáo dục bao gồm những yếu tố bản sau:
- Năng lực tự ý thức của học sinh về sự phát triển nhân cách của bản
thân, về một phẩm chất hay năng lực nào đó cần được phát triển hơn.
- Năng lực tự tổ chức giáo dục như: đặt mục tiêu, lập kế hoạch, lựa chọn
phương pháp, phương tiện,..
- Sự nỗ lực của bản thân vượt qua những khó khăn, trở ngại gặp phải
trong quá trình thực hiện kế hoạch tự giáo dục.
- Tự kiểm tra xem đã đạt được những kết quả tự giáo dục như thế nào, tự
đánh giá tự rút ra kinh nghiệm cho bản thân.
2. Giáo dục lại
hoạt động của các nhà giáo dục nhằm thay đổi nhận thức, thái độ,
hành vi thói quen không đúng của học sinh đã mắc phải một mức đnghiêm
trọng. dụ : Hiện nay, một số bộ phận học sinh nhận thức lệch lạc về
đặc điểm, chính trị, pháp luật, những hành vi không phù hợp với chuẩn mực
hội (lười học tập, ngại lao động, không vâng lời cha mẹ, thầy , đua đòi,
buông thả, thậm chí biểu hiện đạo đức suy thoái, rơi vào các tệ nạn hội
như nghiện hút, cờ bạc vi phạm pháp luật).
Giáo dục lại công việc đầy kkhăn, phức tạp bởi thói tật xấu
đã tiêm nhiễm, ăn sâu. Cải tạo con người phá vỡ những động hình đã trở
thành cố tật không phải việc đơn giản.
Giáo dục lại bắt đầu từ việc nhà giáo dục phải phân tích các nguyên nhân
dẫn đến các sai lệch để tìm ra các biện pháp giáo dục thích hợp, các phương
pháp giáo dục lại quan trọng là: gần gũi, các em, phân tích từng sai sót, dùng
tình cảm lẽ để cảm hoá, thuyết phục. Bằng sự gương mẫu của cha mẹ,
thầy cô, bằng một gương người tốt, việc tốt, bằng khen thưởng, khích lệ tạo
niềm tin cho trẻ. Cần tổ chức cho các em tham gia vào các hoạt động hội,
văn hoá, thể dục thể thao, hoạt động tập thể hấp dẫn, điều quan trọng nhất tổ
chức cho các em học tập một cách hứng thú để nang cao nhận thức khoa học
và cuộc sống.
mức độ nghiêm trọng hơn, thiếu niên phạm pháp cần đưa vào các trường
giáo dưỡng, do bộ công anh quản lí. Phương pháp giáo dục trại giáo dưỡng tổ
chức lại cuộc sống, phá vỡ động hình, đưa các em vào lao động, học tập, sinh hoạt
tập thể.
BÀI 2: NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC
I. Khái niệm nguyên tắc giáo dc
Nguyên tắc giáo dục được hiểu những luận điểm bản tính quy luật
của luận giáo dục, tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn vận dụng nội dung,
phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục nhằm thực hiện tối ưu mục đích và
nhiệm vụ giáo dục.
Nguyên tắc là những luận điểm được rút ra từ các quy luật, những nguyên
như những tiên đgiá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp đông người tham
gia. Nắm được các nguyên tắc giáo dục sẽ giúp các nhà giáo dục kết hợp được
luận với thực tiễn giáo dục vận dụng một cách sáng tạo nhằm đảm bảo cho quá
trình giáo dục đạt hiệu quả cao.
II. Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong giáo dc
Nguyên tắc này tính định hướng cho hoạt động giáo dục, sự phát triển
nhân cách. Giáo dục bản thân một hoạt động mục đích, vậy, mọi nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức quá trình giáo dục đều phải nhằm tới mục
đích cụ thể.
Mục đích giáo dục nhiều cấp độ
+ Mục đích giáo dục tổng quát : hình thành nhân cách tích cực, sáng tạo
(phát triển toàn diện).
+ Mục tiêu giáo dục : sự cụ thể hoá mc đích giáo dục cho từng giai đoạn
phát triển trẻ em. Mục tiêu trước mắt cho tương lai gần, mục tiêu cho từng hoạt
động, mc tiêu cho từng tình huống cụ thể.
Yêu cầu khi thực hiện:
+ Khi tổ chức các hoạt động giáo dục nhà giáo dục luôn phải đặt ra tự trả
lời các câu hỏi : Tác động giáo dục của mình nhằm mục tiêu ? Sẽ đem lại lợi ích
trước mắt lâu dài cho học sinh ? Làm thếo để có thể đạt được mục tiêu đó?
+ Khi thiết kế mục đích, mục tiêu giáo dục nhà giáo dục phải cân nhắc, tính
toán kỹ trên sở phân tích các tình huống giáo dục trước khi quyết định tổ chức
một hoạt động giáo dục cụ thể và lựa chọn phương pháp phù hợp.
2. Nguyên tác giáo dục gắn với đời sống hội
Thể hiện ở hai phương diện cơ bản:
- Sự chuyển hóa các quan hệ hội thành ý nghĩa, giá trị đối với các nhân
và được thể hiện trong hành động tương ứng của đời sống xã hội.
- QTGD thế hệ trẻ phải phát huy, tận dụng được những ảnh hưởng, tác động
giáo dục của các quan hệ xã hội làm cho học sinh không bị xa rời, thoát li thực tế.
Phương ớng thực hiện nguyên tắc:
- Tạo mối liên hệ gắn giữa việc giảng dạy, học tập, giáo dục trong nhà
trường với đời sống xã hội bên ngoài.
- Làm cho thanh thiếu niên học sinh luôn ý thức quan tâm đến các sự kiện
trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước.
- Tổ chức cho học sinh tham gia thường xuyên vào công cuộc lao động xây
dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân cư.
- Phê phán, khắc phục những biểu hiện của phương thức giáo dục của nhà
trường kiểu cũ.
3. Nguyên tắc thống nhất giữa ý thức hành vi trong giáo dục
Giáo dục một qtrình gồm ba khâu thống nhất biện chứng với nhau:
Giáo dục ý thức, giáo dục thái độ hình thành hành vi, thói quen. Hành vi lối
sống, phương thức sống, được biểu hiện trong các tình huống xảy ra hàng ngày.
Tiêu chí trưởng thành của nhân cách là sự thống nhất giữa ý thức và hành vi. Hành
vi là sản phẩm của ý thức, đồng thời sở để khẳng định trình độ nhận thức
thái độ của con người. Do đó, sự thống nhất giữa giáo dục ý thức và hành vi vừa là
mục tiêu vừa là nguyên tắc chỉ đạo các hoạt động giáo dục.
Sự thống nhất giữa ý thức hành vi trong quá trình giáo dục được thể hiện:
- Hiểu được những khái niệm, quy tắc, chuẩn mực, tưởng, chính trị, đạo
đức, pháp luật...
- Trên sở nắm vững được các chuẩn mực chuyển hóa thành niềm tin.
- Quá trình rèn luyện, tập luyện thể hiện các chuẩn mực đhình thành hành
vi thói quen.
* Các yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này
- Giúp cho học sinh hiểu đúng thấy được ý nghĩa, giá trị của những chuẩn
mực trong thực tiễn cuộc sống từ đó thúc đẩy hình thành hành vi.
- Chống tình trạng không ăn khớp giữa lời nói việc làm của giáo viên
học sinh. Nhà giáo dục luôn phải tấm gương sáng về mọi mặt cho học sinh noi
theo, nói và làm phải theo một chuẩn mực sư phạm.
- Cần tổ chức các hoạt động đa dạng, hấp dẫn, tạo điều kiện cho học sinh
luyện tập nhằm hình thành các phẩm chất đạo đức, hành vi thói quen.
- Tạo ra các tình huống giáo dục để các đối tượng ttìm ra phương hướng
giải quyết.
4. Nguyên tắc giáo dục trong lao động bằng lao động
Lao động phương thức sống, đồng thời con đường hình thành phát
triển nhân cách. Lao động sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, nguồn
gốc của mọi tình cảm, mọi phẩm chất tốt đẹp của con người. Ngược lại sự nhàn
rỗi, lười biếng là nguồn gốc nảy sinh mọi thói hư, tật xấu.
Giáo dục bằng lao động như một phương tiện giáo dục để học sinh
hội và điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, rèn luyện những
đức tính, phẩm chất tốt đẹp. Do vậy, nhà giáo dục cần phải tổ chức cho học sinh
thực sự rèn luyện trong lao động.
* Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau từ việc
nhỏ nhất hàng ngày như vệ sinh trường, lớp.
- Cần thu hút học sinh tham gia vào các hình thức lao động kỹ thuật, tính
sáng tạo, hấp dẫn, tạo sự hứng thú như trồng hoa, cây cảnh, tạo môi trường xanh,
sạch đẹp.
- Tổ chức cho các em tham gia vào lao động tạo ra của cải vật chất trong
vườn trường, xưởng trường.
- Cần giúp cho giáo viên học sinh thái độ đúng đắn đối với người lao
động, với công việc lao động, với sản phẩm lao động, ý thức hợp tác, tương trợ
giúp đỡ nhau; cần khắc phục những những biểu hiện, những khuynh hướng không
đúng trong lao động.
5. Nguyên tắc giáo dục trong tp thể bằng tập th
Tập thể là nơi học sinh sinh sống học tập, môi trường trực tiếp để các
em giao lưu, sinh hoạt bạn bè, là phương tiện để giáo dục học sinh.
Giáo dục bằng tập thể xem tập thể như một lực lượng, một phương tiện
giáo dục có tác dụng hình thành, phát triển nhân cách học sinh.
Những yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này :
- Chú ý nguyên tắc “tác động song song” một mặt nhà giáo dục tác động đến
tập thể thông qua tập thể gây ảnh hưởng đến từng nhân, mặt khác cần tác động
trực tiếp tới từng cá nhân để tạo nên sự cộng hưởng tích cực trong tập thể.
- Xây dựng tập thể học sinh vững mạnh để mỗi lớp một đơn vị t quản,
kỷ luật, dư luận lành mạnh, truyền thống tốt, biến yêu cầu của giáo viên
thành yêu cầu của tập thể học sinh.
- Cần t chức tốt mối quan hệ giữa ngiáo dục bộ máy tự quản của tập
thể học sinh. Cần tránh hai khuynh hướng : Thiếu tin tưởng đối với lãnh đạo tập
thể dẫn đến thái độ áp đặt, làm thay hay độc đoán trong quản học sinh. Hoặc tin
tưởng quá mức vào khả năng tự quản của tập thể dẫn đến việc buông lỏng hay
quản lý, thả nổi
6. Nguyên tắc tôn trọng nhân cách học sinh kết hợp với yêu cầu hợp
trong quá trình giáo dục
Tôn trọng nhân cách học sinh tôn trọng nhân phẩm, tài năng trí tuệ, tự do
tưởng, nhu cầu, nguyện vọng thói quen sống của mỗi nhân : Tôn trọng
nhân cách còn bao gồm tôn trọng thân thể, không ai được xúc phạm đến phẩm giá
và thân thể con người.
Tôn trọng nhân cách tin tưởng con người, tin tưởng khả năng trí tuệ, khả
năng lao động sáng tạo của con người. Tin tưởng thể hiện sự mong muốn của
các nhà giáo dục đối với đối tượng giáo dục đồng thời cũng là một biện pháp tế
nhị buộc họ phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
Yêu cầu hợp chính là sự đòi hỏi cao hơn thực tế các em phải phấn đấu.
Bằng hệ thống những mục tiêu, những tiêu chuẩn nâng dần từng bước, thúc đẩy
học sinh phải phấn đấu liên tục. Khi nhà giáo dục đặt ra những yêu cầu hợp lí, học
sinh sẽ cảm nhận được stin tưởng của giáo viên về mình, như tiếp thêm sức
mạnh để cố gắng nhiều hơn. Yêu cầu cao chính là thể hiện niềm tin và sự tôn trọng
nhân cách con người.
=> Muốn giáo dục con người phải tôn trọng nhân cách con người và phải
những yêu cầu hợp lí đối với con người. Vì:
- Tôn trọng nhân cách học sinh cần phải luôn đề ra các yêu cầu giúp cho học
sinh vươn lên, phát triển nhân cách tốt hơn.
- Đòi hỏi học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cũng như trong quan
hệ ứng xử sư phạm phải thể hiện sự tôn trọng, yêu thương, dìu dắt các em tiến bộ.
* Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này.
+ Nhà giáo dục không được xúc phạm đến nhân cách học sinh, dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, với bất kỳ do gì, tránh thành kiến đối với học sinh.
+ Nhà giáo dục cần tránh những thái độ gay gắt, nhạo báng, mỉa mai, mệnh
lệnh, áp đặt, nhưng đồng thời tránh những dễ dãi, xuề xoà “vô nguyên tắc”.
+ Luôn đánh giá cao hơn một chút so với cái họ có, đồng thời đòi hỏi cao
hơn một chút so với những họ đạt được. Tế nhị, khéo léo, tình, trong
ứng xử sư phạm của giáo viên.
+ Cần xác nhận những ưu điểm, những thành công của học sinh đó
thành công nhỏ bé, phát huy ưu điểm sở tạo ra những thành công mới trong
quá trình phấn đấu của học sinh.
7. Nguyên tắc thống nhất giữa sự tự tổ chức lãnh đạo phạm của giáo
viên với việ phát huy tính tự giác tích cực, độc lập, tự giáo dục của học sinh
Quá trình giáo dục một quá trình tính chất hai mặt : Sự định
hướng của nhà giáo dục tính tự giác, tích cực tự giáo dục của học sinh.
Tuy nhiên, tính tích cực, chủ động của đối tượng giáo dục đóng vai trò quyết
định đến chất lượng hiệu quả của quá trình giáo dục. Chỉ khi nào học sinh
chủ động ý thức trong tiếp nhận c tác động giáo dục, chỉ khi học sinh
tích cực, sáng tạo trong các hoạt động tự tu dưỡng mới thể giúp họ hình
thành tình cảm, thói quen hành vi tốt.
Vai trò chủ đạo của giáo viên thể hiện:
- Nâng cao ý thức trách hiệm trong việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết
quả QTGD của học sinh.
- Thuyết phục học sinh biết định hướng quyết tâm phấn đấu đạt
những mục đích đề ra.
- Lựa chọn phương pháp, phương tiện để thực hiện các nhiệm vụ cho
phù hợp.
Để phát huy vai trò chủ động, tự giác của học sinh, người giáo viên cần
phải:
+ Tôn trọng sáng kiến sự độc lập của học sinh
+ Động viên kịp thời ý chí quyết tâm vươn lên của học sinh
+ Biến yêu cầu của nhà giáo dục thành yêu cầu tự giáo dục của tập thể
nhân.
+ Lựa chọn các biện pháp hình thức tổ chức cụ thể để học sinh định
hướng rèn luyện, hoạt động.
8. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống kế tiếp liên tục trong giáo dục
Giáo dục một thể thống nhất toàn vẹn. Mỗi thành tựu giáo dục, mỗi
phẩm chất nhân cách được hình thành kết quả tổng hợp của toàn bộ những tác
động của các hiệu lực lượng giáo dục. Mỗi kết quả giáo dục đạt được m nay
kết quả của sự cố gắng của cả thầy, trò trong những ngày hôm qua. Điều đó
nghĩa : Giáo dục một quá trình lâu dài, phức tạp phải tiến hành trên nguyên
tắc tính hệ thống và liên tục.
* Yêu cầu khi thực hiện.
- Phải kế hoạch giáo dục tổng thể, thống nhất, từng bước nâng dần
các yêu cầu chung
về mục đích, nội dung, hình thức tổ chức giáo dục về
mức độ tham gia của học sinh.
- Phải củng c thường xuyên những kết quả giáo dục về nhận thức, tình
cảm hành vi của học sinh. Dựa vào kết quả đã để tiếp tục giáo dục
những phẩm chất mới.
- Những kết quả giáo dục trong gia đình phải được nối tiếp bằng những
tác động giáo dục nhà trường, trong các đoàn thể, hội theo một mục tiêu
chung.
- Nhà giáo dục phải trân trọng những cố gắng của trẻ em dù là nhỏm để
tạo cho các em sự phấn khởi, tự hào.
9. Nguyên tc thống nhất giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia
đình giáo dục của cộng đồng hội
Gia đình, nhà trường hội ba lực lượng giáo dục cùng chung
mục đích hình thành nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. vậy, để quá trình
giáo dục đạt kết quả, các lực lượng giáo dục phải thống nhất với nhau về môi
trường, nội dung, phương pháp giáo dục. Ngược lại, giáo dục phân tán, không
đồng bộ, theo các khuynh hướng khác nhau thể phá vỡ sự toàn vẹn, thống
nhất của giáo dục, dẫn đến những hậu quả klường trước.
Mỗi lực lượng giáo dục vị trí nhất định trong giáo dục học sinh:
+ Giáo dục gia đình đặt sở nền móng đầu tiên cho sự phát triển nhân
cách của trẻ.
+ Giáo dục hội vai trò rất quan trọng.
+ Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo, phải chịu trách nhiệm phối hợp
các lực lượng giáo dục.
* Yêu cầu khi thực hiện
- Tạo lập mối quan hệ thường xuyên giữa nhà trường gia đình, giữa
cha mẹ học sinh, thầy chủ nhiệm lớp.
- Nhà trường hội mối quan hệ tốt với địa phương, với các tổ chức
hội các quan nơi trường đóng.
- Các lực lượng giáo dục : cha mẹ, thầy cô, anh chị phụ trách phải
thống nhất về mục tiêu, phương pháp giáo dục trên một nguyên tắc chung, chỉ
như vậy mới đem lại những thành công cho quá trình giáo dục.
- Gia đình, nhà trường hội ba lực lượng giáo dục cùng chung
mục đích hình thành nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. vậy, để quá trình
giáo dục đạt kết quả, các lực lượng giáo dục phải thống nhất với nhau về môi
trường, nội dung, phương pháp giáo dục.
10. Nguyên tắc chú ý đến đặc điểm đối tượng giáo dục
Mỗi con người một thế giới thu nhỏ, những nét tính cách phổ biến
những nét đặc t riêng. Sự khác biệt tâm lý, tính cách của từng
nhân do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến tính tích cực của từng
nhân, sự tiếp nhận giáo dục từ môi trường sống.
Nhà giáo dục cần hiểu đặc điểm m lứa tuổi, giới tính, đặc điểm
biệt của học sinh đnhững pháp giáo dục khác nhau đề ra các yêu cầu hợp lý,
đề ra kế hoạch giáo dục cho sát hợp với từng đối tượng và thu hút họ tham gia tích
cực vào các hoạt động tập thể.
* Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc
- Tổ chức các hoạt động đa dạng, hấp dẫn, nhằm thu hút tất cả các học
sinh tham gia.
- Chú ý đến giới tính đặc điểm biệt của từng đối tượng đ biện
pháp tác động phù hợp, phát huy mặt mạnh của học sinh.
- Cần chú ý đến từng tình huống, từng đối tượng giáo dục cụ thể.
- Chú ý phương pháp giáo dục cho các loại học sinh khác nhau. Trên
sở học lực hạnh kiểm, học sinh hoàn cảnh khó khăn.
Kết luận: Mỗi nguyên tắc nhấn mạnh một mặt, một yêu cầu cụ thể, trong
quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, nhà giáo dục phải biết vận dụng linh
hoạt, hợp vào các nh huống cụ thể. Để quá trình giáo dục đạt được kết qu
mong muốn, nhà giáo dục phải tuân thủ một hệ thống các nguyên tắc giáo dục.
Nghệ thuật phạm cũng chính nghệ thuật vận dụng linh hoạt các nguyên tắc
giáo dục.
BÀI 3: NỘI DUNG GIÁO DỤC
I. Những nội dung giáo dục bản trong nhà trường
1. Giáo dục đạo đức ý thức công dân
a. Giáo dục đạo đức
* Ý nghĩa của giáo dục đạo đc
Đạo đức một hình thái ý thức hội, hệ thống các quan niệm về cái
thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Đạo đức về bản
chất những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ hội, được hình thành
phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Đạo đức quy tắc sống,
vị trí to lớn trong đời sống nhân loại, đạo đức định hướng gtrị cho cuộc
sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của hội.
Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm:thiện, ác, lẽ
phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm… thang giá trị của đạo đức
diễn biến theo lịch sử và mang tính dân tộc.
Giáo dục đạo đức hoạt động của nhà giáo dục dựa theo yêu cầu hội, tác
động hệ thống lên người được giáo dục một cách mục đích kế hoạch
để bồi dưỡng những phẩm chất tư tưởng nhà giáo dục kỳ vọng, chuyển hóa
những quan điểm, yêu cầu và ý thức hội liên quan thành phẩm chất đạo
đức, tư tưởng của mỗi cá nhân.
Trong công cuộc xây dựng đất nước, giáo dục đạo đức ý nghĩa rất quan
trọng đối với sự nghiệp giáo dục – đào tạo và đối với toàn xã hội
- Giáo dục đạo đức vai trò thúc đẩy sự ổn định lâu dài của hội, hội ổn định
tiền đề, sở để phát triển, giáo dục đạo đức chính bảo đảm cho sự ổn
định lâu dài của hội. tưởng, niềm tin, đạo đức được hình thành qua công
tác giáo dục đạo đức ở trong và ngoài nhà trường.
- Giáo dục đạo đức vị trí hàng đầu chủ đạo trong giáo dục nhà trường, giáo
dục đạo đức với tưởng chính trị ràng vai trò định hướng cho các nội dung
giáo dục khác. Nhà trường thông qua thực hiện công tác giáo dục thể nâng cao
hiệu quả giáo dục, thúc đẩy hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục khác.
- Đối với sự phát triển của thanh thiếu niên, giáo dục đạo đức hình thành cho họ hệ
thống lập trường chính trị, quan điểm , thế giới quan macxit phẩm chất đạo
đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức của hội. Trước xu thế hội nhập của thế
giới hiện đại, giáo dục đạo đức trong nhà trường giữ vai trò rất quan trọng trong
định hướng cuộc sống và lựa chọn giá trị cho thế hệ trẻ.
* Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức trong nhà trường thể khái quát như sau:
- Hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, nắm được những quy luật bản
của sự phát triển hội, ý thức thực hiện nghĩa vụ của người công dân, từng
bước trang bị cho học sinh định hướng chính trị kiên định, rõ ràng.
- Giúp cho học sinh hiểu nắm vững những vấn đề bản trong đường lối chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có ý thức học tập, làm việc tuân thủ theo
hiến pháp và pháp luật.
- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực phán đoán, đánh giá đạo đức, hình thành niềm tin
đạo đức, yêu cầu học sinh phải thấm nhuần các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức
do hội quy định, biết tiếp thu văn minh nhân loại kết hợp với đạo đức truyền
thống của dân tộc.
- Dẫn dắt học sinh biết rèn luyện để hình thành hành vi, thói quen đạo đức, ý thức
tích cực tham gia các hoạt động chính trị, hội, ý thức đấu tranh chống
những biểu hiện tiêu cực, lạc hậu.
* Những nội dung chủ yếu để giáo dục đạo đức cho học sinh:
- Giáo dục luận bản của chủ nghĩa Mac Lenin, tưởng Hồ Chí Minh
- Giáo dục chủ nghĩa yêu ớc
- Giáo dục tưởng của chủ nghĩa cộng sản
- Giáo dục chủ nghĩa tập thể
- Gióa dục lòng nhiệt tình, hăng say lao động, có ý thức bảo vệ tài sản XHCN.
- Giáo dục dân chủpháp chế XHCN
- Giáo dục hành vi văn minh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, giáo dục ý thức
công dân và các nội dung đạo đức mới XHCN
* Các bước của quá trình đạo đức bao gồm:
- Quá trình tác động nâng cao nhận thức về tưởng, chính trị, đạo đức làm sở
cho sự hình thành, phát triển và thể hiện các hành vi đạo đức.
- Bồi dưỡng những tình cảm đúng đắn, trong sáng, phù hợp với các quan niệm,
chuẩn mực đạo đức, quan hệ, ứng xử của xã hội
- Rèn luyện hành vi, thói quen đạo đức
Các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông:
- Giảng dạy các môn Giáo dục công dân các môn học khác
- Thông qua hoạt động ngoại khóa, lao động sản xuất, hoạt động của Đoàn thanh
niên và Đội thiếu niên, công tác chủ nhiệm lớp
b. Giáo dục ý thức công dân
Ý thức công dân một phạm trù hội học phản ánh trình độ nhận thức về
quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm của mỗi nhân đối với Nhà nước với cách
là những công dân chân chính của xã hội và của cộng đồng.
Nhiệm vụ giáo dục ý thức công dân trong nhà trường như sau:
- Giáo dục chính trị - tưởng cho học sinh: giáo dục cho học sinh lòng yêu nước,
giáo dục cho học sinh hiểu chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, mục
tiêu là tiến tới xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Giáo dục cho học sinh ý thức hành vi pháp luật: giúp học sinh hiểu biết về nghĩa
vụ và quyền lợi của công dân để biết sống và hành động theo pháp luật, có ý thức
đấu tranh với những biểu hiện vi phạm pháp luật, ý thức tuyên truyền giúp đỡ
mọi người xung quanh thực hiện dúng pháp luật.
2. Giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ vận dụng cái đẹp của nghệ thuật, của tự nhiên nét
đẹp của cuộc sống xã hội để bồi dưỡng quan điểm thẩm mỹ năng lực cảm thụ,
thưởng thức, sáng tạo cái đẹp đúng đắn cho học sinh. Giáo dục thẩm mỹ bộ
phận cấu thành cần thiết của mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện.
Nhiệm vụ ca giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường là:
- Giúp học sinh hình thành quan điểm thẩm mđúng đắn, nâng cao năng lực thẩm
mỹ. Giáo dục cho học sinh nắm vững tiêu chuẩn, phân biệt đánh giá cái đẹp,
đồng thời phải bồi dưỡng cho học sinh tình cảm thẩm mỹ cao thượng.
- Bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ lành mạnh, kích thích học sinh yêu thích và vươn tới
cái đẹp chân chính
- Giúp cho học sinh phát triển năng lực biểu hiện và sáng tạo cái đẹp
Các nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ mối liên h với nhau trong đó bồi dưỡng
quan điểm thẩm mỹ đúng đắn nhiệm vụ hạt nhân, từ đó mới thể hình thành
tình cảm lành mạnh và được thể nghiệm trong hoạt động thẩm mỹ, sáng tạo thẩm
mỹ.
Các con đường giáo dục thẩm m:
- Giáo dục nghệ thuật: Các con đường giáo dục nghề thuật trong nhà trường bao
gồm: giáo dục nghệ thuật trên lớp, bao gồm việc dạy các môn học trong đó văn
học, mỹ thuật, âm nhạc chiếm vị trí vai trò quan trọng, ngoài ra thể thông
qua hoạt động văn học nghệ thuật ngoại khóa.
- Giáo dục thẩm mỹ thông qua dạy học các bộ môn khoa học, đặc biệt là khoa
học xã hội và nhân văn
- Thông qua xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường
xã hội.
- Giáo dục cái đẹp trong tự nhiên
3. Giáo dục lao động hướng nghiệp
a. Giáo dục lao động
Mục đích của giáo dục lao động trong nhà trường phổ thông hình thành
cho học sinh quan điểm đúng đắn về lao động, hình thành thái độ tích cực đối với
lao động, nhu cầu và thói quen đối với lao động
Nhiệm vụ của giáo dục lao động:
- Giáo dục cho học sinh thái độ đúng đắn đối với lao động
- Cung cấp cho học sinh học vấn kỹ thuật tổng hợp, phát triển duy kỹ thuật hiện
đại
- Chuẩn bị cho học sinh có những kỹ năng lao động kỹ thuật nghề nghiệp ở một lĩnh
vực nghề nghiệp nhất định trong các khu vực kinh tế của đất nước, của địa
phương
- Hình thành cho học sinh thói quen lao động n hóa
- Tổ chức các hoạt động để làm cho học sinh những hiểu biết bản về các
ngành nghề thị trường lao động trước mắt sự phát triển lâu dài của kinh tế,
sản xuất để khả năng lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực, nguyện vọng
của bản thân và yêu cầu xã hội
- Tổ chức cho học sinh trực tiếp tham gia lao động sản xuất và các loại hình lao
động khác như lao động học tập, lao động sản xuất của học sinh trong nhà
trường, lao động công ích xã hội, lao động tự phục vụ
b. Giáo dục hướng nghiệp
Hướng nghiệp hoạt động của tập thể phạm nhằm giúp học sinh chọn
nghề một cách hợp lý, phù hợp với hứng thú nguyện vọng năng lực của
nhân và yêu cầu của xã hội
Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
Thứ nhất, định hướng nghề nghiệp : cung cấp thông tin về sự phát triển các
nghề trong xã hội, nhất là những nghề đang cần nhiều nhân lực, bao gồm:
- Yêu cầu tâm sinh lý của ngh
- Tình hình phân công lao động yêu cầu tuyển chọn
- Điều kiện lao động triển vọng của nghề
- Những quan niệm đúng hoặc sai lệch về một số nghề trong hội hiện tại
- Yêu cầu phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ trong những giai đoạn trước mắt
lâu dài của đất nước địa phương liên quan đến sự phát triển của các ngành
nghề.
- Hệ thống các trường dạy nghề
- Các tổng công ty, nhà máy, xí nghiệp, công nông trường, hầm mỏ, hợp tác xã… để
có hướng chọn cho mình mt chỗ đứng sau này
Đối tượng tác động để định hướng nghề nghiệp học sinh, đặc biệt
những học sinh lớp cuối cấp (lớp 9 trường THCS và lớp 12 THPT)
Biện pháp và phương tiện thông tin nghề nghiệp cho học sinh
- Giới thiệu, tuyên truyền về nghề qua buổi sinh hoạt hướng nghiệp
- Tạo điều kiện cho học sinh được làm quen với một số nghề hiện trong hội
- Tăng cường và mở rộng c phương tiện thông tin đại cng
Thứ hai, vấn nghề nghiệp: hoạt động giúp các nhân, đặc biệt thanh
thiếu niên trong quá trình định hướng, tìm chọn cũng như thay đổi nghề
Để vấn nghề nghiệp các nước thường thành lập những ban vấn nghề
nghiệp trong trường học. Việt Nam, công tác hướng nghiệp được coi một
nội dung giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp, bên cạnh đó các trung tâm
vấn nghề nghiệp ở ngoài nhà trường
Thứ ba, tuyển chọn ngh
- Xây dựng một phác đồ nghề nghiệp để giới thiệu cho học sinh, chỉ ra cho học sinh
thấy được mức độ phù hợp hay không phù hợp giữa nhận thức, khả năng của
nhân với yêu cầu thực tế khách quan của nghề, tức mối quan hệ giữa nghề với
cá nhân. Từ đó học sinh sẽ quyết định chọn nghề gì.
- Trường phổ thông căn cứ o nhu cầu nhân lực của mỗi nghề cụ thể trong kế
hoạch phát triển kinh tế để định hướng, tư vấn nghề nghiệp ca học sinh
Các con đường hướng nghiệp ở trường phổ thông:
- Hướng nghiệp qua dạy học các môn khoa học bản
- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn Kỹ thuật và lao động sản xuất trong
trường học
- Tổ chức cho học sinh tham gia sản xuất ở các nhà máy, nghiệp, hợp tác xã…
- Hướng nghiệp qua sinh hoạt hướng nghiệp
- Giới thiệu các nghề đang cần nhiều nhân lực
- Giới thiệu hệ thống các trường đào tạo ngh
4. Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất bộ phận cấu thành quan trọng của nền giáo dục phát
triển toàn diện, thể dục là biện pháp quan trọng nâng cao sức khỏe người dân,
tăng cường thể chất, làm phong phú đời sống văn hóa hội, nâng cao sức sản
xuất xã hội
Theo nghĩa rộng, GDTC bao gồm giáo dục rèn luyện thân thể giáo dục vệ
sinh giữ gìn sức khỏe, rèn luyện thân thể nghiêng về bồi dưỡng thể còn giáo
dục vệ sinh giữ gìn sức khỏe lại nghiêng về bảo vệ sức khỏe
Theo nghĩa hẹp, GDTC chyếu chrèn luyện thân thể hoặc giáo dục vận
động thể dục thể thao
Nhiệm vụ ca giáo dục thể chất:
- Tăng cường thể chất, sức khỏe cho học sinh
- Giúp học sinh dần nắm vững tri thức cơ bản và kỹ năng kỹ xảo của vận động thể
dục thể thao
- Truyền thụ tri thức vệ sinh cần thiết cho học sinh, bồi dưỡng thói quen vệ sinh tốt
- Thông qua thể dục, tiến hành giáo dục phẩm chất đạo đức cho học sinh
Nội dung giáo dục thể chất trong nhà trường:
- Vận động thể dục thể thao
- Vệ sinh nhà trường
II. Những nội dung giáo dục mới
Để giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới khả năng và
bản lĩnh thích ứng cao với những biến động của hội hiện đại, giáo dục trong
nhà trường hiện nay đã được bổ sung những nội dung giáo dục cho phù hợp.
1. Giáo dục môi trường
a. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
- Bảo vệ nơi sinh sống phát triển của quần sinh vật tôn trọng sự cân bằng
của hệ sinh thái
- ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống lại những hành vi
ô nhiễm môi trường
- ý thức giữ gìn sự trong lành của môi trường sống hàng ngày của con người ở
mọi nơi, mọi chỗ
b. Bồi dưỡng kiến thức về môi trường, bảo vệ chống ô nhiễm môi trường
- Tìm hiểu về môi trường, hệ sinh thái
- Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường tác hại của
- Rèn luyện và hình thành thói quen giữ gìn vệ sinh đảm bảo sự trong lành của môi
trường sống
Các con đường giáo dục môi trường cho học sinh
- Thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội
- Tổ chức trao đổi tọa đàm tranh luận qua các buổi sinh hoạt về môi trường và bảo
vệ môi trường
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào việc bảo vệ môi trường
- Tham quan, du lịch môi trường sinh thái , danh lam thắng cảnh, rừng nguyên sinh
2. Giáo dục dân số
Giáo dục dân sthuật ngữ dùng để chỉ một chương trình giáo dục nhằm
giúp người học hiểu được mối quan hệ qua lại giữa động lực dân số các nhân
tố khác của chất lượng cuộc sống từ đó hình thành ý thức trách nhiệm của từng
nhân trước những quyết định về lĩnh vực dân số nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống cho bản thân, gia đình và xã hội.
Nội dung giáo dục dân số
Về mặt thuyết, làm cho học sinh hiểu mối quan hệ giữa n số, môi trường
và chất lượng cuộc sống
- Nắm vững ba khái niệm bản: dân số, chất lượng cuộc sống và môi trường
- Nắm vững hai mối quan hbản: quan hệ dân số và chất lượng cuộc sống, quan
hệ dân số - môi trường và chất lượng cuộc sống
Về mặt thực tiễn, vận dụng 5 chủ điểm giáo dục dân số trong khu vực vào thực
tiễn nước ta
- Quy gia đình chất lượng cuộc sống
- Tuổi kết hôn hợp
- cách trách nhiệm m cha mẹ
- Nắm được mối quan hệ dân số môi trường chất lượng cuộc sống
- Xác định lựa chọn các giá trị hội liên quan đến dân số
Các con đường giáo dục dân số
- Thông qua phương pháp lồng ghép – tích hợp nội dung GDDS vào các môn khoa
học tự nhiên, xã hội
- Thông qua các hoạt động ngoại khóa
- Tổ chức cho học sinh tham gia các cuộc tuyên truyền về GDDS, vấn về GDDS
- Phổ biến, giới thiệu cho học sinh nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng
Nhà nước về dân số, các chiến lược phát triển dân số xây dựng, nâng cao
chất lượng cuộc sống.
3. Giáo dục giới nh
Giáo dục giới tính giáo dục vchức năng làm một con người có giới tính,
điều quan trọng đề cập vấn đgiới tính một cách công khai đầy đủ từ lớp
nhà trẻ đến đại học, giúp học sing cảm thấy an toàn tdo trong việc biểu lộ
cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính. Ta thể hiểu giáo dục giới tính một
quá trình tác động phạm hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất ,
những đặc trưng những khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định
thái độ xã hội cần thiết của cá nhân đối với các vấn đề giới tính.
Nội dung giáo dục giới tính bao gồm các kiến thức về sự phát triển của giới
nam và nữ
- Về giải phẫu sinh
- Cấu tạo, chức năng của các cơ quan sinh dục nam nữ
- Tuổi dậy thì và những biểu hiện, cách nhân biết và giải quyết những bí ẩn ở tuổi
dậy thì
- Sinh sản sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Các kiến thức, hiểu biết về sức khỏe của giới, phòng tránh thai, phòng tránh các
bệnh lây lan qua đường tình dục
- Giáo dục về các mối quan hệ hội theo giới của nhân mỗi người như quan hệ
hôn nhân, gia đình, quan hệ bổn phận của mỗi người nam nữ khi trờ thành cha
mẹ con cái, quan hệ bạn bè và bạn khác giới, tình yêu nam nữ…
Các con đường giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông:
- Thông qua giảng dạy, học tập các môn khoa học tnhiên, khoa học hội bằng
các phương pháp lồng ghép hoặc tích hợp
- Thông qua các chương trình , hoạt động ngoại khóa
- Qua vấn tâm
- Qua các buổi sinh hoạt tập thể
- Qua các hoạt động vui chơi, văn nghệ, thể dục thể thao
- Qua các môn học tự chọn…
4. Giáo dục phòng chống ma túy
a. Mục đích giáo dục phòng chống ma túy học đường
- Nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ, học sinh về tính chất tác hại của ma túy ,
một hiểm họa của hội loài người, quốc gia, dân tộc, thời đại. mọi người, đặc
biệt là thanh thiếu niên học sinh phải cnh giác với kẻ thù nguy hiểm.
- Tuyên truyền, giáo dục cho học sinh biết cách phòng chống ma túy cho bản thân,
cho gia đình và xã hội
- Làm cho học sinh biết tổ chức, xây dựng lối sống lành mạnh, không mắc vào các tệ
nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút làm cho nhân cách, phẩm chất bị đồi bại, thân
thể tàn phế
- Làm cho học sinh biết tỏ thái độ kiên quyết chống lại việc sản xuất , buôn bán,
tàng trữ sử dụng trái phép ma y những người tiếp tay cho tnạn ma y
y
b. Các hình thức giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy trong trường học
- Thông qua dạy học các môn Chính trị, Đạo đức, Giáo dục công n
- Qua các buổi sinh hoạt tập thể
- Tổ chức cho học sinh tham gia tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Nhà
nước, của chính quyền về phòng chống ma túy
- Tổ chức các hoạt động , sáng tác thơ ca, các tiểu phẩm nghệ thuật, tổ chức diễn đàn
văn nghệ của thầy và trò
- Cho học sinh trực tiếp được nghe hoặc trao đổi với những thanh niên bị rơi vào con
đường ma túy nay đã cai nghiện
- Tổ chức cho học sinh xem các bộ phim, vở diễn nói về tác hại của nghiện ma túy,
tổ chức tọa đàm, trao đổi cụ thể qua các hình tượng nghệ thuật
- Tổ chức các hội nghị giữa chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh và học sinh
của lớp, trường về phòng chống ma túy ở trường và địa phương
5. Giáo dục giá trị
Giáo dục giá trị một quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích hoạt động
tích cực của người được giáo dục để họ lĩnh hội được các giá trị hội, hình
thành nên hệ thống giá trị của cá nhân, phù hợp với mong đợi của xã hội.
Nội dung của giáo dục giá trị:
- Hòa bình ổn định và an ninh của đất nước
- Độc lập và thống nhất Tổ quốc
- Tự do dân chủ
- Lòng nhân đạo sống tình nghĩa
- Sức khỏe của bản thân và cộng đồng
- Truyền thống hiếu học, tôn trọng đạo, trọng hiền tài, trọng học vấn
- Giá trị nghề nghiệp
- Tình bạn, tình yêu và cuộc sống gia đình
- Nếp sống văn minh
- Những giá trị về giới
Các con đường giáo dục giá trị
- Giáo dục hình thành các giá trị con người trước hết từ gia đình
- Thông qua việc cá nhân học tập,n luyện
- Thông qua tác động của môi trường phạm, môi trường văn hóa vật chất, môi
trường tâm xã hội, văn hóa xã hội
6. Giáo dục quc tế
a. Mục tiêu giáo dục quốc tế:
- Về kiến thức: những hiểu biết về hệ thống các nội dung bản của giáo dục
quốc tế
- Về kỹ năng: kỹ năng suy nghĩ , phê phán,, kỹ năng tìm kiếm giải pháp phát triển
giải quyết vấn đề, kỹ năng hành động thể hiện năng lực trao đổi, thảo luận,
năng lực hợp tác giải quyết vấn đề
- Về thái độ: thừa nhận và xây dựng cho bản thân những giá trị đúng đắn, có thái đ
tích cực tham gia vào việc tuyên truyền, vận động thực hiện nội dung của giáo
dục quốc tế , có thái độ tích cực trước việc giải quyết những vấn đề của bản thân,
của cộng đồng, của quốc gia và thế giới.
Nội dung giáo dục quốc tế được tập trung vào những vấn đề sau:
- Quyền bình đẳng giữa các dân tộc
- Hòa bình và hợp tác quốc tế
- Quyền con người, quyền trẻ em
- Dân số, nhu cầu phát triển bền vững cuộc sống
- Môi trường
- Di sản văn hóa nhân loại
- Hệ thống tổ chức Liên hiệp quốc
Các con đường giáo dục quốc tế:
- Hoạt động nội khóa: tách giáo dục quốc tế thành môn học riêng hoặc chuyển nội
dung giáo dục quốc tế vào tất cả các môn học.
- Hoạt động ngoại khóa giáo dục quốc tế thể tiến hành dưới nhiều hình thức: nói
chuyện ngoại khóa, thi viết, vẽ, hát, tổ chức những triển lãm nhỏ, tham gia các
câu lạc bộ, thi tham dự các lễ hội truyền thống …
BÀI 4: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
I. Khái niệm đặc điểm của phương pháp giáo dục
1. Phương pháp giáo dục gì?
Phương pháp giáo dục (PPGD) là thành tố quan trọng trong cấu trúc của quá
trình giáo dục, quan hệ mật thiết với các thành tố khác của qtrình này, đặc
biệt với mục đích, nội dung, nhà giáo dục, người được giáo dục, phương tiện
giáo dục, với các điều kiện thực hiện quá trình này.
Phương pháp giáo dục được xem cách thức tác động qua lại giữa nhà giáo
dục và người được giáo dục trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục đã đề ra.
2. Đặc điểm của PPGD
- PPGD được tiến hành trên sở hoạt động phối hợp giữa nhà giáo dục và người
được giáo dục, trong đó những tác động của nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo,n
người được giáo dục hoạt động tích cực, tự giác, tự giáo dục, tự vận độngphát
triển nhằm hướng tới mục tiêu phát triển nhân cách đã định.
- Phương pháp giáo dục mối quan hệ mật thiết với các biện pháp giáo dục, cả
biện pháp PPGD đều được quy định bởi các hành động phối hợp giữa nhà giáo
dục người được giáo dục. song biện pháp mang tính cụ thể, phương pp
mang tính khái quát
- PPGD quan hmật thiết với các phương tiện giáo dục. Phương tiện giáo dục
bao gồm các sản phẩm văn hóa được sdụng trong qtrình giáo dục trong
các loại hình văn hóa xã hội, thể dục thể thao, lao động sản xuất…
II. Phân loại các phương pháp giáo dục
1. Nhóm các PP thuyết phục
nhóm phương pháp tác động lên nhận thức tình cảm của người được
giáo dục nhằm hình thành những khái niệm, biểu tượng niềm tin đúng đắn về
đạo đức , thẩm mỹ, tạo điều kiện cho người được giáo dục có tư tưởng đúng, tình
cảm đẹp, làm sở cho việc hình thành những hành vi thói quen tốt. Đây
nhóm PP bản con đường quan trọng để biến ý thức hội thành ý thức
của nhân, biến những yêu cầu của hội thành nhu cầu của bản thân, động
viên, thúc đẩy cá nhân hành động đáp ứng những yêu cầu chuẩn mực của xã hội
a. PP đàm thoại
Đàm thoại PP giáo dục được thực hiện chủ yếu bằng cách trao đổi ý kiến
quan điểm giữa nhà giáo dục với học sinh giữa học sinh với nhau về một
chủ đề nào đó thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống hàng ngày.
Ưu điểm của PP này là thông qua đàm thoại nhà giáo dục có thể kịp thời nắm bắt
những tâm tư, tình cảm, vốn kinh nghiệm của từng học sinh để trên sở đó
những tác động giáo dục thích hợp và cần thiết đối với các em.
Đàm thoại thể diễn ra theo hai cách: đàm thoại tự nhiên đàm thoại theo
chủ đề
- Đàm thoại tự nhiên cuộc đàm thoại được dẫn đến một cách tự nhiên, không tập
trung vào một chủ đề nhất định. Trong cuộc đàm thoại này các ý kiến thường
được bộc lộ trong những bối cảnh không được chuẩn btrước, diễn ra trong các
tình huống của cuộc sống hàng ngày, qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa giáo
viên và học sinh trong và ngoài giờ học.
- Đàm thoại theo chủ đề: loại đàm thoại những câu hỏi của chúng
được xoay quang một chđề nhất định. Muốn đàm thoại có hiệu quả nhà
giáo dục cần quan tâm đến nội dung chủ đề cần trao đổi với học sinh, cần
phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi, vấn đề, skiện để thông báo cho học sinh.
Chủ đề đàm thoại cần thông báo trước để học sinh thời gian chuẩn bị ý
kiến quan điểm của mình, chủ đề thường các sự kiện mang nội dung
chính trị, đạo đức thẩm mỹ, gắn liền với cuộc sống hoạt động của học
sinh.
Đàm thoại thể diễn ra dưới hình thức nhân hoặc tập thể
- Đàm thoại nhân: nhà giáo dục đàm thoại riêng với từng học sinh. Hình
thức này giúp nhà giáo dục hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh tính của
học sinh , về những vấn đề cụ thể chưa được giải quyết trong nhận thức,
tưởng tình cảm của các em, nhất các vấn đề thầm kín, khó nói
trước tập thể. Đàm thoại riêng chỉ hiệu quả khi giữa người đươc giáo
dục nhà giáo dục quan hệ tốt đẹp, khi họ tin tưởng vào nhà giáo dục
và mong muốn nhà giáo dục chia sẻ, tháo gỡ các băn khoăn thắc mắc cho
họ.
- Đàm thoại tập thể được phát triển thành hai mức độ thảo luận tranh
luận.
Thảo luận là hình thức đặc biệt của đàm thoại trong đó nhà giáo dục tổ
chức sự trao đổi giữa học sinh với nhau tạo điều kiện cho mỗi thành viên
trong tập thể đóng góp ý kiến và tìm ra cách giải quyết vấn đề.Tranh luận
dựa trên sự va chạm các ý kiến, các quan điểm khác nhau khi đối lập
nhau. Nhờ đó các em nâng cao được tính khái quát, vừng vàng mềm
dẻo của các quan điểm đã tiếp thu
Giáo viên thể tham gia vào cuộc thảo luận và tranh luận của học sinh với
cách là người dẫn dắt, gợi ý định hướng cho học sinh những vấn đề cần
tranh luận giải quyết, nhưng tuyệt đối không được vội vã phê phán, tán dương
hoặc những những quan điểm sai lầm của học sinh, buộc học sinh phải chấp nhận
những quan điểm của mình.
b. Phương pháp giảng giải
Giảng giải PPGD trong đó nhà giáo dục dùng lời nói đthông báo, phân
tích, giải thích, chứng minh tính đúng đắn của các chuẩn mực đã được xã hội quy
định. Trọng tâm của giảng giải cung cấp thông tin về sự kiện chuẩn mực
hành vi giúp người được giáo dục nắm vững ý nghĩa, nội dung cách thực hiện
những nguyên tắc chuẩn mực về văn hóa, đạo đức, lối sống, hình thành niềm
tin và mong muốn thực hiện chúng.
Hiệu quả của PP giảng giải phụ thuộc vào việc chuẩn bị nội dung các
biện pháp tiến hành phương pháp này của nhà giáo dục. Chuẩn bị tốt nội dung
vấn đề cần giảng giải ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phương pháp này. Nội
dung giảng giải những nguyên tắc, những chuẩn mực, những g trị về đạo
đức thẩm mỹ cần phải hình thành cho học sinh, làm cho các em hiểu được ý
nghĩa của các chuẩn mực và cách thức thực hiện chúng.
Nhà giáo dục thể vận dụng các phương pháp thuyết trình, giảng giải trong
dạy học vào việc hình thành các khái niệm về đạo đức, văn hóa thẩm mỹ cho học
sinh. Tuy nhiên, khi tiến hành giảng giải các nội dung giáo dục cần đảm bảo tính
thuyết phục của các luận chứng, tính hệ thống chặt chẽ của cấu trúc nội dung.
Thái độ của người giảng giải phải chân thực, tránh cách nói khuôn sáo, khoa
trương, dài dòng. Hiệu quả của giảng giải không những phụ thuộc vào tri thức,
kinh nghiệm sống, trình độ tư tưởng, đạo đức của nhà giáo dục mà còn phụ thuộc
vào uy tín, thái độ của nhà giáo dục đối với học sinh cũng như phụ thuộc vào tình
cảm, nghệ thuật diễn đạt, tính rõ ràng và ngôn ngữ của nhà giáo dục. Người được
giáo dục chỉ chấp nhận hưởng ứng các chuẩn mực hành vi khi họ biết rằng
chính nhà giáo dục cũng đồng cảm, xúc động tin tưởng vào vấn đề đang được
trình bày.
Kết thúc giảng giải, giáo viên cần đưa ra các kết luận gắn gọn, xúc tích về
các chuẩn mực để học sinh dễ nhớ, dễ hiểu, dễ hình dung và vận dụng trong thực
tiễn. Người giáo viên cũng có thể khuyến khích học sinh trình bày tóm tắt đưa
chuẩn mực mới học được vào hệ thống các chuẩn mực đã có.
c. Phương pháp nêu gương
Nêu gương là PP giáo dục trong đó nhà giáo dục dùng những tấm gương
sáng của cá nhân hoặc tập thể hoặc bằng hành động của chính bản thân mình như
một mẫu mực để kích thích người được giáo dục cảm phục, noi theo làm
theo những gương đó nhằm đạt được mục đích giáo dục đã đề ra.
sở của PP nêu gương dựa vào tính hay bắt chước của trẻ em. Trẻ em
thường bắt chước những người xung quanh, nhất những người gần gũi thân
thuộc như cha mẹ, thầy giáo. Sự bắt chước phụ thuộc vào độ tuổi, vốn kinh
nghiệm và trình đphát triển trí tuệ, đạo đức các em. Khi còn nhỏ, trẻ thể
bắt chước một cách máy móc tất cả những biểu hiện hành vi của người lớn (kể cả
những hành vi tích cực tiêu cực), khi lớn lên cùng với sự tích lũy của kinh
nghiệm và sphát triển của trí tuệ, sự bắt chước mang tính lựa chọn tổng hợp
hơn. Bắt chước ở tuổi thiếu niên đã mang tính lựa chọn, sang lứa tuổi thanh niên,
bắt chước mang tính khái quát tng hợp, những hành vi bắt chước đã được
biến đổi phù hợp với những điều kiện tình huống nảy sinh trong cuộc sống của
họ.
Điều quan trọng trong phương pháp nêu gương đối với nhà giáo dục sự
lựa chọn sdụng tấm gương để giáo dục học sinh. Nhà giáo dục cần căn cứ
vào mục tiêu và nội dung giáo dục mà lựa chọn tấm gương điển hình để giáo dục
các em. Việc nêu những tấm gương tốt như của các anh hùng, chiến sỹ thi đua,
những gương tốt trong lao động, sản xuất, trong đấu tranh với các thói hư tật xấu,
những tấm gương của học sinh nghèo vượt khó là điều rất quan trọng. Đó là
những hành vi nghĩa cử ngưỡng mộ mong muốn được hành vi cử chỉ đó.
Tuy nhiên, cũng có thể sử dụng cái phản diện để ngăn ngừa loại bỏ những thói
tật xấu trong hội. thể kể lại chỉ cho học sinh thấy số phận của một
người nghiện, một kẻ hỏng, kẻ lang thang bụi đời… đcác em thrút ra
bài học về cách ứng xử với bản thân cuộc đời, thái độ tránh xa những thói
xấu và tnạn hội. Nên sử dụng những gương tốt là chủ yếu, lạm dụng gương
phản diện có thể phản tác dụng giáo dục.
Khi sử dụng phương pháp nêu gương, điều quan trọng là phải giúp học sinh
cách xử thái đđúng đắn với mọi hành vi cử chỉ của những người xung
quanh, tiếp thu học tập cái tốt, n án phê phán cái xấu. thế, phương
pháp nêu gương sẽ hiệu quả hơn nếu người giáo viên biết phối hợp giữa nêu
gương với giải thích đàm thoại về các chuẩn mực và hành vi xã hội.
Tấm gương của chính bản thân nhà giáo dục yếu tố vị trí đặc biệt trong giáo dục
bằng nêu gương. Nếu như việc làm và lối sống của nhà giáo dục không đi đôi với
lời nói, hoặc lời nói cũng sai trái thì đó nguyên nhân dẫn đến bất lực và không
hiệu quả trong công tác giáo dục. thế, người thầy giáo không chỉ nêu
gương” của những người khác, bản thân mình phải làm gương sáng cho học
sinh noi theo. Tấm gương sống của giáo viên sức mạnh thuyết phục hơn mọi
lời giải thích và động viên ca họ đối với học sinh.
2. Nhóm các PP tổ chức hoạt động hình thành kinh nghiệm ứng xử hội
Mục đích chủ yếu của nhóm PP này hình thành người được giáo dục những
hành vi phợp với các chuẩn mực của đời sống xã hội, hình thành những phẩm
chất nhân cách và hành vi thói quen.
Việc hình thành các hành vi thói quen phù hợp các chuẩn mực xã hội trong PP
này không phải bằng nghe, nhìn chủ yếu bằng cách tham gia các hoạt động, các
quan hệ phong phú đa dạng. Thông qua việc tiến hành các hoạt động tham gia
vào các mối quan hệ hội người được giáo dục sẽ nh thành những hành vi
mới, điều chỉnh những hành vi đã cho phù hợp với các chuẩn mực hội, hình
thành niềm tin và thói quen phù hợp với những quy định của xã hội. Nhóm PP này
bao gồm: PP đòi hỏi sư phạm, PP tập thói quen và PP rèn luyện
a. PP đòi hỏi phạm
Đòi hỏi phạm mt PP giáo dục trong đó nhà giáo dục nêu lên
những yêu cầu, những đòi hỏi đối với tập thể nhân học sinh, tổ chức
giám sát việc thực hiện các yêu cầu đó học sinh nhằm đạt được các mục tiêu
giáo dục đã đề ra. PP đòi hỏi phạm bao gồm nhiều hoạt động phối hợp giữa
nhà giáo dục người được giáo dục, trong đó nhà giáo dục nêu lên những yêu
cầu vmặt giáo dục; biến những yêu cầu đó thành yêu cầu của chính bản thân
người được giáo dục; tổ chức, giám sát, điều chỉnh người được giáo dục thực
hiện các yêu cầu đó một cách tự giác, độc lập, sáng tạo.
Những yêu cầu của nhà giáo dục thực chất là hệ thống các quy định và các
chuẩn mực xã hội đòi hỏi người được giáo dục phải tuân theo trong khi tham gia
các hoạt động các mối quan hệ hàng ngày. Hệ thống các chuẩn mực đó thường
được cụ thể hóa dưới dạng:
- Các quy tắc, quy định về hoạt động của học sinh
- Các quy tắc ứng xcủa học sinh trong quan hệ với những người được
tiếp xúc hằng ngày
- Những quy định về hành vi đối với tập thể, với tổ chức xã hội quan…
Xác định những yêu cầu và biến thành những đòi hỏi đối với học sinh
công việc đàu tiên trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho các
em
Việc đầu tiên khi thực hiện PP này xác định nội dung của những đòi hỏi
phạm. Nội dung đòi hỏi cần xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục, từ nh hình thực
tiễn của nhà trường tính đến đặc điểm trình độ phát triển của người được
giáo dục. Chúng phải mang tính cụ thể, rõ ràng, được cụ thể hóa thành các yêu cầu
cụ thể và tỉ mỉ hơn để học sinh có thể nhận thức và hành động phù hợp với các yêu
cầu đề ra. Những yêu cầu sư phạm chỉ rõ việc cần phải làm, những việc nên làm và
những việc cần phải tránh. Cũng không nên đặt ra các yêu cầu cao quá mức, ngược
lại cũng không nên đưa ra những yêu cầu mà người học thực hiện quá dễ dàng,
không đòi hỏi họ cố gắng vươn lên về mặt ý chí. Trọng tâm của đòi hỏi sư phạm là
xây dựng được những bản nội quy, những quy định về nề nếp sinh hoạt, lao động,
học tập, rèn luyện, tu dưỡng của học sinh.
Người giáo viên nay từ đầu năm học cần phổ biến các yêu cầu đến từng học
sinh, tạo điều kiện cho các em tập thể thời gian học tập thảo luận kvề các
quy chế, quy định, nội quy của nhà trường. Khuyến khích và hướng dẫn học sinh
viết bản cam kết thi đua nghiêm túc thực hiện các quy chế đó. Nhà giáo dục còn
phải giải thích hướng dẫn những điều các em còn chưa rõ, giúp đỡ tập thra
nghị quyết khẳng định sự quyết tâm trong việc thực hiện.
b. Phương pháp tập luyện thói quen
Thói quen những cử chnh động ổn định trở thành nhu cầu của con
người, mà nếu nhu cầu đó không được thỏa mãn con người cảm thấy khó chịu, bứt
rứt không yên. Đó bản tính thứ hai của con người, nó làm cho hành động của
nhân mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Nhờ kỹ xảo thói quen hành
vi của cá nhân mang tính tự nhiên, hành động mang tính dứt khoát, quả quyết.
Muốn thói quen, người được giáo dục không phải chỉ hình dung nét
các hành vi mang tính chuẩn mực dưới dạng khái quát, quan trọng hơn phải
trải qua một quá trình luyện tập hành vi đó theo những cách nhất định. thế PP
tập thói quen PP giáo dục trong đó nhà giáo dục tổ chức cho học sinh lặp đi lặp
lại tổ chức thường xuyên những hành động cử chỉ dưới dạng khác nhau trong
các tình huống tương tự, làm cho hành động đó trở thành nhu cầu thói quen tốt
của học sinh.
Để thực hiện PP này nhà giáo dục cần thực hiện tốt các nội dung sau:
- Xác định những thói qun cần phải hình thành cho học sinh. Đó những
hành vi tính phổ biến, được cá nhân sử dụng thường xuyên hằng ngày
trong hoạt động cũng như trong ứng xử với những người xung quanh.
Những hình thái ứng xử mang tính khái quát, mm dẻo, ổn định trong các
tình huống ít thay đổi nếu được luyện tập thường xuyên sẽ trở nên ổn
định, vững chắc, đặc trưng cho cá nhân.
- Cần làm cho học sinh nắm vững mẫu hành vi cần được hình thành. Nhà
giáo dục giới thiệu cho các em những quy tắc hành vi ngắn gọn, ràng,
dễ hiểu, chỉ cho học sinh thấy nhữngnh động thao tác nào các em
đã thực hiện được tốt, hoặc thực hiện còn khó khăn. Khi giải thích
hướng dẫn học sinh, nhà giáo dục thể sử dụng tranh vẽ, băng hình, đưa
ra các ví dụ cụ thể hoặc giáo viên làm mẫu cho học sinh quan sát thực
hiện theo mẫu.
- Khi đã nắm được mẫu hành vi cần cho học sinh tiến hành đều đặn
thường xuyên bằng cách đặt ra cho các em những nhiệm vụ, những yêu
cầu có ý nghĩa thực tiễn, gắn liền với giải quyết các nhiệm vụ cụ thể. Tuy
nhiên, công việc này cần được duy trì thường xuyên, đòi hỏi việc thực
hiện sinh hoạt phải theo chế độ và nề nếp nhất định
c. Phương pháp rèn luyện
PP rèn luyện ng hình thành các thói quen của người được giáo dục thông
qua hoạt động bằng hoạt động, tuy nhiên PP này quan tâm nhiều đến các phẩm
chất nhân cách và ý chí người được giáo dục, quan tâm đến việc tổ chức cho người
được giáo dục thể hiện ý thức, tình cảm của mình về các chuẩn mực hội trong
các tình huống đa dạng của cuộc sống. PP rèn luyện được sử dụng trong các tình
huống ít nhiều sự biến đổi khác nhau, làm cho người được giáo dục bộc lộ
những phẩm chất, đòi hỏi ở họ có sự cố gắng mới thực hiện được. chẳng hạn muốn
hình thành và củng cố tính kiên trì ở học sinh, càn thiết phải đặt các em vào những
hoàn cảnh vấn đề để các em khắc phục nhằm hoàn thành nhiệm vụ. Thực hiện
hành vi ứng xử nhiều lần trong các điều kiện giống nhau nhằm nh thành thói
quen, còn thực hiện, còn thực hiện hành động trong nhiều tình huống khác nhau
với mức độ thuận lợi và khó khăn khác nhau nhằm hình thành ý chí khắc phục khó
khăn là đặc điểm cơ bản của PP rèn luyện.
PP này yêu cầu người được giáo dục thực hiện nhiều lần những hành động
phù hợp với các khuôn mẫu ứng xử. Các hành vi này không thực hiện một cách
máy móc gắn liền với tình cảm, ý chí, nhu cầu động hoạt động của cá
nhân trong những tình huống khác nhau của đời sống. Muốn thực hiện PP này cần
thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Tổ chức các tình huống, các điều kiện để học sinh tham gia giải quyết
chúng bằng các hành động tích cực, phù hợp với các chuẩn mực đạo
đức hội. Tình huống mà giáo viên lựa chọn thể các hoạt động
gắn liền với thực tiễn cuộc sống như tham gia an toàn giao thông, giữ gìn
vệ sinh môi trường, công tác đền ơn đáp nghĩa… Tùy theo phẩm chất cần
giáo dục cho học sinh mà nhà giáo dục có thể lựa chọn các tình huống
hoạt động cho phù hợp. Chẳng hạn, muốn giáo dục tính kiên trì cần đưa
người được giáo dục vào trong các hoạt động đòi hỏi phải tính kiên trì.
- Rèn luyện sẽ phát huy được hiệu quả khi người được giáo dục ý thức
được nhiệm vụ của mình, tự mình đề ra các hoạt động, kế hoạch
quyết tâm thực hiện chúng. Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh
tập thể học sinh đề ra những kế hoạch phù hợp, động viên khuyến khích
các em quyết tâm thực hiện những kế hoạch đã vạch ra.
3. Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động điều chỉnh hành vi ứng xử
của người được giáo dục.
Nhóm phương pháp này khả năng to lớn trong việc động viên học sinh
phát huy mọi sức lực tinh thần, thể chất, tình cảm trí tuệ để đạt hiệu quả cao
nhất trong học tập rèn luyện. Đặc điểm bản của nhóm phương pháp này
dựa trên kết quả hành vi mà đối tượng giáo dục đã thực hiện trước đây để phát huy
tính tích cực của học sinh vào các hoạt động thực tiễn. Khuyến khích, động viên,
lôi cuốn lòng nhiệt tình tham gia vào hoạt động học sinh đã đạt được những
thành quả nhất định. Khắc phục, ngăn ngừa, uốn nắn hay trách phạt đối với những
biểu hiện tiêu cực không được xã hội thừa nhận.
Chức năng của nhóm phương pháp này khuyến khích, củng cố, điều chỉnh
hành vi của học sinh, tạo ra những tiền đề tâm thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm
vụ mới trên snhững hoạt động trước đây các em. Những phương pháp
hiệu lực để khuyến khích, điều chỉnh sửa chữa hành vi của học sinh khen
chê, khuyến khích trừng phạt. Khuyến khích, khen và thưởng phương pháp
để củng cố và kích thích những động cơ và hình thức hành vi đúng đắn. Trách phạt
phương pháp nhằm ức chế, kìm m và điều chỉnh hành vi không phù hợp với
các chuẩn mực xã hội.
a. Phương pháp khen thưởng
Trong công tác giáo dục, khen thưởng tác dụng củng cố phát huy
những phẩm chất tích cực trong nhân cách của học sinh cũng như những truyền
thống tốt đẹp trong tập thể, giúp cho nhân tập thể khẳng định được mình,
phấn khởi vươn lên trong tu dưỡng phấn đấu. Khen thưởng không những học
sinh khác noi theo phấn đấu vươn lên. Khen thưởng góp phần quan trọng tạo
nên động thúc đẩy quá trình giáo dục đạt hiệu quả mong muốn vì đem lại
cho cá nhân và tập thể sự hân hoan, vui sướng, tự hào, tự tin; làm nảy sinh ý muốn
và quyết tâm phấn đấu tốt hơn nữa.
Tác dụng kích thích của khen thưởng chỗ thể hiện sự cộng nhận của
giáo dục, của tập thể hội đối với kiểu hành vi học sinh đã lựa chọn
thực hiện. Vì thế, khen thưởng cần có sự đồng tình, tán thưởng của luận tập thể
mới có tác dụng tích cực đối với tập thể và cá nhân người được khen. Khen thưởng
cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, công bằng, khách quan. Nếu khen thưởng không
đúng (thiếu khách quan, quá dễ dãi…) thì khen thưởng sẽ biến thành mặt đối lập,
gây ra thói kiêu ngạo, tự mãn, ích kỉ ở người được khen.
nhiều hình thức biện pháp khen thưởng, tùy theo đối tượng giáo dục
các hình thức mức độ khen thưởng khác nhau. khi chỉ cần một cái
nhìn đặc biệt, một cái gật đầu đồng tình, một nụ cưới tán thưởng của nhà giáo dục
trước một lời nói, một hành động đáng khen của học sinh cũng làm cho các em vui
thích vnhững hành động đã thực hiện, ch thích lòng mong muốn được hành
động như vậy. Nếu thành tích, ưu điểm của học sinh do sự cố gắng thường
xuyên khắc phục nhiều khó khăn mới đạt được thì cần phải những hình thức
và biện pháp khen thưởng xứng đáng hơn. Việc khen thưởng trong trường hợp này
khong chỉ thể hiện sự đồng tình của giáo viên cần sự đồng thuận của tập
thể, sự công nhận của các cấp thẩm quyền.Điều quan trọng là khen thưởng phải
có tác dụng cổ vũ, động viện những thành viên trong tập thể mong muốn noi theo.
b. Phương pháp trách phạt
Trách phạt phương pháp giáo dục thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhà
giáo dục đối với những hành vi sai trái của người được giáo dục, tạo hội cho
người được giáo dục nhận thấy lỗi lầm về hành vi sai trái của mình, hối hận
quyết tâm không tái phạm nữa. Tác dụng của trách phạt, của kỉ luật là làm nảy sinh
học sinh tâm trạng xấu hổ, sự ân hận trước tập thể nhà giáo dục về hành vi của
mình. Để tác dụng đó, trách phạt cần sự đồng tình của tập thể. Sự trách phạt
thi hành kỉ luật phải gắn liền với việc làm cho học sinh tự ý thức được tác hại
của những hành vi xấu. Chừng nào học sinh chưa phát huy được hết tác dụng đối
với học sinh đó. Thái độ nghiêm khắc của nhà giáo dục và tập thể vị tđặc biệt
quan trọng đối với phương pháp trách phạt. Sự không tán thành, phủ nhận, chê
trách, lên án hay trừng phạt đối với những thái độ, hành vi trái với chuẩn mực
hội sẽ làm cho người mắc lỗi nhận ra khuyết điểm của mình, nhờ đó giúp họ thêm
ý chí, nghị lực chống lại sự cám dỗ, ức chế những hành vi tương tự.
Trách phạt cần mang tính giáo dục, đảm bảo scông bằng công khái tôn
trọng nhân cách của người được giáo dục. Khi trách ohatj cần phải biết tình
huống phạm lỗi của học sinh, nhất phải biết được động phạm lỗi để từ đó lựa
chọn nội dung và hình thức trách phạt cho phù hợp.
Trong thực tiễn giáo dục, phương phát trách phạt thường được thực hiện
nhiều hình thức khác nhau tùy theo mức độ sai phạm về phẩm chất đạo đức, lối
sống, hành vi ứng xử…nhà giáo dục thể đưa ra các hình thức từ nhẹ đến nặng
như: nhắc nhở, phê bình, cảnh cáo, các hình thức kỉ luật như khắc phục những thiệt
hại do hành vi sai trái gây ra, buộc thôi học...Tuy nhiên, việc lựa chọn những hình
thức mức độ trách phạt cần dựa trên các nguyên tắc giáo dục, đặc biệt là nguyên
tắc tôn trọng yêu cầu cao đối với người mắc khuyết điểm. Nguyên tắc này đồi
hỏi tuyệt đối không đánh đập hay xúc phạm đến lòng tự trọng bvaf nhân phẩm của
người mắc lỗi, giữ được quan hệ thầy- trò, quan hệ cá nhân- tập thể tốt đẹp ngay cả
trong trường hợp học sinh mắc sai lầm, khuyến điểm bị thi hành kỉ luật. Sự
trách phạt của tập thể nhà giáo dục phải nghiêm khắc nhưng với thái độ chân
thành, momg muốn giúp đỡ, giáo dục để học sinh sửa chữa những sai lầm, đồng
thời trách phạt cũng cần phải khách quan, công bằng tạo được sự đồng tình của
luận tập thể học sinh.
III. Lựa chọn các phương pháp giáo dục
Lựa chọn sử dụng phương pháp giáo dục hiệu quả vừa khoa học
vừa nghệ thuật của nhà giáo dục, khi lựa chọn phương pháp giáo dục
cần căn cứ vào những yếu tố sau:
- Khi lựa chọn một phương pháp giáo dục cần tính đến các mối quan hệ
của nó với tất cả các phương pháp và biện pháp khác được sử dụng trước
sau đó, tính đến những phương tiện các điều kiện tiến hành các
hoạt động giáo dục bởi các phương pháp giáo dục mối quan hệ mật
thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất hướng vào việc hình thành
những phẩm chất nhân cách toàn diện cho học sinh. Sử dụng một phương
pháp giáo dục sẽ làm cho quá trình giáo dục không toàn diện ảnh
hưởng đến chất lượng hiệu quả của quá trình này. Thực hiện tốt PP
này là điều kiện để thực hiện tốt một PP tiếp theo và ngược lại. Không
một PP nào lại được coi tốt khi tách rời khỏi hệ thống các PP giáo
dục. Mỗi nhóm PP mỗi PP giáo dục đều chức năng những ưu
điểm, hạn chế nhất định trong việc tác động đến việc hình thành nhân
cách. Không có PP giáo dục nào được coi là tối ưu trong mọi trường hợp.
Nhà giáo dục cần tính đến những điều kiện thực tiễn để lựa chọn sử
dụng phối hợp tất cả các PP giáo dục một cách hợp lý.
- PP GD chịu sự quy định của mục tiêu phương tiện thực hiện mục
tiêu, do đó khi lựa chọn sử dụng PP cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung
giáo dục cụ thể. Chẳng hạn, nếu giáo dục ý thức nhân cách nên tạp trung
vào các PP thuyết phục, giáo dục thói quen hành vi tập trung vào các
phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn. Nội dung GD cũng góp phần
quy định PP giáo dục. Việc giáo dục đạo đức khác với giáo dục hướng
nghiệp… thế, người GV cần dựa vào các nội dung GD xác định
PP giáo dục cho thích hợp.
- Việc lựa chọn và sử dụng PP phụ thuộc chủ yếu vào nhà giáo dục, bởi lẽ
họ là người quyết định sdụng PP giáo dục nào trong những tình huống
cụ thể. Tuy nhiên, muốn sử dụng PP hiệu quả, nhà giáo dục cần căn cứ
vào trình độ và khả năng thực hiện của nhà giáo dục người được giáo
dục.
Muốn thành công trong lựa chọn sử dụng phương pháp giáo dục,
nhà giáo dục cần tính đến tất cả các yếu tố trên.
BÀI 5: MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
I. Giáo dục gia đình
Gia đình tế bào của hội, nơi con người sinh ra, lớn lên hình
thành nhân cách. Gia đình sở để duy trì nòi giống của con người một
môi trường giáo dục thế hệ đang lớn lên. Không gia đình để tái sản xuất bản
thân con người, để góp phần quan trọng vào việc đào tạo và bồi dưỡng cong người
có ich thì XH không thể tồn tại và phát triển.
* Vai trò của gia đình:
Khả năng giáo dục của gia đình là cùng to lớn. Cha mẹ - con cái những
người ruột thịt gần gũi nhất. Đứa trẻ ra đời nhận tác động giáo dục đầu tiên từ phía
cha mẹ: mỗi đứa trẻ một nhân độc đáo mà cha mẹ là người hiểu hơn ai hết.
Trẻ em kính trọng, yêu quí cha mẹ sâu sắc chúng không chỉ bắt chước người trong
trong gia đình mà còn tác động trở lại đối với họ. Bộ mặt đạo đức của học sinh lớp
1 phản ánh bộ mặt đạo đức ca gia đình và việc giáo dục trẻ ở gia đình.
* Nội dung giáo dục gia đình
Nội dung giáo dục gia đình được xác định bởi mục đích giáo dục nói chung,
được thực hiện hàng ngày trong các điều kiện tự nhiên, bình thường đối với trẻ,
bao gồm:
- Nhiệm vụ chính của HS tiểu học học tập. Gia đình cần tạo những điều
kiện lao động cần thiết: sách vở và các loại đồ dùng học tập đầy đủ; có chỗ học tập
nổn định, hợp vệ sinh, dành thời gian cần thiết cho trẻ tự học, thường xuyên
kiểm tra trẻ thực hiện chế độ giờ giấc, đi học chuyên cần
- Trong việc GD thể chất cho trẻ gia đình: cha mẹ cần chỉ dẫn cho trẻ thực
hiện chế độ giờ giấc gia đình, tập cho chúng thói quen tập thể dục buổi sáng; tắm
rửa thường xuyên; cho trẻ ăn uống nghỉ ngơi, ngủ, vệ sinh nhân một cách hợp
lý, đúng đắn; tạo điều kiện đtrẻ tham gia các môn thể thao: tham quan, du lịch,
bơi lội, cờ vua….
- Giáo dục lao động gia đình vai trò đặc biệt quan trọng. Chính gia
đình trẻ thực hiện những công việc lao động đầu tiên trong cuộc đời mình. Cha mẹ
phải cho trẻ em lao động càng sớm càng tốt, với các công việc vừa sức với trẻ. Trẻ
tiểu học cần làm tốt các công việc lao động mang tính chất tự phục vụ gia đình,
vệ sinh nhân, gấp chăn màn, quần áo, khâu vá, nấu ăn, quét nhà, trong nom nhà
cửa giúp đỡ ông bà…….Tấm gương của người lớn trong gia đình trong lao động,
sự kiểm tra thường xuyên, đánh giá kết quả, thái độ, động lao động, giao công
việc một cách thường xuyên những điều kiện cần thiết bảo đảm hiệu quả giáo
dục lao động cho trẻ ở gia đình.
- Giáo dục thẩm mỹ gia đình là hướng cho trẻ tiếp xúc, tiếp cận với cái đẹp
trong cuộc sống, lao động, nghệ thuật. Những xúc cảm thẩm mỹ đầu tiên của trẻ
xuất hiện rất sớm, khi trẻ làm quen với các loại đồ chơi hấp dẫn, khi nghe các câu
chuyện cổ tích người lớn kể …hay sau này trẻ xem phim, tham gia múa hát, vẽ…
Trong điều kiện gia đình, nét thẩm mỹ cuộc sống ý nghĩa giáo dục to lớn:
căn phòng nơi trẻ sống, góc học tập nơi trẻ ngồi, tất cả đvật xung quanh trẻ,
không khí gia đình …tất cả phải giản dị, tiện lợi, hợp vệ sinh, hợp đạo đức tạo
điều kiện phát triển hứng thú thẩm mỹ, tạo nên tâm trạng tốt cho trẻ đứa trẻ.
Cha mẹ cần khuyến khích trẻ đọc sánh, lựa chọn cho chúng những quyển sách
phù hợp, lành mạnh, có giá trị giáo dục đạo đức thẩm mỹ cao
- Giáo dục đạo đức gia đình vị trí không gì thể thay thế. Lần đầu tiên
trong đời đứa trẻ lĩnh hội, thể hiện các chuẩn mực đạo đức. Gia đình thể giáo
dục cho trẻ các phẩm chất đạo đức như tính nhân đạo, sđồng cảm sâu sắc, quan
tâm và sẵn sàng giúp đỡ mọi người, văn hóa giao tiếp, tính dịu dàng, trách
nhiệm… ngược lại, cũng chính từ những quan hệ này có thể nảy sinh tính
ích kỷ, thô bạo, lì lợm
vậy cha mẹ phải quan tâm, tận dụng từng trường hợp, từng tình huống để
giáo dục đạo đức cho trẻ. Trước hết cha mẹ phải tấm gương tốt mẫu mực trong
xử với cha mẹ mình (ông, của trẻ), chỉ bảo cho trẻ biết biết chăm sóc, giúp
đỡ ông bà, cha mẹ; giúp trẻ phân biệt được giữa cái tốt cái xấu, thật thà giả
dối, tế nhị và thô bạo….
Để hình thành các phẩm chất đạo đức, chỉ bằng các phương pháp dùng lời
chưa đủ. Cần giúp trẻ được kinh nghiệm hành vi qua những việc làm cụ thể
bằng các mối quan hệ với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Qua đó các
thói quen đạo đức tích cực được hình thành.
II. Giáo dục nhà trường
Giáo dục nhà trường giáo dục trong các trường lớp thuộc hthống giáo dục
quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp chọn lọc trên sở khoa học
thực tiễn nhất định. Giáo dục nhà trường được tiến hành tổ chức, luôn luôn
tác động trực tiếp hệ thống đến shình thành phát triển toàn diện nhân
ch.
Giáo dục nhà trường có sự thống nhất mục đích, mục tiêu cụ thể, được thực
hiện bởi đội ngũ các nphạm được đào tạo bồi dưỡng chu đáo; tiến hành
giáo dục theo một chương trình, nội dung, phương pháp phạm nhằm tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hướng tới sự thành đạt
của con người.
III. Giáo dục hội
Giáo dục xã hội hoạt động của các tổ chức, các nhóm hội chức năng
giáo dục theo quy định của pháp luật hoặc chương trình giáo dục trên các phương
tiện thông tin đại chúng. Giáo dục hội tác động đến quá trình hình thành và phát
triển nhân cách của trẻ thông qua hình thức tự phát và tự giác.
Những ảnh hưởng tự phát bao gồm các yếu tố tích cực và tiêu cực của đời sống
hội cùng phức tạp do nhân lựa chọn theo nhu cầu, hứng thú, trình độ tự
giáo dục của mình. Những ảnh hưởng tự giác những tổ hợp tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp hướng đích, nội dung, phương pháp bằng nhiều hình thức
của các tổ chức, cơ quan, đoàn thể xã hội.
IV. Nội dung phối hợp giữa các môi trường giáo dc
Việc liên kết, phối hợp giữa môi trường giáo dục gia đình, nhà trường các tổ
chức hội nhằm mục đích phát triển nhân cách công dân được coi một nguyên
tắc quan trọng. Việc liên kết chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục nhằm đảm bảo sự
thống nhất về nhận thức cũng như cách thức hành động để hiện thực hóa mục tiêu
quá trình phát triển nhân cách, tránh sự tách rời, mâu thuẫn, hiệu hóa lẫn nhau;
gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động đối với nhân trong việc lựa
chọn tiếp thu các giá trị tốt đẹp.
Gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội liên kết, phối hợp thống nhất mục
đích, mục tiêu giáo dục thể hiện những nội dung bản nhằm phát triên toàn
diện các mắt đức, trí, thể, mĩ, lao động… Mỗi môi trường đều một ưu thế trong
việc thực hiện các nội dung giáo dục.
Việc liên kết, phối hợp các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường, các tổ
chức hội diễn ra dưới nhiều hình thức. Vấn đề bản, quan trọng hàng đầu
các lực lượng giáo dục đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các
hình thức, giải pháp, tạo ra mối liên kết, phối hợp mục đích giáo dục, đào tạo thế
hệ trẻ thành những công dân hữu ích của đất nước. Do đó, không thể coi đây
trách nhiệm riêng của lực lượng nào. Tuy nhiên gia đình nhà trường trọng
trách lớn hơn, bởi trẻ em con cái của gia đình, học sinh của nhà trường
trước khi trở thành công dân xã hội.
Các nội dung liên kết chủ yếu:
- Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục học sinh của tập thể sư
phạm nhà trường với phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn
hóa giáo dục ngoài nhà trường.
- Theo dõi, đánh gkết quả quá trình giáo dục học sinh trong nhà trường và
địa phương nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Gia đình phải tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện vđạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ cho trẻ em; người lớn trách nhiệm giáo dục làm
gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Đẩy mạnh sự nghiệp hội hóa giáo dục, tạo động lực mạnh mẽ cũng như
điều kiện thuận lợi cho hệ thống nhà trường thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đào tạo
ở tất cả các cấp học.
a.
Kết hợp giữa nhà trường gia đình
* Nội dung:
Bản chất của việc phối hợp này nhằm đạt được sự thống nhất về các yêu cầu
GD cũng như sự tác động GD của tất cả người lớn, giúp cho nhân cách của trẻ
được phát triển đúng đắn và toàn diện.
Nhà trường vai trò, tác dụng rất quan trọng trong việc hướng dẫn các bậc
cha mẹ hiểu mục tiêu GD cấp học, ý thức đúng đắn đối với việc xây dựng gia
đình hạnh phúc, tạo ra các điều kiện cần thiết để phối hợp GD con emng với nhà
trường. Cụ thể:
+ Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giáo dục con em trong phạm vị giáo dục gia
đình theo đúng Mục tiêu giáo dục. Muốn vậy phải giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ,
hiểu đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của mình: không chỉ việc nuôi dạy con em
mình cho gia đình, hạnh phúc của gia đình n là việc giáo dục, bồi dưỡng
hình thành năng lực, phẩm chất của người công dân tương lai
+ Nhà trường phải thể hiện được vai trò tính chất của một đơn vị giáo dục,
là lực lượng giáo dục nòng cốt của sự nghiệp giáo dục.
+ Nhà trường phải công bố nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục để gia
đình được biết và thống nhất với gia đình về mc tiêu, phương pháp giáo dục.
+ Thường xuyên theo dõi tiến trình kết hợp giáo dục tổng kết, đánh giá, đề
xuất kế hoạch phù hợp.
+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề, báo cáo kinh nghiệm, câu lạc bộ, hội thảo
để phổ biến các tri thức khoa học GD, về GD trẻ em trong gia đình cho phụ huynh
HS nghe.
+ Hướng dẫn, giúp các bậc cha mẹ tạo nên những điều kiện để giáo dục con
em hiệu quả theo đúng yêu cầu mục tiêu của nhà trường, trong đó đặc biệt
quan tâm đến: Xây dựng lối sống văn hóa, kỷ cương, nề nếp gia đình,
trong gia đình người lớn luôn luôn tấm gương sáng cho con cái noi theo. Trong
đời sống gia đình luôn ấm cúng, mọi người thông cảm, thương yêu, gắn với
nhau; người nào việc ấy, mỗi người đều lo hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm của
nh.
+ Khi cần thiết, các giáo viên, nhà trường là cố vấn tin cậy giúp các bậc cha
mẹ giáo dục con cái đúng phương pháp, biết cách tphân tích, rút ra kết luận
phạm phù hợp với việc giáo dục con cái trong phạm vi gia đình
* Các nh thức phối hợp:
- Tổ chức các Hội nghị cha mẹ học sinh toàn trường Hội nghị phụ huynh
các lớp
- Thăm hỏi gia đình học sinh
- Ghi sổ liên lạc
- Mời cha mẹ của một số học sinh đến trường.
b.
Kết hợp giáo dục giữa nhà trường hội
* Việc giáo dục thế hệ trẻ sự nghiệp của toàn hội.
Đối với bậc tiểu học, nnước coi đó bậc học hoàn chỉnh với mục tiêu,
nhiệm vụ, nội dung giáo dục riêng. Và giáo dục tiểu học đang được nhà nước, toàn
hội quan tâm. Nhà nước đã ban hành “Luật phổ cập giáo dục tiểu học”, “Luật
bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em”, đã sử dụng các phương tiện thông tin đại
chúng với chương trình riêng vào mục đích giáo dục trẻ em, phục vụ trẻ em, vận
động các tổ chức xã hội tham gia việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
cấp độ vi mô: những hoạt động giáo dục do các tổ chức hội, các hội
quần chúng về văn hóa, khoa học kthuật, nghệ thuật…ở địa phương tiến hành
dành cho trẻ tiểu học (đỡ đầu nhà trường về cơ sở vật chất, về hướng nghiệp…. ).
* Bản chất của việc kết hợp giữa nhà trường hội
Trong việc giáo dục trẻ em tạo ra một môi trường điều kiện thích hợp để
giáo dục đúng đắn, trong đó, tất cả các mối quan hệ xã hội trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội đều mang tính chất chuẩn mực. Điều đó không chỉ trực
tiếp tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách trẻ em, mà còn tạo ra các điều
kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc giáo dục của nhà trường của gia
đình.
* Các hình thức công tác giáo dục của hội
- Các lực lượng của hội tham gia công c giáo dục trẻ em trước hết bằng
việc mỗi đoàn viên, mỗi thành viên, mỗi nhân tự mình nêu những tấm gương
cho thế hệ trẻ về tính cần cù, tận tụy trong lao động, trong công việc, về lòng nhân
ái thái độ tế nhị trong quan hệ đối xử, nghiêm khắc trung thực trong thái độ
với bản thân
- Nhà trường luôn luôn phải vươn lên, phát huy tác dụng chủ đạo của mình,
đóng vai trò tổ chức, thống nhất các lực lượng giáo dục, đảm bảo quán triệt Mục
đích giáo dục trong mi không gian, thời gian, trong mọi tổ chức hoạt động giáo
dục.
- Cần kế hoạch biện pháp thích hợp thu hút các sở sản xuất tham gia
với nhiều mức độ, với hình thức thích hợp vào công tác giáo dục. Trong hoàn cảnh
cụ thể của cấp tiểu học, hình thức có hiệu quả là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đỡ
đầu, bảo trợ, tạo điều kiện giúp nhà trường thực hiện các hoạt động gắn với đời
sống
Việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường hội không chỉ quán triệt, vận
dụng đúng đắn đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng nhà nước còn
một yêu cầu tính pháp luật, mọi ng dân, mọi tổ chức hội trách nhiệm,
nghĩa vụ phải thi hành.
PHẦN 3. QUẢN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BÀI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ BẢN VỀ QUẢN HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC
I. Khái niệm quản hành chính nhà nước
Con người thực thể của tự nhiên, phương thức tồn tại và phát triển của con
người hoạt động. Trong quá trình hoạt động con người luôn tác động lẫn nhau,
chi phối lẫn nhau tạo thành các mối quan hệ. Trong các hoạt động chung người có
ưu thế hơn sẽ chi phối người khác, trở thành thủ lĩnh, nhạc trưởng”. Như vậy quản
ra đời trong quá trình hoạt động của con người. Quản thể hiểu theo những
khuynh hướng sau:
- Quản lý quá trình điều khiển của một hệ thống.
- Quản hoạt động tác động liên tục tổ chức, định hướng của chủ thể
quản lên đối tượng quản trên tất cả các lĩnh vực của đời sống hội bằng hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp
cụ thể nhằm tạo điều kiện, môi trường cho sự phát triển của đối tượng quản lý.
- Quản lý quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo kiểm tra.
Tuy cách diễn đạt khác nhau song nội dung bản của quản thống
nhất. Quản một thuộc tính nội tại, bất biến của mọi quá trình hoạt động hội.
Lao động quản tất yếu quan trọng để làm cho hội loài người vận hành,
tồn tại và phát triển.
Các lĩnh vực của quản bao gồm: Giới sinh, giới sinh vật quản
hội. Quản hội dạng quản bản của con người đối với các hoạt động
của con người trong một tổ chức nào đó, nên có thể hiểu: Quản quá trình tiến
hành các hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức thực hiện c nguồn lực, các
tác động của chủ thể quản theo kế hoạch chủ động phù hợp với quy luật
khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản nhằm tạo ra sự thay đổi hay
hiệu quả cần thiết cho sự tồn tại, ổn định phát triển của tổ chức trong môi
trường luôn biến động.
Quản nhà nước hoạt động quản hội đặc biệt mang tính quyền lực
Nhà nước, sử dụng hệ thống pháp luật Nhà nước để điều chỉnh hành vi con người
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống hội do các quan trong bộ máy Nhà
nước thực hiện; nhằm thoả mãn nhu cầu của con người, duy trì sự ổn định phát
triển hội.
Quản hành chính nhà nước hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà
nước, hoạt động chấp hành, điều hành của hệ thống hành chính trong việc quản
hội theo khuôn khổ pháp luật nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định
phát triển hội.
II. Nội dung, hình thức, phương tiện, phương pháp đặc điểm của quản
hành chính nhà nước Việt Nam
1. Nội dung quản hành chính nhà ớc Việt Nam
Các quan này thực hiện chúc năng hành pháp trong hành động về các lĩnh
vực và các mặt công tác sau đây:
- Một là: Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế, văn hóa, xư hội.
- Hai là: Quản nh chính nhà nước về an ninh, quốc phòng.
- Ba là: Quản hành chính nhà nước về ngoai giao.
- Bốn là: Quản hành chính nhà nước về ngân hàng, tài chính ngân sách nhà
nước, kế toán, kiểm toán, quan lý tài sản công, thị trường chứng khoán.
- Năm là: Quản lý hành chính nhà nước về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên
nhiên và môi trường.
- Sáu là: Quản lý hành chính nhà ớc về các nguồn nhân lực.
- Bảy là Quản lý hành chính nhà nước về công tác tổ chúc bộ máy hành chính Nhà
nước về quy chế, chế độ, chính sách về công, công chức Nhà nước.
Tám là: Quản lý hành chính nhà nước và phát triển công nghệ tin học trong hoat
động quan lý hành chính.
2. Hình thức quan hành chính nhà Nước
Thông thường quan lý hành chính nhà nước ba hình thức sau:
- Ra văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Các chu thể quan hành chính nhà nước có thể ra quyết định bằng chữ viết,
bằng lòi nói, bằng dấu hiệu, kí hiệu, trong đó bằng chữ viết là chủ yếu, là đảm bảo
tính pháp lý cao nhất.
Văn ban pháp quy pham pháp luật hành chính quyết định hành chính
ĐUợc ghi bằng chữ viết, để cho các khách thể quan căn cứ vào đó thực hiện
chứng đcác chu thể quan lỦ kiểm tra các khách thể thực hiện đầy đu
và đúng hay không và tùy theo đó mà truy cúu trách nhiệm, xử lỦ theo pháp luật.
-Hội nghị:
Hội nghị hình thúc để tập thể lưnh đao ra quyết định. Hội nghị để tập thể
bàn bac một công việc tính liên quan đến nhiều quan hoặc nhiều bộ phận
trong một quan, cần skết hợp, giúp đỡ lẫn nhau. Hội nghị còn dùng để
truyền đat thông tin, học tập, biểu thị thái độ, tuyên truyền, giai thích...
Hội nghị bàn công việc sẽ nghị quyết hội nghị. Các nghị quyết hội nghị
được thể hiện bằng văn ban pháp quy mới có đầy đủ tính pháp lý.
Hội nghị hình thức cần thiết và quan trọng. Cần phai tổ chức chủ trì hội nghị
theo phương pháp khoa học để ít tốn thời gian mà hiệu qua cao.
-Hoat động thông tin điều hành bằng c phương tiện kỹ thuật hiện đai.
Theo hình thúc này, máy móc thể thay thế lao động chân tay ca lao
động trí óc cho công chúc hành chính. Hình thúc này hiện nay đang phát triển
manh mẽ. Chẳng han: sử dnng điên thoai, ghi âm, ghi hình, tuyến truyền hình,
fax, phôtôcopy, máy vi tính, máy điện toán, internet. Nói chung tin học hiện đai
được sử dụng vào công tác nghiệp điều hành quan lý hành chính nhà nước.
Trong ba hình thức trên, hình thúc ra văn ban pháp quy quy pham pháp luật hành
chính nhà nước là hình thức chủ yếu.
3. Phương tiện quản hành chính nhà nước
- Công sở: trụ sở làm việc của các quan hành chính nhà nước, nơi lãnh
đạo công chức nhân viên thực thi công vụ, nơi giao tiếp đối nội đối
ngoại, nơi tiếp nhận các thông tin đầu vào ban hành các quyết định để giải
quyết, xử các công việc hàng ngày để điều chỉnh các quan hệ hội hành vi
hoạt động của công dân. Công sở phải tên, địa chỉ ràng phải treo quốc
kỳ trong những ngày làm việc.
- Công vụ: một dạng lao động hội của những người làm việc trong các
quan HCNN.
- Công chức: người thực hiện công vụ, được bổ nhiệm hoặc tuyển dụng, được
hưởng lương và phụ cấp theo công việc được giao từ ngân sách nhà nước.
- Công sản: ngân sách, vốn, kinh phí các điều kiện, phương tiện vật chất
để các hoạt động.
- Quyết định quản hành chính nhà nước: Các công chức lãnh đạo, những
người thẩm quyền ra quyết định, người ra quyết định phải nhận thức đầy đ
đúng đắn rằng quyết định quản hành chính nhà nước sự biểu thị ý chí nhà
nước, kết quả thực thi quyền hành pháp của bộ máy nhà nước. Đồng thời phải
tôn trọng quy trình công nghệ hành chính của việc ra tổ chức thực hiện quyết
định.
4. Phương pháp quản nh chính nhà nước
- Phương pháp kế hoạch hoá: Để quy hoạch, dự báo, xây dựng chiến lược…
- Phương pháp thống kê: Để điều tra, phân tích, thu thập thông tin….
- Phương pháp toán học hoá: Để lập chương trình kế toán hoá qua hệ thống máy
điện toán, sơ đồ mạng….
- Phương pháp tâm học: Để nghiên cứu những vấn đề hội nhằm suy tôn
những người công trong quản nhà nước như: Nhà giáo nhân dân, nghệ sỹ
nhân dân…
- Phương pháp sinh học: Để nghiên cứu các điều kiện lao động nhằm tăng lực
công tác.
- Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức: Để giác ngộ lý tưởng, ý thức chính trị,
pháp luật, nhận biết được việc làm tốt, xấu, thiện, ác…
- Phương pháp tổ chức: Đây biện pháp đưa con người vào khuôn khổ kỷ luật, kỷ
ơng.
- Phương pháp kinh tế: Làm giỏi, hiệu quả lớn thì tăng lương, tăng thưởng.
Làm sai, hiệu quả không thạ lương, cắt thưởng, bồi thường hoặc phạt tiền.
- Phương pháp hành chính: Để tác động trực tiếp đến chủ thể quản lên các khách
thể bằng các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc.
5. Đặc điểm quản hành chính nhà nước Việt Nam
Quản hành chính nước ta có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, quản hành chính n nước hoạt động mang quyền lực nhà
nước.
Quyền lực nhà nước trong quan lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện ở
việc các chủ thể thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện
nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dnng là văn
ban quan hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn ban, chủ thể quản
hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách
pháp luật nhằm định hướng cho hoat động xây dựng áp dụng pháp luật; dưới
dang quy pham pháp luật nhằm cn thể hóa các quy pham pháp luật của quan
quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển
khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh biệt nhằm áp dnng pháp
luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan
hệ quan lý; dưới những dang mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoat động,nhằm tổ
chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn;dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối
lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính
nhà nước
Bên canh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể
thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết đbảo đảm thực hiện ý chí nhà
nước, như các biện pháp về tổ chức về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục
cưỡng chế … Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức
mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước , nhờ đó ý chí của chủ
thể quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm thực hiện.
Đây đặc điểm quản trọng đphân biệt hoạt động quản hành chính với
những hoạt động quản không mang tính quyền lực nhà nước, như quản trong
nội bộ của các Đảng phái chính trị, các tổ chức hội, doanh nghiệp… Trong các
hoạt động quản phi nhà nước, quyền lực cũng được sử dụng không phải quyền
lực nhà nước, chỉ tác động trong nội bộ tổ chức, nhằm đạt mục tiêu của tổ chức
trong khuôn khổ pháp luật; các chủ thể quản cũng thể hiện ý chí và sử dụng sức
mạnh của mình để bảo đảm thực hiện ý chí đó, tuy nhiên họ chỉ nhân danh cá nhân
hay tổ chức mình mà không nhân danh nhà nước.
- Thứ hai, quản hành chính nhà nước hoạt động được tiến hành bởi những
chủ thể quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước ba quyền năng: lập pháp, hành
pháp pháp.Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết chyếu thuộc về
các cơ quản lý hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như:
việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến
hành bởi các bộ…Trong những trưòng hợp này quyền năng hành pháp cũng thể
hiện rõ nét nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các
quan hành chính nhà nước. Do dó, thể kết luận chủ thể quản hành chính
nhà nước các chủ thể mang quyền lực nnước trong lĩnh vực hành pháp, bao
gồm: quan nh chính nhà nước công chức của những quan này; thứ
trưởng của các quan nhà nước; các công chức nhà nước, nhân hoặc tổ
chức hội được nhà nước uy quyền quản hành chính đối với một số loại việc
nhất định. như vậy, quản lý hành chính nhà nước đối tượng tác động các
quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống hội, từ quản trọng tới ít
quản trọng, từ phổ biến tới biệt, phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp
luật và trong nội bộ cua các cơ quản nhà nước. Trong khi đó hoạt động lập pháp,
pháp chỉ phát sinh trong pham vi tương đối hẹp, đối ợng tác động những
quan hệ xã hội quan trọng.
- Th ba, quản hành chính n nước hoạt động tính thống nhất, được tổ
chức chặt chẽ.
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các quan
hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương,
đứng đầu Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành
thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của ca nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp
nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của ca, tránh được sự cục bộ
phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên. do
mỗi địa phương đều những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - hội, nên
để thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tao sự năng động sáng
tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân
cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Để cùng lúc đạt được hai mnc đích này, nguyên tắc hai chiều l
thuộc” được sử dụng như một giai pháp hữu hiệu trong việc tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước. Theo đó, ngoại trừ Chính phủ quan đứng đầu bộ máy hành
chính nhà thì mỗi quan khác trong bộ máy này điều lệ thuộc vào hai quản:
một quản theo chiều dọc đđảm bảo sự thống nhất của bộ máy; một quản
theo chiều ngang đđảm bảo sự chủ động của mỗi cấp quản lý. Vấn đề căn bản
được đặt ra trong việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước xác định hợp
thẩm quyền của mỗi cấp quản lý, vừa tránh được sự chồng chéo chúc năng, vừa
không bỏ lọt những lĩnh vực cần quản lý;vừa bao đam sự điều hành xuyên
suốt, thống nhất trong bộ máy, vừa tao ra được schu động, sáng tao của mỗi
cấp quản lý, như Vậy mới vừa bảo đảm thống nhất lợi ích chung của nhà nước,
vừa đảm bảo lợi ích của từng địa phương.
- Thứ tư, hoạt động quản hành chính nhà nước tính chấp hành điềuhành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản nhà nước thể hiện trong
việc những hoạt động này được tiến hành trên sở pháp luật nhằm mục đích
thực hiện pháp luật, cho đó hoạt động chủ động sáng tao của chủ thể quản
thì cũng không được vựợt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp
áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên sở quy định
pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Tính điều hành của hoạt động quản hành chính nhà nước thể hiện trong
việc chủ thể thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống
hội. Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà
quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động
của các quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi
đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quản hệ quản lý.
Như vậy, trong mỗi hoạt động quản hành chính nhà nước, tính chấp hành
tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động
quản lý hành chính nhà nước, nhờ đó có thể phân biệt với hoạt động lập pháp và tư
pháp: trong lập pháp, chấp hành để xây dựng pháp luật làm cho pháp luật ngày
càng hoàn thiện hơn; trong tư pháp, chấp hành để bảo vệ pháp luật tránh khỏi sự
xâm hai; còn trong quản hành chính, chấp hành để tổ chức thực hiện pháp luật
trong đời sống xã hội.
- Thứ năm, quản hành chính nhà nước hoạt động mang tính liên tục.
Khác với hoạt động lập pháp pháp, quản hành chính nhà nước luôn
cần có tính liên tnc, kịp thờilinh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của
đời sống hội. Chính điểm đặc thù này được coi một sở quan trọng trong
việc xác lập quy định về tổ chức hoạt động, quy chế công chức, công vụ của bộ
máy hành chính nhà nước; tao ra bộ máy hành chính gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong
tổ chức, đội ngũ công chức năng động sáng tạo, quyết đoán chịu sràng
buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình.
Tóm lại Quản hành chính nnước là một hình thức hoạt động của Nhà
nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có
nội dung bảo đảm sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của các quan
quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức chỉ đạo một cách trực tiếp thường xuyên
công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa hội hành chính chính trị. Nói cách
khác, quản hành chính nhà nước một hoạt động chấp hành điều hành của
nhà nước.
BÀI 2. QUẢN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1. Khái niệm quản hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo
Quản hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo sự tác động tổ chức
điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo, do
các quan quản giáo dục của nhà nước từ TW đến các sở tiến hành chức
năng nhiệm vụ do nhà nước uỷ quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào
tạo, duy trì trật tkỷ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục đào tạo của nhân dân,
thực hiện mc tiêu GD &ĐT của nhà nước.
2. Nội dung quản nh chính nhà nước về giáo dục đào tạo
Theo Điều 99 Luật giáo dục 2005, nội dung quản nhà nước về giáo dục
bao gồm:
(1). Xây dựng chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách phát triển giáo dục;
(2). Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục;
ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức hoạt động của cơ sở
giáo dục khác;
(3). Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà
giáo; tiêu chuẩn sở vật chất thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in
phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử cấp văn bằng, chứng chỉ;
(4). Tổ chức, quản việc bảo đảm chất lượng giáo dục kiểm định chất
lượng giáo dục;
(5). Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức hoạt động giáo
dục;
(6). Tổ chức bộ máy quản giáo dục;
(7). Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản nhà giáo cán bộ
quản giáo dục;
(8).Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo
dục;
(9). Tổ chức, quản công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ
trong lĩnh vực giáo dục;
(10). Tổ chức, quản công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
(11). Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối
với sự nghiệp giáo dục;
(12). Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục
3. Hệ thống quản hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo
- Chính phủ thống nhất quản n nước về giáo dục
Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn ảnh
hưởng đến quyền nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những
chủ trương về cải cách nội dung chương trình của cả một bậc học, cấp học; hàng
năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục việc thực hiện ngân sách giáo dục.
- Bộ Giáo dục Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý n
nước nhà nước về giáo dục. Các Bộ, quan ngang Bộ, quan thuộc Chính phủ
trách nhiệm quản nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ. Chính
phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, quan ngang Bộ, quan thuộc
Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Giáo dục Đào tạo để thực hiện việc
thống nhất nhà nước về giáo dục.
- Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện quản nhà nước về giáo dục địa phương
theo quy định của Chính phủ.
Cấp tỉnh Sở giáo dục Đào tạo. Giám đốc Sở GD-ĐT chịu trách nhiệm
trước Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện quản nhà nước về giáo dục trong phạm vi
tỉnh, bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giao dục nghề nghệp. Đối
với trường cao đẳng , một số sGD-Đt được uỷ nhiệm quản mộ vài mặ của quá
trình đào tạo hoặc quản lí cả năm mặt: chuyên môn, nhân sư, bộ máy, tài chính, cơ
sở vật chất sư phạm.
Cấp huyện, quận có Phòng GD-ĐT. Trưởng phòng GD&ĐT chịu trách nhiệm
trước Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện quản nhà nước về giáo dục trong phạm
vi huyện, quận. Phòng GD&ĐT cấp huyện quản các trường mầm non, trường
tiểu học, trường trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên.
4. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục Đào tạo hiện nay
4.1. Những thành tựu đã đạt được
1. Hệ thống trường lớp quy giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền
giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân nâng
cao được trình độ đào tạo, trình độ và kĩ năng nghề nghiệp của người lao động.
2. Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục nhiều tiến bộ, nhất đối với
người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, các đối tượng chính sách người
hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới cơ bản được bảo đảm.
3. Chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu
nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Công tác quản lí giáo dục bước chuyển biến tích cực.
5. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình
độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.
6. Cơ sở vật chất - kĩ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm
và từng bước hiện đại hoá.
7. Xã hội hoá giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả
quan trọng.
Những thành tựu, kết qu quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thống
hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành
tựu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
4.2. Những hạn chế yếu m
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam những bước phát triển,
những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ đổi mới đất nước. Nhưng đồng
thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
- Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu m, bất cập chậm được khắc phục;
chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất
lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa
thực sự là quốc sách hàng đầu.
- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm
hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống hội lao động nghề nghiệp; chưa phát
huy tính sáng tạo, năng lực thực hành ca học sinh, sinh viên.
Chất lượng giáo dục mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất giáo dục đạo đức, lối
sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề”
vẫn yếu kém; yếu vgiáo dục tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy
sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất
cân đối.
- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới,
nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; chế quản giáo dục
chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất trong điều
kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh
vực khác của đất nước.
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng
lực của một bộ phận còn thấp.
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về ng tác hội hóa giáo dục; định hướng
liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác
định rõ phương châm.
- duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất
nước trong bối cảnh phát triển kinh tế th trường hội nhập quốc tế; khoa học
giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục
còn nhiều bất cập.
- Các quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành
chế, chính sách của Nhà ớc; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu
những quyết sách đồng bộ hợp tầm (có khi chính sách được ban hành
rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một
số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận
của xã hội.
Những vấn đề, những yếu kém bất cập nêu trên của giáo dục không thể
giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bmặt
nhất thời, thiếu chiến lược tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ hệ thống,
chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn
đề đặt ra, những người lãnh đạo quản lý, những nhà khoa học, những người làm
giáo dục phải cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của
Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những nêu trên báo chí những báo cáo
tổng kết thành tích.
5. Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới Giáo dục Đào tạo
Trong các văn kiện trình Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc
biệt làm hơn lập trường, quan điểm, nh nhất quán về scần thiết phải đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã
từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị
quyết s29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ
quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía
trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống.
Trong Văn kiện đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ
trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực, xác định đây một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm
của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân
lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết nhân sinh mới của nền giáo dục
nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.
sao phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo phát triển nguồn
nhân lực? Các văn kiện của Đảng đã chỉ chất lượng, hiệu quả giáp dục đào
tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ
thống giáo dục đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ các phương thức
giáo dục, đào tao; còn nặng thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với
nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh nhu cầu của thị trường lao động;
chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống kỹ năng làm việc. Phương
pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra đánh giá kết quả còn lạc hậu thiếu thực
chất. Quản giáo dục đào tạo mặt còn yếu kém. Đội ngũ nhà giáo cán
bộ quản lí giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Đầu cho giáo dục
đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách chế tài chính cho giáo dục đào tạo chưa
phù hợp. sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu lạc hậu, nhất vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn.
Việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết. Thứ nhất, do
chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo nước ta còn thấp so với yêu cầu của công
cuộc đổi mới, nhất giáo dục đại học giáo dục nghề nghiệp. Hiện nay,
toàn quốc có hơn 70.000 cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ tốt nghiệp ra trường, nhưng không
tìm được việc làm, hoặc việc làm nhưng không đúng nghề đào tạo; nhiều người
được tuyển chọn phải đào tạo lại mới sử dụng được. Thứ hai, hệ thống giáo
dục-đào tạo nước ta còn bị khép kín, thiếu liên thông giữa các trình đgiữa
các phương thức giáo dục, đào tạo, còn nặng thuyết, nhẹ thực hành. Thứ ba,
chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, với sản xuất kinh
doanh nhu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ. Thứ tư,
chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và kỹ năng,
phương pháp làm việc. Thứ năm, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chủ yếu
truyền thụ kiến thức một chiều; tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn thiếu
thực chất, mắc bệnh thành tích. Thứ sáu, đội ngũ nhà giáo cán bộ quản
giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng cấu. Thứ bảy, chế, chính sách,
đầu tư cho giáo dục, đào tạo chưa phù hợp; svật chất-kỹ thuật thiếu đồng bộ,
còn lạc hậu…
Như vậy, việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tao; phát triển
nguồn nhân lực yêu cầu bức thiết. Đó vừa yêu cầu, vừa giải pháp giúp
chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức của thời cuộc phát triển bền vững. Tuy
nhiên, nếu không quyết liệt đổi mới, hoặc đổi mới “nhỏ giọt”, cục bộ, từng phần,
tức giáo dục, đào tạo vẫn không khác hơn kiểu thì nguy tụt hậu xa hơn
luôn kề bên; đường lối đổi mới của Đảng sẽ mất dần động lực phát triển, chúng
ta sẽ không thể đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thậm chí rơi vào
“cái bẫy thu nhập trung bình”. Điều kiện tiên quyết, suy đến cùng do con người
quyết định, trong đó giáo dục, đào tạo, nền học vấn nhân tố quan trọng nhất.
Đảng ta nhất quán khẳng định: “Giáo dục, đào tạo “quốc sách hàng đầu”, “đầu
tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư cho phát triển”. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả
thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới giáo dục, đào tạo từ
Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII đến nay vẫn còn những hạn chế, bất cập, chất
lượng thấp.
Đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực
hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản của Nhà nước đến hoạt động
quản trị của các sở giáo dục-đào tạo việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
hội bản thân người học; đổi mới tất cả các bậc học, ngành học... Điều này
không phải đến Đại hội XII, Đảng ta mới xác định như vậy. Vấn đề chỗ: Trong
những năm qua, quan điểm, tưởng chỉ đạo, mục tiêu giáo dục toàn diện chưa
được hiểu thực hiện đúng; nay chúng ta cần nhận thức đúng hơn thực hiện
hiệu quả hơn.
Lâu nay, nước ta, các trường chủ yếu trang bị kiến thức cho người học, lấy
dựa vào để phát triển năng lực. Nhiều
năm qua,
chúng ta đã nhận ra sự
bất cập, hạn chế của việc này, nên đã chuyển hướng sang phát triển phẩm chất
năng lực người học. Tuy nhiên, do thiếu tính đồng bộ nhận thức chưa thống
nhất, nên việc dạy học vẫn theo cách cũ: Trang bị kiến thức chính, phát triển
phẩm chất và năng lực là phụ. Từ khi Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8,
khóa XI, trong hội ta, về nhận thức đã sự thay đổi nhất định, dần đi đến
thống nhất về sự cần thiết phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất năng lực người học. Để “đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” đạt hiệu
quả cao, chúng ta phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp.
Một giải pháp quan trọng được nêu trong dự thảo, đó là: Đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào
tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực phẩm chất của người học. Trên
sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo, công khai mục tiêu,
chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và
chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo đổi mới chương trình khung các môn
học nội dung của theo hướng phát triển mạnh năng lực phẩm chất người
học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm mới: Dạy người,
dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy nghề).
Tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực,
phù hợp với lứa tuổi, trình độ ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân ch, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật
ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị bản của văn hóa, truyền
thống đạo dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi nhân văn của
Chủ nghĩa Mác - -nin, tưởng Hồ Chí Minh, cương nh, đường lối của Đảng.
Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh hướng nghiệp.
Dạy Ngoại ngữ Tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử
dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói chữ viết của các dân tộc thiểu số;
dạy tiếng Việt truyền văn hóa dân tộc cho người Việt Nam nước ngoài. Nói
một cách khác, yếu tđầu tiên của triết giáo dục Việt Nam hiện nay tăng
cường yếu tố dạy người-chủ nhân của chế độ mới, của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đổi mới chương trình, nội dung giáo dục, đào tạo cần đổi mới công
tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo hướng đa dạng hóa,
cập nhật tri thức mới, đáp ứng yêu cầu của từng bậc học, các chương trình giáo
dục, đào tạo nhu cầu học tập suốt đời của từng đối tượng. Cần khắc phục lối
học tập trung vào một số môn học, một “khuôn” trong một sách giáo khoa, giáo
trình, tài liệu. giai đoạn đầu của đổi mới, nên vừa nghiên cứu, biên soạn các
sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy và học chung cho mọi người, vừa nghiên
cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu riêng cho phù hợp với từng
loại đối tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, năng khiếu
nhân. vậy, trong xây dựng cấu trúc chương trình môn học cần chú trọng nghiên
cứu, biên soạn bổ sung các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu bắt buộc và tài liệu
tham khảo, bổ trợ phù hợp với phát triển phẩm chất, năng lực riêng của một lớp đối
tượng. Theo đó, cần vận dụng phương pháp, cách thức xây dựng chương trình sau
đại học để thiết kế, xây dựng các chương trình khung cho các bậc học theo hướng
chuyên đề hóa dành cho người học có năng khiếu về những lĩnh vực nhất định.
Đây hướng mở để phát triển phẩm chất, năng lực nhân người học, góp
phần đào tạo chuyên sâu, chuyên gia. Theo đó, nên chia tổng thời gian học thành
hai phần, trong đó, một nửa dành cho học các môn chung, số thời gian còn lại
dành cho việc học các môn riêng theo năng khiếu để phát triển phẩm chất, năng
lực nhân. Điều này đòi hỏi người dạy phải tự đổi mới, nâng tầm cao tri thức
đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy cho phù hợp. Hơn thế, cũng đặt ra
cho người quản lý, các khoa, trường phạm phải đổi mới cách tuyển chọn nhân
sự đào tạo giáo viên, giảng viên theo hướng phát triển phẩm chất năng lực của
người giáo viên, giảng viên tương lai. ràng, khi mục tiêu giáo dục, đào tạo
được thay đổi căn bản, thì bắt buộc chương trình khung, nội dung, phương pháp,
hình thức giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Phương pháp dạy học mới không chỉ làm cho người học phát triển duy
độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành. Cùng với đó,
cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả
giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng. Cần gắn chặt giáo
dục đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế- hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn
nhà trường, viện nghiên cứu với các sở sản xuất, nhà máy, nghiệp; gắn
luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng bảo vTổ quốc. Đó những
phương cách tốt nhất, hiệu quả nhất để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào
tạo phát triển nguồn nhân lực nước nhà, như văn kiện trình Đại hội XII của
Đảng đã đề ra.
Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
nước ta được nêu trong văn kiện Đại hội XII, về thực chất, một cuộc cách mạng
trong lĩnh vực này, hiệu ứng của slàm biến đổi tích cực nhiều mặt của đời
sống hội Việt Nam, là sự vun trồng “nguyên khí quốc gia”, làm cho nền học
vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững.

Preview text:

PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC
BÀI 1. GIÁO DỤC HỌC MỘT KHOA HỌC
I. Giáo dục học một khoa học về giáo dục con người
1. Giáo dục một hiện tượng hội đặc biệt
Để tồn tại và phát triển con người cũng như mọi sinh vật khác phải luôn luôn
tự vận động và phát triển mọi tiềm năng và sức mạnh bản chất của mình nhằm tạo
ra những điều kiện thuận lợi để thỏa mãn nhu cầu và thích ứng, hòa nhịp với môi
trường sống. Những thành tựu của sự vận động và phát triển ấy không mất đi mà
được tích lũy dần, được củng cố và đề lại dấu vết
Đối với động vật, sự tích lũy được ghi lại trên đặc điểm cơ thể chúng, trong
các bản năng và truyền lại cho thế hệ sau bằng cơ chế di truyền.
Ở con người, thành tựu phát triển của xã hội loài người không chỉ tích lũy
trong di truyền mà còn trong các kinh nghiệm lịch sử xã hội.
Kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người là kết quả của quá trình loài người
nhận thức thế giới và lao động tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và xã hội.
Ngay từ khi xuất hiện trên Trái Đất, để tồn tại con người phải lao động và đấu
tranh chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Trong cuộc sống lao động hằng
ngày, con người nhận thức thế giới xung quanh, trước là để thích nghi với môi
trường sống, sau đó là để khai thác và cải tạo môi trường phục vụ cuộc sống của
mình. Trong quá trình đó loài người dần dần tích lũy được các kinh nghiệm lịch sử xã hội.
Những kinh nghiệm lịch sử xã hội được biểu hiện và bảo tồn dưới dạng
những giá trị vật chất (công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt, công trình kiến trúc…)
và các giá trị tinh thần (ngôn ngữ, tri thức, kĩ năng lao động sản xuất, phong tục tập
quán, chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử…)
Khác với mọi sinh vật khác, hoạt động của con người mang tính kế thừa và
sáng tạo. Để xã hội loài người tồn tại và phát triển, những kinh nghiệm lịch sử xã
hội phải được truyền đại và lĩnh hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo dục nảy
sinh để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó của loài người. Nói cách khác, bản chất của
giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ có ở loài người.
2. Tính quy định của hội đối với giáo dục
Mục đích giáo dục do xã hội đặt ra và tổ chức thực hiện thông qua giáo dục
Phương tiện giáo dục con người là kinh nghiệm xã hội đã được khái quát
hóa thành các giá trị vật chất và tinh thần mà ta gọi văn hóa.
Giáo dục có những tính chất sau:
- Giáo dục là một hiện tượng chỉ có ở xã hội loài người (tính nhân bản).
Giáo dục xuất hiện, gắn bó cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, ở đâu có
con người ở đó có giáo dục (tính phổ biến). Khi nào còn tồn tại loài người, lúc đó
còn tồn tại giáo dục (tính vĩnh hằng).
- Giáo dục là hiện tượng mang tính lịch sử, giáo dục ra đời do nhu cầu của
lịch sử, một mặt bị quy định bởi trình độ phát triển của lịch sử xã hội, phản ánh
trình độ phát triển của lịch sử, mặt khác giáo dục có khả năng tác động trở lại tới
tiến trình phát triển của lịch sử xã hội.
- Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi địa phương, cộng đồng dân cư đều có
truyền thống lịch sử, có nền văn hóa riêng, sắc thái riêng trong cuộc sống sinh hoạt
và lao động. Chúng được truyền lại cho nhau thông qua nội dung, phương pháp
giáo dục, thể hiện rõ nét trong sản phẩm giáo dục. Do đó giáo dục mang tính dân tộc
3. Chức năng hội của giáo dục
a. Chức năng kinh tế sản xuất
Chức năng quan trọng nhất mà xã hội đặt ra cho giáo dục là chức năng kinh
tế - sản xuất. Giáo dục không thực hiện trực tiếp chức năng này mà thông qua con
người, thông qua hệ thống nguồn nhân lực mà giáo dục đào tạo ra. Do đó được
trang bị hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thích hợp và hiện đại, người học sẽ trở
thành những những người lao động có trình độ, thông minh, khéo léo, có trách
nhiệm, làm việc có hiệu quả hơn trong các lĩnh vực kinh tế sản xuất khác nhau.
Để thực hiện tốt chức năng kinh tế sản xuất, giáo dục phải thỏa mãn một số
yêu cầu cơ bản sau đây:
- Giáo dục phải gắn bó với sự phát triển kinh tế - sản xuất thỏa mãn các yêu cầu
phát triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể (hiện nay là phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước).
- Xây dựng một hệ thống ngành nghề cân đối, đa dạng phù hợp với sự phát triển
kinh tế - sản xuất của đất nước
- Hệ thống giáo dục quốc dân không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp,
phương tiện...Đào tạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất
đạo đức đáp ứng yêu cầu mới của dân tộc và xã hội.
b. Chức năng chính trị - hội
Thông qua giáo dục, những tư tưởng xã hội được thấm đến từng con người,
giáo dục hình thành ở con người thế giới quan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp
với chuẩn mực đạo đức xã hội, với luật pháp. Từ đó giáo dục duy trì sự ổn định của xã hội.
Chức năng chính trị - xã hội của giáo dục bao gồm những nội dung sau đây:
- Trang bị cho thế hệ đang lớn lên cũng như toàn thể xã hội lý tưởng phấn
đấu vì một nước Việt Nam: “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
- Thông qua việc nâng cao dân trí, nâng cao trình độ văn hóa cho toàn dân,
thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực góp phần xóa đói, giảm nghèo, góp phần
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thay đổi cấu trúc, lao động xã hội và tạo ra sự bình
đẳng trong các tầng lớp dân cư
- Góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý theo tinh thần “do dân và vì dân”.
c. Chức năng văn hóa tưởng
Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra
trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị đó nói lên mức độ
phat triển của xã hội loài người
Chức năng văn hóa tư tưởng của giáo dục được thể hiện ở việc
- Giáo dục nâng cao trình độ nhận thức của người dân, xóa bỏ các phong tục
tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội, thực hiện kế hoạch hóa gia đình
và hình thành ở họ tư tưởng chấp hành luật pháp nghiêm túc, tự giác
- Giáo dục hình thành và phát triển ở thế hệ trẻ bản sắc văn hóa dân tộc, đó
là tinh thần yêu nước, đoàn kết, lòng nhân ái, hiếu học, chăm chỉ, cần kiện…
- Giáo dục thỏa mãn nhu cầu học tập suốt đời của mỗi người dân. Do đó
giáo dục không còn là một phúc lợi xã hội mà là một quyền cơ bản của mỗi thành viên trong xã hội.
II. Giáo dục một khoa học
1. Đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học
a. Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, có tính phức tạp về nhiều mặt, nhiều khía
cạnh và đã có nhiều ngành khoa học đi nghiên cứu nó như kinh tế học, xã hội học,
triết học…Song những nghiên cứu này chưa đề cập tới được bản chất của giáo dục,
tới những quan hệ của các quá trình phát triển con người như một nhân cách, tới sự
phối hợp giữa nhà giáo dục với người được giáo dục trong quá trình phát triển đó,
cùng với các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển. Việc nghiên cứu các khía cạnh
nêu trên cần phải có khoa học chuyên ngành nghiên cứu, đó là giáo dục học.
Như vậy, Giáo dục học được coi là khoa học nghiên cứu bản chất, quy luật,
các khuynh hướng và tương lai phát triển của quá trình giáo dục, với các nhân tố
và phương tiện phát triển con người như một nhân cách trong suốt toàn bộ cuộc
sống. Trên cơ sở đó, Giáo dục học nghiên cứu lí luận và cách tổ chức quá trình đó,
các phương pháp, hình thức hoàn thiện hoạt động của nhà giáo dục, các hình thức
hoạt động của người được giáo dục, đồng thời nghiên cứu sự phối hợp hành động
của nhà giáo dục với người được giáo dục.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu của Giáo dục học
Bất cứ một khoa học nào cũng bao gồm một hệ thống các nhiệm vụ cần giải
quyết. Giáo dục học là một khoa học cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng giáo dục,
phân biệt các mối quan hệ có tính quy luật và tính ngẫu nhiên. Tìm ra các quy luật
chi phối quá trình giáo dục để tổ chức chúng đạt hiệu quả tối ưu.
- Giáo dục học nghiên cứu dự báo twong lai gần và tương lai xã của giáo dục,
nghiên cứu xu thế phát triển và mục tiêu chiến lược của giáo dục trong mỗi giai
đoạn phát triển của xã hội để xây dựng chương trình giáo dục đào tạo.
- Nghiên cứu xây dựng các lí thuyết giáo dục mới, hoàn thiện các mô hình giáo
dục, dạy học, phân tích kinh nghiệm giáo dục, tìm ra con đường ngắn nhất và các
phương tiện để áp dụng chúng vào thực tiễn giáo dục
- Trên cơ sở các thành tựu của khoa học và công nghệ, Giáo dục học còn nghiên
cứu tìm tòi phương pháp và phương tiện giáo dục mới nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.
Ngoài ra còn rất nhiều các nhiệm vụ khác ở phạm vi và khía cạnh cụ thể
(kích thích tính tích cực học tập của học sinh, nguyên nhân của việc kém nhận
thức, các yếu tố lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, tiêu chuẩn giáo viên…)
2. Các khái niệm bản của giáo dục học
Khi nhắc đến giáo dục học với tư cách là một khoa học, chúng ta không
nhắc đến các khái niệm, phạm trù của nó. Đây chính là những viên gạch để đầu
tiên trong việc nghiên cứu và tổ chức quá trình giáo dục đào tạo.
Trong học phần này sẽ phân tích những khái niệm cơ bản của giáo dục học
là giáo dục (nghĩa rộng), dạy học, giáo dục (nghĩa hẹp)
a. Giáo dục (nghĩa rộng)
Giáo dục (nghĩa rộng)là quá trình tổ chức một cách mục đích, kế
hoạch, thông qua các hoạt động các quan hệ giữa nhà giáo dục người được
giáo dục, nhằm phát triển sức mạnh vật chất tinh thần của thể hệ đang lớn lên,
trên sở giúp họ chiếm lĩnh những kinh nghiệm lịch sử hội của loài người.
Việc tổ chức quá trình đó chủ yếu do những người có kinh nghiệm, có
chuyên môn, gọi là nhà giáo dục, nhà phạm đảm nhiệm. Nơi tổ chức chủ yếu
quá trình đó gọi là nhà trường.
Quá trình giáo dục bao gồm ba thành phần cơ bản: thầy giáo, học sinh và tài
liệu giáo khoa. Quá trình giáo dục không thể xảy ra nếu thiếu một trong ba thành phần này. b. Dạy học
Dạy học một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng) quá trình tác
động qua lại giữa giáo viên học sinh, nhằm truyền thụ lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử hội loài người (kiến thức, năng, xảo…) để phát triển những
năng lực phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục
Thế mạnh của dạy học là hình thành hệ thống tri thức (bao gồm các khái
niệm, phạm trù, quy luật, phương pháp nhận thức…), hình thành các kĩ năng và kĩ
xảo chung và riêng, làm cơ sở cho việc hình thành năng lực chung, năng lực
chuyên biệt và phẩm chất của người học.
Trong dạy học, những kinh nghiệm đồ sộ của xã hội loài người có thể được
khái quát hóa và truyền thụ cho thế hệ đang lớn lên trong một thời gian ngắn và có
hệ thống. Nhờ đó, họ có điều kiện để kế thừa và phát triển sức mạnh tinh thần và
vật chất của bản thân và góp phần vào việc phát triển xã hội
c. Quá trình giáo dục (nghĩa hẹp)
Quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) một bộ phận của quá trình giáo dục
(nghĩa rộng), quá trình hình thành niềm tin, tưởng, tình cảm, thái độ…
Việc hình thành lý tưởng, niềm tin, thái độ…là thế mạnh của quá trình giáo
dục và thường được tiến hành thông qua sinh hoạt tập thể, các hoạt động xã hội,
lao động xã hội công ích, trong và ngoài nhà trường.
* Một số đặc trưng của dạy học giáo dục (nghĩa hẹp) Dạy học
Giáo dục nghĩa hẹp
-Về chức năng, nhiệm vụ
Có thế mạnh trong việc hình thành Có thể mạnh trong việc hình thành niềm tin,
các biểu tượng, khái niệm, định luật, chuẩn mực, lý tưởng, động cơ, nguyên tắc
lý thuyết, các kỹ năng, kĩ xảo chung hành vi đạo đức, lao động và thẩm mỹ…
nghĩa là ảnh hưởng thiên về thái độ, xúc
và riêng, nghĩa là ảnh hưởng thiên về cảm, tâm hồn trí tuệ, nhận thức…
- Về nội dung tổ chức
Chương trình, kế hoạch dạy học được Nội dung giáo dục chỉ mang tính định quy định chặt chẽ
hướng: có thể là một sinh hoạt văn hóa,
chính trị, xã hội, lao động, nghệ thuật, thể
thao, du lịch…có tính chất quần chúng. Nội
dung giáo dục được xác định chủ yếu dựa
theo nhu cầu xã hội, nguyện vọng và hứng
thú của tập thể học sinh ở lứa tuổi khác
nhau. Người thầy kết hợp học sinh với phụ
huynh để lựa chọn cac hoạt động giáo dục
nhằm đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện.
- Về hình thức tổ chức
Khi dạy học, các hình thức thường Trong quá trình giáo dục thi các hình thức
được sử dụng là: giờ lên lớp, xemina, thường được sử dụng là: sinh hoạt tập thể, thực hành, thí nghiệm… hoạt
động xã hội, tham quan, lao động xã hội - công ích…
- Về quản (người tổ chức)
Người lãnh đạo quá trình dạy học chủ Người lãnh đạo là đại diện của tập thể học yếu là thầy giáo sinh như
lớp trưởng, cán bộ đoàn, đội với sự
giúp đỡ của các thầy giáo chủ nhiệm.
* Mối quan hệ giữa dạy học quá trình giáo dục (nghĩa hẹp)
Mối quan hệ giữa quá trình giáo dục (QTGD) theo nghĩa rộng, quá trình dạy
học (QTDH) và QTGD theo nghĩa hẹp có thể biểu hiện dưới dạng sau:
QTGD (nghĩa rộng)= QTDH + QTGD (nghĩa hẹp)
Công thức trên đây tuy đơn giản, dễ hiểu và dễ nhớ, những khi sử dụng cần
chú ý một số vấn đề sau:
- QTDH và QTGD (nghĩa hẹp) đều có một mục đích chung là đào tạo con
người phát triển toàn diện, nhưng mỗi quá trình có một thế mạnh riêng.
- QTDH và QTGD (nghĩa hẹp) trong thực tế luôn gắn bó chặt chẽ với nhau,
quá trình này bổ sung cho quá trình kia, rất ít trường hợp xảy ra một cách độc lập. Thí dụ:
+ Trước khi tổ chức hoạt động giáo dục như cho các em tham quan một di
tích lịch sử, tiến hành một động xã hội công ích, bao giờ cũng phải giới thiệu mục
đích, ý nghĩa, lịch sử vấn đề, những tri thức cần thiết liên quan…nghĩa là phải thực
hiện một quá trình dạy học.
+ QTDH không chỉ làm nhiệm vụ hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo,…mà bao giờ giáo viên cũng phải quan tâm đến trạng thái cảm xúc của học
sinh, quan tâm hình thành ở học sinh tình cảm, lý tưởng sống đúng đắn, thói quen
tốt…nghĩa là giáo viên cũng phải thực hiện QTGD (nghĩa hẹp) thông qua nghệ
thuật sư phạm của mình, thông qua những buổi hoạt động ngoại khóa và họp phụ huynh…
- Trong thực tiễn dạy học hiện nay, nhà trường tập thường tập trung mọi nỗ
lực của mình vào quá trình dạy học , ít chú ý đến quá trình giáo dục (nghĩa hẹp),
chẳng hạn ít tổ chức sinh hoat tập thể, hoạt động xã hội, hoạt động lao động công
ích và lao động sản xuất,… ít chú ý đến việc rèn luyện vận dụng kiến thức giải
quyết vấn đề thực tiễn, rèn luyện ý chí…Do đó học sinh rất bất ngỡ khi bước vào cuộc sống
Vì vậy việc tách biệt quá trình dạy học và quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) chỉ
mang ý nghĩa nghiên cứu. Trong thực tế giáo dục, người giáo viên phải thực hiện
đồng thời 2 quá trình này. Nếu thiếu 1 trong 2 quá trình đều gây ra những ảnh
hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
3. Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
a. Phương pháp luận nghiên cứu Giáo dục học học
Khoa học chỉ phát triển khi nó không ngừng bổ sung những tri thức mới.
Cách thức tìm ra tri thức mới để giải quyết các vấn đề thực tiễn, đồng thời định
hướng thực tiễn chính là phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong khoa học
nghiên cứu nói chung, có hai vấn đề cơ bản là phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu (cụ thể)
Phương pháp luận được hiểu là lí thuyết về các nguyên tắc để tiến hành các
phương pháp, các hình thức của hoạt động nhận thức khoa học, là hệ thống các
quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của chủ thể. Các quan điểm phương
pháp luận mang màu sắc triết học. Đây là kim chỉ nam hướng dẫn các nhà khoa
học tìm tòi nghiên cứu khoa học, có thể đề cập một số quan điểm phương pháp
luận nghiên cứu Giáo dục học như sau:
- Quan điểm duy vật biện chứng: khi nghiên cứu, các nhà khoa học phải xem xét
sự vật hiện tượng, quá trình giáo dục trong các mối quan hệ phức tạp của chúng và
trong quá trình vận động phát triển của chúng.
- Quan điểm lịch sử - logic: Yêu cầu khi nghiên cứu phải phát hiện nguồn gốc nảy
sinh, quá trình diễn biến của đối tượng nghiên cứu không gian, thời gian với những
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
- Quan điểm thực tiễn: Yêu cầu khi nghiên cứu giáo dục cần xuất phát từ thực tiễn,
phải khái quát để tìm ra quy luật phát triển của chúng từ thực tiễn, kết quả nghiên
cứu được kiểm nghiệm trong thực tế và phải được ứng dụng trong thực tiễn.
- Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu đối tượng phải phân tích chúng thành
những bộ phận để xem xét một cách sâu sắc và toàn diện, phải phân tích mối quan
hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình cũng như mối quan hệ giữa các bộ
phận trong từng sự vật, hiện tượng và quá trình đó.
b. Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
Phương pháp nghiên cứu giáo dục học là cách thức, là con đường mà nhà
khoa học sử dụng để khám phá bản chất, quy luật của quá trình giáo dục, nhằm vận
dụng chúng vào thực tiễn giáo dục. Các phương pháp được sử dụng trong nghiên
cứu Giáo dục học bao gồm:
* Các phương pháp nghiên cứu thuyết
- Phương pháp phân tích tổng hợp thuyết
Phân tích lí thuyết: là thao tác chia tài liệu lí thuyết thành các đơn vị kiên
thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong lí thuyết.
Tổng hợp lí thuyết: là sự liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành một
tổng thể. Trong phân tích cũng cần có sự liên kết các yếu tố nhưng nó có tính bộ
phận hơn là tính toán thế, còn trong phạm trù tổng hợp, sự chế biến những yếu tố
đã cho thành một tổng thể có nhấn mạnh hơn đến tính thống nhất và tính sáng tạo.
Phân tích và tổng hợp cho phép xây dựng được cấu trúc của các vấn đề cần nghiên cứu.
- Phương pháp hình hóa
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng và quá trình giáo dục dựa vào
mô hình của chúng. Mô hình đối tượng là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần.
Mô hình tương tự như đối tượng nghiên cứu và tái hiện những mối liên hệ cơ cấu,
chức năng, nhân, quả của đối tượng. Nghiên cứu trên mô hình sẽ giúp cho các nhà
khoa học khám phá ra bản chất, quy luật của đối tượng
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Quan sát trong nghiên cứu giáo dục là phương pháp thu thập thông tin về sự
vật hiện tượng, quá trình giáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động giáo
dục và các điều kiện khách quan của hoạt động đó. Quan sát trực tiếp đối tượng
giáo dục nhằm phát hiện ra những biến đổi của chúng trong những điều kiện cụ
thể, từ đó phân tịch nguyên nhân và rút ra những kết luận về quy luật vận động của
đối tượng. Mục đích quan sát kết luận về để phát hiện, thu thập các thông tin về
vấn đề nghiên cứu, phát hiện bản chất vấn đề và xác định giả thuyết nghiên cứu.
- Phương pháp trưng cầu ý kiến bằn phiếu hỏi (bảng câu hỏi)
Điều tra bằng bảng câu hỏi là phương pháp được sử dụng phổ biến trong
nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và trong nghiên cứu khoa học giáo dục nói
riêng. Thực chất của phương pháp này là sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn
vói một hệ thống đặt ra cho đối tượng nghiên cứu, nhằm thu thập những thông tin
phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, nó được sử dụng để nghiên cứu đối tượng trên
diện rộng. Vấn đề quan trọng khi sử dụng phương pháp này là xây dựng có chất
lượng bảng câu hỏi điều tra. Bảng câu hỏi là một hệ thống các câu hỏi được sắp đặt
trên cơ sở nguyên tắc và nội dung nhất địnhm nhằm tạo điều kiện cho người được
hỏi thể hiện quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu, qua đó nhà nghiên cứu thu
thập được thông tin đáp ứng yêu cầu của để tài và mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn
Trong nghiên cứu giáo dục học, phương pháp phỏng vấn được tiến hành
thông qua tác động trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi nhằm thu thập
thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu. Nguồn thông
tin trong phỏng vấn bao gồm toàn bộ những câu trả lời phản ánh quan điểm, nhận
thức của người được hỏi. Hành vi cử chỉ của người được hỏi trong thời gian phỏng vấn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Kinh nghiệm giáo dục là tổng thể những tri thức kĩ năng, kĩ xảo mà người
làm công tác giáo dục đã tích lũy được trong thực tiễn công tác giáo dục
Tổng kết kinh nghiệm giáo dục là vận dụng lí luận về giáo dục. Từ đó rút ra
những khái quát có tính chất lí luận. Đó là những khái quát về nguyên nhân, điều
kiện, biện pháp, bước đi dẫn tới thành công hay thất bại, đặc biệt là tìm ra những
quy luật phát triển của các sự kiện giáo dục nhằm tổ chức tốt hơn các quá trình sư phạm tiếp theo.
Những kinh nghiệm rút ra từ phương pháp này cần được kiểm nghiệm, bổ
sung bằng cách: thông qua các hội thảo khoa học, qua các phương tiện thông tin
(tài liệu, tạp chí của trung ương, ngành) vận dụng ở các địa bàn và các phạm vi khác nhau.
- Phương pháp thực nghiệm phạm
Phương pháp thực nghiệm xuất hiện trong khoa học đã đánh dấu một bước
ngoặt lớn chuyển từ sự quan sát, mô tả bề ngoài sang sự phân tích về mặt định tính,
định lượng những mối liên hệ bản chất, những thuộc tính cơ bản của các sự vật
hiện tượng. Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay
đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục
do nhà khoa học tác động nên chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra.
Phân loại theo môi trường diễn ra thực nghiệm có thực nghiệm tự nhiên và
thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, phân loại theo mục đích thực nghiệm có thực
nghiệm tác động và thực nghiệm thăm dò.
Phương pháp thực nghiệm đòi hỏi nhà nghiên cứu chủ động tạo nên tình
huống, sau đó quan sát các hành vi, các sự kiện trong tình huống, sau đó quan sát
các hành vi, các sự kiện trong các tình huống nhân tạo đó. Tuy nhiên để có được
những thông tin từ thực nghiệm thì trong quá trình tiến hành thực nghiệm cũng
phải sử dụng hàng loạt các phương pháp khác nhau (quan sát, phỏng vấn, trưng cầu
ý kiến, trắc nghiệm…) với ý nghĩa này, phương pháp thực nghiệm rộng hơn, phức tạp hơn.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động phạm
Là phương pháp mà nhà nghiên cứu thông qua các sản phẩm sư phạm để tìm
hiểu tính chất, đặc điểm, tâm lí của con người và các hoạt động tạo ra sản phẩm ấy
nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình giáo dục.
- Phương pháp sử dụng toán thống
Phương pháp toàn học được sử dụng để nghiên cứu các số liệu đã nhận được
từ các phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi và từ phương pháp thực
nghiệm, nó thiết lập sự phụ thuộc về số lượng giữa các hiện tượng nghiên cứu.
Chúng giúp cho việc đánh giá các kết quả thực nghiệm, nâng cao độ tin cậy của
các kết luận, làm cơ sở cho việc tổng kết lí thuyết.
BÀI 2. GIÁO DỤC SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
I. Khái niệm con người, nhân, nhân cách
1. Khái niệm con người
Tiếp cận theo một quan điểm tổng quan, toàn diện và khoa học, chủ nghĩa
duy vật biện chứng đã đưa ra luận điểm về con người: “ Con người vừa là một thực
thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.
Luận điểm trên của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ ra được bản chất
của con người. Con người không phải là tồn tại tiền định của Thượng đế, cũng
không phải một sinh vật sống nhờ vào bản năng…mà con người là sự thống nhất
biện chứng giữa yếu tố tự nhiên và đặc tính xã hội.
- Bản tính tự nhiên của con người được phân tích dưới giác độ sau:
+ Thứ nhất, con người là kết quả của tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự
nhiên. Cơ sở khoa học của kết luận này được chứng minh bằng toàn bộ sự phát
triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của
Charles Darwin về sự tiến hóa
+ Thứ hai, con người và xã hội loài người chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp
bởi các quy luật tự nhiên (quy luật thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, quy luật chọn lọc
tự nhiên,…). Môi trường tự nhiên là nơi diễn ra sự trao đổi vật chất của con người,
ngược lại hoạt động của con người luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên. Đây
là mối quan hệ biến chứng giữa loài người và các tồn tại khác của giới tự nhiên.
- Bản tính xã hội của con người được phân tích từ giác độ sau:
+ Thứ nhất, sự hình thành con người, xã hội loài người không chỉ có nguồn gốc là
sự tiện hóa, mà còn có nguồn gốc xã hội của nó, đặc biệt là yếu tố lao động. Chính
nhờ lao động mà loài người có khả năng vượt qua các loài động vật khác để tiến
hóa và phát triển thành con người
+ Thứ hai, sự tồn tại của con người và xã hội loài người bị chi phối mạnh mẽ bởi
các quy luật xã hội (chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, quy tắc ứng xử,…)
Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng thay đổi tương ứng. Cho nên loài người
cũng là sản phẩm của tiến trình phát triển văn minh, văn hóa lâu dài. Ngoài mối
quan hệ xã hội, con người chỉ tồn tại với tư cách một sinh vật tự nhiên thuần túy.
+ Thứ ba, con người là chủ thể các mối quan hệ xã hội. Nói cách khác, con người
không chỉ bị chi phối bởi các quy luật xã hội, mối quan hệ xã hội mà thông qua các
hoạt động của mình còn sản sinh và làm thay đổi các quy luật xã hội và mối quan hệ xã hội.
Như vậy, hai phương diện tự nhiên và xã hội cùng tồn tại thống nhất, quy
định lẫn nhau, tác động qua lại tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người.
Giới tự nhiên là tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát
triển của con người. Mặt xã hội khiến con người khác xa về chất so với các động
vật của giới tự nhiên. Đánh giá nhân cách của cá nhân, người ta tạm nhấn mạnh
đến yếu tố xã hội hơn nhưng không phủ nhận yếu tố tự nhiên. Mà thực chất, yếu tố
tự nhiên trong mỗi nhân cách đã được trừu xuất, được ý thức hóa, xã hội hóa.
2. Khái niệm nhân
Cá nhân là một con người, là một thành viên trong xã hội loài người nhưng
cũng mang nét đặc thù riêng lẻ để phân biệt với các thành viên khác trong một tập thể, một cộng đồng.
3. Khái niệm nhân cách
Cho đến nay đã có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về nhân cách,
sau đây là một số khái niệm thường gặp:
- Theo truyền thống và trong đời sống của người Việt Nam coi nhân cách con
người gồm 2 mặt: Đức và Tài.
+ Đức (phẩm chất) là hệ thống thái độ của con người, bao gồm các mặt: các
phẩm chất xã hội (các quan điểm, niềm tin tư tưởng – chính trị, thế giới quan khoa
học, thái độ đối với hoạt động); các phẩm chất cá nhân (nếp sống, thói quen, những
ham muốn…); các phẩm chất ý chí: tính kỉ luật, tính tự giác, tính tự chủ, tính mục đích…
+ Tài (năng lực) là hiệu quả tác động của nhân cách tới các đối tượng xung
quanh. Bao gồm các mặt: Khả năng thích ứng, năng lực sáng tạo, linh hoạt, mềm
dẻo trong cuộc sống hoạt động; Khả năng biểu hiện tính độc đáo, cái riêng cái bản lĩnh của cá nhân.
- Nhân cách là toàn thể những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được trong hệ
thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá
trị văn hóa, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá trị văn hóa
vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo
đức, thẩm mỹ, thể chất…
- Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, thuộc tính cá nhân, nó quy định bản sắc, giá
trị cốt cách làm người của cá nhân đó trong xã hội.
Mặc dù các quan điểm, định nghĩa có khác nhau nhưng nhìn chung có sự
thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:
- Những phẩm chất và năng lực có giá trọ đối với cá nhân và xã hội được hình
thành và phát triển qua hoạt động và giao lưu mà cá nhân tham gia
- Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng, bao gồm hai mặt: mặt tự nhiên và mặt xã
hội, trong đó mặt xã hội có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, thể hiện đặc thù về nhân
cách của mỗi con người.
- Nhân cách là tổ hợp những phẩm chất, năng lực không nhất thành bất biến mà
thường xuyên vận động, biến đối theo chuẩn mực, giá trị xã hội. Vì vậy, mọi cá
nhân không chỉ phải thường xuyên giữ gìn, bảo vệ mà còn phải rèn luyện, bồi
dưỡng để nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn.
II. Khái niệm sự phát triển nhân cách
Sự phát triện nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh về
thể chất và tinh thần cả về lượng và chất, có tính đến đặc điểm của mỗi lứu tuổi. Sự
phát triển nhân cách thể hiện qua những dấu hiệu sau:
- Sự phát triển về mặt thể chất: đó là sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ
bắp, sự hoàn thiện chức năng các giác quan, sự phối hợp các chức năng vận động của cơ thể.
- Sự phát triển về mặt tâm lí: thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức,
xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…
- Sự phát triển về mặt xã hội: thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mỗi quan
hệ với những người xung quang, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt
động cải biến, phát triển xã hội.
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển nhân cách.
1. Vai trò của yếu tố di truyền bẩm sinh
Từ xa xưa, cha ông ta đã có câu “Cha nào con nấy”, “Con nhà tông không
giống lông cũng giống cánh” nhằm phản ánh sự giống nhau giữa con cái với cha
mẹ và với thế hệ hệ đi trước. Tuy nhiên dân gian cũng có câu “Cha mẹ sinh con
trời sinh tính” để ám chỉ tính chất tiền định về “số phận, tính cách” của con người.
Trong thực tiễn đời sống, chúng ta dễ nhận thấy rằng người Châu Âu da
trắng, mắt xanh, người Châu Phi da đen tóc xoăn thì con cái của họ khi mới sinh
cũng bố mẹ. Đây là sự truyền lại từ thế hệ cha mẹ đến con cái những đặc trưng
sinh học nhất định của nòi giống, được ghi lại trong một chương trình độc đáo
được gọi là gen. Gen là vật mang mã di truyền những đặc điểm sinh học của giống
loài trong quá trình tồn tại, phát triển theo con đường sinh học của giống loài trong
quá trình tồn tại, phát triển theo con đường tiến hóa tự nhiên.
Di truyền sự truyền lại từ thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc điểm cấu
trúc giải phẫu của thể; về đặc điểm sinh học riêng nhưn: màu da, màu tóc, vóc
dáng, thẻ trạng, các chất của hệ thần kinh,…trước hết nói đảm bảo cho loài
người tồn tại, thích ứng với những biến đổi của các điều kiện sinh tồn sau đó
giúp loài người phát triển. Di truyền những đặc điểm sinh học của cha mẹ truyền
lại cho con cái không phải chỉ biểu hiện một cách hiện hữu khi đứa trẻ mới sinh mà
có thể có những mầm mống, tư chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu
của một số năng khiếu như: Hội họa, thơ ca, toán học…hoặc thiểu năng trong
những vực cần thiết trong cuộc sống. Bẩm sinh là những thuộc tính, đặc điểm sinh
học có ngay khi đứa trẻ mới sinh.
Vai trò của di truyền, bẩm sinh
Trong thực tế, có một số gia đình liên tục xuất hiện những người tài, hoặc có
sự giống nhau đáng kể từ thế hệ trước với thế hệ sau. Những biểu hiện đó, phản
ánh phàn nào ảnh hưởng của di truyền bẩm sinh đến sự phát triển nhân cách cá
nhân. Di truyền bẩm sinh chỉ là tiền đề vật chất (mầm mống) của sự phát triển tâm
lí, nhân cách. Di truyền bẩm sinh nói lên chiều hướng, tốc độ, nhịp độ cua sự phát
triển. Những đứa trẻ có gen di truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc
lộ thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó. Tuy nhiên, di truyền bẩm sinh không phải
yếu tố quyết định tương lai của nhân cách đó. Nói cách khác, đứa trẻ muốn trở
thành một tài năng cần phải có môi trường thuận lợi, những tác động giáo dục
đúng hướng và hoạt động tích cực của cá nhân.
Mã di truyền mang bản chất, sự sống tự nhiên tích cực hoặc tiêu cực là
những mầm mống, tư chất tạo tiên đề vô cùng thuận lợi cho người đó hoạt động có
kết quả trong một lĩnh vực nào đó. Theo nghiên cứu của giáo sư, bác sĩ Evgineny
Ziliaev – Giám đốc trung tâm y học cao cấp (SEM) Nga và giáo sư Victor
Rogozkin – Giám đốc Viện Thể thao (IFIS) Nga thì: người có kiểu gen DD thích
hợp với các môn thể thao đòi hỏi sức mạnh tốc độ như điền kinh nặng, quyền anh,
vật, cử tạ…còn người có kiểu gen II thì thích hợp với các môn thể thao dẻo dai,
bền bỉ như trượt tuyết, chạy cự li trung bình…Tuy nhiên có phát triển thành năng
lực, phẩm chất, tài năng hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố môi trường,
hoàn cảnh sống và sự giáo dục, tự giáo dục.
Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta cần quan tâm đúng mức yếu tố
di truyền, bẩm sinh đó là những mầm mống, tư chất sinh học có vai trò tiền đề phát
triển một số phẩm chất, năng lực của nhân cách. Tất nhiên, nếu chúng ta quá coi
nhẹ hoặc tuyệt đối hóa, đánh giá quá cao nhân tố di truyền sinh học thì sẽ phạm sai
lầm khi phân tích, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò, tác động của môi trường, hoàn
cảnh và của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
2. Vai trò của yếu tố môi trường
Tục ngữ Việt Nam có câu “Gần mực thì đen - Gần đèn thì rạng”, “Ở bầu thì
tròn - Ở ống thì dài”. Nhà giáo dục Trung Hoa cổ đại Mạnh Tử cũng khẳng định
“Nơi ở làm thay đổi tính nết, việc ăn uống làm thay đổi cơ thể. Nơi ở quan trọng
lắm thay”. Rõ ràng quan niệm dân gian cũng như tư tưởng của nhiều nhà giáo dục
từ xa xưa đã khẳng định “nơi ở” hiểu theo nghĩa rộng là môi trường, hoàn cảnh có
tác động hầu như quyết định đến việc hình thành và phát triển nhân cách.
Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội hiệu hữu ảnh hưởng lớn
lao đến đời sống và nhân cách con người. Môi trường bao quanh con người gồm
môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên gồm khí hậu, đất
nước, sinh thái và môi trường xã hội, đó là các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa…
Hoàn cảnh được hiểu một yếu tố hoặc một môi trường nhỏ hợp thành của
môi trường lớn, môi trường nhỏ tác động trực tiếp, mạnh mẽ, quyết liệt trong một
thời gian, không gian nhất định tạo nên hướng hình thành và phát triển nhân cách.
Vai trò của môi trường
Mỗi một người ngay từ khi sinh ra đã phải sống trong một môi trường, hoàn
cảnh nhất định, có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát triển thể
chất, tinh thần của cá nhân. Tuy nhiên chính nhờ môi trường xã hội loài người mà
mỗi đứa trẻ mới hình thành phát triển các nét nhân cách người.
Môi trường tự nhiên và xã hội với các điều kiện kinh tế, thể chế chính trị,
chuẩn mực đạo đức… đã tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển
động cơ, mục đích, quan điểm tình cảm, nhu cầu hứng thú…chiều hướng phát triển
của cá nhân. Thông qua hoạt động và giao lưu trong môi trường mà cá nhân chiếm
lĩnh được các kinh nghiệm, giá trị xã hội loài người, từng bước điều chỉnh, hoàn
thiện nhân cách của mình.
Tác động của môi trường đối với sự phát triển của cá nhân vô cùng mạnh
mẽ, phức tạp, có thể cùng chiều hay ngược chiều, có thể tốt hoặc xấu, chủ yếu theo
con đường tự phát. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của môi trường bị “khúc xạ” bởi
yếu yếu tố giáo dục, bởi trình độ nhận thức, niềm tin, quan điểm, ý chí, xu hướng
và năng lực của cá nhân. Vì vậy C Mác đã khẳng định: “Hoàn cảnh sáng tạo ra con
người, trong một mức độ con người lại sáng tạo ra hoàn cảnh”
Như vậy trong sự tác động qua lại giữa nhân cách và môi trường cần chú ý
đến hai mặt của vấn đề:
- Thứ nhất, tính chất tác động của môi trường, hoàn cảnh vào quá trình phát triển nhân cách
- Thứ hai là tính tích cực của nhân cách tác động vào môi trường, hoàn cảnh
nhằm điều chỉnh, cải tạo nó phục vụ nhu cầu, lợi ích của mình.
Có thể khẳng định ảnh hưởng to lớn của yếu tố môi trường đến quá trình
hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên nếu tuyệt đối hóa vai trò của môi
trường là phủ nhận vai trò ý thức, sáng tạo của chủ thể, đó là sai lầm về nhận thức
luận. Ngược lại, việc hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của yếu tố môi trường cũng
phạm sai lầm của thuyết “Giáo dục vạn năng”. Do đó phải đặt quá trình giáo dục,
quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong mối quan hệ tương tác giữa các
yếu tố để có thể đánh giá đúng đắn.
3. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách
Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo
dục) và đối tượng (người được giáo dục) nhằm hình thành và phát triển nhân cách
theo những yêu cầu của xã hội. Đây là quá trình tác động tự giác có mục đích, có
nội dung, phương pháp, phương tiện…được lựa chọn, tổ chức một cách khoa học
giúp cho mọi cá nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị xã hội
của nhân loại bằng con đường ngắn nhất. Như vậy, đặc trưng của quá trình giáo dục:
- Tác động tự giác được điều khiển bởi cơ quan, lực lượng chuyên trách,
khác với tác động tự phát, tản mạn của môi trường
- Có mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện chương trình…được tổ
chức, lựa chọn khoa học, phù hợp với mọi đối tượng, giúp họ chiếm lĩnh được
những kinh nghiệm giá trị xã hội của nhân loại bằng con đường ngắn nhất
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành, phát triển nhân
cách. Bởi vì nó được thực hiện theo định hướng thống nhất vì mục đích nhân cách
lí tưởng mà xã hội đang yêu cầu. Ba lực lượng giáo dục là gia đình, nhà trường và
đoàn thể xã hội, trong đó nhà trường có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong việc
thực hiện mục đích, nội dung giáo dục bằng các phương pháp khoa học có tác động
mạnh nhất giúp cho học sinh hình thành năng lực ngăn ngừa, đấu tranh những ảnh
hưởng tiêu cực từ môi trường và di truyền bẩm sinh. Giáo dục gia đình được tiến
hành sớm nhất từ khi trẻ cất tiếng khóc chào đời, tạo nên những phẩm chất nhân
cách đầu tiên rất quan trọng làm nền tảng cho giáo dục nhà trường. Giáo dục xã hội
qua các đoàn thể, các tổ chức nhà nước với thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa
đạo đức, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách toàn tiện theo sự phát triển xã hội.
Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh mà còn tổ chức chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá
trình đó đến kết quả mong muốn.
Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những
tiến bộ mà các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo
ra được do tác động tự phát.
Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành vi phẩm chất lệch
lạc không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội. Đó chính là kết quả quan
trọng của giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc vi phạm pháp luật.
Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc
thiểu năng do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ có sự can thiệp
sớm, nhờ có phương pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của
phương pháp khoa học có thể giúp cho người khuyết tật, thiểu năng phục hồi một
phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù trừ những
chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng.
Để phát huy vai trò chủ đạo của mình, giáo dục cần tích cực góp phần cải
tạo môi trường sống (gia đình, nhà trường, xã hội) làm cho nó ngày càng lành
mạnh, văn minh, thống nhất tác động của các lực lượng giáo dục theo mục tiêu
chung phát triển nhân cách. Đồng thời, giáo dục phảt phát hiện và phát triển những
tiềm năng bên trong mỗi người học (bẩm sinh, di truyền, năng khiếu, tố chất) biến
chúng trở thành hiện thực. Đặc biệt tránh tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, coi
“giáo dục là vạn năng”.
4. Vai trò của hoạt động nhân đối với sự phát triển nhân cách
Hoạt động của cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở, là nhân tố
quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách. Hoạt động của cá nhân xuất phát từ
mục đích và nhu cầu của cá nhân, nhu cầu luôn thúc đẩy cá nhân hoạt động và
ngược lại hoạt động lại là cơ sở, là điều kiện để nảy sinh nhu cầu.
Hoạt động là quá trình con người thực hiện mối quan hệ với tự nhiên, với xã
hội, với người khác và bản thân. Thông qua hoạt động, con người chuyển hóa năng
lực, phẩm chất tâm lí của bản thân thành sản phẩm thực tế, ngược lại những sản
phẩm thực tế đó làm phong phú, hoàn thiện them vốn liếng tinh thần của chủ thể.
Thông qua hoạt động con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến nền văn
hóa của loài người thành vốn riêng của mình, vận dụng chúng vào cuộc sống, làm
cho nhân cách ngày càng phát triển. Hoạt động giúp cho cá nhân hiện thực hóa khả
năng về tố chất thành hiện thực, đồng thời nó là nguồn quan trọng nhất cung cấp
cho cá nhân những kinh nghiệm xã hội.
Thông qua hoạt động con người có thể cải tạo những nét tâm lí và nét nhân
cách đang bị suy thoái, hoàn thiện chúng theo chuẩn mực đạo đức của xã hội. Mỗi
con người là sản phẩm hoạt động của chính mình, đó chính là con đường để thành
đạt, để vươn tới lí tưởng.
Nhiệm vụ vô cùng quan trọng của giáo dục là phải giúp người học được giáo
dục thông qua hoạt động. Từ đó biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
để hoàn thiện nhân cách của mình dù phải sống trong những môi trường, hoàn cảnh phức tạp
Hoạt động của cá nhân có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách. Muốn phát huy vai trò của hoạt động cá nhân đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách, nhà giáo dục cần:
- Nhà giáo dục phải am hiểu hoạt động chủ đạo của từng giai đoạn lứa tuổi
từ đó xây dựng những chương trình hoạt động cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh
- Tổ chức học sinh tham gia các hoạt động đa dạng về nội dung, phương
pháp, hình thức, coi hoạt động là phương tiện giáo dục cơ bản
BÀI 3. MỤC ĐÍCH, NGUYÊN GIÁO DỤC
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
I. Mục đích, mục tiêu giáo dục
1. Mục đích giáo dục phạm trù bản của giáo dục học
Mục đích của một hoạt động nói chung là kết quả dự kiến mà mỗi người,
mỗi hệ thống cần phấn đấu để đạt được. Mục đích có tác dụng định hướng, chỉ đạo
toàn bộ quá trình hoạt động. Chất lương, hiệu quả của một hoạt động phụ thuộc
vào việc xác định mục đích ban đầu. Vì vậy, mục đích là một trong những phạm
trù cơ bản nhất được quan tâm nhất trong khoa học và thực tiễn.
Trong giáo dục, vấn đề mục đích, mục tiêu được các nhà chính trị xã hội,
các nhà lí luận giáo dục hết sức quan tâm, vì nó là mô hình nhân cách mà ta cần
đào tạo, nên liên quan đến vận mệnh, đến sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc. Nó thường được xác định trong các cương lĩnh, các chương trình kế hoạch
quốc gia, các tài liệu sư phạm.
2. Khái niệm mục đích, mục tiêu giáo dục
Mục đích giáo dục mong muốn, dự kiến về kết quả cuối cùng cần đạt
được của một quá trình giáo dục nhất định. Những mong muốn này tính chất
tưởng, cái con người đang hướng tới, đang phấn đấu để đạt được. tác
dụng định hướng, điều khiển hoạt động giáo dục trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Các loại mục đích giáo dục: khi xây dựng mục đích giáo dục, người ta
thường chú ý đến hai loại:
- Mục đích hệ thông: là kết quả dự kiện mà hệ thống giáo dục cần đạt được sau
một giai đoạn nhất định. Các nhà quản lí thường quan tâm đến mục đích hệ thống.
Điều 61, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
“1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục;
chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước
không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại
học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý.
3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử
dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được
học văn hoá và học nghề.”
- Mục đích nhân cách: thường được các nhà giáo quan tâm tới, bao gồm:
+ Mục đích nhân cách cá nhân là mô hình con người, mà mỗi cá nhân cần
phấn đấu để đạt được.
+ Mục đích nhân cách xã hội là mô hình con người, mà xã hội cần đào tạo.
Điều 2, Luật giáo dục 2005:
“…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
• Bốn trụ cột giáo dục do UNESCO đề xuất năm 1996:
- Học để biết (Learn to know)
- Học để làm (Learn to do)
- Học để chung sống (Learn to live together)
- Học để khẳng định bản thân (Learn to be).
Ngoài thuật ngữ mục đích giáo dục thường dùng trong các giáo trình giáo
dục học, trong các đề án, kế hoạch giáo dục ta thường gặp thuật ngữ mục tiêu giáo
dục cũng dùng để chỉ những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục
trong một thời gian nhất định.
Mục tiêu giáo dục sự vận dụng, cụ thể hóa mục đích giáo dục trong từng
cấp học, ngành học, bài học…Ta có thể phân biệt thuật ngữ mục đích và mục tiêu
qua một số dấu hiệu như sau: Mục đích Mục tiêu
1. Có tính chất định hướng, lí tưởng
Có tính cụ thể với hành động và phương tiện xác định
2. Thời gian thực hiện dài
2. Thời gian thực hiện ngắn, xác định.
3. Tính rộng lớn, khái quát của vấn đề
3. Tính xác định của vấn đề
4. Khó đo được kết quả tại một thời 4. Có thể đo được kết quả ở một thời điểm nhất định điểm cụ thể
5. Cấu trúc phức tạp, được tạo thành do 5. là một bộ phận của mục đích
nhiều mục tiêu kết hợp lại
Hai mô hình này cần thống nhất với nhau thì mới tạo ra động lực lành mạnh
trong quá trình giáo dục. Trong trường hợp ngược lại, động cơ học tập sẽ bị tước
đoạt, đó là nguyên nhân quan trọng làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục.
Cấu trúc của mục đích, mục tiêu giáo dục:
- Có thể nói mục tiêu là một bộ phận của mục đích, là mục đích gần. Nói
cách khác cần phải thực hiện nhiều mục tiêu thì mới đạt được mục đích
- Mục đích giáo dục có cấu trúc phức tạp, do nhiều mục tiêu tạo thành, Tuy
nhiên, mục đích không phải là tổ số các mục tiêu, không phải là phép cộng giản
đơn mà là một sự kết hợp có quy luật, điều đó cũng giống như gạch có thể xây
thành cung điện nguy nga, tòa nhà đồ sộ hay cái bếp con con đều do bàn tay của
người kiến trúc sư thiết kế. Như vậy việc nghiên cứu cấu trúc mục đích, mục tiêu
và quy luật chuyển hóa mục tiêu thành mục đích có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì
nó ảnh hưởng rất lớn tới kết quả đào tạo, nhưng tiếc rằng, vấn đề này còn chưa
được nghiên cứu ở mức độ cần thiết.
Trong số các mục đích giáo dục thì mục đích nhân cách xã hội thường được
nghiên cứu, trao đổi nhiều hơn cả. Đó là mô hình nhân cách mà xã hội cần đào tạo
và thường được xác định trong các cương lĩnh, các chương trình, kế hoạch quốc gia.
3. Mục đích giáo dục Việt Nam hiện nay
* Ơ cấp độ hội
Mục đích xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam để nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ
nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
xây dựng một hội công bằng, dân chủ văn minh
Mục đích giáo dục Việt Nam đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ nghề nghiệp, trung thành với
tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa hội; hình thành bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
bảo vệ Tổ quốc
* cấp độ hệ thống giáo dục
Mục đích giáo dục Việt Nam được cụ thể hóa thành các mục tiêu giáo dục
cụ thể cho từng bậc học, ngành học…Luật giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ như sau:
- Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.
- Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính
năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
+ Giáo dục trung học sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
+ Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có
những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy
năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
- Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp đào tạo người lao động kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp các trình độ khác nhau, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý
thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao
động khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - hội, củng
cố quốc phòng, an ninh.
- Mục tiêu của giáo dục đại học đào tạo người học phẩm chất chính trị, đạo
đức, ý thức phục vụ nhân dân, kiến thức năng lực thực hành nghề nghiệp
tương xứng với trình độ đào tạo, sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
II. Nguyên giáo dục
1. Khái niệm nguyên giáo dục
Theo nghĩa thông thường, nguyên lí là những luận điểm chung nhất, có tính
quy luật của một lí thuyết khoa học, có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong
lĩnh vực đó. Ta vẫn thường nói: nguyên lí vận hành hệ thống thiết bị, nguyên lí tổ chức xã hội…
Nguyên lí giáo dục là những luận điểm chung nhất của lí thuyết giáo dục, có
tính quy luật, được khái quát trên các căn cứ khoa học và thực tiễn giáo dục, có vai
trò định hướng, chỉ đạo các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Nguyên lí giáo dục là những luận điểm khái quát mang tầm tư tưởng và tính
quy luật của quá trình giáo dục (giáo dục nghĩa rộng) chỉ dẫn toàn bộ hệ thống giáo
dục và quá trình sư phạm tổng thể, trong đó có quá trình giáo dục và quá trình dạy
học (là những bộ phận cấu thành)
2. Nội dung nguyên giáo dục
Điều 3 của Luật Giáo dục của nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
được thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã ghi: “Hoạt động giáo dục phải được
thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội.”
Đây chính là một luận điểm giáo dục quan trọng của Đảng và Nhà nước ta,
là kim chỉ nam hướng dẫn toàn bộ các hoạt động giáo dục trong nhà trường và cả trong xã hội.
Nội dung của nguyên lí này gồm bốn điểm quan trọng cần lưu ý: - Học đi đôi với hành
- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất
- Lí luận gắn với thực tiễn
- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
a. Học đi đôi với hành là một tư tưởng giáo dục vừa truyền thống vừa hiện
đại, vừa có tính khoa học vừa có giá trị thực tiễn. Bản chất của tư tưởng này như sau:
+ Học sinh đến trường để học và hành. Học là quá trình nhận thức chân lí khoa
học. Hành là luyện tập để hình thành các kĩ năng vận dụng những tri thức, kĩ năng
lao động và hoạt động, biến kiến thức đã tiếp thu thành vốn sống, năng lực hoạt động của cá nhân.
+ Học đi đôi với hành là phương pháp học tập có hiệu quả, bởi vừa học, vừa làm
hỗ trợ cho nhau rất nhiều trong quá trình học tập. Trong quá trình học tập nếu biết
vận dụng kiến thức đã học để thực hành sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức, làm giảm
lí thuyết “suông” và lúc đó thực hành không phải mò mẫm mà được dựa trên một
cơ sở lí thuyết khoa học vững chắc. Kết quả là kiến thức trở nên sâu sắc và hành
động trở nên sáng tạo, tinh thông.
+ Trong học tập cần sử dụng nhiều mức độ thực hành và phải gắn với nội dung các
môn học, với quy trình và mục tiêu đào tạo. Các trường phổ thông có hệ thống các
bài tập thực hành môn học, có các giờ thực hành, thí nghiệm trong các phòng thí
nghiệm, các vườn thí nghiệm. Các trường dạy nghề có xưởng thực hành chuyên
môn, các trường đại học có các hoạt động thực hành nghiên cứu khoa học…Các
loại thực hành có thể tiến hành trong trường,ngoài trường, các mức độ thực hành
đều làm tăng chất lượng và hiệu quả học tập của học sinh .
b. Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất tưởng giáo dục của nhà
trường hiện đại, ta có thể nhạn thấy như sau:
+ Học sinh hôm nay là những người lao động trong tương lai, vì vậy nhà trường
phải chuẩn bị cho các em cả tâm lí, ý thức, kiên thức và kĩ năng sẵn sang bước vào
cuộc sống lao động. Các môn học như thủ công, công nghệ, giáo dục hướng nghiệp
được đưa vào chương trình dạy học là vì mục đích đó. Các trường dạy nghề, giáo
dục chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học chính là dạy các nghiệp vụ nghề nghiệp.
+ Lao động sản xuất vừa là môi trường vừa là phương tiện để giáo dục con người.
Gia đình và nhà trường tổ chức học sinh lao động tự phục vụ và tham gia lao động
công ích xã hội để giáo dục ý thức và kĩ năng lao động cho học sinh.
+ Để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, các trường dạy nghề, trường trung cấp
trung học chuyên nghiệp và đại học thường xuyên đưa sinh viên tới các nhà máy,
xí nghiệp để thực tập sản xuất, đó chính là phương thức tổ chức dạy học trong lao
động và bằng lao động.
c. Lý luận gắn với thực tiễn đó là một yêu cầu quan trọng đối với quá trình
giáo dục đào tạo trong nhà trường Việt Nam
+ Chúng ta đều biết, mục đích giáo dục là phục vụ sự phát triển của xã hội.
Nội dung giáo dục phải phản ánh, cập nhật những thành tựu phát triển của xã hội.
Trong khi giảng dạy, giáo viên thường xuyên liên hệ với thực tiễn sinh động của
cuộc sống. với những diễn biến sôi động hàng ngày, hàng giờ trong nước và trên
thế giới, đây là những ví dụ minh họa vô cùng quan trọng để học sinh nắm vững lí
luận và hiểu rõ thực tiễn.
+ Học tập có liên hệ với thực tiễn làm cho lí luận không còn khô khan, khó
tiếp thu mà trở nên sinh động và ngược lại, các sự kiện, hiện tượng thực tiễn được
phân tích, được soi sáng bằng những lí luận khoa học vững chắc.
d. Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình giáo dục hội
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Con người sống
không đơn độc mà luôn có gia đình, bạn bè và cả cộng đồng xã hội. Trong sự phát
triển cá nhân, con người bị rất nhiều yếu tố tác động, do vậy quá trình giáo dục sẽ
đạt được hiểu quả nếu ta biết phối hợp giữa các lực lượng giáo dục.
Giáo dục là quá trình có nhiều lực lượng tham gia, trong đó có ba lực lượng
quan trọng nhất: gia đình, nhà trường, và các đoàn thể xã hội. Ba lực lượng giáo
dục này đều có chung một mục đích là hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.
Gia đình là nơi sinh ra, nơi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em. Giáo dục gia
đình dựa trên tình cảm huyết thống, các thành viên gắn bó với nhau trong suốt cuộc
đời và như vậy giáo dục gia đình trở nên bền vững nhất. Gia đình sống có nề nếp,
có truyền thống gọi là gia phong. Gia đình hóa thuận, cha mẹ gương mẫu, lao động
sáng tạo, có phương pháp giáo dục tốt, đó là gia đình có văn hóa. Nhiều công trình
nghiên cứu đã khẳng định giáo dục gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với thế hệ trẻ.
Giáo dục xã hội là giáo dục trong môi trường nơi trẻ em sinh sống. Mỗi địa
phương có trình độ phát triển đặc thù, có truyền thống và bản sắc văn hóa riêng.
Địa phương có phong trào hiếu học, có nhiều người thành đạt, có bạn bè tốt là môi
trường ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của trẻ em.
Giáo dục xã hội còn bao hàm cả giáo dục của các đoàn thể: Sao Nhi đồng,
Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên là các tổ chức quần chúng có tổ
chức, có tôn chỉ mục đích phù hợp với mục đích giáo dục của Nhà nước và nhà
trường, cũng như đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi cho nên tác dụng giáo dục rất lớn
đối với thế hệ trẻ.
Tuy nhiên quá trình giáo dục phải lấy nhà trường làm trung tâm. Giáo dục
nhà trường có mục đích và nội dung giao dục toàn diện, dựa trên cơ sở khoa học và
thực tiễn, có kế hoạch với đầy đủ các phương tiện đóng vai trò chủ đạo trong toàn
bộ quá trình giáo dục trẻ em.
Nhà trương phải chịu trách nhiệm chính trong sự phối hợp với tất cả lực lượng giáo dục .
III. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
1. Khái niệm hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước toàn bộ các quan chuyên
trách việc giáo dục học tập cho thanh thiếu niên công dân của nước đó.
Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm hai hệ thống lớn: hệ thống nhà trường
hệ thống các quan giáo dục ngoài nhà trường. Hệ thống nhà trường được
chia thành từng ngành học, từng bậc học, từng cấp học, từng loại trường.
Nhà trường là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà
trường là cơ quan Nhà nước chuyên trách việc giáo dục đào tạo con người. Với nội
dung giáo dục được chọn lọc cơ bản và sắp xếp có hệ thống, với phương pháp khoa
học, với những phương tiện và điều kiện giáo dục tốt, với những nhà sư phạm có
học vấn rộng, có kinh nghiệm nghề nghiệp và có nhân cách chuẩn mực, với quá
trình giáo dục được tổ chức một cách khoa học, chặt chẽ, liên tục, trong một thời
gian dài, nhà trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển nhân cách.
Hệ thống các quan giáo dục ngoài nhà trường cũng là những tổ chức do
Nhà nước quản lý hoặc do các đoàn thể xã hội trực tiếp phụ trách, bao gồm các nhà
văn hóa, các câu lạc bộ, các thư viện, các nhà hát, các rạp chiếu phim, các trạm kĩ
thuật…dành riêng cho thanh thiếu niên để học tập, vui chơi – giải trí, bồi dưỡng
chính trị và đạo đức, phát triển năng khiếu.
2. Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Theo Luật giáo dục Việt Nam 2005, cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam như sau:
- Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
+ Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
+ Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
+ Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
+ Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo
trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
a. Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba
tháng tuổi đến sáu tuổi.
Giáo dục mầm non có nhiệm vụ phải đảm bảo hài hòa giữa nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí của trẻ em, giúp trẻ em
phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh nhanh nhẹn, biết kinh trọng, yêu mến, lễ phép
với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên, yêu quý anh, chị, em bạn bè,
thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học.
Phương pháp chủ yếu trong giáo dục mầm non là thông qua việc tổ chức các
hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ.
Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:
- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ từ ba tháng đến ba tuổi
- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi
- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và trường mẫu giáo, nhận trẻ
em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
b. Giáo dục phổ thông
Giáo dục phổ thông gồm:
- Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu đến mười một
tuổi, được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh
vào học lớp một là sáu tuổi.
- Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp
chín. Học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi
- Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến
lớp mười hai. Học sinh học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là 15 tuổi.
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những trường hợp có thể bắt đầu học ở
tuổi cao hơn hay thấp hơn tuổi quy định đã nói.
Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn
diện, hướng nghiệp và hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh
lí lứa tuổi của học sinh đáp ứng mục tiêu giáo dục giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học
Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có thể hiểu biết đơn giản, cần
thiết về tự nhiên, xã hội và con người, có kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và
tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về
hát, mùa, âm nhạc, mỹ thuật
Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở
tiếu học, bảo đảm về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học
xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết cần
thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp
Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã
học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông. Ngoài nội dung
chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng
nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển
năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông được thể hiện thành chương
trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo, huyện quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (gọi chung là cấp huyện) cấp bằng tốt nghiệp tiểu học
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
(gọi chung là cấp huyện) cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông.
c. Giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
- Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm đối với những người
đã hoàn thành Trung học cơ sở, từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt
nghiệp Trung học phổ thông.
- Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ
một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
- Trường trung cấp chuyên nghiệp
- Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề (gọi chung là sơ sở nghề)
Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc găn với cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác.
d. Giáo dục đại học
- Đào tạo trình độ cao đẳng, được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành
nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc tốt
nghiệp Trung cấp, từ một năm rưỡi đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp
trung cấp cùng chuyên ngành
- Đào tạo trình độ Đại học được thực hiện từ bố đến sáu năm học tùy theo ngành
nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc bằng tốt
nghiệp Trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm đối với người có bằng tốt nghiệp
Trung cấp chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng
tốt nghiệp Cao đẳng cùng chuyên ngành.
- Đào tạo trình độ Thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng Đại học
- Đào tạo trình độ Tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng
tốt nghiệp Đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng Thạc sĩ. Trong
trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ Tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Cơ sở giáo dục đại học bao gồm:
- Trường Cao đẳng đào tạo trình độ Cao đẳng
- Trường Đại học đào tạo trình độ Cao đẳng, trình độ Đại học, đào tạo trình độ
Thạc sĩ, trình độ Tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao
Điều 48 Chương III trong luật Giáo dục đã quy định nhà trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:
- Trường công lập do nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí
cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
- Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất và đảm bảo kinh phí hoạt động
- Trường Tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh
tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt
động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
e. Giáo dục thường xuyên (tên gọi giáo dục không chính quy)
Giáo dục thường xuyên là phương thức giáo dục mọi người vừa làm, vừa
học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng
cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống,
tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Nội dung giáo dục thường xuyên được thể hiện trong các chương trình sau đây:
- Chương trình xóa nạn mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ
- Chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kì, bồi dưỡng nâng cao trình
độ, cập nhật kiến thức, kĩ năng
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học
- Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân
theo hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học và học có hướng dẫn.
Nội dung giáo dục thường xuyên phải được thực hiện theo đúng quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Cơ sở giáo dục thường xuyên bao gồm:
- Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Các trường phổ thông, trường trung học chuyên nghiệp, cơ sở dạy nghề, trường
cao đẳng, đại học học qua mạng internet và thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng
Cơ sở giáo dục chính quy thực hiện các chương trình giáo dục theo phương
thức giáo dục không chính quy phải đảm bảo nhiệm vụ của mình, chỉ thực hiện các
chương trình đó khi đang được thực hiện ở hệ chính quy và được các cơ quan quản
lý Nhà nước về giáo dục có thẩm quyền cho phép.
Trung tâm giáo dục thương xuyên không thực hiện các chương trình giáo
dục để lấy bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp cao đẳng,
bằng tốt nghiệp đại học
Học viên học hết chương trình giáo dục nếu đủ điều kiện theo quy định của
Bộ Giáo dục - Đào tạo thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được cấp văn bằng tốt
nghiệp theo phương thức giáo dục không chính quy, trên văn bằng có ghi hình thức
học tập, nếu có đủ điều kiện theo quy định của kì thi tốt nghiệp hệ chính quy thì
được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp của hệ chính quy.
Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên cấp chứng chỉ giáo dục không chính quy.
PHẦN 2. LUẬN TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
CHƯƠNG 1. THUYẾT QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
BÀI 1. QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
I. Khái niệm quá trình dạy học
Quá trình được xem xét như một hệ thống toàn vẹn. Hệ thống toàn vẹn là
một hệ thống bao gồm những thành tố liên hệ tương tác với nhau tạo nên chất
lượng mới. Quá trình dạy học theo tiếp cận hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố
cấu trúc có quan hệ biện chứng với nhau. Trong hệ thống mối thành tố đều có chức
năng riêng và tuân theo chức năng chung của hệ, mỗi thành tố trong hệ thông vận
động theo quy luật riêng và vận động theo quy luật chung của hệ. Hệ thống bao giờ
cũng tồn tại trong một môi trường. Môi trường và các thành tố của hệ thống cũng
có sự tương tác lẫn nhau.
Khi xem xét quá trình dạy học ở một thời điểm nhất định, nó bao gồm những
thành tố như: Mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy
học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh... Mục đích dạy học là đơn đặt
hàng của xã hội đối với nhà sư phạm, mục đích dạy học định hướng cho các thành
tố khác trong quá trình dạy học, mục đích này được thực hiện hóa bằng nội dung
dạy học, người giáo viên với hoạt động dạy của mình, với những phương pháp,
phương tiện, hình thức tổ chức dạy học tác động đến động cơ của người học để
thúc đẩy người học tập với việc sử dụng những phương pháp học tập, phương tiện
và hình thức tổ chức hoạt động dạy của mình. Sự tác động lẫn nhau giữa hoạt động
dạy của giáo viên và hoạt động dạy của học sinh tạo nên kết quả dạy - học, nghĩa là
làm biến đổi nhân cách của người học. Hoạt động dạy của giáo viên cũng phụ
thuộc vào việc dạy cái gì, nghĩa là nội dung dạy học thể hiện mục đích sư phạm
của hoạt động dạy. Hoạt động học của học sinh cũng vậy, nó bị quy định bởi động
cơ, nội dung dạy học, vai trò cùa môi trường xã hội phản ánh trong đơn đặt hàng
của xã hội, trong hoạt động của giáo viên.
Môi trường của quá trình dạy học bao gồm môi trường bên ngoài, môi
trường vĩ mô, đó là sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, công nghệ,
chúng phản ánh tới những thành tố cùa quả trình dạy học. Ngoài ra còn có môi
trường vi mô, đó là môi trường được tạo nên do sự tương tác giữa người giáo viên
và học sinh và giữa học sinh với nhau, cùng với việc vận dụng phương pháp,
phương tiện và hình thức tổ chức dạy học tác động vào nội dung dạy học, hướng
vào thực hiện mục đích dạy học. Môi trường tạo nên sự thuận lợi hay không thuận
lợi cho quá trình dạy học.
Quá trình dạy học sự thống nhất biện chứng của hai thành tố bản
trong qúa trình dạy học - hoạt động dạy hoạt động học.
Dạy và học là hai hoạt động tác động và phối hợp với nhau, nếu thiếu một
trong hai hoạt động đó thì quá trình dạy học không diễn ra. Chẳng hạn, nếu thiếu
hoạt động dạy của giáo viên thì quá trình đó chuyển thành quá trình tự học của
nguời học. Còn thiếu hoạt động học của người học thì hoạt động dạy không diễn
ra, do đó không diễn ra quá trình dạy học.Quá trình dạy và học liên hệ mật thiết với
nhau, diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động
dạy và hoạt động học, từ đó sẽ tạo nên hiệu quả cho quá trình dạy học.
Hoạt động dạy của người giáo viên: Đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều
khiển hoạt động nhận thức - học tập của của hoc sinh, giúp học sinh tìm tòi khám
phá trí thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân. Hoạt động
lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên đối với hoạt động nhận thức -
học tập của người học sinh thể hiện như sau:
- Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức - học tập.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động tương ứng của người học.
- Tổ chức thực hiện hoạt động dạy của mình với hoạt động nhận thức - học
tập tương ứng của người học.
- Kích thích tính tự giác, tính tích cực, độc lập, chủ động sáng tạo của người
học bằng cách tạo nên nhu cầu, động cơ, hứng thú, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu
biết của người học, làm cho họ ý thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ học tập của mình.
- Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, qua đó mà có
những biện pháp điều chỉnh. sửa chữa kịp thời nhừng thiếu sót, sai lầm của họ
cũng như trong công tác giảng dạy của mình.
Hoạt động học của học sinh: Là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ
chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thu nhận, xử lí
và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể
hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.
Tiến hành thực hiện những hành động, thao tác nhận - học tập nhằm giải
quyết những nhiệm vụ học tập được đề ra.
- Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác động kiểm
tra, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá cùa bản thân.
- Phân tích những kết qủa hoạt động nhận thức - học tập duới tác dộng của
giáo viên, qua dó mà cải tiến hoạt động học tập.
Trong trường hợp thứ hai, quá trình hoạt động độc lập, học tập thiếu sự lãnh
đạo trực tiếp của giáo viên thì điều đó được thể hiện như sau:
- Tự lập kế hoạch hoặc cụ thể hoá các nhiệm vụ học tập của mình.
- Tự tổ chức hoạt động học tập bao gồm việc ỉựa chọn các phương pháp và phương tiện của mình.
- Tự kiểm tra, tự đánh giá và qua đó tự điều chỉnh trong tiến trình hoạt động học tập của mình.
- Tự phân tích các kết quả hoạt động nhận thức - học tập mà cải tiến phương
pháp học tập của mình.
Hoạt động dạy học đạt được hiệu quả tối ưu trong trong trường hợp có sự
thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học của học sinh, trong đó
sự nỗ lực của giáo viên và của học sinh trùng với nhau tạo nên sự cộng hưởng của
chính quá trình dạy học đó.
Học sinh tồn tại vừa là đối tượng điều khiển của giáo viên (đối tượng, khách
thể của hoạt động dạy), với tư cách này học sinh chịu tác động sư phạm; vừa là chủ
thể nhận thức, với tư cách này, quá trình nhận thức của học sinh là quá trình phản
ánh thế giới khách quan vào ý thức.
Hai mặt hoạt động dạy và hoạt động học phối hợp chặt chẽ với nhau, kết quả
của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và ngược lại.
Mối quan hệ thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học như sau:
- Giáo viên đưa ra nhiệm vụ, yêu cầu nhận thức, những nhiệm vụ, yêu cầu
này có tác dụng đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích tư duy của học
sinh, học sinh tự đưa ra nhiệm vụ học tập cho mình.
- Học sinh ý thức được nhiệm vụ cần giải quyết, có nhu cầu giải quyết
nhiệm vụ, biến các nhiệm vụ khách quan thành yêu cầu chủ quan, giải quyết nhiệm
vụ dưới sự chỉ đạo của giáo viên ở các mức độ khác nhau.
- Giáo viên thu các tín hiệu ngược từ học sinh để giúp cho học sinh điều
chỉnh hoạt động học, đồng thời giúp cho giáo viên tự điều chỉnh hoạt động dạy của
mình. Học sinh cũng thu tín hiệu ngược (tín hiệu ngược trong) để tự phát hiện, tự
đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình.
- Trên cơ sở xử lý những tín hiệu ngược, giáo viên đưa yêu cầu mới, học
sinh cũng đưa yêu cầu cho bản thân, giúp học sinh hoàn thành những nhiệm vụ học tập nhất định.
- Giáo viên phân tích đánh giá kết quả học tập của học sinh và của mình.
Để phát triển tư duy sáng tạo, các nhà tâm lí học cũng đã chỉ ra rằng năng
lực tư duy sáng tạo không chỉ là lĩnh hội được một khối lượng tri thức mà còn cả
chất lượng tri thức và đặc biệt là cấu trúc quá trình tư duy, hệ thống những thao tác
tư duy và những hành trang trí tuệ mà người học nắm vững được.
Ngoài ra, cùng với sự bùng nổ tri thức cũng diễn ra sự lão hóa tri thức với
tốc độ rất nhanh. Do vậy để tránh được sự lạc hậu, mỗi người cần phải học tập liên
tục, học tập suốt đời. Vì vậy quá trình dạy học không chỉ dạy cho người học lĩnh
hội tri thức mà cần phải dạy cho họ học cách học một cách sáng tạo.
Hiểu hoạt động học như trên không thể không nhận thấy vai trò của người
học đã được tăng cường, họ không chỉ thụ động tiếp thu những điều giáo viên
truyền đạt mà còn là chủ thể của hoạt động nhận thức - học tập. Vai trò của người
giáo viên cũng hoàn toàn thay đổi, trong quá trình dạy học người giáo viên đóng
vai trò như người tổ chức hoạt động nhận thức độc lập của người học, làm cho
người học phát huy tiềm năng của bản thân và học một cách sáng tạo. Chính điều
này là cơ sở chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục nói chung và dạy học nói riêng.
Quá trình dạy học một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển
của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
II. Bản chất của quá trình dạy học
Như trên đã trình bày, quá trình dạy học bao gồm quá trình dạy và quá trình
học.Hoạt động học của học sinh có phải là hoạt động nhận thức?Nhận thức là sự
phản ánh thế giới khách quan vào não người - đó là sự phản ánh tâm lí của con
người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng.Sự học tập của học sinh cũng là
quá trình như vậy. Sự phản ánh đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà
mức độ cao nhất của tính chất cải tạo đó là sự sáng tạo. Sự phản ánh đó không phải
thụ động như chiếc gương mà bao giờ cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của
mỗi người như thông qua tri thức, kinh nghiệm nhu cầu hứng thú... của chủ thể
nhận thức. Sự phản ánh đó có tính tích cực thể hiện ở chỗ nó được thực hiện trong
tiến trình hoạt động phân tích - tổng hợp của não người và có tính lựa chọn.Trong
vô số những sự vật và quá trình của hiện thực khách quan, chủ thể tích cực lựa
chọn những cái trở thành đối tượng phản ánh của họ.Vì vậy, với tư cách là một
thực thể xã hội có ý thức, học sinh có khả năng phản ánh một cách khách quan về
nội dung và chủ quan về hình thức, nghĩa là về nội dung học sinh có khả năng phản
ánh đúng bản chất và những quy luật của thế giới khách quan, còn về hình thức
mỗi học sinh có phương pháp phản ánh riêng của mình, có cách hình thành khái
niệm, xây dựng cấu trúc lôgic riêng của mình. Vì vậy, quá trình học tập của học
sinh cũng diễn theo công thức nổi tiếng của V. I. Lênin về quá trình nhận thức: “Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó
là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan”.
Toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của học sinh đều thể
hiện theo công thức đó; song, trong từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điểm xuất phát
trong quá trình nhận thức mà có thể hoặc đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu
tượng đến cụ thể, từ đơn nhất đến khái quát hoặc từ khái quát đến đơn nhất.
Trong thực tiễn dạy học, do không hiểu đúng công thức đó đã dẫn tới cách
xây dựng nội dung và sử dụng phương pháp dạy học không đúng. Thứ nhất cho
rằng bản chất của quá trình dày học là tạo nên những điều kiện đảm bảo thường
xuyên tính trực quan sinh động, nhận thức cảm tính trực tiếp, vì vậy, khi lĩnh hội
một khái niệm mới nào cũng phải bắt đầu bằng những cảm giác trực tiếp. Từ đó
quá đề cao vai trò của tính trực quan, tư duy hình ảnh cụ thể mà xem nhẹ vai trò tư
duy lôgíc, tư duy khái quát, trừu tượng.Thứ hai là vận dụng những phạm trù tổng
quát của lí thuyết nhận thức vào quá trình dạy học đã dẫn tới thay thế việc xem xét
nhận thức cá nhân bằng nhận thức xã hội. Họ đã quên mất luận điểm rất quan trọng
của C. Mác, rằng không phải xã hội nhận thức mà là cá nhân, do đó đã thiếu quan
tâm đến hoạt động nghiên cứu của học sinh trong qúa trình học tập.
Trong dạy học, quá trình nhận thức của học sinh thể hiện tính độc đáo:
Quá trình nhận thức của học sinh không phải là qúa trình tìm ra cái mới cho
nhân loại mà chủ yếu là sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra, nên họ
nhận thức những điều rút ra từ kho tàng tri thức chung của loài người, đối với bản
thân họ còn là mới mẻ.
Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm,
thử và sai như quá trình nhận thức nói chung của loài người, mà diễn ra theo con
đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình, nội dung dạy
học gia công sư phạm. Chính vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh có thể
lĩnh hội khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi.
Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình
dạy học: Lĩnh hội tri thức mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của bản thân.
Thông qua hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học, cần
hình thành ở học sinh thế giới quan, động cơ, các phẩm chất của nhân cách phù
hợp với chuẩn mực xã hội.
Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò
chủ đạo của giáo viên (lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) cùng với những điều kiện sư phạm nhất định.
Bản chất của quá trình dạy học quá trình nhận thức độc đáo của học
sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên.
Quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính độc đáo đó trong quá trình nhận
thức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người
với quá trình nhận thức của người học sinh. Song, không vì quá coi trọng tính độc
đáo mà thiếu quan tâm đến việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm hiểu và tập tham
gia các hoạt động tìm tòi khám phá khoa học vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị
cho họ tự khai thác tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học trong tương lai.
III. Nhiệm vụ của dạy học
1. Cơ sở để xác định các nhiệm vụ dạy học
Nhiệm vụ dạy học được đề ra dựa trên những cơ sở chủ yếu sau đây: - Mục tiêu đào tạo
- Sự tiến bộ khoa học và công nghệ
- Đặc điểm tâm - sinh lí của học sinh
- Đặc điểm hoạt động dạy học của nhà trường
2. Nhiệm vụ dạy học
Dạy học có ba nhiệm vụ sau:
a. Nhiệm vụ 1, Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ
thông bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, hội -
nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống năng, xảo tương ứng
Để tồn tại và phát triển, loài người đã không ngừng đi sâu khám phá những
bí mật của thế giới khách quan để nhận thức, cải tạo nó phục vụ cho lợi ích của con
người. Trong quá trình đó loài người tích luỹ và khái quát hoá những kinh nghiệm
xã hội dưới dạng các sự kiện khoa học, khái niệm, định luật, định lí, tư tưởng khoa
học, học thuyết mà được gọi là những tri thức khoa học. Những tri thức này vô
cùng lớn, mỗi một con người trong suốt cuộc đời của mình không sao có thể nắm
hết được.Vì vậy, nhiệm vụ của trường phổ thông là giúp học sinh nắm vững những
tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn đất nước.Nắm vững tri
thức có nghĩa là hiểu, nhớ và vận dụng những tri thức đó vào trong hoàn cảnh thực
tiễn đã biết hoặc trong hoàn cảnh mới.
Tri thức phổ thông cơ bản là những tri thức đã được lựa chọn và xây dựng từ
các lĩnh vực khoa học khác nhau. Đó là những tri thức tối thiểu nhất, cần thiết nhất,
làm nền tảng giúp học sinh có thể tiếp tục học lên ở các bậc học cao hơn, ở các
trường dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống tự lập, trực tiếp tham lao động sản xuất
và tham gia các công tác xã hội, có cuộc sống tinh thần phong phú. Những tri thức
cơ bản này được biến đổi theo những biến đổi của yêu cầu xã hội.
Những tri thức cơ bản cần cung cấp cho học sinh phải là những tri thức hiện
đại, đó là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của văn hoá.khoa học
công nghệ phù hợp với chân lí khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Những tri thức đó phải phù hợp vối thực tiễn của đất nước cũng như phù hợp
với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh, đảm bảo được
tính hệ thống, tính lôgíc khoa học và mối liên hệ chặt chẽ giữa các môn học.
Trong quá trình lĩnh hội những tri thức đó hình thành cho học sinh hệ thống
kĩ năng, kĩ xảo nhất định tương ứng với nội dung môn học, đặc biệt những kĩ năng,
kĩ xảo có liên quan đến hoạt động nhận thức - học tập và tập dượt nghiên cứu khoa
học ở mức độ thấp nhằm giúp cho các em không những nắm vững tri thức mà còn
biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo chúng trong các tình huống khác nhau. Kĩ năng
của học sinh phải được diễn ra theo các mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ nhận biết tái hiện đến kĩ năng sáng tạo.
Các nhà tương lai học cho rằng, muốn nhập vào xã hội tương lai của thế kỉ
XXI, thếhệ trẻ cần được chuẩn bị thật tốt về mặt học vấn phổ thông mà cốt lõi là hệ
thống thái độ, tri thức và kĩ năng, đặc biệt là các kì năng cơ bản sau:
- Kĩ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội;
- Kĩ năng làm việc có hiệu quả trong một nhóm cộng đồng;
- Kĩ năng nhận thức về xã hội và nhân văn;
- Kĩ năng vận dụng ngoại ngữ và vi tính;
- Kĩ năng cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật;
- Kĩ năng phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử;
- Kĩ năng tổ chức và điều hành một guồng máy;
- Kĩ năng phòng vệ sự sống và gia tăng sức khoẻ;
- Kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ...
Hệ thống những kĩ năng trên cần được hình thành và rèn luyện thường
xuyên trong các loại hình trường, trong đó hoạt động dạy học ở phổ thông là một khâu cực kì quan trọng.
b. Nhiệm vụ 2. Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực
phâm chất trí tuệ, đặc biệt năng lực duy độc lập, sáng tạo
Sự phát triển trí tuệ nói chung có nét đặc trưng riêng bởi sự tích luỹ vốn tri
thức và các thao tác trí tuệ thành thạo, vững chắc của con người. Đó là quá trình
chuyển biến về chất trong quá trình nhận thức của người học.Năng lực hoạt động
trí tuệ được thể hiện ở năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ. Quá trình chiếm lĩnh
tri thức diễn ra một cách thống nhất giữa một bên là nội dung những tri thức với tư
cách là “cái được phản ánh”, một bên là các thao tác hoạt động trí tuệ với tư cách
là “phương thức phản ánh”. Như vậy, hệ thống những tri thức được học sinh lĩnh
hội thông qua các thao tác hoạt động trí tuệ của họ và ngược lại, chính các thao tác
trí tuệ cũng được hình thành và phát triển trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, rèn
luyện kĩ năng, kĩ xảo. Vì thế, các nhà tâm lí học cho rằng sự phát triển có nét đặc
trưng bởi quá trình tích luỹ vốn tri thức và những thao tác trí tuệ của người học sinh.
Trong quá trình dạy học, với vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên, học
sinh không ngừng phát huy tính tích cực nhận thức, tự mình rèn luyện các thao tác
trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất hoạt động trí tuệ như:
Tính định hướng của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ người học nhanh
chóng xác định chính xác được đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt
tới và kịp thời phát hiện, điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Bề rộng của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ, trong quá trình học tập, học
sinh có thể lĩnh hội tri thức, kĩ năng trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, đáp
ứng nhu cầu mong muốn hiểu biết những vấn đề có liên quan đến nội dung chương
trình dạy học trong phạm vi nhà trường.
Chiều sâu của hoạt động trí tuệ phản ánh nàng lực đi sâu tìm hiểu bản chất
của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Người học sinh học tốt phải
là người biết cách tư duy sâu sắc, nắm vững được bản chất vấn đề, phân biệt được
các phạm trù nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng cái khách quan và cái
chủ quan..., để có thể chiếm lĩnh nội dung dạy học một cách có chất lượng và hiệu quả cao.
Tính linh hoạt trong hoạt động trí tuệ của học sinh đươc thể hiện ở chỗ, các
em không những tiến hành hoạt động nhận thức một cách nhanh chóng, có hiệu
quả mà còn có khả năng di chuyển hoạt động tư duy từ tình huống này sang tình
huống khác một cách sáng tạo. Nhờ đó, các em có thể thích ứng nhanh chóng với
các tình huống nhận thức khác nhau và đạt được kết quả tối ưu trong học tập.
Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ là nét đặc trưng của hoạt động nhận
thức, đặc biệt là quá trình tư duy vì quá trình đó được tiến hành một cách linh hoạt,
sáng tạo theo các chiều hướng xuôi, ngược khác nhau; từ cụ thể đến trừu tượng và
ngược lại; từ cái riêng đến cái chung và ngược lại...
Tính độc lập trong hoạt động trí tuệ của học sinh trong học tập thể hiện ở
chỗ các em tự mình phát hiện vấn đề, tự lực suy nghĩ tìm ra các phương án giải
quyết vấn để bằng chính hoạt động và thao tác của mình và chọn phương án giải quyết tối ưu nhất.
Tính nhất quán trong hoạt động trí tuệ phản ánh lôgíc hoạt động nhận thức
của học sinh, đảm bảo sự thống nhất tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối, không mâu thuẫn.
Tính phê phán của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ, trong quá trình học tập,
học sinh biết nhận xét, phân tích, đánh giá một vấn đề, một sự kiện, một hiện tượng
hoặc nhận xét, đánh giá những quan điểm, phương pháp, lí thuyết của người khác
và nêu lên được ý kiến chủ quan của mình và bảo vệ được quan điểm của chính mình.
Tính khái quát của hoạt động trí tuệ thể hiện khi giải quyết một loại nhiệm
vụ nhận thức nhất định, học sinh có thể hình thành được mô hình giải quyết một
cách khái quát tương ứng. Từ mô hình giải quyết khái quát đó, các em có thể vận
dụng để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể cùng loại và dễ dàng thích ứng với việc
giải quyết các nhiệm vụ học tập tương ứng để tìm tòi, phát hiện những tri thức, kĩ
năng và phương pháp mới.
Như vậy, sự phát triển trí tuệ của học sinh được phản ánh thông qua sự phát
triển không ngừng của các chức năng tâm lí và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là quá
trình tư duy độc lập, sáng tạo của người học, bởi lẽ “tư duy có sắc sảo thì tài năng
của con người mới lấp lánh”.
Sự phát triển trí tuệ có mốỉ quan hệ biện chứng với hoạt động dạy học.Dạy
học được tổ chức đúng sẽ thúc đẩy sự phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ của
học sinh và ngược lại, sự phát triển đó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động dạy học đạt
chất lượng cao hơn.Đó cũng là một trong những quy luật của dạy học.
Điều kiện cần thiết để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của học sinh là hoạt
động dạy học phải luôn luôn đi trước sự phát triển trí tuệ và dạy học phải luôn ở
mức độ khó khăn vừa sức học sinh tạo điều kiện để phát triển tối đa những tiềm năng vốn có của họ.
c. Nhiệm vụ 3. Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành sở thế giới quan
khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng phát triển nhân cách nói chung
Trên cơ sở làm cho học sinh nắm vững tri thức và kĩ năng, kĩ xảo, phát triển
năng lực nhận thức mà hình thành cho họ cơ sở thế giới quan khoa học, những
phẩm chất đạo đức nói riêng và sự phát triển nhân cách nói chung theo mục đích giáo dục đã đề ra.
Thế giới quan là hệ thông những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng
trong tự nhiên và trong xã hội.Nó quy định xu hướng chính trị, tư tưởng, đạo đức
và những phẩm chất khác.Nó chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động của
mỗi cá nhân.Trong xã hội có giai cấp, thế giới quan cá nhân đều mang tính giai
cấp.Chính vì thế trong quá trình dạy học cần phải quan tâm đầy đủ đến việc hình
thành những cơ sở thế giới quan khoa học cho học sinh để họ suy nghĩ, có thái độ
và hành động đúng. Đồng thời cần bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức theo mục
đích giáo dục đã đề ra như làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước
và CNXH, năng động, chủ động, sáng tạo, thích ứng nhanh với những yêu cầu
CNH và HĐH đất nước... thông qua nội dung, phương pháp và hình thành tổ chức dạy học.
Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ dạy học
Trong quá trình dạy học ba nhiệm vụ đó có mối quan hệ mật thiết với nhau,
tác động, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục đích giáo dục có hiệu qủa.Thiếu trí
thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, thiếu phương pháp nhận thức thì không thể tạo
điểu kiện cho sự phát triển trí tuệ và thiếu cơ sở để hình thành thế giới quan khoa
học.Phát triển trí tuệ vừa là kết qua, vừa là điểu kiện của việc nắm vừng tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo và là cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất
đạo đức.Phải có trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp học sinh có cách
nhìn, có thái độ và hành động đúng.Nhiệm vụ thứ ba vừa là mục đích vừa là kết
quả của hai nhiệm vụ trên.Nó là yếu tố kích thích và chỉ đạo việc nắm tri thức, hình
thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực nhận thức.
IV. Động lực của quá trình dạy học 1. Khái niệm
Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật và hiện tượng không ngừng
vận động và phát triển. Sở dĩ như vậy là do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các
mặt đối lập, nghĩa là do có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Mâu
thuẫn bên trong là nguồn gốc của sự phát triển, mâu thuẫn bên ngoài là điểu kiện của sự phát triển.
Quá trình dạy học trong hiện thực khách quan cũng vận dộng và phát triển
do không ngừng giải quyết các mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Mâu
thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố và giữa các
yếu tố trong từng thành tố của quá trình dạy học. Chẳng hạn mâu thuẫn giữa những
thành tố như trình độ của thầy và của trò, giữa nội dung dạy học đã được cải tiến
nhưng phương pháp chưa được đổi mới, giữa phương pháp đổi mới với phương
tiện dạy học chưa đảm bảo. Mâu thuẫn giữa những yếu tố của tưng thành tố trong
quá trình dạy học, chẳng hạn như trong phương pháp dạy học xuất hiện mâu thuẫn
giữa việc sử dụng nhóm phương pháp dùng lời với nhóm phương pháp trực quan.
Nếu quá lạm dụng phương pháp trực quan sẽ làm giảm sự phát triển tư duy trừu
tượng, nếu quá lạm dụng phương pháp dùng lời bài giảng sẽ trở nên trừu tượng.
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự tiến bộ khoa học, công nghệ, văn hoá,
sự phát triển kinh tế - xã hội với từng thành tố của quá trình dạy học. Động lực của
quá trình dạy học là giải quyết tốt được những mâu thuẫn bên ngoài, bên trong của
quá trình dạy học, trong đó giải quyết các mâu thuẫn bên trong có ý nghĩa quyết
định. Song trong những điều kiện nhất định, các mâu thuẫn bên ngoài của quá trình
dạy học lại có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự vận động và phát triển của nó.
Từ đó có thể nhận thấy có rất nhiều mâu thuẫn cần phải giải quyết, song điều
quan trọng nhất để quá trình dạy hoc phát triển đúng, nhanh và có hiệu quả là phải
xác định và giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của nó.
Mâu thuẫn bản của quá trình dạy học mâu thuẫn giữa một bên
nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra một bên trình độ tri thức,
năng, xảo trình độ phái triển trí tuệ hiện của người học.
Mâu thuẫn cơ bản tồn tại suốt từ đầu đên cuối quá trình, việc giải quyết các
mâu thuẫn khác, xét cho cùng đều phục vụ cho việc giải quyết nó.
Mâu thuẫn cơ bản khi xuất hiện dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, học
sinh tự lực hoặc được sự hỗ trợ của giáo viên sẽ giải quyết nó.Nhờ đó người học
được nâng cao trình độ và đáp ứng được nhiệm vụ dạy học đề ra.Quá trình dạy học
là quá trình liện tục đề ra các nhiệm vụ học tập và khi một nhiệm vụ được giải
quyết lại có nhiệm vụ khác xuất hiện và lại được giải quyết, cứ như vậy mà quá
trình dạy học không ngừng vận động và phát triển.Sự thúc đẩy giải quyết các mâu
thuẫn cơ bản đó tạo ra động lực cơ bản của quá trình dạy học.
Song, muốn quá trình dạy học phát triển thì quá trình học của học sinh phải
tiến triển.Vì vậy, mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học phải chuyển hoá thành
mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh.
Sự lĩnh hội, theo I. M. Xêsênốp, là hoà những sản phẩm kinh nghiệm của
người khác với kinh nghiệm của bản thân. Điều đó có nghĩa là làm cho những điều
được mang từ bên ngoài vào phải hoà vào tài sản bên trong của bản thân, tạo nên
môt cấu trúc mới. Vì vậy, mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hôi tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo là mâu thuẫn giữa điều đã biết và điểu chưa biết, điều đã biết ở đây chính là
kinh nghiệm, sự hiểu biết của bản thân và điều chưa biết chính là kinh nghiệm của
người khác, nghĩa là tri thức mới cần lĩnh hội.
Để chuyến hoá mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học thành mâu thuẫn cơ
bản của quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học cần phải có ba điều kiện:
- Mâu thuẫn phải được người học ý thức đầy đủ và sâu sắc. Họ phải nhận
thức rõ những yêu cầu của nhiệm vụ học tập được đề ra, thấy hết và đánh giá đúng
mức trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, trình độ phát triển trí tuệ hiện có của
mình.Điềuđó thể hiện ở chỗ người học nhận thấy có khó khăn trong nhận thức và
nảy sinh nhu cầu giải quyết khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Mâu thuẫn phải là khó khăn vừa sức. Điều đó có nghĩa lànhiệm vụ học tập
được đề ra ở mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng phát triển gần nhất của
học sinh mà họ có thể giải quyết được với sự nỗ lực cao nhất về trí lực cũng như thể lực của mình.
- Mâu thuẫn phải do tiến trình dạy học dẫn dến. Điều đó có nghĩa là mâu
thuẫn xuất hiện tại thời điểm nào đó là sự tất yếu trên con đường vận động đi lên
của quá trình dạy học nói chung và quá trình nhận thức của học sinh nói riêng.
Không nên đốt cháy giai đoạn làm cho mâu thuẫn xuất hiện sớm quá hoặc làm cho
nó xuất hiện muộn quá. Nhiệm vụ của người giáo viên là không nên lảng tránh, để
cho nó xuất hiện không đúng lúc, mà trái lại cần làm cho mâu thuẫn xuất hiện đúng
lúc, như vậy các mâu thuẫn sẽ trở nên sâu sắc.
BÀI 2. NGUYÊN TẮC DẠY HỌC
I. Khái niệm nguyên tắc dạy học
“Nguyên tắc từ tiếng La tinh là “Principium”, là tư tưởng chỉ đạo quy tắc cơ
bản, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động và hành vi rút ra từ tính quy luật được khoa học thiết lập.
Từ đó ta có thể định nghĩa: Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những
yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, với nhiệm vụ
dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học.
Nguyên tắc dạy học là phạm trù lịch sử.Lịch sử phát triển nhà trường và lý
luận nhà trường đã chỉ ra rằng mục đích giáo dục biến đổi dưới tác động của những
yêu cầu của sự phát triển xã hội đã dẫn tới sự biến đổi các nguyên tắc dạy học. Lý
luận dạy học phải nhạy bén nắm bắt sự biến đổi những yêu cầu của xã hội đối với
việc giáo dục thế hệ trẻ, phản ứng kịp thời trước những yêu cầu đó, xây dựng hệ
thống những nguyên tắc dạy học, chỉ ra một cách đúng đắn phương hướng chung
đi đến mục đích. Đồng thời cũng cần bảo toàn và hoàn thiện những phương pháp
dạy học trước đây mà chưa mất ý nghĩa trong hoàn cảnh mới của nhà truờng PT.
Nguyên tắc dạy học phản ánh những tính quy luật của quá trình dạy
học.Điều đó có nghĩa là nguyên tắc dạy học không phải tạo ra một cách tuỳ tiện mà
rút ra từ bản chất của quá trình dạy học.Vì vậy mặt này chúng có tính khách quan.
II. Hệ thống nguyên tắc dạy học
1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học tính giáo dục
trong dạy học:
* Nội Dung :Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải võ trang
cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa
học, công nghệ và văn hoá hiện đại, phải dần dần giúp học sinh tiếp cận với những
phương pháp học tập, nhận thức, thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa
học. Thông qua đó mà dần dần hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, tình cảm
và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện đại.
Dạy học không chỉ làm phát triển lý trí của con người và cung cấp cho người
học một khối lượng kiến thức nào đó mà phải làm cháy lên ở họ lòng khát khao
học tập một cách nghiêm túc. Thiếu điều đó thì cuộc sống không thể nào là một
cuộc sống xứng đáng và hạnh phúc.
Ảnh hưởng giáo dục của khoa học là người đồng hành không tránh khỏi của
dạy học.Song từ đó sẽ không đúng khi cho rằng dạy học bao giờ cũng có tác động
như nhau đến học sinh và sự nỗ lực một cách tự giác, nghệ thuật của nhà giáo dục
không có ý nghĩa quan trọng. Trái lại, tính chất giáo dục của dạy học, phương
hướng tư tưởng và sức mạnh ảnh hưởng của nó tới học sinh là do nội dung,
phương pháp dạy học, sự tổ chức tiết học và do tác động của chính nhân cách
người giáo viên quyết định.
* Cách thực hiện : để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
- Võ trang cho người học những tri thức khoa học chân chính, hiện đại nhằm
giúp cho họ nắm được quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy, có cách nhìn
và thái độ hành động đúng đắn đối với hiện thực.
- Cung cấp cho họ những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã hội, con người
Việt Nam, những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước
của dân tộc ta qua hàng ngàn năm, đặc biệt truyền thống đó ngày càng phát triển
mạnh mẽ dưới sư lãnh đạo của Dảng. Từ đó giáo dục cho học sinh tinh thần trách
nhiệm, nghĩa vụ công dân trước sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
trong học tập và tu dưỡng.
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, biết phê phán một
cách đúng mức những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng,
những quan niệm khác nhau về một vấn đề.
- Vận dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học theo hướng
giúp học sinh làm quen với một số phương pháp nghiên cứu khoa học ở mức độ
đơn giản nhằm dần dần tiếp cận với hoạt động khoa học, rèn luyện những tác
phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.
2. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa luận thực tiễn, học đi đôi với
hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển của đất nước
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học nắm vững tri thức, nắm vững
cơ sở khoa học, kỹ thuật, văn hoá khi kết hợp hai điều kiện: 1) Tri thức là những
điểm có hệ thống, quan trọng và then chốt hơn cả. 2) Tri thức đó phải được vận
dụng trong thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân. Thông qua đó mà giúp
họ ý thức rõ tác dụng của tri thức lý thuyết đối với đời sống, với thực tiễn, với
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, hình thành cho họ những kỹ năng vận
dụng chúng ở những mức độ khác nhau mà mức độ cao nhất là góp phần phát triển
kinh tế- xã hội và văn hoá- khoa học của đất nước.
Bản thân nội dung “ Lý luận liên hệ với thực tiễn” đã phản ánh nội dung
“học đi đôi với hành”. Theo Hồ Chí Minh thì “ Lý luận phải đem ra thực hành.
Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên.Thực hành cũng như
cái đích để bắn. Có tên mà không bắn hoặc bắn lung tung cũng như không có tên.
Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời phải hành”.
Theo Bác, học phải toàn diện: “ Trong giáo dục không những phải có tri
thức phổ thông mà còn phải có đạo đức cách mạng”. Còn “ hành” theo Người là
vận dụng những điều đã học vào việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đề ra.
“Hành” đối với Người không chỉ là những việc to lớn mà cả trong những việc bình
thường, ai cũng làm được. Song việc làm đó có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa cách mạng
rất lớn, có tác dụng hình thành con người có tư tưởng cao cả, tình cảm và hành vi
đẹp đẽ, góp phần vào sự nghiệp vĩ đại của tập thể, của dân tộc từ những công việc bình thường hàng ngày.
Từ đó có thể nhận thấy nội dung khái niệm học và hành quện vào nhau, đan
kết chặt chẽ với nhau. Trong nội dung học có nội dung hành và ngược lại, trong
nội dung hành đã có nội dung học, thể hiện ở động cơ, mục đích, thái độ và cách học: Học làm người.
Nguyên tắc này dựa trên nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Theo Bác, “ thống nhất lý luận và thực tiễn là
nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng
dẫn thì thành thực tiễn mù quáng.Lý luận không liên hệ với thực tiễn là lý luận
suông”. Một mặt, Người chống lại lý luận suông, nhưng mặt khác Người cũng
chống lại bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường lý luận: “ Có kinh nghiệm mà
không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”.
Để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
- Khi xây dựng kế hoạch chương trình dạy học cần lựa chọn những môn học
và những tri cơ bản, phù hợp với những điều kiện thiên nhiên, với hoàn cảnh thực
tiễn xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, chuẩn bị cho người học thích ứng
nhanh và tham gia có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
- Về nội dung dạy học phải làm cho người học nắm vững tri thức lý thuyết,
thấy rõ nguồn gốc của những tri thức đó và vai trò của tri thức khoa học đối với
thực tiễn; phải vạch ra phương hướng ứng dụng tri thức khoa học vào hoàn cảnh cụ
thể đất nước, của địa phương; phải phản ámh tình hình thực tiễn vào nội dung dạy học.
- Về phương pháp dạy học cần khai thác vốn sống của người học để minh
hoạ, để đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận. Cần vận dụng có đổi mới những
phương pháp như thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu các tài liệu thực tiễn…làm
cho học sinh nắm nhanh và nắm chắc những tri thức lý thuyết và vận dụng những
tri thức lý thuyết đó vào giải quyết những tình huống khác nhau.Thông qua đó,
bước đầu giúp học sinh làm quen với những phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Về hình thức tổ chức dạy học thì cần kết hợp các hình thức tổ chức dạy học
khác nhau, đặc biệt là hình thức lên lớp với hình thức tham quan học tập, hình thức
thực hành, thực tập ở phòng thí nghiệm, ở các trung tâm kỹ thuật tổng hợp…
Dạy học kết hợp với lao động sản xuất và hoạt động công ích là điều kiện
quan trọng để thực hiện hiệu quả nguyên tắc này.
3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống tính tuần tự trong dạy học
Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm cho người học lĩnh hội những tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo trong mối liên hệ logic và tính kế thừa, phải giới thiệu cho họ hệ
thống những tri thức khoa học hiện đại, mà hệ thống đó được xác định không chỉ
nhờ vào cấu trúc logic khoa học mà cả tính tuần tự phát triển những khái niệm và
định luật khoa học trong ý thức của họ. Tính tuần tự phát triển những khái niệm và
định luật khoa học trong ý thức của người học khác rất nhiều (đặc biệt ở lứa tuổi
tiểu học) với hệ thống tri thức khoa học do những nhà bác học trình bày, nhưng nó
phải dựa trên cơ sở khoa học nhất định.
Để thực hiện nguyên tắc này, về mặt nội dung dạy học cần:
- Xây dựng hệ thống môn học, chương, chủ đề và những tiết học phụ thuộc
vào lý thuyết, từ đó làm cơ sở cho sự khái quát. Dựa trên lý thuyết của một số nhà
tâm lí học đề ra thì hệ thống xây dựng những giáo trình ở bậc phổ thông cần thay
đổi theo nguyên tắc từ cái chung đến cái riêng. Tính tuần tự tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển tư duy lí luận cho học sinh.
- Khi xây dựng nội dung dạy học phải tính tới những mối liên hệ giữa các
môn học, mối liên hệ giữa những tri thức trong bản thân của từng môn và tích hợp
tri thức của các môn học.
- Tính hệ thống và tính tuần tự không những được theer hiện trong hoạt động
của người giáo viên mà ngay cả trong công việc học tập của học sinh. Chính vì
vậy, điều hết sức quan trọng là phải hình thành cho HS thói quen lập kế hoạch một
cách hợp lí cho hoạt động của mình, thói quen lập dàn bài 1 cách logic cho những
câu hỏi miệng, những bài tập làm văn và thực hiện những nguyên tắc trong phòng thí nghiệm.
4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc
lập, sáng tạo của học sinh vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự
giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ
đạo của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học.
- Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích,
nhiệm vụ học tập mà qua đó nỗ lực nắm vững tri thức, tránh chủ nghiã hình thức
trong quá trình lĩnh hội tri thức.
- Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể
thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những
vấn đề học tập, nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa
là điều kiện để đạt được mục đích và vừa là kết quả của hoạt động.Tính tích cực
nhận thức cũng là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
Cần phải phân biệt tính tích cực và trạng thái hành động, về bề ngoài chúng
giống nhau nhưng về bản chất là khác nhau.
Tuỳ theo sự huy động những chức năng tâm lý nào và mức độ sự huy động
đó mà có thể diễn ra tính tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi và tính tích cực sáng tạo.
- Tính độc lập nhận thức về nghĩa rộng là sự sẵn sàng tâm lý đối với sự tự
học.Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu cầu học
tập và năng lực tự tổ chức học tập, cho phép người học tự phát hiện, tự giải quyết
vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình và qua đó cho phép
người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học.
- 3 phẩm chất nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tính tự giác nhận
thức là cơ sở của tính tích cực và tính độc lập nhận thức.Tính tích cực nhận thức là
điều kiện, là kết quả, là định hướng và là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển
của tính độc lập nhận thức.Tính độc lập nhận thức là sự thể hiện tính tịư giác, tính
tích cực ở mức độ cao.
Kết hợp tính tích cực của giáo viên và học sinh một cách hài hoà trong hoạt
động phối hợp với nhau sẽ cho phép đạt được những kết quả dạy học và giáo dục
trong một thời gian ngắn nhất.
Trong hoàn cảnh đổi mới ở nước ta nói chung và đổi mới sự nghiệp giáo dục
nói riêng, trong điều kiện nhân tố con người là động lực cho sự phát triển của xã
hội thì tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Quan tâm đúng mức đến việc giáo dục cho người học ý thức đầy đủ và sâu
sắc mục đích, nhiệm vụ học tập nói chung và từng môn học nói riêng để họ xác
định đúng động cơ và thái độ học tập.
- Khuyến khích, động viên và tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn trình bày ý
kiến, ý tưởng và những thắc mắc của mình, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học, óc
phê phán, tác phong độc lập suy nghĩ, chống lối học vẹt, học đối phó, chủ nghĩa
hình thức trong học tập.
- Cần sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở những mức
độ khác nhau, đặc biệt tăng dần tỷ trọng mức độ tự nghiên cứu, tự giải quyết những bài tập nhận thức.
- Cần tăng cường sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học.
- Cần kết hợp tính tự giác, tính tích cực học tập với việc nâng cao tinh thần
trách nhiệm trong học tập của người học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá và tự kiểm
tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học.
- Hình thành cho người học những thao tác tư duy, những hành động thực
hành,những biện pháp hoạt động sáng tạo và tạo điều kiện cho họ thể hiện khả
năng hoạt động sáng tạo trong quá trình nghiên cứu, học tập những cơ sở khoa học,
nghệ thuật và lao động.
5. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển
duy thuyết:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học có thể cho học sinh tiếp xúc
trực tiếp với sự vật, hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành những
khái niệm, quy luật, lý thuyết; ngược lại, có thể từ việc lĩnh hội những tri thức lý
thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể sau.Trong việc vận dụng
nguyên tắc này bao giờ cũng đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.
Từ đó ta có thể nhận thấy rằng: a) Tính trực quan có thể là điểm xuất phát
chủ yếu ở các lớp tiểu học. b) Tuỳ theo mức độ vận động của trẻ từ các lớp dưới
lên các lớp trên thì điểm xuất phát của quá trình dạynhọc là sự tiếp cận lịch sử đối
với sự phát minh một quy luật nào đó. Lúc đầu nêu lên vấn đề, tiếp theo là trình
bày lịch sử giải quyết vấn đề đó và cuối cùng là trạng thái hiện nay. Sau đó cần
phải tiến hành công tác thực hành hoặc làm thí nghiệm. Đó là con đường có tính
quy nạp – lịch sử trong việc nghiên cứu tri thức. Ở đây tính trực quantham gia hai
lần như là minh hoạ sự phát minh, nghĩa là sự phát minh đó diễn ra trong lịch sử
khoa học như thế nào và vạch ra cách giải quyết vấn đề hiện nay ra sao. Tuy nhiên
cần phải thấy rằng việc trình bày theo quan điểm lịch sử mất nhiều thời gian học
tập và không phải bao giờ cũng cần thiết. Cơ sở xuất phát có thể là những luận
điểm lý thuyết, tiên đề, hệ thống khái niệm đã được lĩnh hội ở những giai đoạn dạy
học trước đây hoặc thậm chí được đưa vào bằng con đường lý luận. Chỉ sau khi đã
nắm được những định luật có tính chất lý luận đó, trực quan được sử dụng để minh
hoạ sự vận dụng chúng hoặc dưới hình thức công việc ở phòng thí nghiệm khi bài
tập nhận thức được giải quyết bằng con đường thực nghiệm.
Ngay cả học sinh tiểu học cũng tiến hành dạy học từ cái chung đến cái riêng
nhằm phát triển tư duy lý luận cho trẻ.
Nguyên tắc này đã được J.A.Comenxki ( 1592-1670) lần đầu tiên đề ra và
được gọi là nguyên tắc vàng ngọc. Sau này được J.J.Rutxo (1712-1778),
J.A.Pextalogi (1746-1827), K. Đ. Usinxki ( 1824-1870) kế tục và phát triển. Dưới
ánh sáng của nhận thức luận Macxit, nội dung của nguyên tắc ngày càng được
hoàn thiện và phát triển.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là
phương tiện và nguồn nhận thức.
- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan và lời nói sinh động, diễn
cảm, nghĩa là kết hợp hai hệ thống tín hiệu.
- Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu
tượng đã có để hình thành những biểu tượng mới, qua đó mà hình thành những
khái niệm, định luật mới.
- Cần vận dụng một trong những cách sử dụng trực quan nêu trên phù hợp
với lứa tuổi, nội dung và hoàn cảnh cụ thể nhằm hình thành và phát triển tư duy lý thuyết cho họ.
Trong quá trình trình bày đồ dùng trực quan cần hình thành cho học sinh óc
quan sát để nhìn thấy những dấu hiệu bản chất, qua đó mà rút ra những kết luận có tính khái quát.
- Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả.
- Đề ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối
quan hệ giữa cái cụ thể, cái trừu tượng và ngược lại.
6. Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức sự phát triển năng lực
nhận thức của học sinh:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm
vững nội dung dạy học với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt là sự
tưởng tượng (Tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo), trí nhớ (chủ yếu là trí
nhớ logic), tư duy sáng tạo, năng lực động viên tri thức cần thiết để thực hiện công
việc nhận thức, học tập đã đề ra.
Tâm lý học đã khẳng định việc lĩnh hội nội dung dạy học và phát triển năng
lực nhận thức là hai mặt của một quá trình, có liên hệ mật thiết với nhau. Khi lĩnh
hội những tri thức khoa học thì trí não đồng thời thực hiện những nhiệm vụ nhận
thức khác nhau, và cùng với điều đó, năng lực nhận thức của học sinh được phát triển.
Trong cách hiểu như trên, nguyên tắc này cần phải kết hợp với nguyên tắc tự
giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nghĩa là phải làm cho họ nhớ lại điều
đã học một cách tự giác, đã được suy ngẫm, tránh lối học thuộc l òng một cách
máy móc và thiếu suy nghĩ sâu sắc về tài liệu đó, và do vậy chẳng hiểu được điều mình học.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Cần phải giúp học sinh kết hợp hài hoà giữa ghi nhớ chủ định và không
chủ định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập.
- Cần hình thành cho học sinh những kỹ năng tìm ra những tri thức có tính
chất tra cứu khác nhau để giúp họ tránh học thuộc lòng không cần thiết những tài liệu đó.
- Cần đặt ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá những tri thức
đã học để giải quyết, qua đó mà giúp họ nhớ sâu, nắm vững tri thức và tạo điều
kiện phát triển năng lực nhận thức. Cùng với điều đó mà việc ôn tập và luyện tập
được thực hiện thường xuyên, có hệ thống.
- Cần tổ chức quá trình dạy học như thế nào để một bộ phận đáng kể những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được củng cố tại tiết học. Muốn vậy, việc trình bày tài
liệu học tập của giáo viên phải logic, rõ ràng, dễ hiểu, phải tác động mạnh về mặt cảm xúc.
- Giáo viên phải tiến hành kiểm tra, đánh giá và học sinh phải tiến hành tự
kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đều đặn, toàn diện về các mặt
số lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng hoạt động sáng tạo thông qua bài tập sáng
tạo, có tính chất chẩn đoán.
7. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm
biệt tính tập thể của việc dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, khi lựa chọn nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải không ngừng nâng cao mức độ khó
khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần thiết.
Nói cách khác, dạy học vừa sức có nghĩa là trong dạy học phải tạo nên khó
khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới
hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất. Dạy học vừa sức không có nghĩa
là sức học sinh đến đâu thì dạy đến đó, mà bao giờ cũng đề ra những khó khăn mà
dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, người học bằng sự nỗ lực của mình cũng đều
khắc phục được.Dạy học như vậy mới đảm bảo đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự
phát triển của học sinh.
Sự khó khăn vừa sức đối với người học khác với sự quá tải về mặt trí lực và
thể lực.Sự quá tải đó sẽ làm yếu đi sự nỗ lực ý chí, khả năng làm việc bị hạ thấp
một cách rõ rệt và làm cho học sinh sớm mệt mỏi.
Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Mỗi độ tuổi gắn
liền với sự trưởng thành của những cơ quan trong cơ thể và những chức năng của
các cơ quan đó, cũng như với sự tích luỹ những kinh nghiệm về mặt nhận thức và
về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó. Lứa tuổi thay đổi thì nhu
cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng biến đổi.
Trong cùng một lứa tuổi, học sinh cũng có những đặc điểm khác nhau về
hoạt động hệ thần kinh cấp cao, sự phát triển về thể chất và tinh thần, về năng lực,
hứng thú… Vì vậy sự vừa sức phải chú ý đến những đặc điểm cá biệt.
Điều kiện dạy học hiện nay ở nước ta là dạy từng lớp với khoảng 40- 50 học
sinh. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải tiến hành dạy học và giáo dục cả lớp
như một tập thể học tập, tạo điều kiện và tổ chức công tác học tập của tất cả học
sinh, đồng thời phải tính tới những đặc điểm cá biệt của từng học sinh nhằm đạt
được hiệu quả dạy học và góp phần phát triển những tư chất tốt đẹp của các em.
Để đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện
tiến hành dạy – học với cả tập thể cần:
- Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập
những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức
của học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng học sinh.
- Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập công tác của học sinh và hình
thức học tập nhóm tại lớp. Trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vụ chung và
dưới sự chỉ đạo của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết. Trong thời
gian đó, giáo viên giúp đỡ những học sinh yếu kém.Với cách tổ chức như vậy thì
chỉ là sự làm việc cùng nhau của những cá nhân cùng học. Đó là hình thức phối
hợp đơn giản nhất của các cá nhân trong tập thể người cùng học như
N.K.Crupxkaia đã nhận xét. Một hình thức tổ chức tiết học khác là giáo viên chỉ
đạo việc thực hiện theo nhóm những ý kiến, những ý tưởng hoặc những cách giải
quyết vấn đề khác nhau của từng người để đi đến kết luận chung của cả nhóm, sau
đó cử đại diện của mình trình bày ý kiến. Trên cơ sở đó, cả lớp trình bày và đi đến
kết luận chung, còn giáo viên lúc này đóng vai trò là người chỉ đạo, người cố vấn,
người trọng tài. Với hình thức này thì sự phối hợp giữa hoạt động cá nhân và tập
thể đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Cũng có thể từ một nhiệm vụ chung, mỗi nhóm được phân công giải quyết
những nhiệm vụ bộ phận, và từng thành viên suy nghĩ độc lập để đi đến cách giải
quyết chung của cả nhóm. Các nhóm cử người lần lượt trình bày cách giải quyết
nhiệm vụ của mình. Lớp thảo luận và đi tới cách giải quyết nhiệm vụ chung.
Với cách tổ chức tiết học như vậy, học sinh làm việc không đơn thuần là
ngồi cạnh nhau, mỗi người tìm cách giải quyết không chỉ cho bản thân mình mà
cho cả tập thể.Trong lớp xuất hiện không khí thúc đẩy nhau tích cực suy nghĩ, có
sự đồng cảm với nhau, hợp tác và kiểm tra lẫn nhau.
Cách tiến hành dạy học như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho
học sinh, mà từng học sinh giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa sức mỗi người.
8. Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây cho người học sự
hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết, niềm vui và tác động mạnh mẽ đến tình cảm của họ.
Tình cảm có vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người, thôi thúc
con người hành động, thậm chí đến mức xả thân mình cho sự nghiệp.Những tấm
gương của các nhà khoa học trước đây và hiện nay đã khẳng định điều đó.Thực
tiễn cũng chứng minh rằng công việc mà được yêu thích thì sẽ được thực hiện
nhanh chóng và có hiệu quả, lại ít tốn sức. Ngược lại, thì không những không động
viên được sức lực mà còn đè nén sức lực, do đó không đạt được hiệu quả cao.Học
tập của học sinh cũng hoàn toàn như vậy. V.I.Lênin đã khẳng định: “Nếu thiếu tình
cảm con người thì không bao giờ có sự tìm tòi chân lý”. Về vấn đề này, Paxcan
cũng đã nói: “ Ta hiểu được chân lý chẳng phải chỉ nhờ bộ óc mà còn nhờ con tim nữa”.
Hơn nữa, hiện nay với sự phát triển văn hoá, khoa học, sụ tiến bộ về khoa
học thông tin đã tạo cho con người nhiều trò chơi hấp dẫn hơn nhiều so với công
việc học tập trong nhà trường. Vì vậy, nếu dạy học trong trường PT chỉ quan tâm
nhiều đến vi ệc phát triển tư duy, trí nhớ mà ít quan tâm đến thức ăn cho tình cảm
và óc tưởng tượng của học sinh thì chưa hợp lý.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Thực hiện mối liên hệ dạy học với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng đất
nước, với kinh nghiệm sống của bản thân học sinh. Đó là phương tiện hình thành
tình cảm nghĩa vụ và nâng cao hứng thú học tập.
- Trong nội dung và phương pháp học tập cần làm sao tăng cường hoạt động
tích cực tìm tòi, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, phát hiện. Điều đó sẽ tạo điều kiện
cho học sinh hình thành tình cảm trí tuệ.
- Cần sử dụng trò chơi nhận thức trong quá trình dạy học.
- Nên sử dụng các phương tiện nghệ thuật như: tác phẩm văn học, âm nhạc,
nghệ thuật tạo hình, kịch…trong quá trình dạy học, vì đó là những phương tiện tác
động mạnh mẽ đến tình cảm của nguời học. Đừng sợ làm như vậy sẽ làm cho học
sinh thiếu tập trung vào công việc học tập nghiêm túc, vì khoa học và nghệ thuật
không phải không chung sống được với nhau. Khoa học và nghệ thuật đều cùng
phản ánh hiện thực khách quan, nhưng phương tiện sử dụng của chúng khác
nhau.Khoa học phản ánh hiện thực bằng khái niệm, định luật, lý thuyết; còn nghệ
thuật bằng hình tượng. Cả hai cách phản ánh đó không mâu thuẫn nhau mà còn bổ
sung và làm phong phú cho nhau, tạo điều kiện hình thành và phối hợp tư duy
logic với tư duy thẩm mỹ.
Những tác phẩm nghệ thuật được sử dụng vào những thời điểm, vị trí thích
hợp với liều lượng hợp lý trong tiết học thông qua những đồ dùng trực quan hoặc
những phương tiện kỹ thuật dạy học làm cho học sinh không chỉ hình dung tốt nhất
những sự kiện, hiện tượng mà còn làm rung động tình cảm của người học, làm
phong phú tâm hồn của tuổi trẻ.
- Tính cảm xúc của quá trình dạy học còn phụ thuộc vào ngữ cảnh, vào hoạt
động học tập. Hoạt động tập thể của học sinh càng có nội dung, càng phong phú về
hình thức thì càng kích thích nhu cầu hiểu biết, hứng thú với học tập. Vì vậy, cần
chú ý tổ chức hoạt động tập thể của học sinh, cần tổ chức dạy học như một hình
thức tham quan học tập, hình thức ngoại khoá…
- Nhân cách người giáo viên có vai trò rất lớn trong việc tác động về mặt
cảm xúc đối với người học. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, thể hiện thái
độ của giáo viên đối với những hiện tượng, sự kiện, tư tưởng được trình bày không
chỉ giúp cho học sinh có tri thức về vấn đề nào đó mà còn kích thích hình thành tình cảm tương ứng.
9. Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học:
Nguyên tắc này đòi hỏi phải hình thành cho người học có nhu cầu, năng lực,
phẩm chất tự học để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học.
Nghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách khai thác bằng
hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt
động của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình.
Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ phát triển hiện nay đã dẫn tới sự bung
nổ thông tin và làm cho ri thức ở từng người trở nên lạc hậu nhanh chóng. Để thích
ứng với cuộc sống, mỗi người phải tự học liên tục, học suốt đời. Hồ Chí Minh, một
tấm gương sáng về tự học đã từng nói: “Học tập là công việc phải tiếp tục suốt
đời… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi.Thế giới ngày nay
đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành
để đuổi kịp nhân dân”; “Lấy tự học làm cốt, có thảo luận và chỉ đạo giúp
vào”.Những lời khuyên bảo đó ngày càng có ý nghĩa cấp thiết đối với thế hệ trẻ,
nhất là trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Thông qua phương pháp giảng dạy của giáo viên mà thúc đẩy học sinh
thực hiện có hệ thống công tác độc lập nhằm lĩnh hội những tri thức về khoa học,
kỹ thuật, nghệ thuật mà họ yêu thích.
- Trong quá trình dạy học cần chú ý hình thành cho học sinh những kỹ năng
lập kế hoạch, kỹ năng tự tổ chức, kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động tự học
của chính mình. Thông qua công tác độc lập làm cho học sinh cảm thấy rằng việc
tự học không chỉ là công việc của bản thân từng người mà là sự quan tâm chung
của cả tập thể lớp, của giáo viên và của tập thể sư phạm.
- Trong các lần trò chuyện với học sinh cần làm cho họ hiểu rõ ý nghĩa của
sự tự học trong thời đại ngày nay, tìm hiểu những khó khăn mà họ gặp phải trong
việc tự học và chỉ ra cho họ những biện pháp khắc phục khó khăn đó.
- Cần tận dụng những nội dung dạy học, những hoàn cảnh thuận lợi nêu
những tấm gương tự học của những nhân vật trong lịch sử đất nước, trong trường,
trong lớp để giáo dục học sinh.
- Cần tổ chức phong trào tự học trong lớp, trong trường.
- Cần tăng cường tỷ trọng tự học về khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho
học sinh để khi tốt nghiệp PT, tất cả học sinh phải được hình thành nhu cầu, ý chí
đối với tự học và những kỹ năng cơ bản, cần thiết, cho sự tự học.
3. Mối liên hệ giữa các nguyên tắc dạy học:
Các nguyên tắc dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nội dung của
từng nguyên tắc đan kết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm đảm bảo thực hiện quá trình
dạy học đạt được hiệu quả. Chẳng hạn khi thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính khoa
học và tính giáo dục trong dạy học không thể không chú ý tới nguyên tắc đảm bảo
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành; nguyên tắc đảm bảo sự
thống nhất giứa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của học sinh và vai
trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học; nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân trong điều kiện dạy học tập thể;
nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học; nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học.
Nếu xét các nguyên tắc dạy học khác thì cũng như vậy.Trong quá trình dạy
học, với nội dung và những điều kiện dạy học nhất định, có thể coi trọng một
nguyên tắc dạy học nào đó.Điều đó không có nghĩa là coi nhẹ những nguyên tắc
khác mà cần phải kết hợp các nguyên tắc thành một thể hoàn chỉnh thì mới đạt
được hiệu quả cao trong quá trình dạy học.
BÀI 3. NỘI DUNG DẠY HỌC
I. Khái quát về nội dung dạy học
1. Thành phần kinh nghiệm hội
Muốn duy trì và phát triển xã hội, thế hệ đi sau phải lĩnh hội những kinh
nghiệm xã hội mà thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền lại, đồng thời thế hệ sau làm
phong phú thêm những kinh nghiệm đó. Những kinh nghiệm xã hội được kết tinh
dưới một hình thức đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người. hình thức đó là văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần.
Khi phân tích văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần ở bất kì dân tộc nào, thời
đại lịch sử nào cũng có thể nhận thấy có 4 yếu tố cơ bản sau:
- Những tri thức về tự nhiên, về xã hội, tư duy, kĩ thuật, về nghệ thuật về
cách thức họat động mà xã hội đã tích lũy được.
- Những kinh nghiệm thực hiện những cách thức họat động đã biết. Sự lĩnh
hội yếu tố này giúp thế hệ đi sau lĩnh hội được những kĩ năng, kĩ xảo để giúp họ
bảo tồn và tái tạo di sản văn hóa của các thế hệ trước đây.
- Những kinh nghiệm họat động tìm tòi, sáng tạo. yếu tố này giúp thế hệ trẻ
hình thành năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề mới. nhờ hoạt động sáng
tạo đó mà góp phần phát triển di sản văn hóa của các thế hệ trước đây.
- Kinh nghiệm về thái độ cảm xúc – đánh giá đối với hiện thực là đối tượng
hoặc phương tiện họat động. Sự lĩnh hội yếu tố này giúp điều chỉnh họat động phù
hợp với nhu cầu của bản thân, đồng thời lại mở rộng phạm vi các nhu cầu, hệ
thống giá trị, các động cơ họat động, nghĩa là mọi biểu hiện của thái độ cảm xúc –
đánh giá đối với họat động, với sản phẩm họat động, với cá nhân, với cộng đồng và với xã hội.
Mỗi yếu tố của văn hóa nói trên có chức năng riêng trong sự hình thành
nhân cách, nhưng lại liên hệ mật thiết với những yếu tố khác. Những yếu tố đi sau
được hình thành phải dựa vào những yếu tố trước đó
Song những kinh nghiệm xã hội đó có một khối lượng vô cùng lớn, trong
cuộc đời một con người không thể nào lĩnh hội hết được mà phải lựa chọn, xử lí
như thế nào để phù hợp với từng lứa tuổi, với những chức năng xã hội mà con
người phải đảm nhiệm. Ngoài ra trong xã hội có giai cấp, giáo dục là công cụ sắc
bén và vô cùng quan trọng để củng cố quyền thống trị của mình nên nội dung dạy
học phải được định hướng về mặt chính trị của giai cấp đó.
2. Định nghĩa nội dung dạy học
Nội dung dạy học là một hệ thống những tri thức, những cách thức hạt động,
những kinh nghiệm họat động sáng tạo và thái độ cảm xúc – đánh giá đối với thế
giới phù hợp về mặt sư phạm và được định hướng về mặt xã hội.
Hệ thống những cơ sở của bốn yếu tố kinh nghiệm xã hội đó được phản ánh
dưới các dạng, các lĩnh vực họat động thể hiện trong các môn học và trong chương
trình họat động ngoại khóa.
Từ định nghĩa khái niệm về nội dung dạy học, có thể nhận thấy những đặc trưng sau:
- Nó là một hệ thống bao gồm 4 yếu tố của cấu trúc văn hóa và chỉ ra mối
liên hệ giữa các yếu tố đó với nhau, chức năng xã hội của nó là những kinh nghiệm
xã hội được truyền đạt cho thế hệ trẻ.
- Nó là những kinh nghiệm của xã hội loài người, được lựa chọn và xây
dựng theo một định hướng chính trị nhất định. Điều đó nói lên tính lịch sử, tính
giai cấp được quán triệt trong nội dung dạy học.
- Kinh nghiệm xã hội đó được xử lí về mặt sư phạm để phù hợp với đặc
điểm tâm lí – sinh lí của học sinh ở từng lứa tuổi, từng cấp học, bậc học.
3. Những thành phần của nội dung dạy học
a. Thành phần đầu tiên, đồng thời thành phần bản của nội dung dạy
học, đó tri thức
Ý nghĩa của tri thức
Thiếu tri thức là thiếu cơ sở để tư duy, để hình thành thế giới quan khoa học
và nhờ đó để có phương pháp luận đúng đắn trong họat động nhận thức và thực
hành. Điều đó có nghĩa là thiếu tri thức thì hành động sẽ thiếu phương hướng.
Song tri thức loài người tích lũy được thì vô cùng phong phú mà từng người trong
cuộc đời mình không thể nắm được tất cả, chỉ có thể nắm được bộ phận mà thôi.
Vì vậy, điều quan trọng là làm sao bộ phận tri thức đó phải bao gồm những lĩnh
vực tri thức khác nhau, là cơ sở của những khoa học, là những dạng cơ bản của
họat động xã hội và của đời sống. ngoài ra, bộ phận tri thức đó phải bao gồm
những dạng tri thức khác nhau đặc trưng cho những khoa học có tính chất làm nền
tảng, vì chỉ với điều kiện đó thì tri thức mới thực hiện được những chức năng cơ
bản của mình: chức năng của bản thể luận, chức năng định hướng, chức năng đánh giá.
Các dạng tri thức
Trong các bộ môn ở trường Phổ thông, thường có 6 dạng tri thức sau:
- Tri thức có tính chất kinh nghiệm: đó là những sự kiện khoa học, hiện
tượng của hiện thực khách quan.
- Tri thức lí thuyết: những tri thức này bao gồm khái niệm, thuật ngữ khoa
học, định luật, định lí, tư tưởng khoa học, quy tắc đạo đức, về thẩm mĩ và pháp lí.
- Tri thức thực hành: đó là những tri thức về cách thức hành động nhằm giúp
học sinh hình thành những kĩ năng và kĩ xảo, trong đó có những kĩ năng tìm tòi tri
thức mới, kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn.
- Tri thức thiết kế sáng tạo: đó là những bài tập và phương tiện nhằm hình
thành tình cảm thẩm mĩ, đạo đức, tưởng tượng sáng tạo, những bài tập về tác phẩm
văn học, tạo hình, âm nhạc, dựa vào đó mà hình thành cho học sinh hình tượng
nghệ thuật. Đó là những hình họa, bản thảo, hình vẽ thể hiện trong đó những tư
tưởng nhất định và tạo cho học sinh những hình ảnh thiết kế - kĩ thuật.
- Tri thức về phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học đặc trưng đối với
từng ngành khoa học mà học sinh phải lĩnh hội.
b. Thành phần thứ hai của nội dung dạy học kinh nghiệm thực hiện
những cách thức họat động đã biết
Trong thành phần thứ nhất của nội dung dạy học đã bao gồm những tri thức
về cách thức hành động. Song chỉ nắm tri thức đó thì chưa đủ mà phải nắm được
cả kinh nghiêm dụng những cách thức hành động trong thực tiễn. kĩ năng và kĩ xảo
là kinh nghiệm về cách thức hành động khác nhau được con người tiếp thu. Các
nhà tâm lí học cho rằng, có kĩ năng sơ đẳng và kĩ năng phức tạp. kĩ năng sơ đẳng
được luyện tập nhiều lần biến thành kĩ xảo. Nói cách khác, kĩ xảo là hành động
được tự động hóa trên cơ sở luyện tập. Còn kĩ năng phức tạp bao gồm rất nhiều kĩ
xảo. Ví dụ như kĩ năng giải bài toán, kĩ năng sư phạm, kĩ năng làm bài tập làm văn,
… cần rất nhiều kĩ xảo khác nhau và bao giờ cũng thực hiện có sự tham gia của ý
thức. Có thể có kĩ xảo, kĩ năng thực hành và kĩ xảo, kĩ năng tư duy. Ngoài ra còn
có kĩ xảo, kĩ năng chung cho các môn học như kĩ xảo, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ xảo,
kĩ năng làm dàn bài, so sánh, phân tích những ý chính, ý phụ, rút ra kết luận,.. và
những kĩ xảo, kĩ năng đặc trưng cho từng môn học như kĩ xảo, kĩ năng làm thí
nghiệm trong các bộ môn Sinh vật, Hóa học, Vật lí,…Trong số kĩ xảo, kĩ năng đó,
có những kĩ xảo, kĩ năng có liên hệ trực tiếp với sự lĩnh hội tri thức, và cũng có
những kĩ năng kĩ xảo làm điều kiện để độc lập lĩnh hội tri thức, như kĩ xảo, kĩ năng
tóm tắt, nhận xét, phê bình, lập thư mục, sử dụng sách bào, tra cứu,…
c. Thành phần thứ 3 của nội dung dạy học kinh nghiệm họat động sáng tạo
Thành phần này của nội dung dạy học nhằm chuẩn bị cho học sinh khả năng
tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề mới, cải tạo thực tiễn. nó thực hiện một chức
năng hết sức quan trọng là tạo cho thế hệ trẻ cải biến một cách sáng tạo hiện thực
khách quan và làm cho hiện thực đó phát triển bền vững. Do đó phải xây dựng nội
dung dạy học như thế nào để đòi hỏi học sinh phải thể hiện tính tự lực nhận thức
một cách hệ thống và sáng tạo. Vậy, họat động sáng tạo có những dấu hiệu đặc trưng gì? Đó là:
- Thấy được chức năng mới của đối tượng đã quen biết.
- Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng.
- Tự tổng hợp những cách thức họat động đã biết thành cách thức họat động mới.
- Nhìn thấy những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề nào đó và chọn
cách giải quyết phù hợp tối ưu với hoàn cảnh nhất định.
- Xây dựng những cách giải quyết hoàn toàn mới, khác với cách giải quyết đã từng quen biết
Tất cả những dấu hiệu đặc trưng của họat động sáng tạo này không phải lúc
nào cũng thể hiện đồng thời trong cùng một lúc khi giải quyết bất kì một vấn đề
nào, mà thường kết hợp một cách khác nhau một vài dấu hiệu họat động sáng tạo đó mà thôi.
d. Thành phần thứ 4 của nội dung dạy học những tiêu chuẩn về thái độ
cảm xúc đánh giá đối với tự nhiên, hội con người
Thực chất đó là tính giáo dục của nội dung dạy học. Thành phần nội dung
dạy học này có tính đặc biệt ở chỗ nó không chỉ bao hàm những tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo mặc dù điều đó là hết sức cần thiết, mà còn cả thái độ đánh giá, thái độ cảm
xúc với thế giới, với con người, đối với họat động. Trong thực tế, có thể dễ dàng
nhận thấy thái độ của con người đối với hiện thực khách quan, tình cảm của họ bao
giờ cũng phù hợp với sự hiểu biết của họ, lời nói của họ không phải bao giờ cũng đi đôi với việc làm.
Thành phần nội dung dạy học này được thể hiện một cách trực tiếp ở một số
môn như Đạo đức, Giáo dục công dân, trong các họat động lao động, họat động xã
hội, sinh họat tập thể và phản ánh gián tiếp qua các bộ môn khác, đặc biệt là các bộ
môn xã hội – nhân văn và trong các họat động khác của nhà trường. Vì vậy, thành
phần này được thể hiện khi toàn bộ nội dung dạy học thấm nhuần sâu sắc thế giới
quan khoa học, chú ý giáo dục tình cảm, thái độ, đánh giá một cách đúng đắn với
những tri thức khoa học, những chuẩn mực đạo đức, thẩm mĩ cao đẹp.
* Mối liên hệ giữa các thành phần của nội dung dạy học
Tất cả bốn thành phần của nội dung dạy học có liên hệ mật thiết với nhau,
quy định lẫn nhau. Thiếu tri thức thì không thể hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Họat
động sáng tạo được thực hiện trên cơ sở tri thức và kinh nghiệm họat động đã biết.
Song, kinh nghiệm họat động sáng tạo của con người không phải tỉ lệ thuận với
khối lượng tri thức mà phụ thuộc vào cách thức lĩnh hội và vận dụng tri thức đó.
Kinh nghiệm họat động sáng tạo đến lượt mình sẽ giúp người học lĩnh hội nhanh,
vững chắc, sâu sắc tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, tạo cho họ có tính linh họat, mềm dẻo
hơn. Tính giáo dục của nội dung dạy học đòi hỏi người học phải nắm vững tri thức
và kinh nghiệm họat động thực tiễn. các thành phần này sẽ tạo cho học sinh có thái
độ đánh giá và thái độ cảm xúc đúng đắn đối với tự nhiên, với xã hội với con người
và quy định những kĩ năng kĩ xảo tương ứng của họ.
Toàn bộ nội dung dạy học phải thể hiện được bốn thành phần trên. Nếu coi
nhẹ một trong những thành phần đó sẽ ảnh hưởng tới tính chất lĩnh hội nội dung
dạy học và chất lượng của quá trình dạy học nói chung.
Trên đây là khái niệm tổng quát về nội dung dạy học. nếu xem xét nội dung
dạy học theo thứ bậc thì đó là mức độ đầu tiên. Tiếp theo là kế hoạch dạy học,
chương trình dạy học của môn học. mức độ thứ ba là tài liệu dạy học, được thể
hiện ở sách khoa và các giáo trình khác.Ba mức độ này lập thành nội dung dạy học
được thiết kế ra, nhưng chưa được thể hiện trong hiện thực dạy học. Nó cần được
giáo viên xử lí và hình hành dưới dạng giáo án tiết học, tạo nên sự kết hợp giữa
mặt nội dung và mặt họat động của quá trình dạy học. Đó là mức độ thứ tư của nội dung dạy học.
II. Môn học, kế hoạch, chương trình dạy học sách giáo khoa trong
nhà trường phổ thông
1. Môn học
Môn học là lĩnh vực nội dung dạy học được thực hiện trong nhà trường có
cấu trúc và logic phù hợp với các ngành khoa học và thực tiễn tương ứng, phù hợp
với những quy luật tâm – sinh lí của dạy học.
Bản chất của môn học là một hệ thống toàn vẹn phản ánh các thành phần cấu
trúc của nội dung dạy học. Dấu hiệu cơ bản của môn học bao gồm:
- Sự phản ánh tính thống nhất các khía cạnh nội dung và quá trình của dạy học.
- Tổng thể những tri thức tổng thể những cách thức hoạt động (kĩ năng, kĩ
xảo và cách thức tổ chức).
- Hoạt động giao tiếp bên trong của giáo viên và học sinh khi thực hiện hoạt
động của mình (trong tương tác với hoạt động diễn ra cùng với hoạt động này).
2. Kế hoạch dạy học trường THCS
- Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành trong đó quy định các
môn học, trình tự dạy các môn học qua từng năm học, số tiết học cho từng môn
trong mỗi năm học (số tuần học, số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hàng tuần, hàng ngày).
- Với cách hiểu trên về kế hoạch dạy học, có thể nhận thấy những yếu tố cơ
bản trong một kế hoạch dạy học là:
- Quan hệ giữa thành phần môn học với thành phần lớp học (môn học được
dạy ở lớp học nào và từng lớp học cụ thể sẽ phải học những môn nào).
- Quan hệ giữa thành phần môn học với phân bố thời gian (thời lượng dành
cho mỗi môn và thời lượng học từng môn trong từng lớp theo ngày, tuần và năm học).
- Cấu trúc và thời gian của dạy học (thời lượng chung của năm học theo bậc
học, khối lớp và thời lượng của tuần học, ngày học, tiết học).
Kế hoạch ở từng cấp học và bậc học là khác nhau. Sự khác biệt trong kế
hoạch dạy học được thể hiện ở một số khía cạnh như:
- Số lượng các môn học được xác định trong từng kế hoạch dạy học.
- Do mối quan hệ liên môn, do đặc điểm các bộ môn và đặc điểm nhận thức
của học sinh cũng như yêu cầu cân đối về số tiết hàng tuần ở các lớp nên trong kế
hoạch dạy học việc bố trí các môn học cũng khác nhau. Có môn được học ngay từ
đầu cấp, bậc học nhưng cũng có môn được thực hiện ở các khối lớp xác định theo cấp bậc học.
- Số tiết học dành cho mỗi môn học cũng khác nhau ở từng khối lớp thuộc
cấp học, bậc học khác nhau.
3. Chương trình dạy học trường THCS
Chương trình dạy học do Nhà nước ban hành, trong đó quy định một cách cụ
thể: vị trí, mục đích môn học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, số tiết dành
cho môn học nói chung cũng như từng phần, từng chương, từng bài nói riêng.
Cấu trúc chương trình dạy học của từng bộ môn ở trường THCS:
- Vị trí và mục tiêu môn học. Ngoài trình bày vị trí môn học để giúp giáo
viên thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của môn học, phần này còn trình bày các mục tiêu cần đạt được.
- Nội dung môn học bao gồm các phần, chương, bài, đề mục.
- Phân phối thời gian cho các phần, chương, bài, đề mục.
- Giải thích chương trình và hướng dẫn thực hiện chương trình.
Chương trình dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành vì vậy nó trở thành
công cụ chủ yếu để Nhà nước lãnh đạo và giám sát hoạt động dạy học của nhà
trường thông qua các cơ quan quản lí giáo dục. Chương trình dạy học còn là cơ sở
để giáo viên lập kế hoạch dạy học (kế hoạch dạy học của cá nhân), tiến hành tổ
chức công tác dạy học của mình.
4. Sách giáo khoa các tài liệu học tập khác
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác dùn chung trong các trường học do nhà nước quy định.
Nếu chương trình dạy học quy định phạm vi dạy học của các môn học thì
sách giáo khoa có nhiệm vụ trình bày nội dung của môn học một cách rõ ràng, cụ
thể và chi tiết với cấu trúc xác định. Sách giáo khoa là hình thái vật chất của môn
học, của nội dung học vấn mà môn học thể hiện.
Sách giáo khoa trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cần thiết,
vừa sức đối với học sinh và theo một hệ thống chặt chẽ. Chức năng của sách giáo
khoa là giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu được trên
lớp, phát triển năng lực trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh.
Mặt khác, sách giáo khoa cũng là cơ sở để giáo viên xác định nội dung, lựa chọn
phương pháp, phương tiện dạy học để tổ chức tốt công tác dạy học của mình.
Ngoài sách giáo khoa, ở nhà trường phổ thông còn có những sách và tài liệu
tham khảo khác dành cho giáo viên và học sinh như: sách hướng dẫn giảng dạy,
sách tra cứu, các loại từ điển, sách bài tập. Những bản đồ địa lý và lịch sử, sách
dùng cho các giờ ngoại khóa… Các tài liệu học tập này giúp học sinh mở rộng, bổ
sung, đào sâu kiến thức phù hợp với trình độ và hứng thú của mình.
Sách giáo khoa cũng như các tài liệu học tập khác phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Những tri thức trình bày trong sách giáo khoa phải đảm bảo tính khoa học,
tính hệ thống, tính vừa sức và phù hợp với chương trình quy định.
- Phải giúp học sinh nắm được phương pháp học tập một cách độc lập nhằm
giúp họ biết học tập suốt đời, liên tục và tự giác học tập qua sách báo và hoạt động
thực tiễn của mình. Vì vậy cần có những chỉ dẫn cho các bài tập quan sát luyện
tập; những câu hỏi ôn tập và tự kiểm tra.
- Sách giáo khoa phải kích thích sự suy nghĩ, mở rộng tầm hiểu biết cho HS.
Do đó, cần nêu lên những vấn đề những hiện tượng trong đời sống đòi hỏi phải vận
dụng tri thức khai thác trong sách giáo khoa và tri thức đã biết để giải quyết.
- Ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, gọn và chính xác.
- Đảm bảo các yêu cầu sư phạm về vệ sinh và thẩm mĩ. Hình thức sách giáo
khoa phải đẹp, trình bày phải hấp dẫn, sử dụng khổ chữ thích hợp với đặc điểm tri
giác của HS. Những kiến thức trọng tâm phải có sự nhấn mạnh bởi các kĩ thuật
khác nhau để tập trung được sự chú ý của HS.
BÀI 4. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC I.
Khái quát về phương pháp dạy học
1. Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên
nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học.
2. Đặc điểm của phương pháp dạy học
- Phương pháp dạy học bao gồm hai mặt: khách quan và chủ quan. Mặt khách
quan là những quy luật tâm lý, quy luật dạy học chi phối hoạt động nhận
thức của người học mà giáo dục phải ý thức được. Mặt chủ quan là những
thao tác, những hành động mà giáo viên lựa chọn phù hợp với quy luật chi phối đối tượng.
- Phương pháp dạy học chịu sự chi phối của mục đích dạy học, không có
phương pháp nào là vạn năng chung cho tất cả mọi hoạt động.
- Phương pháp dạy học chịu sự chi phối của nội dung dạy học, việc sử dụng
phương pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học cụ thể.
- Hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên. II.
Hệ thống các phương pháp dạy học
1. Các phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ
a. Phương pháp thuyết trình
a1. Khái niệm: Là phương pháp GV dùng lời nói để trình bày, giải thích ND bài
học một cách có hệ thống, lôgic cho HS tiếp thu
a2.Các dạng thuyết trình
+ Kể chuyện: GV tường thuật lại các sự kiện, hiện tượng một cách có hệ thống.
Được dùng nhiều trong môn KHXH
+ Giải thích: Giáo viên dùng luận cứ, số liệu để giải thích, chứng minh, làm sáng tỏ vấn.
+ Diễn giảng: Giáo viên trình bày một cách có hệ thống NDHT nhất định. Được
dùng nhiều ở lớp cuối THPT và ĐH
a3. Các bước thuyết trình:
+ Đặt vấn đề: Nêu câu hỏi nhận thức
+ Giải quyết vấn đề: Bằng quy nạp hay diễn dịch, lựa chọn VD, kích thích HS
thực hiện các thao tác tư duy để đi đến KL
+ Tổng kết và nhấn mạnh các KL để học sinh ghi nhớ
a4. Ưu điểm của phương pháp thuyết trình
+ Trong một thời gian ngắn, giáo viên có thể trình bày một khối lượng kiến thức
lớn cho nhiều người học
+ HS có thể học được cách tư duy lôgic, cách đặt và giải quyết vấn, cách diễn
đạt chính xác, rõ ràng, súc tích của GV
+ Là PP dễ thực hiện nhất vì không cần đến TBDH nào
+ Khi được nâng lên thành thuyết trình nêu vấn đề sẽ kích thích được tính tích
cực tư duy của học sinh
+ Nếu kết hợp minh họa bằng các PTTQ, vấn đáp, thảo luận thực hành sẽ kích
thích được tính năng động tích cực của HS
a5. Hạn chế của PP thuyết trình
+ Là PP độc thoại nên HS dễ hình thành thói quen thụ động, chóng mệt mỏi =>
thiếu sáng tạo, ghi nhớ kém bền vững
+ Học sinh thiếu cơ hội phát triển ngôn ngữ nói
+ Giáo viên khó có thể chú ý đày đủ đến trình độ nhận thức và KT sự lĩnh hội tri
thức của từng học sinh
a6. Yêu cầu của PP thuyết trình:
+ Ngôn ngữ biểu đạt và nội dung phải có tính lôgic, phù hợp. GV càng nắm
vững ND thì ngôn ngữ biểu đạt càng phong phú và tăng tính thuyết phục
+ Phát âm rõ ràng, chính xác, tốc độ tần số âm thanh vừa phải
+ Ngôn ngữ phải có tính thuyết phục (giải thích, mô tả chứng minh bằng các
VD). Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, thiện cảm, giàu hình ảnh
+ Nên kết hợp thuyết trình với các phương pháp khác như trực quan, vấn đáp,
tình huống có vấn đề…
b. Phương pháp vấn đáp
b1. Khái niệm: Vấn đáp (hay đàm thoại) là PPDH trong đó GV tổ chức thực hiện
quá trình hỏi và đáp giữa GV và HS nhằm làm sáng tỏ tri thức mới, rút ra những KL cần thiết.
b2. Các dạng câu hỏi
- Theo nhệm vụ dạy học có câu hỏi: tái hiện, gợi mở, củng cố kiến thức và câu
hỏi ôn tập hệ thống hóa kiến thức
- Theo mức độ khái quát của vấn đề có: câu hỏi khái quát, câu hỏi theo chủ đề bài
học, câu hỏi theo ND bài học
- Theo mức độ tham gia của HĐ nhận thức của người học có câu hỏi tái tạo và câu hỏi sáng tạo
b3. Ưu điểm
- Nếu sử dụng khéo léo, phối hợp với PPTT sẽ kích thích được tính tích cực tư
duy, năng lực diễn đạt bằng lời của HS
- Cả giáo viên và học sinh đều có thể nhanh chóng thu được tín hiệu ngược để
điều chỉnh HĐ của mình
- Tạo không khí sôi nổi trong giờ học
- Giáo viên có thể sửa chữa ngay những sai sót của học sinh.
b4. Hạn chế: Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến KH dự kiến
b5. Yêu cầu xây dựng câu hỏi:
- Câu hỏi phải rõ ràng, đơn giản, số lượng vừa phải, tập trung vào trọng tâm bài học
- Câu hỏi phải chính xác, giúp học sinh hiểu đúng và hình thành được câu trả lời đúng vấn đề
- Cần căn cứ vào ND bài học để XD câu hỏi lôgic, chặt chẽ
- Hệ thống câu được XD từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát và ngược lại, từ
câu hỏi tái tạo đến câu hỏi sáng tạo
b6. Yêu cầu khi nêu câu hỏi cho học sinh:
- Câu hỏi đưa ra một cách rõ ràng, hướng tới cả lớp
- Chỉ định một HS trả lời, cả lớp nghe và phân tích
- Bình tĩnh khi HS trả lời sai, tránh nôn nóng, vội vàng cắt ý HS - Giáo viên KL
2. Nhóm phương pháp dạy học trực quan
a. Phương pháp quan sát
a1. Khái niệm: Quan sát là PP tổ chức cho HS tri giác một cách có chủ định, có kế
hoạch, tiến trình và sự biến đổi diễn ra ở đối tượng nhằm thu thập những sự kiện,
hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh, quan sát gắn với tư duy.
a2. Ưu điểm:
- Giúp HS hình thành các biểu tượng và phát triển hoạt động nhận thức cảm tính của HS
- HS có thể quan sát các sự vật, hiện tượng để vận dụng hình thành các khái niệm, quy luật…
- Minh họa cho lý luận trừu tượng, giúp HS hiểu biết được chính xác và cụ thể hơn.
a3. Nhược điểm:Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến KH dự kiến
a4.Các bước tổ chức quan sát cho HS
- Bước chuẩn bị: giáo viên cần có kế hoạch về những nội dung sau: Đối tượng
quan sát, thời gian quan sát, thời lượng quan sát, nhiệm vụ học tập cụ thể
của HS khi quan sát, hướng dẫn cách ghi chép cho HS, chuẩn bị phương tiện ( nếu cần). - Tiến hành quan sát:
+ GV giao nhiệm vụ học tập cho HS
+ Hướng dẫn sự quan sát của HS
+ Kích thích suy nghĩ của HS
+ HS quan sát, suy nghĩ, kết luận và ghi chép. - Kết thúc quan sát
+ GV tóm tắt các kết quả học tập đạt được qua quan sát
+ Nhận xét thái độ làm việc của học sinh + Dặn dò
a5. Yêu cầu khi tổ chức quan sát cho HS
- QS gắn liền với giải quyết các nhiệm vụ dạy học cụ thể
- Công tác chuẩn bị cần chu đáo, đảm bảo an toàn và thành công cho buổi quan sát
- Kích thích được hoạt động tư duy và ngôn ngữ trong quá trình quan sát
- Trong quá trình quan sát cần yêu cầu HS phải có sự ghi chép và kết luận
b. Phương pháp biểu diễn thí nghiệm
b1. Khái niệm: là PP giáo viên làm các thí nghiệm, học sinh quan sát, tư duy và
rút ra các kết luận khoa học cần thiết.
b2. Các bước tiến hành: - Khâu chuẩn bị:
+ GV chuẩn bị phương tiện, thiết bị và nguyên liệu phải đảm bảo các tiêu chuẩn
kĩ thuật, đảm bảo an toàn.
+ GV làm thử thí nghiệm trước khi đến lớp
+ Chuẩn bị cho việc hướng dẫn, các câu hỏi định hướng, kích thích tư duy HS
+ HS nghiên cứu trước tài liệu để tham gia tích cực hơ vào quá trình biểu diễn thí nghiệm - Tiến hành thí nghiệm
+ Thực hiện sao cho HS quan sát được rõ ràng và đầy đủ các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm
+Gv cần hướng dẫn HS chú ý vào các dấu hiệu hoặc hiện tượng, kích thích tư duy HS bằng các câu hỏi
+HS quan sát, suy nghĩ và ghi chép, đưa ra kết luận. - Kết thúc thí nghiệm
+GV nhấn mạnh lại các kết quả học tập đã đạt được
+ Gv nhận xét, đánh giá thái độ làm việc của HS
3. Nhóm phương pháp dạy học thực hành
a. Phương pháp luyện tập
a1. Khái niệm: Luyện tập là phương pháp dạy học mà dưới sự chỉ dẫn của giáo
viên, học sinh lặp đi lặp lại những hành động nhất định trong hoàn cảnh khác nhau
nhằm hình thành và phát triển những kĩ năng, kĩ xảo.
a2.Phân loại luyện tập:
Dựa trên cơ sở sự thể hiện của nó, người ta phân ra luyện tập nói, luyện tập viết,
luyện tập lao động. Dựa trên mức độ và tính chất họat động, người ta phân ra:
luyện tập có tính chất tái hiện, luyện tập có tính vấn đề, tính sáng tạo.
a3.Những yêu cầu bản của vận dụng phương pháp luyện tập
- Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định
- Luyện tập phải tiến hành theo một trình tự chặt chẽ
- Phải nắm lí thuyết rồi mới luyện tập và qua luyện tập để hiểu sâu lí thuyết
- Luyện tập phải đảm bảo tính khó khăn vừa sức trong những hoàn cảnh khác nhau và theo nhiều phương án
b. Phương pháp thực hành thí nghiệm
b1. Khái niệm: là PP giáo viên tổ chức cho HS làm thí nghiệm trên lớp, trong
phòng thí nghiệm hoặc vườn trường, qua đó giúp HS lĩnh hội được kiến thức mới
hoặc củng cố, vận dụng kiến thức đã học. b2.Ưu điểm:
- Giúp HS hình thành và rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học
- Giáo dục các phẩm chất của nhà khoa học tương lai như tính chính xác, cẩn
thận, trung thực và có ý thức tổ chức kỉ luật trong công việc.
b3. Nhược điểm
- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất, hoàn cảnh, bài học cụ thể mới có thể
tiến hành phương pháp này.
- Có thể gây nguy hiểm do tiến hành thí nghiệm sai quy tắc
Tóm lại, trong quá trình dạy học người GV cần sử dụng phối kết hợp các
phương pháp dạy học để đạt được tốt nhất mục tiêu dạy học đã đề ra.
BÀI 5. HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC I.
Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học
1 . Khái niệm: HTTCDH là hình thức vận động của nội dung DH cụ thể trong
không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiệm nhiệm vụ và mục tiêu dạy học
2. Phân biệt PPDH với HTTCDH
(PPDH là con đường, là cách thức vận động của NDDH. Nó gồm các cách thức
tổ chức HĐ của GV và HS. Cụ thể đó là những biện pháp, hành động, thao tác của
họ khi thực hiện NDDH. Còn HTTCDH là hình thức vận động của NDDH trong
một không gian, thời gian, địa điểm nào đó. Trong HTTCDH đó có thể sử dụng các
PP, PT khác nhau. PP là cách thức vận động bên trong của ND, HT là cách thức
vận động bên ngoài của ND)
- HTTCDH là hình thức vận động của ND nên nó phản ánh quy mô, địa điểm,
thành phần học sinh tham gia vào việc thực hiện một NDDH nào đó (thực hiện ở
đâu, quy mô lớn hay nhỏ, học sinh tham gia cả lớp hay theo nhóm hay cá nhân…)
- Các HTTCDH khác nhau là tùy thuộc vào:
+ Mối quan hệ giữa việc dạy học có tính tập thể hay cá nhân
+ Mức độ tính độc lập HĐ nhận thức của học sinh
+ Sự chỉ đạo chuyên môn của GV đối với HĐ học tập của HS
( Phần thì tổ chức học tại lớp, có phần thì chỉ đạo học ở nhà)
+ Chế độ làm việc (không gian, thời gian, ánh sáng...); Thành phần học sinh, địa
điểm, thời gian học tập.
II. Các HTTCDH trường phổ thông
1. Hình thức dạy học trên lớp:
- Khái niệm: là HTTCDH mà thời gian học tập được quy định một cách xác định
và ở một địa điểm riêng biệt. Giáo viên chỉ đạo HĐ nhận thứccó tính chất tập thể
ổn định, có thành phần không đổi, đồng thời có chú ý đến từng HS để sử dụng các
PP và PTDH nhằm tạo ĐK thuận lợi cho HS nắm vững tài liệu một cách trực tiếp
cũng như làm phát triển năng lực nhận thức và giáo dục họ.
- 3 dấu hiệu đặc trưng của hình thức tổ chức DH trên lớp:
+ Lớp có thành phần không đổi trong mọi giai đoạn của QTDH
(Tương đồng về lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng học tập lực)
+ Giáo viên chỉ đạo HĐ nhận thức của cả lớp và có chú ý đến đặc điểm của từng HS
+ HS nắm tài liệu một cách trực tiếp tại lớp
* Ưu điểm của hình thức lên lớp:
-Hình thức bài lớp được thực hiện có tổ chức có kế hoạch, có chương trình cụ thể.
-Hình thức này là đào tạo được hàng loạt nguồn nhân lực cho xã hội với số lượng
rất lớn. (Vì dạy học với các học sinh có trình độ như nhau đầu vào và đầu ra)
-Tạo ra môi trường thi đua học tập giữa các học sinh khác nhau
-Giáo viên tiếp xúc trực tiếp thường xuyên với học sinh, để nắm được học sinh
còn yếu ở mặt nào, qua đó giúp học sinh hiểu vấn đề, có thể kiểm tra thường xuyên
kết quả học tập của người học
-Học sinh lĩnh hội tri thức, nắm vững tài liệu học tập ngay tại lớp thông qua giáo viên sẽ nhanh hơn.
-Tìm hiểu được nhiều kiến thức mới, trong một thời gian ngắn.
* Nhược điểm:
-Tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh chưa cao
-Bài giảng của giáo viên không tốt dễ làm cho người học mất tập trung.
* Cấu trúc bài học
- Cấu trúc vĩ mô: tính không đổi của cấu trúc bài học quy định cấu trúc vĩ mô
của bài học. Tính chất của những yếu tố thuộc cấu trúc vĩ mô này bị quy
định bởi những nhiệm vụ cần phải thường xuyên giải quyết trong những tiết
học của loại bài nhất định để đạt mục tiêu tiết học.
- Cấu trúc vi mô: tính động của cấu trúc bài học quy định cấu trúc vi mô – cấu
trúc bên trong của bài học. những thành phần của cấu trúc vi mô là phương
pháp, phương tiện, biện pháp dạy học, cách xử lí, chế biến nội dung dạy học
kết hợp với nhau thành từng tổ hợp. Nó quy định trình tự hợp lí những hành
động, những thao tác sư phạm của giáo viên và những hành động, thao tác
học tập – nhận thức của học sinh. Do đó, hiệu quả của mỗi tiết học không
chỉ bị quy định bởi cấu trúc vĩ mô mà còn bởi cả cấu trúc vi mô.
* Những yêu cầu đối với bài học
Về mặt tưởng: Thông qua nội dung dạy học trang bị cho HS cơ sở lý luận của
CN Mác – Lênin, tư tưởng HCM, đường lối của Đảng và NN.
- Qua việc sử dụng các PP và hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh nắm được
PP duy vật biện chứng và DVLS trong tư duy. Từ đó hình thành thế giới quan khoa
học và các phẩm chất nhân cách.
Về mặt luận dạy học:
- Giáo viên xây dựng hệ thống bài giảng theo chương mục. Soạn giáo án cho từng
tiết giảng. Trong đó cần xác định rõ: mục đích, yêu cầu, các PP, PTDH, cấu trúc
bài giảng cho phù hợp với NDDH
- Khi triển khai bài giảng, cần biết kết hợp hài hòa HĐ của tập thể lớp, của nhóm
tổ với HĐ độc lập của từng học sinh, HĐ của GV với HĐ của HS để đảm bảo vai
trò của từng chủ thể.
- Phải quán triệt mọi nguyên tắc dạy học, lựa chọn và sử dụng phối hợp các
PPDH, PTDH và các HTTCDH. Qua đó rèn cho học sinh phẩm chất và năng lực tự
nghiên cứu, củng cố, mở rộng tri thức kĩ năng kĩ xảo và vận chúng để giải quyết
các bài tập nhận thức và các vấn đề thực tiễn
- Cần kiểm tra chất lượng lĩnh hội tri thức kĩ năng – kĩ xảo của HS để kịp thời
điều chỉnh HĐ của thầy và của trò. Đồng thời cần hình thành cho HS năng
lực tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập.
- Cần chú ý tới các đối tượng học sinh khác nhau trong lớp.
Về mặt tâm
- Trong giờ học phải chú ý đến đặc điểm tâm lý của từng HS: Động cơ, nhu cầu,
thái độ học tập => GV phải tìm cách giúp HS xác định đúng động cơ, tạo ra nhu
cầu, thái độ học tập tích cực và tâm trạng vui mừng phấn khởi với kết quả học tập đạt được
- Bản thân GV phải biết tự chủ, khắc phục trạng thái tâm lý tiêu cực trong giờ
giảng. Đề ra yêu cầu hợp lý, vừa sức. Kiểm tra đánh giá và đối xử với HS phải thể
hiện sự công minh, tôn trọng, thân ái.
Về mặt vệ sinh
- Tránh làm cho học sinh quá mệt mỏi về trí lực, thể lực.
- Quan tâm tới chế độ ánh sáng, nhiệt độ, sự sạch sẽ của lớp học, môi trường xung quanh
2. Hình thức học tập theo nhóm tại lớp
Hình thức học tập này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân, mà trong đó học
sinh trong nhóm dưới sự chỉ đạo của giáo viên trao đổi những ý tưởng, nguồn kiến
thức với nhau, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ
năng, kĩ xảo. Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập
của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm.
- Đặc trưng của hình thức học tập theo nhóm là sự tác động trực tiếp giữa những
học sinh với nhau, sự cùng phối hợp họat động của họ
- Công tác với toàn lớp trong điều kiện học tập nhóm tại tiết học có tính chất hoàn toàn khác
- Việc học tập cá nhân cũng có những nét mới.
3. Hình thức học tập nhà
Học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách logic hình thức lên lớp. Học tập ở nhà khác
với hình thức lên lớp ở chỗ nó đòi hỏi học sinh phải có tính tự lực học tập cao hơn
và thiếu sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên
Học tập ở nhà rất quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội, hoàn
thiện tri thức và kĩ năng, kĩ xảo. Nó có tác dụng củng cố, đào sâu, khái quát hóa, hệ
thống hóa tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và có tác dụng chuẩn bị lĩnh hội những tri thức
mới. Thông qua học tập ở nhà, học sinh bồi dưỡng, rèn luyện tinh thần trách nhiệm
trong học tập, tính chủ động, tự lực, phát huy tinh thần nỗ lực chủ quan, khắc phục
khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ đề ra trong thời gian quy định, tính tổ chức và
tính kế hoạch trong học tập.
4. Hình thức thảo luận
Là hình thức phát huy cao độ tính tích cực, độc lập của cá nhân kết hợp với sự giúp
đỡ, sự hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề đặt ra, giúp họ trình bày và bảo vệ ý
kiến của mình trước một số đông người.
Tổ chức thảo luận có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Nêu vấn đề thảo luận: Đó là những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa trong chương trình
Bước 2: Giáo viên trình bày kế hoạch chuẩn bị thảo luận và giao nhiệm vụ cho cả
lớp, từng nhóm và từng cá nhân
Bước 3: Học sinh chuẩn bị trong một thời gian nhất định tùy theo nội dung và khi
lượng vấn đề thảo luận
Bước 4: Tiến hành thảo luận
+ Giáo viên nêu ngắn gọn mục đích, yêu cầu, nội dung thảo luận
+ Học sinh trình bày ý kiến đã chuẩn bị
+ Lớp tiến hành thảo luận để đi đến kết luận và đánh giá các báo cáo
+ Trong khi thảo luận giáo viên cần động viên mọi người phát biểu ý kiến tranh
luận và điều khiển điều chỉnh cho buổi thảo luận đi đúng hướng.
+ Kết thúc thảo luận GV tổng kết các ý kiến phát biểu, nêu tóm tắt những vấn đề
đã thống nhất và chưa thống nhất. GV có thể bổ sung, sửa chữa sai lầm của báo
cáo. Nhận xét tinh thần thái độ thảo luận rồi đánh giá, cho điểm.
5. Hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học
Trong quá trình dạy học, hình thức hoạt động ngoại khóa có tính chất tự
nguyện. Hình thức này tạo điều kiện cho học sinh khả năng mở rộng và đào sâu tri
thức đã tiếp thu được ở chương trình bắt buộc. Đồng thời nó cũng tạo thêm hứng
thú học tập và làm phát triển năng lực riêng của từng học sinh, qua đó góp phần
hướng nghiệp cho học sinh.
Những hình thức hoạt động ngoại khóa có thể là: câu lạc bộ khoa học, hội
“các nhà khoa học trẻ tuổi”, dạ hội khoa học hay nghệ thuật…
6. Hình thức tham quan học tập - Mục tiêu:
+ Tổ chức cho học sinh quan sát trực tiếp và nghiên cứu các sự vật hiện tượng
trong tự nhiên, XH, cuộc sống, trong sản xuất…Giúp họ tích lũy, đào sâu, mở rộng
tri thức, nâng cao hứng thú, phát triển óc quan sát, trí tò mò khoa học.
+ Hình thành cho học sinh PP quan sát, phân tích, tổng hợp những tài liệu thu được
trong quá trình tham quan; Bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đát nước, con người và cuộc sống.
- Ý nghĩa: Là hình tốt để thực hiện mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, gắn nhà
trường với cuộc sống và thực hiện nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh
7. Hình thức giúp đỡ riêng
Hình thức này thường gọi là phụ đạo, nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi hoặc
giúp đỡ học sinh yếu. đối với học sinh yếu, hình thức đó giúp họ lấp được các lỗ
hổng tri thức kịp thời và nhờ đó mà ngăn ngừa tình trạng một bộ phân học sinh
không theo kịp được trình độ chung của lớp. còn đối với học sinh giỏi, hình thức
giúp đỡ riêng giúp họ phát triển hơn nữa những năng lực sẵn có, nghiên cứu sâu
một số vấn đề khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật nào đó mà những buổi học trên lớp
không có điều kiện giải quyết
CHƯƠNG 2. THUYẾT QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
BÀI 1. QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
I. Khái niệm quá trình giáo dục
1. Quá trình giáo dục gì?
Quá trình giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức của giáo viên
và hcj sinh hình thành những quan điểm, niểm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành
vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ,
văn hóa, làm phát triển nhân cách học sinh theo mục đích giáo dục của nhà trường và xã hội.
QTGD ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, là bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể.
QTGD có chức năng trội là làm cho học sinh có nhận thức đúng đắn về các yêu
cầu, chuẩn mực xã hội và có thói quen, hành vi tương ứng, nó là một trong những
kết quả, mục đích quan trọng nhất của hoạt động dạy học trong nhà trường.
2. Cấu trúc của quá trình giáo dục
Cũng giống như quá trình dạy học,cấu trúc của quá trình giáo dục là cấu
trúc-hệ thống.Cấu trúc của quá trình giáo dục bao gồm các thành tố sau: 1). Mục đích giáo dục 2). Nhà giáo dục(GV)
3). Đối tượng giáo dục(HS)
4).Nội dung giáo dục(NDGD)
5). Phương pháp giáo dục(PPGD)
6).Kết quả giáo dục(KQGD) 7).Môi trường(MT)
II. Bản chất đặc điểm của quá trình giáo dục
1. Bản chất của QTGD
* Căn cứ xác định bản chất:
- QTGD là quá trình hình thành một kiểu nhân cách trong xã hội. Quá trình xã
hội hóa cá nhân là quá trình biến cá nhân thành một thành viên của xã hội; có đầy
đủ giá trị xã hội để tham gia vào những hoạt động xã hội. Do đó muốn xác định
được bản chất của QTGD phải xuất phát từ có chế có tính xã hội của nó là sự
truyển đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ đi trước
trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được
các giá trị văn hóa của loài người.
- Căn cứ vào quan hệ sư phạm giữa nhà giáo dục và người được giáo dục. Đó
là sự thống nhât giữa sự tác động giáo dục của nhà giáo dục và sự tiếp nhận, tự
điều chỉnh của người được giáo dục trong quá trình giáo dục.
* Bản chất của QTGD:
- QTGD là quá trình làm cho người được giáo dục (HS) ý thức được các quan
hệ xã hội và các giá trị của nó (các quan hệ chính trị - tư tưởng, kinh tế, pháp luật,
đạo đức) để rồi vận dụng vào các lĩnh vực trong cuộc sống. Quá trình tham gia vào
các quan hệ xã hội giúp học sinh khẳng định những quan hệ mới, tích cực trong
cuộc sống và loại bỏ những quan niệm, biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, không còn phù
hợp với xã hội hiện nay.
- QTGD là quá trình hình thành bản chất người – xã hội trong mỗi cá nhân một
cách có ý thức, là quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh được các lực lượng
bản chất xã hội của con người, được biểu hiện ở toàn bộ các quan hệ xã hội của họ.
- Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống của mỗi cá nhân hoặc
nhóm, tầng lớp xã hội theo những chuẩn mực, các yêu cầu của sự phát triển xã hội,
làm cho cá nhân biết sống phù hợp với các chuẩn mực của xã hội.
- QTGD vừa mang bản chất của hoạt động vừa mang bản chất của giao lưu.
Bản chất của QTGD quá trình tổ chức các hoạt động giao lưu trong cuộc
sống nhằm giúp cho người được giáo dục tự giác, tích cực, độc lập chuyển hóa
những yêu cầu chuẩn mực của hội thành hành vi thói quen tương ứng.
2. Đặc điểm của quá trình giáo dục
a. QTGD một quá trình mục đích xuất phát từ yêu cầu của hội diễn
ra lâu dài
Khái niệm “Giáo dục” bản thân nó đã nói lên tính mục đích.
Thật vậy, mỗi tác động của cha mẹ, của thầy cô giáo, của những người phụ
trách các đoàn thể xã hội đến con cái, học sinh dù lớn hay nhỏ đều nhằm tới một mục đích nhất định.
Không có mục đích không thể tồn tại “cái gọi là giáo dục”.
- Mục đích giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội xuất phát từ yêu cầu của xã
hội (về phẩm chất, nhân cách con người, với tư cách là nguồn nhân lực phục vụ
cho sự phát triển kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội).
Mục đích giáo dục xã hội bị chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội, bởi
truyền thống văn hoá dân tộc và thời đại.
Như vậy, quá trình giáo dục là quá trình định hướng giá trị xã hội cho các
thế hệ con người theo thời đại.
Tính lâu dài của QTGD được thể hiện:
- QTGD được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc đời con người, từ
lúc sinh ra đến khi mất đi.
- Việc hình thành và trở nên bền vững, ổn định của một hành vi, thói quen
của cá nhân đòi hỏi một thời gian lâu dài không thể một sớm một chiều mà có ngay được.
- Kết quả hoạt động giáo dục, nhất là cac tác động nhằm hình thành nhận
thức mới, niềm tin,... thường khó nhận thấy ngay và có khi kết quả đó lại bị biến đổi hoặc mất đi.
- Việc sửa chữa, thay đổi những nếp nghĩ; thói quen cũ, lạc hậu, không đúng
(giáo dục lại) là việc rất khó khăn và lâu dài.
b. QTGD diễn ra với sự tác động của nhiều nhân tố
- Quá trình giáo dục là quá trình phức tạp, chịu sự tác động của nhiều nhân
tố khách quan và chủ quan, có ý thức và không có ý thức, trong môi trường đầy biến động.
- Giáo dục là quá trình xã hội, các yếu tố tác động từ nhiều phía đan xen với
nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất hướng tới việc hoàn thiện
nhân cách. Mức độ tác động của lực lượng tham gia với các mức độ và bình diện
khác nhau, do đó sản phẩm giáo dục là sản phẩm chung của các lực lượng xã hội.
- Khi nói sản phẩm giáo dục là kết quả phức hợp của những tác động giáo
dục của nhiều lực lượng tham gia, thì cần lưu ý rằng sản phẩm giáo dục còn là kết
quả của quá trình tự giáo dục của bản thân học sinh trước các tác động của môi trường.
- Đòi hỏi nhà giáo dục cần chủ động phối hợp thống nhất các tác động giáo
dục, đồng thời phải linh hoạt vận dụng các nguyên tắc, phương pháp giáo dục để
hạn chế tới mức tối đa những tác động tiêu cực, tự phát và phát huy những tác
động tích cực đối với quá trình giáo dục.
c. Quá trình giáo dục mang tính cụ thể
được thể hiện như sau:
- Tác động giáo dục theo từng cá nhân người được giáo dục với những tihf
huống giáo dục cụ thể.
- Mỗi con người có đặc điểm riêng về tâm - sinh lý, khả năng nhận thức,
kinh nghiệm, thói quen hành vi (sự khác biệt này được hình thành do hoàn cảnh
sống, do hoạt động và giao lưu của cá nhân, do phương pháp giáo dục của từng gia
đình). Do đó, quá trình giáo cần phải chú ý đến đặc điểm riêng của từng cá nhân.
- QTGD diễn ra trong những không gian, thời gian, địa điểm với những điều
kiện, hoàn canh cụ thể. Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể đối với từng loại giáo dục.
QTGD luôn diễn ra cụ thể trong những tình huống giáo dục, điều k iện
giáo dục và đối tượng giáo dục cụ thể.
d. QTGD thống nhất biện chứng với quá trình dạy học
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường trong đó dạy học là con
đường giáo dục ngắn nhất và có hiệu quả nhất. Thực tế cuộc sống đã chứng minh
giáo dục con người tốt nhất bằng khoa học và dạy khoa học là nội dung quan trọng
nhất để giáo dục nhân cách cho con người. Như vậy dạy học và giáo dục là hai quá
trình có cùng mục đích là hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, tuy
nhiên chúng không đồng nhất.
Tính đa dạng của các hoạt động giáo dục làm cho quá trình giáo dục trở nên
hấp dẫn đối với học sinh và do đó đạt được hiệu quả trong nhiều mặt. Tuy nhiên,
giáo dục được thực hiện thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học sẽ làm cho giáo
dục đạt đến chiều sâu vững chắc.
III. Động lực các khâu của quá trình giáo dục
1. Động lực của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục là một hình thức phức tạp, đầy mâu thuẫn (trong ý thức,
thái độ, hành vi), mỗi người luôn đấu tranh, giằng co giữa cái tốt và cái xấu, cái
tích cực và tiêu cực, giữa cái mới và sức ỳ của thói quen cũ. Vấn đề là ở chỗ con
người có nhận thức được đầy đủ những mâu thuẫn đó không ? Lựa chọn cách thức
nào và giải quyết nó ra sao ?
Chính việc giải quyết các mâu thuẫn bằng phương thức nào sẽ dẫn con
người phát triển theo chiều hướng đó (mục đích cao đẹp) phương thức văn
minh đã dẫn con người đến thế giới văn minh. Ngược lại, mục tiêu thấp hèn,
phương thức sai lệch làm cho con người trở thành bệnh hoạn. Ngay cả mục
tiêu tốt nhưng phương thức giải quyết sai lầm cũng sẽ làm con người trở nên tầm thường.
Như vậy QTGD có nhiều mâu thuẫn, trong đó mâu thuẫn cơ bản của bản
thân quá trình giáo dục trở thành động lực chủ yếu của QTGD.
Động lực của QTGD kết quả giải quyết mâu thuẫn giữa một bên
các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục mới đang đặt ra cho người được giáo dục với
một bên trình độ được giáo dục phát triển hiện của người được giáo dục.
Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực:
- Đối tượng giáo dục phải có ước mơ, hoài bão cho tương lai của mình.
- Chính họ phải cố gắng phấn đấu để biến ước mơ thành hiện thực.
2. Các khâu của quá trình giáo dục
a. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức làm sở cho hành động
Giáo dục trước hết là làm cho mỗi con người nhận thức đầy đủ về mục
đích, ý nghĩa và giá trị cuộc sống, hiểu được chân lý, lẽ phải, tính nhân văn,
nhân đạo trong các mối quan hệ xã hội, từ đó hình thành thế giới quan, lý tưởng sống.
Nhận thức đúng về các mối quan hệ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của con người. Là cơ sở để hình thành thái độ và hành vi văn minh. (Ngược
lại, nhận thức sai lệch là nguyên nhân của những hành động sai lầm).
Nhận thức đúng là cơ sở để có hành động đúng. Chính quá trình vận dụng,
trải nghiệm những điều đã thu nhận được trong quá trình giáo dục vào hoạt động,
thực tiễn lại củng cố nhận thức, xây dựng được ý thức, niềm tin cho cá nhân. Nhận
thức là cơ sở, là kim chỉ nam cho sự hình thành và điều chỉnh tình cảm, thái độ và
hành vi của mỗi cá nhân
Quá trình giáo dục là quá trình làm cho (giúp) học sinh phát triển về mặt
nhận thức từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ biết những điều đơn
giản đến phức tạp hơn, cao hơn…để rồi biết vận dụng vào đời sống xã hội
Quá trình giáo dục làm cho học sinh từ nhận thức đúng đắn (lí trí) mà hình
thành lí tưởng, tình cảm, ước mơ, lối sống, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan…
b. Bồi dưỡng những tình cảm đúng đắn, lành mạnh phù hợp với các quan
niệm, chuẩn mực đạo đức, quan hệ úng xử hội
Quá trình giáo dục, trên cơ sở làm cho con người có nhận thức đúng đắn sẽ
giúp cho họ có thái độ, niềm tin vào những điều đã nhận thức được, vào chính
tương lai, cuộc sống của bản thân và dân tộc. Thái độ, niềm tin chính là biểu hiện
cụ thể của quan điểm sống, sự tôn trọng các giá trị đặc điểm, các chuẩn mực xã hội.
Thái độ, niềm tin là kết quả của quá trình giáo dục, nhưng nó lại có giá trị
hướng dẫn con người hành động, là chất men kích thích sự chuyển hoá ý thức
thành hành vi, là nội lực, là sức mạnh tinh thần để biến những điều nhận thức được
thành phẩm chất nhân cách, đó cũng là cơ chế của tự giáo dục. (Nhận thức đúng,
nhưng không có niềm tin thì hành động của con người sẽ trở nên “vô cảm”, khô khan và cứng nhắc).
Thực tiễn đời sống đã cho thấy: có nhận thức đúng, nhưng do tình cảm sai
lệch thì chưa chắc đã dẫn đến hành động đúng, có khi còn làm sai lệch, xuyên tạc,
bóp méo sự thật. Ví như “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, “không ưa thì dưa có giòi”,
“yêu nhau củ ấu thành tròn”… Điều đó nói lên sự chi phối ngược lại của tình cảm
đối với nhận thức. Để bồi dưỡng, hình thành được những tình cảm tốt đẹp cho học
sinh phải dựa vào cơ chế hình thành của tình cảm: tạo nhiều cơ hội nảy sinh các
xúc cảm đồng loại và được tổng hợp lại. Muốn vậy, trong các quan hệ giáo dục
(quan hệ sư phạm) thầy – trò phải tốt đẹp, tạo được nhiều ấn tượng tình cảm ở học
sinh. Quá trình giáo dục cũng càn chú ý uốn nắn sửa chữa, khắc phục những xúc
cảm, tình cảm sai lệch, thiếu trong sáng ở học sinh. Khi đã có được tình cảm, thái
độ đúng về chính trị, đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ,…sẽ thúc đẩy mạnh mẽ học sinh
vươn tới chiếm lĩnh những giá trị tốt đẹp
c. Rèn luyện hình thành hành vi thói quen
Mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục là tạo lập cho con người những
hành vi, thói quen có văn hoá và chúng phải được thể hiện trong cuộc sống hàng
ngày. Hành vi là biểu hiện cụ thể nhất của bộ mặt tâm lý, đặc điểm của con người
đã hình thành được thói quen sống có văn hoá.
Hành vi, thói quen văn hoá chính là kỹ năng cuộc sống, là kết quả của nhận
thức, đồng thời là biểu hiện cụ thể và sinh động nhất của thái độ, niềm tin của con
người. Hành vi, thói quen được hình thành trong hoạt động, trong các tình huống
cụ thể đó là sản phẩm của quá trình học tập, tu dưỡng lâu dài. Hành vi văn hoá khi
đã trở thành thói quen sẽ làm thành một hệ thống vững chắc, sẽ tự động hoá thể
hiện trong cách cư xử ở mọi tình huống của cuộc sống.
Như vậy, hành vi thói quen là kết quả của việc thực hiện tốt hai khâu bồi
dưỡng nhận thức và tình cảm trong QTGD.
Thực tiễn đời sống đã cho thấy: có nhận thức đúng, nhưng do tình cảm sai lệch thì
chưa chắc đã dẫn đến hành động đúng, có khi còn làm sai lệch, xuyên tạc, bóp méo
sự thật. Ví như “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, “không ưa thì dưa có giòi”, “yêu nhau
củ ấu thành tròn”… Điều đó nói lên sự chi phối ngược lại của tình cảm đối với
nhận thức. Để bồi dưỡng, hình thành được những tình cảm tốt đẹp cho học sinh
phải dựa vào cơ chế hình thành của tình cảm: tạo nhiều cơ hội nảy sinh các xúc
cảm đồng loại và được tổng hợp lại. Muốn vậy, trong các quan hệ giáo dục (quan
hệ sư phạm) thầy – trò phải tốt đẹp, tạo được nhiều ấn tượng tình cảm ở học sinh.
Quá trình giáo dục cũng càn chú ý uốn nắn sửa chữa, khắc phục những xúc cảm,
tình cảm sai lệch, thiếu trong sáng ở học sinh. Khi đã có được tình cảm, thái độ
đúng về chính trị, đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ,…sẽ thúc đẩy mạnh mẽ học sinh
vươn tới chiếm lĩnh những giá trị tốt đẹp
Tóm lại, ba khâu của quá trình giáo dục có liên quan chặt chẽ với nhau,
không thể tách rời nhau, thiếu một trong ba khâu không còn là quá trình giáo dục
hoàn chỉnh, mỗi khâu là tiền đề và đồng thời là kết quả của các khâu kia. Khi vận
dụng cá khâu của QTGD đòi hỏi nhà giáo dục phải tùy vào đối tượng, yêu cầu,
nhiệm vụ giáo dục cụ thể, đối tượng và hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn và vận dụng
linh hoạt, sáng tạo các khâu cho phù hợp.
IV. Tự giáo dục giáo dục lại
1. Tự giáo dục
Tự giáo dục là một bộ phận của QTGD. Tự giáo dục là hoạt động có ý thức
của con người hướng vào việc tự hoàn thiện mình theo những chuẩn mực của xã
hội. Tự giáo dục (tự tu dưỡng) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi con người,
là biểu hiện trình độ phát triển nhân cách của cá nhân đến một giai đoạn mới, là
phẩm chất cực kỳ quý báu của nhân cách.
Tự giáo dục bắt đầu từ việc nhận thức bản thân, thấy được ưu nhược
điểm, sở trường, sở đoản, cái đúng, cái chưa đúng, chưa đủ mà phấn đấu vươn
lên. Đồng thời, tự giáo dục được hình thành và phát triển do nhu cầu cuộc
sống, được phát triển trong quá trình sống, học tập, lao động sinh hoạt tập thể
và cộng đồng. Trong thời đại ngày nay, một trong các mục tiêu giáo dục là làm
cho mỗi người biết tự tu dưỡng, vươn lên để khẳng định mình, hoà nhập với cộng đồng…
Quá trình tự giáo dục bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
- Năng lực tự ý thức của học sinh về sự phát triển nhân cách của bản
thân, về một phẩm chất hay năng lực nào đó cần được phát triển hơn.
- Năng lực tự tổ chức giáo dục như: đặt mục tiêu, lập kế hoạch, lựa chọn
phương pháp, phương tiện,..
- Sự nỗ lực của bản thân vượt qua những khó khăn, trở ngại gặp phải
trong quá trình thực hiện kế hoạch tự giáo dục.
- Tự kiểm tra xem đã đạt được những kết quả tự giáo dục như thế nào, tự
đánh giá và tự rút ra kinh nghiệm cho bản thân.
2. Giáo dục lại
Là hoạt động của các nhà giáo dục nhằm thay đổi nhận thức, thái độ,
hành vi thói quen không đúng của học sinh đã mắc phải ở một mức độ nghiêm
trọng. Ví dụ : Hiện nay, có một số bộ phận học sinh có nhận thức lệch lạc về
đặc điểm, chính trị, pháp luật, có những hành vi không phù hợp với chuẩn mực
xã hội (lười học tập, ngại lao động, không vâng lời cha mẹ, thầy cô, đua đòi,
buông thả, thậm chí có biểu hiện đạo đức suy thoái, rơi vào các tệ nạn xã hội
như nghiện hút, cờ bạc vi phạm pháp luật).
Giáo dục lại là công việc đầy khó khăn, phức tạp bởi vì thói hư tật xấu
đã tiêm nhiễm, ăn sâu. Cải tạo con người là phá vỡ những động hình đã trở
thành cố tật không phải là việc đơn giản.
Giáo dục lại bắt đầu từ việc nhà giáo dục phải phân tích các nguyên nhân
dẫn đến các sai lệch để tìm ra các biện pháp giáo dục thích hợp, các phương
pháp giáo dục lại quan trọng là: gần gũi, các em, phân tích từng sai sót, dùng
tình cảm và lý lẽ để cảm hoá, thuyết phục. Bằng sự gương mẫu của cha mẹ,
thầy cô, bằng một gương người tốt, việc tốt, bằng khen thưởng, khích lệ tạo
niềm tin cho trẻ. Cần tổ chức cho các em tham gia vào các hoạt động xã hội,
văn hoá, thể dục thể thao, hoạt động tập thể hấp dẫn, điều quan trọng nhất là tổ
chức cho các em học tập một cách hứng thú để nang cao nhận thức khoa học và cuộc sống.
Ở mức độ nghiêm trọng hơn, thiếu niên phạm pháp cần đưa vào các trường
giáo dưỡng, do bộ công anh quản lí. Phương pháp giáo dục ở trại giáo dưỡng là tổ
chức lại cuộc sống, phá vỡ động hình, đưa các em vào lao động, học tập, sinh hoạt tập thể.
BÀI 2: NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC
I. Khái niệm nguyên tắc giáo dục
Nguyên tắc giáo dục được hiểu là những luận điểm cơ bản có tính quy luật
của lí luận giáo dục, có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn và vận dụng nội dung,
phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục nhằm thực hiện tối ưu mục đích và nhiệm vụ giáo dục.
Nguyên tắc là những luận điểm được rút ra từ các quy luật, những nguyên lý
như những tiên đề có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp có đông người tham
gia. Nắm được các nguyên tắc giáo dục sẽ giúp các nhà giáo dục kết hợp được lí
luận với thực tiễn giáo dục vận dụng một cách sáng tạo nhằm đảm bảo cho quá
trình giáo dục đạt hiệu quả cao.
II. Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong giáo dục
Nguyên tắc này có tính định hướng cho hoạt động giáo dục, sự phát triển
nhân cách. Giáo dục bản thân nó là một hoạt động có mục đích, vì vậy, mọi nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức quá trình giáo dục đều phải nhằm tới mục đích cụ thể.
Mục đích giáo dục có nhiều cấp độ
+ Mục đích giáo dục tổng quát : hình thành nhân cách tích cực, sáng tạo (phát triển toàn diện).
+ Mục tiêu giáo dục : Là sự cụ thể hoá mục đích giáo dục cho từng giai đoạn
phát triển trẻ em. Mục tiêu trước mắt cho tương lai gần, mục tiêu cho từng hoạt
động, mục tiêu cho từng tình huống cụ thể. Yêu cầu khi thực hiện:
+ Khi tổ chức các hoạt động giáo dục nhà giáo dục luôn phải đặt ra và tự trả
lời các câu hỏi : Tác động giáo dục của mình nhằm mục tiêu gì ? Sẽ đem lại lợi ích
gì trước mắt và lâu dài cho học sinh ? Làm thế nào để có thể đạt được mục tiêu đó?
+ Khi thiết kế mục đích, mục tiêu giáo dục nhà giáo dục phải cân nhắc, tính
toán kỹ trên cơ sở phân tích các tình huống giáo dục trước khi quyết định tổ chức
một hoạt động giáo dục cụ thể và lựa chọn phương pháp phù hợp.
2. Nguyên tác giáo dục gắn với đời sống hội
Thể hiện ở hai phương diện cơ bản:
- Sự chuyển hóa các quan hệ xã hội thành ý nghĩa, giá trị đối với các cá nhân
và được thể hiện trong hành động tương ứng của đời sống xã hội.
- QTGD thế hệ trẻ phải phát huy, tận dụng được những ảnh hưởng, tác động
giáo dục của các quan hệ xã hội làm cho học sinh không bị xa rời, thoát li thực tế.
Phương hướng thực hiện nguyên tắc:
- Tạo mối liên hệ gắn bó giữa việc giảng dạy, học tập, giáo dục trong nhà
trường với đời sống xã hội bên ngoài.
- Làm cho thanh thiếu niên học sinh luôn có ý thức quan tâm đến các sự kiện
trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của đất nước.
- Tổ chức cho học sinh tham gia thường xuyên vào công cuộc lao động xây
dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân cư.
- Phê phán, khắc phục những biểu hiện của phương thức giáo dục của nhà trường kiểu cũ.
3. Nguyên tắc thống nhất giữa ý thức hành vi trong giáo dục
Giáo dục là một quá trình gồm ba khâu thống nhất biện chứng với nhau:
Giáo dục ý thức, giáo dục thái độ và hình thành hành vi, thói quen. Hành vi là lối
sống, phương thức sống, được biểu hiện trong các tình huống xảy ra hàng ngày.
Tiêu chí trưởng thành của nhân cách là sự thống nhất giữa ý thức và hành vi. Hành
vi là sản phẩm của ý thức, đồng thời là cơ sở để khẳng định trình độ nhận thức và
thái độ của con người. Do đó, sự thống nhất giữa giáo dục ý thức và hành vi vừa là
mục tiêu vừa là nguyên tắc chỉ đạo các hoạt động giáo dục.
Sự thống nhất giữa ý thức và hành vi trong quá trình giáo dục được thể hiện:
- Hiểu được những khái niệm, quy tắc, chuẩn mực, tư tưởng, chính trị, đạo đức, pháp luật...
- Trên cơ sở nắm vững được các chuẩn mực chuyển hóa thành niềm tin.
- Quá trình rèn luyện, tập luyện thể hiện các chuẩn mực để hình thành hành vi – thói quen.
* Các yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này
- Giúp cho học sinh hiểu đúng và thấy được ý nghĩa, giá trị của những chuẩn
mực trong thực tiễn cuộc sống từ đó thúc đẩy hình thành hành vi.
- Chống tình trạng không ăn khớp giữa lời nói và việc làm của giáo viên và
học sinh. Nhà giáo dục luôn phải là tấm gương sáng về mọi mặt cho học sinh noi
theo, nói và làm phải theo một chuẩn mực sư phạm.
- Cần tổ chức các hoạt động đa dạng, hấp dẫn, tạo điều kiện cho học sinh
luyện tập nhằm hình thành các phẩm chất đạo đức, hành vi thói quen.
- Tạo ra các tình huống giáo dục để các đối tượng tự tìm ra phương hướng giải quyết.
4. Nguyên tắc giáo dục trong lao động bằng lao động
Lao động là phương thức sống, đồng thời là con đường hình thành và phát
triển nhân cách. Lao động sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, là nguồn
gốc của mọi tình cảm, mọi phẩm chất tốt đẹp của con người. Ngược lại sự nhàn
rỗi, lười biếng là nguồn gốc nảy sinh mọi thói hư, tật xấu.
Giáo dục bằng lao động như một phương tiện giáo dục để học sinh có cơ
hội và điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, rèn luyện những
đức tính, phẩm chất tốt đẹp. Do vậy, nhà giáo dục cần phải tổ chức cho học sinh
thực sự rèn luyện trong lao động.
* Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau từ việc
nhỏ nhất hàng ngày như vệ sinh trường, lớp.
- Cần thu hút học sinh tham gia vào các hình thức lao động kỹ thuật, có tính
sáng tạo, hấp dẫn, tạo sự hứng thú như trồng hoa, cây cảnh, tạo môi trường xanh, sạch đẹp.
- Tổ chức cho các em tham gia vào lao động tạo ra của cải vật chất trong
vườn trường, xưởng trường.
- Cần giúp cho giáo viên và học sinh có thái độ đúng đắn đối với người lao
động, với công việc lao động, với sản phẩm lao động, có ý thức hợp tác, tương trợ
giúp đỡ nhau; cần khắc phục những những biểu hiện, những khuynh hướng không đúng trong lao động.
5. Nguyên tắc giáo dục trong tập thể bằng tập thể
Tập thể là nơi học sinh sinh sống và học tập, là môi trường trực tiếp để các
em giao lưu, sinh hoạt bạn bè, là phương tiện để giáo dục học sinh.
Giáo dục bằng tập thể là xem tập thể như một lực lượng, một phương tiện
giáo dục có tác dụng hình thành, phát triển nhân cách học sinh.
Những yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này :
- Chú ý nguyên tắc “tác động song song” một mặt nhà giáo dục tác động đến
tập thể thông qua tập thể gây ảnh hưởng đến từng cá nhân, mặt khác cần tác động
trực tiếp tới từng cá nhân để tạo nên sự cộng hưởng tích cực trong tập thể.
- Xây dựng tập thể học sinh vững mạnh để mỗi lớp là một đơn vị tự quản, có
kỷ luật, có dư luận lành mạnh, có truyền thống tốt, biến yêu cầu của giáo viên
thành yêu cầu của tập thể học sinh.
- Cần tổ chức tốt mối quan hệ giữa nhà giáo dục và bộ máy tự quản của tập
thể học sinh. Cần tránh hai khuynh hướng : Thiếu tin tưởng đối với lãnh đạo tập
thể dẫn đến thái độ áp đặt, làm thay hay độc đoán trong quản lý học sinh. Hoặc tin
tưởng quá mức vào khả năng tự quản của tập thể dẫn đến việc buông lỏng hay quản lý, thả nổi
6. Nguyên tắc tôn trọng nhân cách học sinh kết hợp với yêu cầu hợp
trong quá trình giáo dục
Tôn trọng nhân cách học sinh là tôn trọng nhân phẩm, tài năng trí tuệ, tự do
tư tưởng, nhu cầu, nguyện vọng và thói quen sống của mỗi cá nhân : Tôn trọng
nhân cách còn bao gồm tôn trọng thân thể, không ai được xúc phạm đến phẩm giá và thân thể con người.
Tôn trọng nhân cách là tin tưởng con người, tin tưởng ở khả năng trí tuệ, khả
năng lao động sáng tạo của con người. Tin tưởng là thể hiện sự mong muốn của
các nhà giáo dục đối với đối tượng giáo dục và đồng thời cũng là một biện pháp tế
nhị buộc họ phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
Yêu cầu hợp lí chính là sự đòi hỏi cao hơn thực tế các em phải phấn đấu.
Bằng hệ thống những mục tiêu, những tiêu chuẩn nâng dần từng bước, thúc đẩy
học sinh phải phấn đấu liên tục. Khi nhà giáo dục đặt ra những yêu cầu hợp lí, học
sinh sẽ cảm nhận được sự tin tưởng của giáo viên về mình, như là tiếp thêm sức
mạnh để cố gắng nhiều hơn. Yêu cầu cao chính là thể hiện niềm tin và sự tôn trọng nhân cách con người.
=> Muốn giáo dục con người phải tôn trọng nhân cách con người và phải có
những yêu cầu hợp lí đối với con người. Vì:
- Tôn trọng nhân cách học sinh cần phải luôn đề ra các yêu cầu giúp cho học
sinh vươn lên, phát triển nhân cách tốt hơn.
- Đòi hỏi học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cũng như trong quan
hệ ứng xử sư phạm phải thể hiện sự tôn trọng, yêu thương, dìu dắt các em tiến bộ.
* Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc này.
+ Nhà giáo dục không được xúc phạm đến nhân cách học sinh, dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, với bất kỳ lí do gì, tránh thành kiến đối với học sinh.
+ Nhà giáo dục cần tránh những thái độ gay gắt, nhạo báng, mỉa mai, mệnh
lệnh, áp đặt, nhưng đồng thời tránh những dễ dãi, xuề xoà “vô nguyên tắc”.
+ Luôn đánh giá cao hơn một chút so với cái mà họ có, đồng thời đòi hỏi cao
hơn một chút so với những gì họ đạt được. Tế nhị, khéo léo, có tình, có lý trong
ứng xử sư phạm của giáo viên.
+ Cần xác nhận những ưu điểm, những thành công của học sinh dù đó là
thành công nhỏ bé, phát huy ưu điểm là cơ sở tạo ra những thành công mới trong
quá trình phấn đấu của học sinh.
7. Nguyên tắc thống nhất giữa sự tự tổ chức lãnh đạo phạm của giáo
viên với việ phát huy tính tự giác tích cực, độc lập, tự giáo dục của học sinh
Quá trình giáo dục là một quá trình có tính chất hai mặt : Sự định
hướng của nhà giáo dục và tính tự giác, tích cực tự giáo dục của học sinh.
Tuy nhiên, tính tích cực, chủ động của đối tượng giáo dục đóng vai trò quyết
định đến chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. Chỉ khi nào học sinh
chủ động có ý thức trong tiếp nhận các tác động giáo dục, chỉ khi học sinh
tích cực, sáng tạo trong các hoạt động và tự tu dưỡng mới có thể giúp họ hình
thành tình cảm, thói quen và hành vi tốt.
Vai trò chủ đạo của giáo viên thể hiện:
- Nâng cao ý thức trách hiệm trong việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả QTGD của học sinh.
- Thuyết phục học sinh biết định hướng và quyết tâm phấn đấu đạt
những mục đích đề ra.
- Lựa chọn phương pháp, phương tiện để thực hiện các nhiệm vụ cho phù hợp.
Để phát huy vai trò chủ động, tự giác của học sinh, người giáo viên cần phải:
+ Tôn trọng sáng kiến và sự độc lập của học sinh
+ Động viên kịp thời ý chí quyết tâm vươn lên của học sinh
+ Biến yêu cầu của nhà giáo dục thành yêu cầu tự giáo dục của tập thể và cá nhân.
+ Lựa chọn các biện pháp và hình thức tổ chức cụ thể để học sinh định
hướng rèn luyện, hoạt động.
8. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống kế tiếp liên tục trong giáo dục
Giáo dục là một thể thống nhất và toàn vẹn. Mỗi thành tựu giáo dục, mỗi
phẩm chất nhân cách được hình thành là kết quả tổng hợp của toàn bộ những tác
động của các hiệu lực lượng giáo dục. Mỗi kết quả giáo dục đạt được hôm nay là
kết quả của sự cố gắng của cả thầy, trò trong những ngày hôm qua. Điều đó có
nghĩa là : Giáo dục là một quá trình lâu dài, phức tạp phải tiến hành trên nguyên
tắc tính hệ thống và liên tục.
* Yêu cầu khi thực hiện.
- Phải có kế hoạch giáo dục tổng thể, thống nhất, từng bước nâng dần
các yêu cầu chung về mục đích, nội dung, hình thức tổ chức giáo dục và về
mức độ tham gia của học sinh.
- Phải củng cố thường xuyên những kết quả giáo dục về nhận thức, tình
cảm và hành vi của học sinh. Dựa vào kết quả đã có để tiếp tục giáo dục những phẩm chất mới.
- Những kết quả giáo dục trong gia đình phải được nối tiếp bằng những
tác động giáo dục ở nhà trường, trong các đoàn thể, xã hội theo một mục tiêu chung.
- Nhà giáo dục phải trân trọng những cố gắng của trẻ em dù là nhỏm bé để
tạo cho các em sự phấn khởi, tự hào.
9. Nguyên tắc thống nhất giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia
đình giáo dục của cộng đồng hội
Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục cùng chung
mục đích là hình thành nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Vì vậy, để quá trình
giáo dục đạt kết quả, các lực lượng giáo dục phải thống nhất với nhau về môi
trường, nội dung, phương pháp giáo dục. Ngược lại, giáo dục phân tán, không
đồng bộ, theo các khuynh hướng khác nhau có thể phá vỡ sự toàn vẹn, thống
nhất của giáo dục, dẫn đến những hậu quả khó lường trước.
Mỗi lực lượng giáo dục có vị trí nhất định trong giáo dục học sinh:
+ Giáo dục gia đình đặt cơ sở nền móng đầu tiên cho sự phát triển nhân cách của trẻ.
+ Giáo dục xã hội có vai trò rất quan trọng.
+ Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo, phải chịu trách nhiệm phối hợp
các lực lượng giáo dục.
* Yêu cầu khi thực hiện
- Tạo lập mối quan hệ thường xuyên giữa nhà trường và gia đình, giữa
cha mẹ học sinh, và thầy cô chủ nhiệm lớp.
- Nhà trường xã hội mối quan hệ tốt với địa phương, với các tổ chức xã
hội và các cơ quan nơi trường đóng.
- Các lực lượng giáo dục : cha mẹ, thầy cô, anh chị phụ trách phải
thống nhất về mục tiêu, phương pháp giáo dục trên một nguyên tắc chung, chỉ
có như vậy mới đem lại những thành công cho quá trình giáo dục.
- Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục cùng chung
mục đích là hình thành nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Vì vậy, để quá trình
giáo dục đạt kết quả, các lực lượng giáo dục phải thống nhất với nhau về môi
trường, nội dung, phương pháp giáo dục.
10. Nguyên tắc chú ý đến đặc điểm đối tượng giáo dục
Mỗi con người là một thế giới thu nhỏ, có những nét tính cách phổ biến
và có những nét đặc thù riêng. Sự khác biệt tâm lý, tính cách của từng cá
nhân do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến tính tích cực của từng cá
nhân, sự tiếp nhận giáo dục từ môi trường sống.
Nhà giáo dục cần hiểu rõ đặc điểm tâm lý lứa tuổi, giới tính, đặc điểm cá
biệt của học sinh để có những pháp giáo dục khác nhau đề ra các yêu cầu hợp lý,
đề ra kế hoạch giáo dục cho sát hợp với từng đối tượng và thu hút họ tham gia tích
cực vào các hoạt động tập thể.
* Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc
- Tổ chức các hoạt động đa dạng, hấp dẫn, nhằm thu hút tất cả các học sinh tham gia.
- Chú ý đến giới tính và đặc điểm cá biệt của từng đối tượng để có biện
pháp tác động phù hợp, phát huy mặt mạnh của học sinh.
- Cần chú ý đến từng tình huống, từng đối tượng giáo dục cụ thể.
- Chú ý phương pháp giáo dục cho các loại học sinh khác nhau. Trên cơ
sở học lực và hạnh kiểm, học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Kết luận: Mỗi nguyên tắc nhấn mạnh một mặt, một yêu cầu cụ thể, trong
quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, nhà giáo dục phải biết vận dụng linh
hoạt, hợp lý vào các tình huống cụ thể. Để quá trình giáo dục đạt được kết quả
mong muốn, nhà giáo dục phải tuân thủ một hệ thống các nguyên tắc giáo dục.
Nghệ thuật sư phạm cũng chính là nghệ thuật vận dụng linh hoạt các nguyên tắc giáo dục.
BÀI 3: NỘI DUNG GIÁO DỤC
I. Những nội dung giáo dục bản trong nhà trường
1. Giáo dục đạo đức ý thức công dân
a. Giáo dục đạo đức
* Ý nghĩa của giáo dục đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái
thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Đạo đức về bản
chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành
và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Đạo đức là quy tắc sống,
nó có vị trí to lớn trong đời sống nhân loại, đạo đức định hướng giá trị cho cuộc
sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội.
Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm:thiện, ác, lẽ
phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm… thang giá trị của đạo đức
diễn biến theo lịch sử và mang tính dân tộc.
Giáo dục đạo đức là hoạt động của nhà giáo dục dựa theo yêu cầu xã hội, tác
động có hệ thống lên người được giáo dục một cách có mục đích và có kế hoạch
để bồi dưỡng những phẩm chất tư tưởng mà nhà giáo dục kỳ vọng, chuyển hóa
những quan điểm, yêu cầu và ý thức xã hội có liên quan thành phẩm chất đạo
đức, tư tưởng của mỗi cá nhân.
Trong công cuộc xây dựng đất nước, giáo dục đạo đức có ý nghĩa rất quan
trọng đối với sự nghiệp giáo dục – đào tạo và đối với toàn xã hội
- Giáo dục đạo đức có vai trò thúc đẩy sự ổn định lâu dài của xã hội, xã hội ổn định
là tiền đề, là cơ sở để phát triển, giáo dục đạo đức chính là bảo đảm cho sự ổn
định lâu dài của xã hội. Lý tưởng, niềm tin, đạo đức được hình thành qua công
tác giáo dục đạo đức ở trong và ngoài nhà trường.
- Giáo dục đạo đức có vị trí hàng đầu và chủ đạo trong giáo dục nhà trường, giáo
dục đạo đức với tư tưởng chính trị rõ ràng có vai trò định hướng cho các nội dung
giáo dục khác. Nhà trường thông qua thực hiện công tác giáo dục có thể nâng cao
hiệu quả giáo dục, thúc đẩy hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục khác.
- Đối với sự phát triển của thanh thiếu niên, giáo dục đạo đức hình thành cho họ hệ
thống lập trường chính trị, quan điểm , thế giới quan macxit và phẩm chất đạo
đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội. Trước xu thế hội nhập của thế
giới hiện đại, giáo dục đạo đức trong nhà trường giữ vai trò rất quan trọng trong
định hướng cuộc sống và lựa chọn giá trị cho thế hệ trẻ.
* Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức trong nhà trường có thể khái quát như sau:
- Hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, nắm được những quy luật cơ bản
của sự phát triển xã hội, có ý thức thực hiện nghĩa vụ của người công dân, từng
bước trang bị cho học sinh định hướng chính trị kiên định, rõ ràng.
- Giúp cho học sinh hiểu và nắm vững những vấn đề cơ bản trong đường lối chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có ý thức học tập, làm việc tuân thủ theo
hiến pháp và pháp luật.
- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực phán đoán, đánh giá đạo đức, hình thành niềm tin
đạo đức, yêu cầu học sinh phải thấm nhuần các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức
do xã hội quy định, biết tiếp thu văn minh nhân loại kết hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc.
- Dẫn dắt học sinh biết rèn luyện để hình thành hành vi, thói quen đạo đức, có ý thức
tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, có ý thức đấu tranh chống
những biểu hiện tiêu cực, lạc hậu.
* Những nội dung chủ yếu để giáo dục đạo đức cho học sinh:
- Giáo dục lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Giáo dục chủ nghĩa yêu nước
- Giáo dục lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản
- Giáo dục chủ nghĩa tập thể
- Gióa dục lòng nhiệt tình, hăng say lao động, có ý thức bảo vệ tài sản XHCN.
- Giáo dục dân chủ và pháp chế XHCN
- Giáo dục hành vi văn minh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, giáo dục ý thức
công dân và các nội dung đạo đức mới XHCN
* Các bước của quá trình đạo đức bao gồm:
- Quá trình tác động nâng cao nhận thức về tư tưởng, chính trị, đạo đức làm cơ sở
cho sự hình thành, phát triển và thể hiện các hành vi đạo đức.
- Bồi dưỡng những tình cảm đúng đắn, trong sáng, phù hợp với các quan niệm,
chuẩn mực đạo đức, quan hệ, ứng xử của xã hội
- Rèn luyện hành vi, thói quen đạo đức
Các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông:
- Giảng dạy các môn Giáo dục công dân và các môn học khác
- Thông qua hoạt động ngoại khóa, lao động sản xuất, hoạt động của Đoàn thanh
niên và Đội thiếu niên, công tác chủ nhiệm lớp
b. Giáo dục ý thức công dân
Ý thức công dân là một phạm trù xã hội học phản ánh trình độ nhận thức về
quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với Nhà nước với tư cách
là những công dân chân chính của xã hội và của cộng đồng.
Nhiệm vụ giáo dục ý thức công dân trong nhà trường như sau:
- Giáo dục chính trị - tư tưởng cho học sinh: giáo dục cho học sinh lòng yêu nước,
giáo dục cho học sinh hiểu rõ chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, mục
tiêu là tiến tới xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi pháp luật: giúp học sinh hiểu biết về nghĩa
vụ và quyền lợi của công dân để biết sống và hành động theo pháp luật, có ý thức
đấu tranh với những biểu hiện vi phạm pháp luật, có ý thức tuyên truyền giúp đỡ
mọi người xung quanh thực hiện dúng pháp luật.
2. Giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là vận dụng cái đẹp của nghệ thuật, của tự nhiên và nét
đẹp của cuộc sống xã hội để bồi dưỡng quan điểm thẩm mỹ và năng lực cảm thụ,
thưởng thức, sáng tạo cái đẹp đúng đắn cho học sinh. Giáo dục thẩm mỹ là bộ
phận cấu thành cần thiết của mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện.
Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường là:
- Giúp học sinh hình thành quan điểm thẩm mỹ đúng đắn, nâng cao năng lực thẩm
mỹ. Giáo dục cho học sinh nắm vững tiêu chuẩn, phân biệt và đánh giá cái đẹp,
đồng thời phải bồi dưỡng cho học sinh tình cảm thẩm mỹ cao thượng.
- Bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ lành mạnh, kích thích học sinh yêu thích và vươn tới cái đẹp chân chính
- Giúp cho học sinh phát triển năng lực biểu hiện và sáng tạo cái đẹp
Các nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ có mối liên hệ với nhau trong đó bồi dưỡng
quan điểm thẩm mỹ đúng đắn là nhiệm vụ hạt nhân, từ đó mới có thể hình thành
tình cảm lành mạnh và được thể nghiệm trong hoạt động thẩm mỹ, sáng tạo thẩm mỹ.
Các con đường giáo dục thẩm mỹ:
- Giáo dục nghệ thuật: Các con đường giáo dục nghề thuật trong nhà trường bao
gồm: giáo dục nghệ thuật trên lớp, bao gồm việc dạy các môn học trong đó văn
học, mỹ thuật, âm nhạc chiếm vị trí và vai trò quan trọng, ngoài ra có thể thông
qua hoạt động văn học nghệ thuật ngoại khóa.
- Giáo dục thẩm mỹ thông qua dạy và học các bộ môn khoa học, đặc biệt là khoa
học xã hội và nhân văn
- Thông qua xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường và xã hội.
- Giáo dục cái đẹp trong tự nhiên
3. Giáo dục lao động hướng nghiệp
a. Giáo dục lao động
Mục đích của giáo dục lao động trong nhà trường phổ thông là hình thành
cho học sinh quan điểm đúng đắn về lao động, hình thành thái độ tích cực đối với
lao động, nhu cầu và thói quen đối với lao động
Nhiệm vụ của giáo dục lao động:
- Giáo dục cho học sinh thái độ đúng đắn đối với lao động
- Cung cấp cho học sinh học vấn kỹ thuật tổng hợp, phát triển tư duy kỹ thuật hiện đại
- Chuẩn bị cho học sinh có những kỹ năng lao động kỹ thuật nghề nghiệp ở một lĩnh
vực nghề nghiệp nhất định trong các khu vực kinh tế của đất nước, của địa phương
- Hình thành cho học sinh thói quen lao động có văn hóa
- Tổ chức các hoạt động để làm cho học sinh có những hiểu biết cơ bản về các
ngành nghề và thị trường lao động trước mắt và sự phát triển lâu dài của kinh tế,
sản xuất để có khả năng lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực, nguyện vọng
của bản thân và yêu cầu xã hội
- Tổ chức cho học sinh trực tiếp tham gia lao động sản xuất và các loại hình lao
động khác như lao động học tập, lao động sản xuất của học sinh trong nhà
trường, lao động công ích xã hội, lao động tự phục vụ
b. Giáo dục hướng nghiệp
Hướng nghiệp là hoạt động của tập thể sư phạm nhằm giúp học sinh chọn
nghề một cách hợp lý, phù hợp với hứng thú nguyện vọng và năng lực của cá
nhân và yêu cầu của xã hội
Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
Thứ nhất, định hướng nghề nghiệp : cung cấp thông tin về sự phát triển các
nghề trong xã hội, nhất là những nghề đang cần nhiều nhân lực, bao gồm:
- Yêu cầu tâm sinh lý của nghề
- Tình hình phân công lao động và yêu cầu tuyển chọn
- Điều kiện lao động và triển vọng của nghề
- Những quan niệm đúng hoặc sai lệch về một số nghề trong xã hội hiện tại
- Yêu cầu phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ trong những giai đoạn trước mắt
và lâu dài của đất nước và địa phương liên quan đến sự phát triển của các ngành nghề.
- Hệ thống các trường dạy nghề
- Các tổng công ty, nhà máy, xí nghiệp, công nông trường, hầm mỏ, hợp tác xã… để
có hướng chọn cho mình một chỗ đứng sau này
Đối tượng tác động để định hướng nghề nghiệp là học sinh, đặc biệt là
những học sinh lớp cuối cấp (lớp 9 trường THCS và lớp 12 THPT)
Biện pháp và phương tiện thông tin nghề nghiệp cho học sinh
- Giới thiệu, tuyên truyền về nghề qua buổi sinh hoạt hướng nghiệp
- Tạo điều kiện cho học sinh được làm quen với một số nghề hiện có trong xã hội
- Tăng cường và mở rộng các phương tiện thông tin đại chúng
Thứ hai, tư vấn nghề nghiệp: là hoạt động giúp các cá nhân, đặc biệt là thanh
thiếu niên trong quá trình định hướng, tìm chọn cũng như thay đổi nghề
Để tư vấn nghề nghiệp các nước thường thành lập những ban tư vấn nghề
nghiệp trong trường học. Ở Việt Nam, công tác hướng nghiệp được coi là một
nội dung giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp, bên cạnh đó có các trung tâm tư
vấn nghề nghiệp ở ngoài nhà trường
Thứ ba, tuyển chọn nghề
- Xây dựng một phác đồ nghề nghiệp để giới thiệu cho học sinh, chỉ ra cho học sinh
thấy được mức độ phù hợp hay không phù hợp giữa nhận thức, khả năng của cá
nhân với yêu cầu thực tế khách quan của nghề, tức là mối quan hệ giữa nghề với
cá nhân. Từ đó học sinh sẽ quyết định chọn nghề gì.
- Trường phổ thông căn cứ vào nhu cầu nhân lực của mỗi nghề cụ thể trong kế
hoạch phát triển kinh tế để định hướng, tư vấn nghề nghiệp của học sinh
Các con đường hướng nghiệp ở trường phổ thông:
- Hướng nghiệp qua dạy học các môn khoa học cơ bản
- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn Kỹ thuật và lao động sản xuất trong trường học
- Tổ chức cho học sinh tham gia sản xuất ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã…
- Hướng nghiệp qua sinh hoạt hướng nghiệp
- Giới thiệu các nghề đang cần nhiều nhân lực
- Giới thiệu hệ thống các trường đào tạo nghề
4. Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất là bộ phận cấu thành quan trọng của nền giáo dục phát
triển toàn diện, thể dục là biện pháp quan trọng nâng cao sức khỏe người dân,
tăng cường thể chất, làm phong phú đời sống văn hóa xã hội, nâng cao sức sản xuất xã hội
Theo nghĩa rộng, GDTC bao gồm giáo dục rèn luyện thân thể và giáo dục vệ
sinh giữ gìn sức khỏe, rèn luyện thân thể nghiêng về bồi dưỡng cơ thể còn giáo
dục vệ sinh giữ gìn sức khỏe lại nghiêng về bảo vệ sức khỏe
Theo nghĩa hẹp, GDTC chủ yếu chỉ rèn luyện thân thể hoặc giáo dục vận
động thể dục thể thao
Nhiệm vụ của giáo dục thể chất:
- Tăng cường thể chất, sức khỏe cho học sinh
- Giúp học sinh dần nắm vững tri thức cơ bản và kỹ năng kỹ xảo của vận động thể dục thể thao
- Truyền thụ tri thức vệ sinh cần thiết cho học sinh, bồi dưỡng thói quen vệ sinh tốt
- Thông qua thể dục, tiến hành giáo dục phẩm chất đạo đức cho học sinh
Nội dung giáo dục thể chất trong nhà trường:
- Vận động thể dục thể thao - Vệ sinh nhà trường
II. Những nội dung giáo dục mới
Để giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới có khả năng và
bản lĩnh thích ứng cao với những biến động của xã hội hiện đại, giáo dục trong
nhà trường hiện nay đã được bổ sung những nội dung giáo dục cho phù hợp.
1. Giáo dục môi trường
a. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
- Bảo vệ nơi sinh sống và phát triển của quần xã sinh vật và tôn trọng sự cân bằng của hệ sinh thái
- Có ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống lại những hành vi ô nhiễm môi trường
- Có ý thức giữ gìn sự trong lành của môi trường sống hàng ngày của con người ở mọi nơi, mọi chỗ
b. Bồi dưỡng kiến thức về môi trường, bảo vệ chống ô nhiễm môi trường
- Tìm hiểu về môi trường, hệ sinh thái
- Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường và tác hại của nó
- Rèn luyện và hình thành thói quen giữ gìn vệ sinh đảm bảo sự trong lành của môi trường sống
Các con đường giáo dục môi trường cho học sinh
- Thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội
- Tổ chức trao đổi tọa đàm tranh luận qua các buổi sinh hoạt về môi trường và bảo vệ môi trường
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào việc bảo vệ môi trường
- Tham quan, du lịch môi trường sinh thái , danh lam thắng cảnh, rừng nguyên sinh …
2. Giáo dục dân số
Giáo dục dân số là thuật ngữ dùng để chỉ một chương trình giáo dục nhằm
giúp người học hiểu được mối quan hệ qua lại giữa động lực dân số và các nhân
tố khác của chất lượng cuộc sống từ đó hình thành ý thức trách nhiệm của từng cá
nhân trước những quyết định về lĩnh vực dân số nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống cho bản thân, gia đình và xã hội.
Nội dung giáo dục dân số
Về mặt lý thuyết, làm cho học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa dân số, môi trường
và chất lượng cuộc sống
- Nắm vững ba khái niệm cơ bản: dân số, chất lượng cuộc sống và môi trường
- Nắm vững hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ dân số và chất lượng cuộc sống, quan
hệ dân số - môi trường và chất lượng cuộc sống
Về mặt thực tiễn, vận dụng 5 chủ điểm giáo dục dân số trong khu vực vào thực tiễn nước ta
- Quy mô gia đình và chất lượng cuộc sống - Tuổi kết hôn hợp lý
- Tư cách và trách nhiệm làm cha mẹ
- Nắm được mối quan hệ dân số môi trường và chất lượng cuộc sống
- Xác định và lựa chọn các giá trị xã hội có liên quan đến dân số
Các con đường giáo dục dân số
- Thông qua phương pháp lồng ghép – tích hợp nội dung GDDS vào các môn khoa học tự nhiên, xã hội
- Thông qua các hoạt động ngoại khóa
- Tổ chức cho học sinh tham gia các cuộc tuyên truyền về GDDS, tư vấn về GDDS
- Phổ biến, giới thiệu cho học sinh nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về dân số, các chiến lược phát triển dân số và xây dựng, nâng cao
chất lượng cuộc sống.
3. Giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính,
điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ từ lớp
nhà trẻ đến đại học, giúp học sing cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ
cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính. Ta có thể hiểu giáo dục giới tính là một
quá trình tác động sư phạm hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất ,
những đặc trưng và những khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định
thái độ xã hội cần thiết của cá nhân đối với các vấn đề giới tính.
Nội dung giáo dục giới tính bao gồm các kiến thức về sự phát triển của giới nam và nữ - Về giải phẫu sinh lý
- Cấu tạo, chức năng của các cơ quan sinh dục nam nữ
- Tuổi dậy thì và những biểu hiện, cách nhân biết và giải quyết những bí ẩn ở tuổi dậy thì
- Sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Các kiến thức, hiểu biết về sức khỏe của giới, phòng tránh thai, phòng tránh các
bệnh lây lan qua đường tình dục
- Giáo dục về các mối quan hệ xã hội theo giới của cá nhân mỗi người như quan hệ
hôn nhân, gia đình, quan hệ bổn phận của mỗi người nam nữ khi trờ thành cha
mẹ con cái, quan hệ bạn bè và bạn khác giới, tình yêu nam nữ…
Các con đường giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông:
- Thông qua giảng dạy, học tập các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội bằng
các phương pháp lồng ghép hoặc tích hợp
- Thông qua các chương trình , hoạt động ngoại khóa - Qua tư vấn tâm lý
- Qua các buổi sinh hoạt tập thể
- Qua các hoạt động vui chơi, văn nghệ, thể dục thể thao
- Qua các môn học tự chọn…
4. Giáo dục phòng chống ma túy
a. Mục đích giáo dục phòng chống ma túy học đường
- Nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ, học sinh về tính chất và tác hại của ma túy ,
một hiểm họa của xã hội loài người, quốc gia, dân tộc, thời đại. mọi người, đặc
biệt là thanh thiếu niên học sinh phải cảnh giác với kẻ thù nguy hiểm.
- Tuyên truyền, giáo dục cho học sinh biết cách phòng chống ma túy cho bản thân, cho gia đình và xã hội
- Làm cho học sinh biết tổ chức, xây dựng lối sống lành mạnh, không mắc vào các tệ
nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút làm cho nhân cách, phẩm chất bị đồi bại, thân thể tàn phế
- Làm cho học sinh biết tỏ thái độ kiên quyết chống lại việc sản xuất , buôn bán,
tàng trữ và sử dụng trái phép ma túy và những người tiếp tay cho tệ nạn ma túy này
b. Các hình thức giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy trong trường học
- Thông qua dạy học các môn Chính trị, Đạo đức, Giáo dục công dân
- Qua các buổi sinh hoạt tập thể
- Tổ chức cho học sinh tham gia tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Nhà
nước, của chính quyền về phòng chống ma túy
- Tổ chức các hoạt động , sáng tác thơ ca, các tiểu phẩm nghệ thuật, tổ chức diễn đàn
văn nghệ của thầy và trò
- Cho học sinh trực tiếp được nghe hoặc trao đổi với những thanh niên bị rơi vào con
đường ma túy nay đã cai nghiện
- Tổ chức cho học sinh xem các bộ phim, vở diễn nói về tác hại của nghiện ma túy,
tổ chức tọa đàm, trao đổi cụ thể qua các hình tượng nghệ thuật
- Tổ chức các hội nghị giữa chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh và học sinh
của lớp, trường về phòng chống ma túy ở trường và địa phương
5. Giáo dục giá trị
Giáo dục giá trị là một quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích hoạt động
tích cực của người được giáo dục để họ lĩnh hội được các giá trị xã hội, hình
thành nên hệ thống giá trị của cá nhân, phù hợp với mong đợi của xã hội.
Nội dung của giáo dục giá trị:
- Hòa bình ổn định và an ninh của đất nước
- Độc lập và thống nhất Tổ quốc - Tự do và dân chủ
- Lòng nhân đạo sống có tình nghĩa
- Sức khỏe của bản thân và cộng đồng
- Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng hiền tài, trọng học vấn - Giá trị nghề nghiệp
- Tình bạn, tình yêu và cuộc sống gia đình - Nếp sống văn minh
- Những giá trị về giới
Các con đường giáo dục giá trị
- Giáo dục hình thành các giá trị ở con người trước hết từ gia đình
- Thông qua việc cá nhân học tập, rèn luyện
- Thông qua tác động của môi trường sư phạm, môi trường văn hóa vật chất, môi
trường tâm lý xã hội, văn hóa xã hội
6. Giáo dục quốc tế
a. Mục tiêu giáo dục quốc tế:
- Về kiến thức: có những hiểu biết về hệ thống các nội dung cơ bản của giáo dục quốc tế
- Về kỹ năng: có kỹ năng suy nghĩ , phê phán,, kỹ năng tìm kiếm giải pháp phát triển
và giải quyết vấn đề, kỹ năng hành động thể hiện ở năng lực trao đổi, thảo luận,
năng lực hợp tác giải quyết vấn đề
- Về thái độ: thừa nhận và xây dựng cho bản thân những giá trị đúng đắn, có thái độ
tích cực tham gia vào việc tuyên truyền, vận động thực hiện nội dung của giáo
dục quốc tế , có thái độ tích cực trước việc giải quyết những vấn đề của bản thân,
của cộng đồng, của quốc gia và thế giới.
Nội dung giáo dục quốc tế được tập trung vào những vấn đề sau:
- Quyền bình đẳng giữa các dân tộc
- Hòa bình và hợp tác quốc tế
- Quyền con người, quyền trẻ em
- Dân số, nhu cầu phát triển bền vững cuộc sống - Môi trường
- Di sản văn hóa nhân loại
- Hệ thống tổ chức Liên hiệp quốc
Các con đường giáo dục quốc tế:
- Hoạt động nội khóa: tách giáo dục quốc tế thành môn học riêng hoặc chuyển nội
dung giáo dục quốc tế vào tất cả các môn học.
- Hoạt động ngoại khóa giáo dục quốc tế có thể tiến hành dưới nhiều hình thức: nói
chuyện ngoại khóa, thi viết, vẽ, hát, tổ chức những triển lãm nhỏ, tham gia các
câu lạc bộ, thi tham dự các lễ hội truyền thống …
BÀI 4: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
I. Khái niệm đặc điểm của phương pháp giáo dục
1. Phương pháp giáo dục gì?
Phương pháp giáo dục (PPGD) là thành tố quan trọng trong cấu trúc của quá
trình giáo dục, có quan hệ mật thiết với các thành tố khác của quá trình này, đặc
biệt là với mục đích, nội dung, nhà giáo dục, người được giáo dục, phương tiện
giáo dục, với các điều kiện thực hiện quá trình này.
Phương pháp giáo dục được xem là cách thức tác động qua lại giữa nhà giáo
dục và người được giáo dục trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục đã đề ra.
2. Đặc điểm của PPGD
- PPGD được tiến hành trên cơ sở hoạt động phối hợp giữa nhà giáo dục và người
được giáo dục, trong đó những tác động của nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo, còn
người được giáo dục hoạt động tích cực, tự giác, tự giáo dục, tự vận động và phát
triển nhằm hướng tới mục tiêu phát triển nhân cách đã định.
- Phương pháp giáo dục có mối quan hệ mật thiết với các biện pháp giáo dục, cả
biện pháp và PPGD đều được quy định bởi các hành động phối hợp giữa nhà giáo
dục và người được giáo dục. song biện pháp mang tính cụ thể, phương pháp mang tính khái quát
- PPGD có quan hệ mật thiết với các phương tiện giáo dục. Phương tiện giáo dục
bao gồm các sản phẩm văn hóa được sử dụng trong quá trình giáo dục và trong
các loại hình văn hóa xã hội, thể dục thể thao, lao động sản xuất…
II. Phân loại các phương pháp giáo dục
1. Nhóm các PP thuyết phục
Là nhóm phương pháp tác động lên nhận thức và tình cảm của người được
giáo dục nhằm hình thành những khái niệm, biểu tượng và niềm tin đúng đắn về
đạo đức , thẩm mỹ, tạo điều kiện cho người được giáo dục có tư tưởng đúng, tình
cảm đẹp, làm cơ sở cho việc hình thành những hành vi thói quen tốt. Đây là
nhóm PP cơ bản vì nó là con đường quan trọng để biến ý thức xã hội thành ý thức
của cá nhân, biến những yêu cầu của xã hội thành nhu cầu của bản thân, động
viên, thúc đẩy cá nhân hành động đáp ứng những yêu cầu chuẩn mực của xã hội
a. PP đàm thoại
Đàm thoại là PP giáo dục được thực hiện chủ yếu bằng cách trao đổi ý kiến
và quan điểm giữa nhà giáo dục với học sinh và giữa học sinh với nhau về một
chủ đề nào đó thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống hàng ngày.
Ưu điểm của PP này là thông qua đàm thoại nhà giáo dục có thể kịp thời nắm bắt
những tâm tư, tình cảm, vốn kinh nghiệm của từng học sinh để trên cơ sở đó có
những tác động giáo dục thích hợp và cần thiết đối với các em.
Đàm thoại có thể diễn ra theo hai cách: đàm thoại tự nhiên và đàm thoại theo chủ đề
- Đàm thoại tự nhiên là cuộc đàm thoại được dẫn đến một cách tự nhiên, không tập
trung vào một chủ đề nhất định. Trong cuộc đàm thoại này các ý kiến thường
được bộc lộ trong những bối cảnh không được chuẩn bị trước, diễn ra trong các
tình huống của cuộc sống hàng ngày, qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa giáo
viên và học sinh trong và ngoài giờ học.
- Đàm thoại theo chủ đề: là loại đàm thoại mà những câu hỏi của chúng
được xoay quang một chủ đề nhất định. Muốn đàm thoại có hiệu quả nhà
giáo dục cần quan tâm đến nội dung chủ đề cần trao đổi với học sinh, cần
phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi, vấn đề, sự kiện để thông báo cho học sinh.
Chủ đề đàm thoại cần thông báo trước để học sinh có thời gian chuẩn bị ý
kiến và quan điểm của mình, chủ đề thường là các sự kiện mang nội dung
chính trị, đạo đức thẩm mỹ, gắn liền với cuộc sống và hoạt động của học sinh.
Đàm thoại có thể diễn ra dưới hình thức cá nhân hoặc tập thể
- Đàm thoại cá nhân: nhà giáo dục đàm thoại riêng với từng học sinh. Hình
thức này giúp nhà giáo dục hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh và cá tính của
học sinh , về những vấn đề cụ thể chưa được giải quyết trong nhận thức,
tư tưởng và tình cảm của các em, nhất là các vấn đề thầm kín, khó nói
trước tập thể. Đàm thoại riêng chỉ có hiệu quả khi giữa người đươc giáo
dục và nhà giáo dục có quan hệ tốt đẹp, khi họ tin tưởng vào nhà giáo dục
và mong muốn nhà giáo dục chia sẻ, tháo gỡ các băn khoăn thắc mắc cho họ.
- Đàm thoại tập thể được phát triển thành hai mức độ thảo luận và tranh luận.
Thảo luận là hình thức đặc biệt của đàm thoại trong đó nhà giáo dục tổ
chức sự trao đổi giữa học sinh với nhau tạo điều kiện cho mỗi thành viên
trong tập thể đóng góp ý kiến và tìm ra cách giải quyết vấn đề.Tranh luận
dựa trên sự va chạm các ý kiến, các quan điểm khác nhau có khi đối lập
nhau. Nhờ đó các em nâng cao được tính khái quát, vừng vàng và mềm
dẻo của các quan điểm đã tiếp thu
Giáo viên có thể tham gia vào cuộc thảo luận và tranh luận của học sinh với
tư cách là người dẫn dắt, gợi ý và định hướng cho học sinh những vấn đề cần
tranh luận và giải quyết, nhưng tuyệt đối không được vội vã phê phán, tán dương
hoặc những những quan điểm sai lầm của học sinh, buộc học sinh phải chấp nhận
những quan điểm của mình.
b. Phương pháp giảng giải
Giảng giải là PPGD trong đó nhà giáo dục dùng lời nói để thông báo, phân
tích, giải thích, chứng minh tính đúng đắn của các chuẩn mực đã được xã hội quy
định. Trọng tâm của giảng giải là cung cấp thông tin về sự kiện và chuẩn mực
hành vi giúp người được giáo dục nắm vững ý nghĩa, nội dung và cách thực hiện
những nguyên tắc và chuẩn mực về văn hóa, đạo đức, lối sống, hình thành niềm
tin và mong muốn thực hiện chúng.
Hiệu quả của PP giảng giải phụ thuộc vào việc chuẩn bị nội dung và các
biện pháp tiến hành phương pháp này của nhà giáo dục. Chuẩn bị tốt nội dung
vấn đề cần giảng giải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phương pháp này. Nội
dung giảng giải là những nguyên tắc, những chuẩn mực, những giá trị về đạo
đức thẩm mỹ cần phải hình thành cho học sinh, làm cho các em hiểu được ý
nghĩa của các chuẩn mực và cách thức thực hiện chúng.
Nhà giáo dục có thể vận dụng các phương pháp thuyết trình, giảng giải trong
dạy học vào việc hình thành các khái niệm về đạo đức, văn hóa thẩm mỹ cho học
sinh. Tuy nhiên, khi tiến hành giảng giải các nội dung giáo dục cần đảm bảo tính
thuyết phục của các luận chứng, tính hệ thống chặt chẽ của cấu trúc nội dung.
Thái độ của người giảng giải phải chân thực, tránh cách nói khuôn sáo, khoa
trương, dài dòng. Hiệu quả của giảng giải không những phụ thuộc vào tri thức,
kinh nghiệm sống, trình độ tư tưởng, đạo đức của nhà giáo dục mà còn phụ thuộc
vào uy tín, thái độ của nhà giáo dục đối với học sinh cũng như phụ thuộc vào tình
cảm, nghệ thuật diễn đạt, tính rõ ràng và ngôn ngữ của nhà giáo dục. Người được
giáo dục chỉ chấp nhận và hưởng ứng các chuẩn mực hành vi khi họ biết rằng
chính nhà giáo dục cũng đồng cảm, xúc động và tin tưởng vào vấn đề đang được trình bày.
Kết thúc giảng giải, giáo viên cần đưa ra các kết luận gắn gọn, xúc tích về
các chuẩn mực để học sinh dễ nhớ, dễ hiểu, dễ hình dung và vận dụng trong thực
tiễn. Người giáo viên cũng có thể khuyến khích học sinh trình bày tóm tắt và đưa
chuẩn mực mới học được vào hệ thống các chuẩn mực đã có.
c. Phương pháp nêu gương
Nêu gương là PP giáo dục trong đó nhà giáo dục dùng những tấm gương
sáng của cá nhân hoặc tập thể hoặc bằng hành động của chính bản thân mình như
là một mẫu mực để kích thích người được giáo dục cảm phục, noi theo và làm
theo những gương đó nhằm đạt được mục đích giáo dục đã đề ra.
Cơ sở của PP nêu gương là dựa vào tính hay bắt chước của trẻ em. Trẻ em
thường bắt chước những người xung quanh, nhất là những người gần gũi thân
thuộc như cha mẹ, thầy cô giáo. Sự bắt chước phụ thuộc vào độ tuổi, vốn kinh
nghiệm và trình độ phát triển trí tuệ, đạo đức ở các em. Khi còn nhỏ, trẻ có thể
bắt chước một cách máy móc tất cả những biểu hiện hành vi của người lớn (kể cả
những hành vi tích cực và tiêu cực), khi lớn lên cùng với sự tích lũy của kinh
nghiệm và sự phát triển của trí tuệ, sự bắt chước mang tính lựa chọn và tổng hợp
hơn. Bắt chước ở tuổi thiếu niên đã mang tính lựa chọn, sang lứa tuổi thanh niên,
bắt chước mang tính khái quát và tổng hợp, những hành vi bắt chước đã được
biến đổi phù hợp với những điều kiện và tình huống nảy sinh trong cuộc sống của họ.
Điều quan trọng trong phương pháp nêu gương đối với nhà giáo dục là sự
lựa chọn và sử dụng tấm gương để giáo dục học sinh. Nhà giáo dục cần căn cứ
vào mục tiêu và nội dung giáo dục mà lựa chọn tấm gương điển hình để giáo dục
các em. Việc nêu những tấm gương tốt như của các anh hùng, chiến sỹ thi đua,
những gương tốt trong lao động, sản xuất, trong đấu tranh với các thói hư tật xấu,
những tấm gương của học sinh nghèo vượt khó là điều rất quan trọng. Đó là
những hành vi nghĩa cử ngưỡng mộ và mong muốn có được hành vi cử chỉ đó.
Tuy nhiên, cũng có thể sử dụng cái phản diện để ngăn ngừa và loại bỏ những thói
hư tật xấu trong xã hội. Có thể kể lại và chỉ cho học sinh thấy số phận của một
người nghiện, một kẻ hư hỏng, kẻ lang thang bụi đời… để các em có thể rút ra
bài học về cách ứng xử với bản thân và cuộc đời, có thái độ tránh xa những thói
xấu và tệ nạn xã hội. Nên sử dụng những gương tốt là chủ yếu, lạm dụng gương
phản diện có thể phản tác dụng giáo dục.
Khi sử dụng phương pháp nêu gương, điều quan trọng là phải giúp học sinh
có cách cư xử và thái độ đúng đắn với mọi hành vi cử chỉ của những người xung
quanh, tiếp thu và học tập cái tốt, lên án và phê phán cái xấu. Vì thế, phương
pháp nêu gương sẽ có hiệu quả hơn nếu người giáo viên biết phối hợp giữa nêu
gương với giải thích đàm thoại về các chuẩn mực và hành vi xã hội.
Tấm gương của chính bản thân nhà giáo dục là yếu tố có vị trí đặc biệt trong giáo dục
bằng nêu gương. Nếu như việc làm và lối sống của nhà giáo dục không đi đôi với
lời nói, hoặc lời nói cũng sai trái thì đó là nguyên nhân dẫn đến bất lực và không
có hiệu quả trong công tác giáo dục. Vì thế, người thầy giáo không chỉ “nêu
gương” của những người khác, mà bản thân mình phải làm gương sáng cho học
sinh noi theo. Tấm gương sống của giáo viên có sức mạnh thuyết phục hơn mọi
lời giải thích và động viên của họ đối với học sinh.
2. Nhóm các PP tổ chức hoạt động hình thành kinh nghiệm ứng xử hội
Mục đích chủ yếu của nhóm PP này là hình thành ở người được giáo dục những
hành vi phù hợp với các chuẩn mực của đời sống xã hội, hình thành những phẩm
chất nhân cách và hành vi thói quen.
Việc hình thành các hành vi thói quen phù hợp các chuẩn mực xã hội trong PP
này không phải bằng nghe, nhìn mà chủ yếu bằng cách tham gia các hoạt động, các
quan hệ phong phú đa dạng. Thông qua việc tiến hành các hoạt động và tham gia
vào các mối quan hệ xã hội mà người được giáo dục sẽ hình thành những hành vi
mới, điều chỉnh những hành vi đã có cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội, hình
thành niềm tin và thói quen phù hợp với những quy định của xã hội. Nhóm PP này
bao gồm: PP đòi hỏi sư phạm, PP tập thói quen và PP rèn luyện
a. PP đòi hỏi phạm
Đòi hỏi sư phạm là một PP giáo dục trong đó nhà giáo dục nêu lên
những yêu cầu, những đòi hỏi đối với tập thể và cá nhân học sinh, tổ chức và
giám sát việc thực hiện các yêu cầu đó ở học sinh nhằm đạt được các mục tiêu
giáo dục đã đề ra. PP đòi hỏi sư phạm bao gồm nhiều hoạt động phối hợp giữa
nhà giáo dục và người được giáo dục, trong đó nhà giáo dục nêu lên những yêu
cầu về mặt giáo dục; biến những yêu cầu đó thành yêu cầu của chính bản thân
người được giáo dục; tổ chức, giám sát, điều chỉnh người được giáo dục thực
hiện các yêu cầu đó một cách tự giác, độc lập, sáng tạo.
Những yêu cầu của nhà giáo dục thực chất là hệ thống các quy định và các
chuẩn mực xã hội đòi hỏi người được giáo dục phải tuân theo trong khi tham gia
các hoạt động và các mối quan hệ hàng ngày. Hệ thống các chuẩn mực đó thường
được cụ thể hóa dưới dạng:
- Các quy tắc, quy định về hoạt động của học sinh
- Các quy tắc ứng xử của học sinh trong quan hệ với những người được tiếp xúc hằng ngày
- Những quy định về hành vi đối với tập thể, với tổ chức xã hội cơ quan…
Xác định những yêu cầu và biến nó thành những đòi hỏi đối với học sinh
là công việc đàu tiên trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho các em
Việc đầu tiên khi thực hiện PP này là xác định nội dung của những đòi hỏi
sư phạm. Nội dung đòi hỏi cần xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục, từ tình hình thực
tiễn của nhà trường có tính đến đặc điểm và trình độ phát triển của người được
giáo dục. Chúng phải mang tính cụ thể, rõ ràng, được cụ thể hóa thành các yêu cầu
cụ thể và tỉ mỉ hơn để học sinh có thể nhận thức và hành động phù hợp với các yêu
cầu đề ra. Những yêu cầu sư phạm chỉ rõ việc cần phải làm, những việc nên làm và
những việc cần phải tránh. Cũng không nên đặt ra các yêu cầu cao quá mức, ngược
lại cũng không nên đưa ra những yêu cầu mà người học thực hiện quá dễ dàng,
không đòi hỏi họ cố gắng vươn lên về mặt ý chí. Trọng tâm của đòi hỏi sư phạm là
xây dựng được những bản nội quy, những quy định về nề nếp sinh hoạt, lao động,
học tập, rèn luyện, tu dưỡng của học sinh.
Người giáo viên nay từ đầu năm học cần phổ biến các yêu cầu đến từng học
sinh, tạo điều kiện cho các em và tập thể có thời gian học tập thảo luận kỹ về các
quy chế, quy định, nội quy của nhà trường. Khuyến khích và hướng dẫn học sinh
viết bản cam kết thi đua nghiêm túc thực hiện các quy chế đó. Nhà giáo dục còn
phải giải thích và hướng dẫn những điều các em còn chưa rõ, giúp đỡ tập thể ra
nghị quyết khẳng định sự quyết tâm trong việc thực hiện.
b. Phương pháp tập luyện thói quen
Thói quen là những cử chỉ và hành động ổn định trở thành nhu cầu của con
người, mà nếu nhu cầu đó không được thỏa mãn con người cảm thấy khó chịu, bứt
rứt không yên. Đó là bản tính thứ hai của con người, nó làm cho hành động của cá
nhân mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Nhờ có kỹ xảo và thói quen mà hành
vi của cá nhân mang tính tự nhiên, hành động mang tính dứt khoát, quả quyết.
Muốn có thói quen, người được giáo dục không phải chỉ hình dung rõ nét
các hành vi mang tính chuẩn mực dưới dạng khái quát, mà quan trọng hơn là phải
trải qua một quá trình luyện tập hành vi đó theo những cách nhất định. Vì thế PP
tập thói quen là PP giáo dục trong đó nhà giáo dục tổ chức cho học sinh lặp đi lặp
lại có tổ chức thường xuyên những hành động cử chỉ dưới dạng khác nhau trong
các tình huống tương tự, làm cho hành động đó trở thành nhu cầu và thói quen tốt của học sinh.
Để thực hiện PP này nhà giáo dục cần thực hiện tốt các nội dung sau:
- Xác định những thói qun cần phải hình thành cho học sinh. Đó là những
hành vi có tính phổ biến, được cá nhân sử dụng thường xuyên hằng ngày
trong hoạt động cũng như trong ứng xử với những người xung quanh.
Những hình thái ứng xử mang tính khái quát, mềm dẻo, ổn định trong các
tình huống ít thay đổi nếu được luyện tập thường xuyên sẽ trở nên ổn
định, vững chắc, đặc trưng cho cá nhân.
- Cần làm cho học sinh nắm vững mẫu hành vi cần được hình thành. Nhà
giáo dục giới thiệu cho các em những quy tắc hành vi ngắn gọn, rõ ràng,
dễ hiểu, chỉ cho học sinh thấy rõ những hành động và thao tác nào các em
đã thực hiện được tốt, hoặc thực hiện còn khó khăn. Khi giải thích và
hướng dẫn học sinh, nhà giáo dục có thể sử dụng tranh vẽ, băng hình, đưa
ra các ví dụ cụ thể hoặc giáo viên làm mẫu cho học sinh quan sát và thực hiện theo mẫu.
- Khi đã nắm được mẫu hành vi cần cho học sinh tiến hành đều đặn và
thường xuyên bằng cách đặt ra cho các em những nhiệm vụ, những yêu
cầu có ý nghĩa thực tiễn, gắn liền với giải quyết các nhiệm vụ cụ thể. Tuy
nhiên, công việc này cần được duy trì thường xuyên, đòi hỏi việc thực
hiện sinh hoạt phải theo chế độ và nề nếp nhất định
c. Phương pháp rèn luyện
PP rèn luyện cũng hình thành các thói quen của người được giáo dục thông
qua hoạt động và bằng hoạt động, tuy nhiên PP này quan tâm nhiều đến các phẩm
chất nhân cách và ý chí người được giáo dục, quan tâm đến việc tổ chức cho người
được giáo dục thể hiện ý thức, tình cảm của mình về các chuẩn mực xã hội trong
các tình huống đa dạng của cuộc sống. PP rèn luyện được sử dụng trong các tình
huống ít nhiều có sự biến đổi khác nhau, làm cho người được giáo dục bộc lộ
những phẩm chất, đòi hỏi ở họ có sự cố gắng mới thực hiện được. chẳng hạn muốn
hình thành và củng cố tính kiên trì ở học sinh, càn thiết phải đặt các em vào những
hoàn cảnh có vấn đề để các em khắc phục nhằm hoàn thành nhiệm vụ. Thực hiện
hành vi ứng xử nhiều lần trong các điều kiện giống nhau nhằm hình thành thói
quen, còn thực hiện, còn thực hiện hành động trong nhiều tình huống khác nhau
với mức độ thuận lợi và khó khăn khác nhau nhằm hình thành ý chí khắc phục khó
khăn là đặc điểm cơ bản của PP rèn luyện.
PP này yêu cầu người được giáo dục thực hiện nhiều lần những hành động
phù hợp với các khuôn mẫu ứng xử. Các hành vi này không thực hiện một cách
máy móc mà nó gắn liền với tình cảm, ý chí, nhu cầu và động cơ hoạt động của cá
nhân trong những tình huống khác nhau của đời sống. Muốn thực hiện PP này cần
thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Tổ chức các tình huống, các điều kiện để học sinh tham gia giải quyết
chúng bằng các hành động tích cực, phù hợp với các chuẩn mực và đạo
đức xã hội. Tình huống mà giáo viên lựa chọn có thể là các hoạt động
gắn liền với thực tiễn cuộc sống như tham gia an toàn giao thông, giữ gìn
vệ sinh môi trường, công tác đền ơn đáp nghĩa… Tùy theo phẩm chất cần
giáo dục cho học sinh mà nhà giáo dục có thể lựa chọn các tình huống và
hoạt động cho phù hợp. Chẳng hạn, muốn giáo dục tính kiên trì cần đưa
người được giáo dục vào trong các hoạt động đòi hỏi phải có tính kiên trì.
- Rèn luyện sẽ phát huy được hiệu quả khi người được giáo dục ý thức
được nhiệm vụ của mình, tự mình đề ra các hoạt động, có kế hoạch và
quyết tâm thực hiện chúng. Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh và
tập thể học sinh đề ra những kế hoạch phù hợp, động viên khuyến khích
các em quyết tâm thực hiện những kế hoạch đã vạch ra.
3. Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động điều chỉnh hành vi ứng xử
của người được giáo dục.
Nhóm phương pháp này có khả năng to lớn trong việc động viên học sinh
phát huy mọi sức lực và tinh thần, thể chất, tình cảm và trí tuệ để đạt hiệu quả cao
nhất trong học tập và rèn luyện. Đặc điểm cơ bản của nhóm phương pháp này là
dựa trên kết quả hành vi mà đối tượng giáo dục đã thực hiện trước đây để phát huy
tính tích cực của học sinh vào các hoạt động thực tiễn. Khuyến khích, động viên,
lôi cuốn lòng nhiệt tình tham gia vào hoạt động mà học sinh đã đạt được những
thành quả nhất định. Khắc phục, ngăn ngừa, uốn nắn hay trách phạt đối với những
biểu hiện tiêu cực không được xã hội thừa nhận.
Chức năng của nhóm phương pháp này là khuyến khích, củng cố, điều chỉnh
hành vi của học sinh, tạo ra những tiền đề tâm lí thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm
vụ mới trên cơ sở những hoạt động trước đây ở các em. Những phương pháp có
hiệu lực để khuyến khích, điều chỉnh và sửa chữa hành vi của học sinh là khen và
chê, khuyến khích và trừng phạt. Khuyến khích, khen và thưởng là phương pháp
để củng cố và kích thích những động cơ và hình thức hành vi đúng đắn. Trách phạt
là phương pháp nhằm ức chế, kìm hãm và điều chỉnh hành vi không phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
a. Phương pháp khen thưởng
Trong công tác giáo dục, khen thưởng có tác dụng củng cố và phát huy
những phẩm chất tích cực trong nhân cách của học sinh cũng như những truyền
thống tốt đẹp trong tập thể, giúp cho cá nhân và tập thể khẳng định được mình,
phấn khởi vươn lên trong tu dưỡng và phấn đấu. Khen thưởng không những có học
sinh khác noi theo và phấn đấu vươn lên. Khen thưởng góp phần quan trọng tạo
nên động cơ thúc đẩy quá trình giáo dục đạt hiệu quả mong muốn vì nó đem lại
cho cá nhân và tập thể sự hân hoan, vui sướng, tự hào, tự tin; làm nảy sinh ý muốn
và quyết tâm phấn đấu tốt hơn nữa.
Tác dụng kích thích của khen thưởng là ở chỗ nó thể hiện sự cộng nhận của
giáo dục, của tập thể và xã hội đối với kiểu hành vi mà học sinh đã lựa chọn và
thực hiện. Vì thế, khen thưởng cần có sự đồng tình, tán thưởng của dư luận tập thể
mới có tác dụng tích cực đối với tập thể và cá nhân người được khen. Khen thưởng
cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, công bằng, khách quan. Nếu khen thưởng không
đúng (thiếu khách quan, quá dễ dãi…) thì khen thưởng sẽ biến thành mặt đối lập,
gây ra thói kiêu ngạo, tự mãn, ích kỉ ở người được khen.
Có nhiều hình thức và biện pháp khen thưởng, tùy theo đối tượng giáo dục
mà có các hình thức và mức độ khen thưởng khác nhau. Có khi chỉ cần một cái
nhìn đặc biệt, một cái gật đầu đồng tình, một nụ cưới tán thưởng của nhà giáo dục
trước một lời nói, một hành động đáng khen của học sinh cũng làm cho các em vui
thích về những hành động đã thực hiện, kích thích lòng mong muốn được hành
động như vậy. Nếu thành tích, ưu điểm của học sinh do có sự cố gắng thường
xuyên và khắc phục nhiều khó khăn mới đạt được thì cần phải có những hình thức
và biện pháp khen thưởng xứng đáng hơn. Việc khen thưởng trong trường hợp này
khong chỉ thể hiện ở sự đồng tình của giáo viên mà cần có sự đồng thuận của tập
thể, sự công nhận của các cấp có thẩm quyền.Điều quan trọng là khen thưởng phải
có tác dụng cổ vũ, động viện những thành viên trong tập thể mong muốn noi theo.
b. Phương pháp trách phạt
Trách phạt là phương pháp giáo dục thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhà
giáo dục đối với những hành vi sai trái của người được giáo dục, tạo cơ hội cho
người được giáo dục nhận thấy lỗi lầm về hành vi sai trái của mình, hối hận và
quyết tâm không tái phạm nữa. Tác dụng của trách phạt, của kỉ luật là làm nảy sinh
ở học sinh tâm trạng xấu hổ, sự ân hận trước tập thể và nhà giáo dục về hành vi của
mình. Để có tác dụng đó, trách phạt cần có sự đồng tình của tập thể. Sự trách phạt
và thi hành kỉ luật phải gắn liền với việc làm cho học sinh tự ý thức được tác hại
của những hành vi xấu. Chừng nào học sinh chưa phát huy được hết tác dụng đối
với học sinh đó. Thái độ nghiêm khắc của nhà giáo dục và tập thể có vị trí đặc biệt
quan trọng đối với phương pháp trách phạt. Sự không tán thành, phủ nhận, chê
trách, lên án hay trừng phạt đối với những thái độ, hành vi trái với chuẩn mực xã
hội sẽ làm cho người mắc lỗi nhận ra khuyết điểm của mình, nhờ đó giúp họ thêm
ý chí, nghị lực chống lại sự cám dỗ, ức chế những hành vi tương tự.
Trách phạt cần mang tính giáo dục, đảm bảo sự công bằng công khái và tôn
trọng nhân cách của người được giáo dục. Khi trách ohatj cần phải biết rõ tình
huống phạm lỗi của học sinh, nhất là phải biết được động cơ phạm lỗi để từ đó lựa
chọn nội dung và hình thức trách phạt cho phù hợp.
Trong thực tiễn giáo dục, phương phát trách phạt thường được thực hiện ở
nhiều hình thức khác nhau tùy theo mức độ sai phạm về phẩm chất đạo đức, lối
sống, hành vi ứng xử…nhà giáo dục có thể đưa ra các hình thức từ nhẹ đến nặng
như: nhắc nhở, phê bình, cảnh cáo, các hình thức kỉ luật như khắc phục những thiệt
hại do hành vi sai trái gây ra, buộc thôi học...Tuy nhiên, việc lựa chọn những hình
thức và mức độ trách phạt cần dựa trên các nguyên tắc giáo dục, đặc biệt là nguyên
tắc tôn trọng và yêu cầu cao đối với người mắc khuyết điểm. Nguyên tắc này đồi
hỏi tuyệt đối không đánh đập hay xúc phạm đến lòng tự trọng bvaf nhân phẩm của
người mắc lỗi, giữ được quan hệ thầy- trò, quan hệ cá nhân- tập thể tốt đẹp ngay cả
trong trường hợp học sinh mắc sai lầm, khuyến điểm và bị thi hành kỉ luật. Sự
trách phạt của tập thể và nhà giáo dục phải nghiêm khắc nhưng với thái độ chân
thành, momg muốn giúp đỡ, giáo dục để học sinh sửa chữa những sai lầm, đồng
thời trách phạt cũng cần phải khách quan, công bằng tạo được sự đồng tình của dư
luận tập thể học sinh.
III. Lựa chọn các phương pháp giáo dục
Lựa chọn và sử dụng phương pháp giáo dục có hiệu quả vừa là khoa học
vừa là nghệ thuật của nhà giáo dục, khi lựa chọn phương pháp giáo dục
cần căn cứ vào những yếu tố sau:
- Khi lựa chọn một phương pháp giáo dục cần tính đến các mối quan hệ
của nó với tất cả các phương pháp và biện pháp khác được sử dụng trước
và sau đó, tính đến những phương tiện và các điều kiện tiến hành các
hoạt động giáo dục bởi vì các phương pháp giáo dục có mối quan hệ mật
thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất hướng vào việc hình thành
những phẩm chất nhân cách toàn diện cho học sinh. Sử dụng một phương
pháp giáo dục sẽ làm cho quá trình giáo dục không toàn diện và ảnh
hưởng đến chất lượng và hiệu quả của quá trình này. Thực hiện tốt PP
này là điều kiện để thực hiện tốt một PP tiếp theo và ngược lại. Không có
một PP nào lại được coi là tốt khi nó tách rời khỏi hệ thống các PP giáo
dục. Mỗi nhóm PP và mỗi PP giáo dục đều có chức năng và những ưu
điểm, hạn chế nhất định trong việc tác động đến việc hình thành nhân
cách. Không có PP giáo dục nào được coi là tối ưu trong mọi trường hợp.
Nhà giáo dục cần tính đến những điều kiện thực tiễn để lựa chọn và sử
dụng phối hợp tất cả các PP giáo dục một cách hợp lý.
- PP GD chịu sự quy định của mục tiêu và là phương tiện thực hiện mục
tiêu, do đó khi lựa chọn và sử dụng PP cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung
giáo dục cụ thể. Chẳng hạn, nếu giáo dục ý thức nhân cách nên tạp trung
vào các PP thuyết phục, giáo dục thói quen hành vi tập trung vào các
phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn. Nội dung GD cũng góp phần
quy định PP giáo dục. Việc giáo dục đạo đức khác với giáo dục hướng
nghiệp… Vì thế, người GV cần dựa vào các nội dung GD mà xác định
PP giáo dục cho thích hợp.
- Việc lựa chọn và sử dụng PP phụ thuộc chủ yếu vào nhà giáo dục, bởi lẽ
họ là người quyết định sử dụng PP giáo dục nào trong những tình huống
cụ thể. Tuy nhiên, muốn sử dụng PP có hiệu quả, nhà giáo dục cần căn cứ
vào trình độ và khả năng thực hiện của nhà giáo dục và người được giáo dục.
Muốn thành công trong lựa chọn và sử dụng phương pháp giáo dục,
nhà giáo dục cần tính đến tất cả các yếu tố trên.
BÀI 5: MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
I. Giáo dục gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi con người sinh ra, lớn lên và hình
thành nhân cách. Gia đình là cơ sở để duy trì nòi giống của con người và là một
môi trường giáo dục thế hệ đang lớn lên. Không có gia đình để tái sản xuất bản
thân con người, để góp phần quan trọng vào việc đào tạo và bồi dưỡng cong người
có ich thì XH không thể tồn tại và phát triển.
* Vai trò của gia đình:
Khả năng giáo dục của gia đình là vô cùng to lớn. Cha mẹ - con cái là những
người ruột thịt gần gũi nhất. Đứa trẻ ra đời nhận tác động giáo dục đầu tiên từ phía
cha mẹ: mỗi đứa trẻ là một cá nhân độc đáo mà cha mẹ là người hiểu rõ hơn ai hết.
Trẻ em kính trọng, yêu quí cha mẹ sâu sắc chúng không chỉ bắt chước người trong
trong gia đình mà còn tác động trở lại đối với họ. Bộ mặt đạo đức của học sinh lớp
1 phản ánh bộ mặt đạo đức của gia đình và việc giáo dục trẻ ở gia đình.
* Nội dung giáo dục gia đình
Nội dung giáo dục gia đình được xác định bởi mục đích giáo dục nói chung,
nó được thực hiện hàng ngày trong các điều kiện tự nhiên, bình thường đối với trẻ, bao gồm:
- Nhiệm vụ chính của HS tiểu học là học tập. Gia đình cần tạo những điều
kiện lao động cần thiết: sách vở và các loại đồ dùng học tập đầy đủ; có chỗ học tập
ở nhà ổn định, hợp vệ sinh, dành thời gian cần thiết cho trẻ tự học, thường xuyên
kiểm tra trẻ thực hiện chế độ giờ giấc, đi học chuyên cần
- Trong việc GD thể chất cho trẻ ở gia đình: cha mẹ cần chỉ dẫn cho trẻ thực
hiện chế độ giờ giấc ở gia đình, tập cho chúng thói quen tập thể dục buổi sáng; tắm
rửa thường xuyên; cho trẻ ăn uống nghỉ ngơi, ngủ, vệ sinh cá nhân một cách hợp
lý, đúng đắn; tạo điều kiện để trẻ tham gia các môn thể thao: tham quan, du lịch, bơi lội, cờ vua….
- Giáo dục lao động ở gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính ở gia
đình trẻ thực hiện những công việc lao động đầu tiên trong cuộc đời mình. Cha mẹ
phải cho trẻ em lao động càng sớm càng tốt, với các công việc vừa sức với trẻ. Trẻ
tiểu học cần làm tốt các công việc lao động mang tính chất tự phục vụ ở gia đình,
vệ sinh cá nhân, gấp chăn màn, quần áo, khâu vá, nấu ăn, quét nhà, trong nom nhà
cửa giúp đỡ ông bà…….Tấm gương của người lớn trong gia đình trong lao động,
sự kiểm tra thường xuyên, đánh giá kết quả, thái độ, động cơ lao động, giao công
việc một cách thường xuyên là những điều kiện cần thiết bảo đảm hiệu quả giáo
dục lao động cho trẻ ở gia đình.
- Giáo dục thẩm mỹ ở gia đình là hướng cho trẻ tiếp xúc, tiếp cận với cái đẹp
trong cuộc sống, lao động, nghệ thuật. Những xúc cảm thẩm mỹ đầu tiên của trẻ
xuất hiện rất sớm, khi trẻ làm quen với các loại đồ chơi hấp dẫn, khi nghe các câu
chuyện cổ tích người lớn kể …hay sau này trẻ xem phim, tham gia múa hát, vẽ…
Trong điều kiện gia đình, nét thẩm mỹ cuộc sống có ý nghĩa giáo dục to lớn:
căn phòng nơi trẻ sống, góc học tập nơi trẻ ngồi, tất cả đồ vật xung quanh trẻ,
không khí gia đình …tất cả phải giản dị, tiện lợi, hợp vệ sinh, hợp đạo đức và tạo
điều kiện phát triển hứng thú thẩm mỹ, tạo nên tâm trạng tốt cho trẻ đứa trẻ.
Cha mẹ cần khuyến khích trẻ đọc sánh, lựa chọn cho chúng những quyển sách
phù hợp, lành mạnh, có giá trị giáo dục đạo đức thẩm mỹ cao
- Giáo dục đạo đức ở gia đình có vị trí không gì có thể thay thế. Lần đầu tiên
trong đời đứa trẻ lĩnh hội, thể hiện các chuẩn mực đạo đức. Gia đình có thể giáo
dục cho trẻ các phẩm chất đạo đức như tính nhân đạo, sự đồng cảm sâu sắc, quan
tâm và sẵn sàng giúp đỡ mọi người, văn hóa giao tiếp, tính dịu dàng, trách
nhiệm… và ngược lại, cũng chính từ những quan hệ này mà có thể nảy sinh tính
ích kỷ, thô bạo, lì lợm…
Vì vậy cha mẹ phải quan tâm, tận dụng từng trường hợp, từng tình huống để
giáo dục đạo đức cho trẻ. Trước hết cha mẹ phải là tấm gương tốt mẫu mực trong
cư xử với cha mẹ mình (ông, bà của trẻ), chỉ bảo cho trẻ biết biết chăm sóc, giúp
đỡ ông bà, cha mẹ; giúp trẻ phân biệt được giữa cái tốt và cái xấu, thật thà và giả
dối, tế nhị và thô bạo….
Để hình thành các phẩm chất đạo đức, chỉ bằng các phương pháp dùng lời là
chưa đủ. Cần giúp trẻ có được kinh nghiệm và hành vi qua những việc làm cụ thể
bằng các mối quan hệ với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Qua đó các
thói quen đạo đức tích cực được hình thành.
II. Giáo dục nhà trường
Giáo dục nhà trường là giáo dục trong các trường lớp thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học
và thực tiễn nhất định. Giáo dục nhà trường được tiến hành có tổ chức, luôn luôn
tác động trực tiếp và có hệ thống đến sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách.
Giáo dục nhà trường có sự thống nhất vè mục đích, mục tiêu cụ thể, được thực
hiện bởi đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo và bồi dưỡng chu đáo; tiến hành
giáo dục theo một chương trình, nội dung, phương pháp sư phạm nhằm tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hướng tới sự thành đạt của con người.
III. Giáo dục hội
Giáo dục xã hội là hoạt động của các tổ chức, các nhóm xã hội có chức năng
giáo dục theo quy định của pháp luật hoặc chương trình giáo dục trên các phương
tiện thông tin đại chúng. Giáo dục xã hội tác động đến quá trình hình thành và phát
triển nhân cách của trẻ thông qua hình thức tự phát và tự giác.
Những ảnh hưởng tự phát bao gồm các yếu tố tích cực và tiêu cực của đời sống
xã hội vô cùng phức tạp do cá nhân lựa chọn theo nhu cầu, hứng thú, trình độ tự
giáo dục của mình. Những ảnh hưởng tự giác là những tổ hợp tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp có hướng đích, có nội dung, có phương pháp bằng nhiều hình thức
của các tổ chức, cơ quan, đoàn thể xã hội.
IV. Nội dung phối hợp giữa các môi trường giáo dục
Việc liên kết, phối hợp giữa môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và các tổ
chức xã hội nhằm mục đích phát triển nhân cách công dân được coi là một nguyên
tắc quan trọng. Việc liên kết chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục nhằm đảm bảo sự
thống nhất về nhận thức cũng như cách thức hành động để hiện thực hóa mục tiêu
quá trình phát triển nhân cách, tránh sự tách rời, mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau;
gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động đối với cá nhân trong việc lựa
chọn tiếp thu các giá trị tốt đẹp.
Gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội liên kết, phối hợp thống nhất mục
đích, mục tiêu giáo dục thể hiện ở những nội dung cơ bản nhằm phát triên toàn
diện các mắt đức, trí, thể, mĩ, lao động… Mỗi môi trường đều có một ưu thế trong
việc thực hiện các nội dung giáo dục.
Việc liên kết, phối hợp các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường, các tổ
chức xã hội diễn ra dưới nhiều hình thức. Vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu là
các lực lượng giáo dục đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các
hình thức, giải pháp, tạo ra mối liên kết, phối hợp vì mục đích giáo dục, đào tạo thế
hệ trẻ thành những công dân hữu ích của đất nước. Do đó, không thể coi đây là
trách nhiệm riêng của lực lượng nào. Tuy nhiên gia đình và nhà trường có trọng
trách lớn hơn, bởi vì trẻ em là con cái của gia đình, là học sinh của nhà trường
trước khi trở thành công dân xã hội.
Các nội dung liên kết chủ yếu:
- Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục học sinh của tập thể sư
phạm nhà trường với phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn
hóa giáo dục ngoài nhà trường.
- Theo dõi, đánh giá kết quả quá trình giáo dục học sinh trong nhà trường và ở
địa phương nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Gia đình phải tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ cho trẻ em; người lớn có trách nhiệm giáo dục làm
gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa giáo dục, tạo động lực mạnh mẽ cũng như
điều kiện thuận lợi cho hệ thống nhà trường thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đào tạo
ở tất cả các cấp học.
a. Kết hợp giữa nhà trường gia đình
* Nội dung:
Bản chất của việc phối hợp này nhằm đạt được sự thống nhất về các yêu cầu
GD cũng như sự tác động GD của tất cả người lớn, giúp cho nhân cách của trẻ
được phát triển đúng đắn và toàn diện.
Nhà trường có vai trò, tác dụng rất quan trọng trong việc hướng dẫn các bậc
cha mẹ hiểu rõ mục tiêu GD cấp học, ý thức đúng đắn đối với việc xây dựng gia
đình hạnh phúc, tạo ra các điều kiện cần thiết để phối hợp GD con em cùng với nhà trường. Cụ thể:
+ Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giáo dục con em trong phạm vị giáo dục gia
đình theo đúng Mục tiêu giáo dục. Muốn vậy phải giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ,
hiểu đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của mình: không chỉ là việc nuôi dạy con em
mình cho gia đình, vì hạnh phúc của gia đình mà còn là việc giáo dục, bồi dưỡng
hình thành năng lực, phẩm chất của người công dân tương lai
+ Nhà trường phải thể hiện được vai trò và tính chất của một đơn vị giáo dục,
là lực lượng giáo dục nòng cốt của sự nghiệp giáo dục.
+ Nhà trường phải công bố nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục để gia
đình được biết và thống nhất với gia đình về mục tiêu, phương pháp giáo dục.
+ Thường xuyên theo dõi tiến trình kết hợp giáo dục và tổng kết, đánh giá, đề
xuất kế hoạch phù hợp.
+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề, báo cáo kinh nghiệm, câu lạc bộ, hội thảo
để phổ biến các tri thức khoa học GD, về GD trẻ em trong gia đình cho phụ huynh HS nghe.
+ Hướng dẫn, giúp các bậc cha mẹ tạo nên những điều kiện để giáo dục con
em có hiệu quả theo đúng yêu cầu và mục tiêu của nhà trường, trong đó đặc biệt
quan tâm đến: Xây dựng lối sống có văn hóa, có kỷ cương, có nề nếp ở gia đình,
trong gia đình người lớn luôn luôn là tấm gương sáng cho con cái noi theo. Trong
đời sống gia đình luôn ấm cúng, mọi người thông cảm, thương yêu, gắn bó với
nhau; người nào việc ấy, mỗi người đều lo hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm của mình.
+ Khi cần thiết, các giáo viên, nhà trường là cố vấn tin cậy giúp các bậc cha
mẹ giáo dục con cái đúng phương pháp, biết cách tự phân tích, rút ra kết luận sư
phạm phù hợp với việc giáo dục con cái trong phạm vi gia đình
* Các hình thức phối hợp:
- Tổ chức các Hội nghị cha mẹ học sinh toàn trường và Hội nghị phụ huynh các lớp
- Thăm hỏi gia đình học sinh - Ghi sổ liên lạc
- Mời cha mẹ của một số học sinh đến trường.
b. Kết hợp giáo dục giữa nhà trường hội
* Việc giáo dục thế hệ trẻ sự nghiệp của toàn hội.
Đối với bậc tiểu học, nhà nước coi đó là bậc học hoàn chỉnh với mục tiêu,
nhiệm vụ, nội dung giáo dục riêng. Và giáo dục tiểu học đang được nhà nước, toàn
xã hội quan tâm. Nhà nước đã ban hành “Luật phổ cập giáo dục tiểu học”, “Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”, đã sử dụng các phương tiện thông tin đại
chúng với chương trình riêng vào mục đích giáo dục trẻ em, phục vụ trẻ em, vận
động các tổ chức xã hội tham gia việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Ở cấp độ vi mô: có những hoạt động giáo dục do các tổ chức xã hội, các hội
quần chúng về văn hóa, khoa học – kỹ thuật, nghệ thuật…ở địa phương tiến hành
dành cho trẻ tiểu học (đỡ đầu nhà trường về cơ sở vật chất, về hướng nghiệp…. ).
* Bản chất của việc kết hợp giữa nhà trường hội
Trong việc giáo dục trẻ em là tạo ra một môi trường và điều kiện thích hợp để
giáo dục đúng đắn, mà trong đó, tất cả các mối quan hệ xã hội trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội đều mang tính chất chuẩn mực. Điều đó không chỉ trực
tiếp tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách trẻ em, mà còn tạo ra các điều
kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc giáo dục của nhà trường và của gia đình.
* Các hình thức công tác giáo dục của hội
- Các lực lượng của xã hội tham gia công tác giáo dục trẻ em trước hết bằng
việc mỗi đoàn viên, mỗi thành viên, mỗi cá nhân tự mình nêu những tấm gương
cho thế hệ trẻ về tính cần cù, tận tụy trong lao động, trong công việc, về lòng nhân
ái và thái độ tế nhị trong quan hệ đối xử, nghiêm khắc và trung thực trong thái độ với bản thân
- Nhà trường luôn luôn phải vươn lên, phát huy tác dụng chủ đạo của mình,
đóng vai trò tổ chức, thống nhất các lực lượng giáo dục, đảm bảo quán triệt Mục
đích giáo dục trong mọi không gian, thời gian, trong mọi tổ chức và hoạt động giáo dục.
- Cần có kế hoạch và biện pháp thích hợp thu hút các cơ sở sản xuất tham gia
với nhiều mức độ, với hình thức thích hợp vào công tác giáo dục. Trong hoàn cảnh
cụ thể của cấp tiểu học, hình thức có hiệu quả là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đỡ
đầu, bảo trợ, tạo điều kiện giúp nhà trường thực hiện các hoạt động gắn với đời sống
Việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường và xã hội không chỉ là quán triệt, vận
dụng đúng đắn đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng và nhà nước mà còn là
một yêu cầu có tính pháp luật, mọi công dân, mọi tổ chức xã hội có trách nhiệm, nghĩa vụ phải thi hành.
PHẦN 3. QUẢN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BÀI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ BẢN VỀ QUẢN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I. Khái niệm quản hành chính nhà nước
Con người là thực thể của tự nhiên, phương thức tồn tại và phát triển của con
người là hoạt động. Trong quá trình hoạt động con người luôn tác động lẫn nhau,
chi phối lẫn nhau tạo thành các mối quan hệ. Trong các hoạt động chung người có
ưu thế hơn sẽ chi phối người khác, trở thành “thủ lĩnh, nhạc trưởng”. Như vậy quản
lý ra đời trong quá trình hoạt động của con người. Quản lý có thể hiểu theo những khuynh hướng sau:
- Quản lý là quá trình điều khiển của một hệ thống.
- Quản lý là hoạt động tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp
cụ thể nhằm tạo điều kiện, môi trường cho sự phát triển của đối tượng quản lý.
- Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Tuy cách diễn đạt khác nhau song nội dung cơ bản của quản lý là thống
nhất. Quản lý là một thuộc tính nội tại, bất biến của mọi quá trình hoạt động xã hội.
Lao động quản lý là tất yếu và quan trọng để làm cho xã hội loài người vận hành,
tồn tại và phát triển.
Các lĩnh vực của quản lý bao gồm: Giới vô sinh, giới sinh vật và quản lý xã
hội. Quản lý xã hội là dạng quản lý cơ bản của con người đối với các hoạt động
của con người trong một tổ chức nào đó, nên có thể hiểu: Quản quá trình tiến
hành các hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức thực hiện các nguồn lực, các
tác động của chủ thể quản theo kế hoạch chủ động phù hợp với quy luật
khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản nhằm tạo ra sự thay đổi hay
hiệu quả cần thiết cho sự tồn tại, ổn định phát triển của tổ chức trong môi
trường luôn biến động.
Quản nhà nước hoạt động quản hội đặc biệt mang tính quyền lực
Nhà nước, sử dụng hệ thống pháp luật Nhà nước để điều chỉnh hành vi con người
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống hội do các quan trong bộ máy Nhà
nước thực hiện; nhằm thoả mãn nhu cầu của con người, duy trì sự ổn định phát
triển hội.
Quản hành chính nhà nước hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà
nước, hoạt động chấp hành, điều hành của hệ thống hành chính trong việc quản
hội theo khuôn khổ pháp luật nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định
phát triển hội.
II. Nội dung, hình thức, phương tiện, phương pháp đặc điểm của quản
hành chính nhà nước Việt Nam
1. Nội dung quản hành chính nhà Nước Việt Nam
Các cơ quan này thực hiện chúc năng hành pháp trong hành động về các lĩnh
vực và các mặt công tác sau đây:
- Một là: Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế, văn hóa, xư hội.
- Hai là: Quản lý hành chính nhà nước về an ninh, quốc phòng.
- Ba là: Quản lý hành chính nhà nước về ngoai giao.
- Bốn là: Quản lý hành chính nhà nước về ngân hàng, tài chính ngân sách nhà
nước, kế toán, kiểm toán, quan lý tài sản công, thị trường chứng khoán.
- Năm là: Quản lý hành chính nhà nước về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
- Sáu là: Quản lý hành chính nhà nước về các nguồn nhân lực.
- Bảy là Quản lý hành chính nhà nước về công tác tổ chúc bộ máy hành chính Nhà
nước về quy chế, chế độ, chính sách về công, công chức Nhà nước.
Tám là: Quản lý hành chính nhà nước và phát triển công nghệ tin học trong hoat
động quan lý hành chính.
2. Hình thức quan hành chính nhà Nước
Thông thường quan lý hành chính nhà nước có ba hình thức sau:
- Ra văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Các chu thể quan lý hành chính nhà nước có thể ra quyết định bằng chữ viết,
bằng lòi nói, bằng dấu hiệu, kí hiệu, trong đó bằng chữ viết là chủ yếu, là đảm bảo tính pháp lý cao nhất.
Văn ban pháp quy pham pháp luật hành chính là quyết định hành chính
ĐUợc ghi bằng chữ viết, để cho các khách thể quan lý căn cứ vào đó mà thực hiện
và là chứng cú để các chu thể quan lỦ kiểm tra các khách thể thực hiện có đầy đu
và đúng hay không và tùy theo đó mà truy cúu trách nhiệm, xử lỦ theo pháp luật. -Hội nghị:
Hội nghị là hình thúc để tập thể lưnh đao ra quyết định. Hội nghị để tập thể
bàn bac một công việc có tính liên quan đến nhiều cơ quan hoặc nhiều bộ phận
trong một cơ quan, cần có sự kết hợp, giúp đỡ lẫn nhau. Hội nghị còn dùng để
truyền đat thông tin, học tập, biểu thị thái độ, tuyên truyền, giai thích...
Hội nghị bàn công việc sẽ có nghị quyết hội nghị. Các nghị quyết hội nghị
được thể hiện bằng văn ban pháp quy mới có đầy đủ tính pháp lý.
Hội nghị là hình thức cần thiết và quan trọng. Cần phai tổ chức và chủ trì hội nghị
theo phương pháp khoa học để ít tốn thời gian mà hiệu qua cao.
-Hoat động thông tin điều hành bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đai.
Theo hình thúc này, máy móc có thể thay thế lao động chân tay và ca lao
động trí óc cho công chúc hành chính. Hình thúc này hiện nay đang phát triển
manh mẽ. Chẳng han: sử dnng điên thoai, ghi âm, ghi hình, vô tuyến truyền hình,
fax, phôtôcopy, máy vi tính, máy điện toán, internet. Nói chung là tin học hiện đai
được sử dụng vào công tác nghiệp điều hành quan lý hành chính nhà nước.
Trong ba hình thức trên, hình thúc ra văn ban pháp quy quy pham pháp luật hành
chính nhà nước là hình thức chủ yếu.
3. Phương tiện quản hành chính nhà nước
- Công sở: Là trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, là nơi lãnh
đạo công chức và nhân viên thực thi công vụ, là nơi giao tiếp đối nội và đối
ngoại, là nơi tiếp nhận các thông tin đầu vào và ban hành các quyết định để giải
quyết, xử lý các công việc hàng ngày để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi
hoạt động của công dân. Công sở phải có tên, có địa chỉ rõ ràng và phải treo quốc
kỳ trong những ngày làm việc.
- Công vụ: Là một dạng lao động xã hội của những người làm việc trong các cơ quan HCNN.
- Công chức: Là người thực hiện công vụ, được bổ nhiệm hoặc tuyển dụng, được
hưởng lương và phụ cấp theo công việc được giao từ ngân sách nhà nước.
- Công sản: Là ngân sách, vốn, là kinh phí và các điều kiện, phương tiện vật chất để các hoạt động.
- Quyết định quản hành chính nhà nước: Các công chức lãnh đạo, những
người có thẩm quyền ra quyết định, người ra quyết định phải nhận thức đầy đủ và
đúng đắn rằng quyết định quản lý hành chính nhà nước là sự biểu thị ý chí nhà
nước, là kết quả thực thi quyền hành pháp của bộ máy nhà nước. Đồng thời phải
tôn trọng quy trình công nghệ hành chính của việc ra và tổ chức thực hiện quyết định.
4. Phương pháp quản hành chính nhà nước
- Phương pháp kế hoạch hoá: Để quy hoạch, dự báo, xây dựng chiến lược…
- Phương pháp thống kê: Để điều tra, phân tích, thu thập thông tin….
- Phương pháp toán học hoá: Để lập chương trình kế toán hoá qua hệ thống máy
điện toán, sơ đồ mạng….
- Phương pháp tâm lý học: Để nghiên cứu những vấn đề xã hội nhằm suy tôn
những người có công trong quản lý nhà nước như: Nhà giáo nhân dân, nghệ sỹ nhân dân…
- Phương pháp sinh lý học: Để nghiên cứu các điều kiện lao động nhằm tăng lực công tác.
- Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức: Để giác ngộ lý tưởng, ý thức chính trị,
pháp luật, nhận biết được việc làm tốt, xấu, thiện, ác…
- Phương pháp tổ chức: Đây là biện pháp đưa con người vào khuôn khổ kỷ luật, kỷ cương.
- Phương pháp kinh tế: Làm giỏi, hiệu quả lớn thì tăng lương, tăng thưởng.
Làm sai, hiệu quả không có thì hạ lương, cắt thưởng, bồi thường hoặc phạt tiền.
- Phương pháp hành chính: Để tác động trực tiếp đến chủ thể quản lý lên các khách
thể bằng các mệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc.
5. Đặc điểm quản hành chính nhà nước Việt Nam
Quản lý hành chính ở nước ta có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, quản hành chính nhà nước hoạt động mang quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong quan lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện ở
việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện
nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dnng là văn
ban quan lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn ban, chủ thể quản lý
hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách
pháp luật nhằm định hướng cho hoat động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới
dang quy pham pháp luật nhằm cn thể hóa các quy pham pháp luật của cơ quan
quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển
khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dnng pháp
luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan
hệ quan lý; dưới những dang mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoat động,nhằm tổ
chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn;dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối
lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước
Bên canh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có
thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà
nước, như các biện pháp về tổ chức về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục
cưỡng chế … Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức
mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước , nhờ đó ý chí của chủ
thể quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm thực hiện.
Đây là đặc điểm quản trọng để phân biệt hoạt động quản lý hành chính với
những hoạt động quản lý không mang tính quyền lực nhà nước, như quản lý trong
nội bộ của các Đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp… Trong các
hoạt động quản lý phi nhà nước, quyền lực cũng được sử dụng không phải là quyền
lực nhà nước, chỉ tác động trong nội bộ tổ chức, nhằm đạt mục tiêu của tổ chức
trong khuôn khổ pháp luật; các chủ thể quản lý cũng thể hiện ý chí và sử dụng sức
mạnh của mình để bảo đảm thực hiện ý chí đó, tuy nhiên họ chỉ nhân danh cá nhân
hay tổ chức mình mà không nhân danh nhà nước.
- Thứ hai, quản hành chính nhà nước hoạt động được tiến hành bởi những
chủ thể quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành
pháp và tư pháp.Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về
các cơ quản lý hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như:
việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến
hành bởi các bộ…Trong những trưòng hợp này quyền năng hành pháp cũng thể
hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các
cơ quan hành chính nhà nước. Do dó, có thể kết luận chủ thể quản lý hành chính
nhà nước là các chủ thể mang quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bao
gồm: cơ quan hành chính nhà nước và công chức của những cơ quan này; thứ
trưởng của các cơ quan nhà nước; các công chức nhà nước, cá nhân hoặc tổ
chức xã hội được nhà nước uy quyền quản lý hành chính đối với một số loại việc
nhất định. Và như vậy, quản lý hành chính nhà nước có đối tượng tác động là các
quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quản trọng tới ít
quản trọng, từ phổ biến tới cá biệt, phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp
luật và trong nội bộ cua các cơ quản nhà nước. Trong khi đó hoạt động lập pháp, tư
pháp chỉ phát sinh trong pham vi tương đối hẹp, có đối tượng tác động là những
quan hệ xã hội quan trọng.
- Thứ ba, quản hành chính nhà nước hoạt động tính thống nhất, được tổ
chức chặt chẽ.
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan
hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương,
đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành
thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của ca nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp
nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của ca, tránh được sự cục bộ
phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên. do
mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên
để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tao sự năng động sáng
tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân
cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Để cùng lúc đạt được hai mnc đích này, nguyên tắc “ hai chiều lệ
thuộc” được sử dụng như một giai pháp hữu hiệu trong việc tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước. Theo đó, ngoại trừ Chính phủ là cơ quan đứng đầu bộ máy hành
chính nhà thì mỗi cơ quan khác trong bộ máy này điều lệ thuộc vào hai cơ quản:
một cơ quản theo chiều dọc để đảm bảo sự thống nhất của bộ máy; một cơ quản
theo chiều ngang để đảm bảo sự chủ động của mỗi cấp quản lý. Vấn đề căn bản
được đặt ra trong việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là xác định hợp lý
thẩm quyền của mỗi cấp quản lý, vừa tránh được sự chồng chéo chúc năng, vừa
không bỏ lọt những lĩnh vực cần quản lý;vừa bao đam sự điều hành xuyên
suốt, thống nhất trong bộ máy, vừa tao ra được sự chu động, sáng tao của mỗi
cấp quản lý, có như Vậy mới vừa bảo đảm thống nhất lợi ích chung của nhà nước,
vừa đảm bảo lợi ích của từng địa phương.
- Thứ tư, hoạt động quản hành chính nhà nước tính chấp hành điềuhành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện trong
việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích
thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tao của chủ thể quản lý
thì cũng không được vựợt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp
áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định
pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong
việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã
hội. Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà
quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động
của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi
đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quản hệ quản lý.
Như vậy, trong mỗi hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tính chấp hành
và tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động
quản lý hành chính nhà nước, nhờ đó có thể phân biệt với hoạt động lập pháp và tư
pháp: trong lập pháp, chấp hành là để xây dựng pháp luật làm cho pháp luật ngày
càng hoàn thiện hơn; trong tư pháp, chấp hành là để bảo vệ pháp luật tránh khỏi sự
xâm hai; còn trong quản lý hành chính, chấp hành là để tổ chức thực hiện pháp luật
trong đời sống xã hội.
- Thứ năm, quản hành chính nhà nước hoạt động mang tính liên tục.
Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý hành chính nhà nước luôn
cần có tính liên tnc, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của
đời sống xã hội. Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong
việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức, công vụ của bộ
máy hành chính nhà nước; tao ra bộ máy hành chính gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong
tổ chức, có đội ngũ công chức năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng
buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình.
Tóm lại Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà
nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có
nội dung là bảo đảm sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan
quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên
công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị. Nói cách
khác, quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước.
BÀI 2. QUẢN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1. Khái niệm quản hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo
Quản lý hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo, do
các cơ quan quản lý giáo dục của nhà nước từ TW đến các cơ sở tiến hành chức
năng nhiệm vụ do nhà nước uỷ quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào
tạo, duy trì trật tự kỷ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân,
thực hiện mục tiêu GD &ĐT của nhà nước.
2. Nội dung quản hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo
Theo Điều 99 Luật giáo dục 2005, nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
(1). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách phát triển giáo dục;
(2). Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục;
ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
(3). Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà
giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in
và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;
(4). Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;
(5). Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
(6). Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
(7). Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
(8).Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;
(9). Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ
trong lĩnh vực giáo dục;
(10). Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
(11). Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối
với sự nghiệp giáo dục;
(12). Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục
3. Hệ thống quản hành chính nhà nước về giáo dục đào tạo
- Chính phủ thống nhất quản nhà nước về giáo dục
Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh
hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những
chủ trương về cải cách nội dung chương trình của cả một bậc học, cấp học; hàng
năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục.
- Bộ Giáo dục Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước nhà nước về giáo dục. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
có trách nhiệm quản lí nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ. Chính
phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để thực hiện việc
thống nhất nhà nước về giáo dục.
- Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục ở địa phương
theo quy định của Chính phủ.
Cấp tỉnh có Sở giáo dục và Đào tạo. Giám đốc Sở GD-ĐT chịu trách nhiệm
trước Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục trong phạm vi
tỉnh, bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giao dục nghề nghệp. Đối
với trường cao đẳng , một số sở GD-Đt được uỷ nhiệm quản lí mộ vài mặ của quá
trình đào tạo hoặc quản lí cả năm mặt: chuyên môn, nhân sư, bộ máy, tài chính, cơ sở vật chất sư phạm.
Cấp huyện, quận có Phòng GD-ĐT. Trưởng phòng GD&ĐT chịu trách nhiệm
trước Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục trong phạm
vi huyện, quận. Phòng GD&ĐT cấp huyện quản lí các trường mầm non, trường
tiểu học, trường trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên.
4. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục Đào tạo hiện nay
4.1. Những thành tựu đã đạt được
1. Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền
giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng
cao được trình độ đào tạo, trình độ và kĩ năng nghề nghiệp của người lao động.
2. Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với
người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, các đối tượng chính sách và người có
hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới cơ bản được bảo đảm.
3. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu
nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Công tác quản lí giáo dục có bước chuyển biến tích cực.
5. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình
độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.
6. Cơ sở vật chất - kĩ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm
và từng bước hiện đại hoá.
7. Xã hội hoá giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng.
Những thành tựu, kết quả quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thống
hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành
tựu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
4.2. Những hạn chế yếu kém
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển,
có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng
thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
- Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục;
chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất
lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa
thực sự là quốc sách hàng đầu.
- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm
hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát
huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
– Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối
sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề”
vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy
sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối.
- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là
nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục
chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều
kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh
vực khác của đất nước.
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng
lực của một bộ phận còn thấp.
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng
liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm.
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất
nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học
giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập.
- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ
chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu
những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành
rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một
số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể
giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt
nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống,
chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn
đề đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm
giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của
Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.
5. Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới Giáo dục Đào tạo
Trong các văn kiện trình Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc
biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã
từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị
quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là
quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía
trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống.
Trong Văn kiện đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ
trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm
của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân
lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục
nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.
Vì sao phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực? Các văn kiện của Đảng đã chỉ rõ chất lượng, hiệu quả giáp dục và đào
tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ
thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và các phương thức
giáo dục, đào tao; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với
nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động;
chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương
pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu và thiếu thực
chất. Quản lí giáo dục và đào tạo có mặt còn yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lí giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Đầu tư cho giáo dục
và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa
phù hợp. Cơ sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn.
Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết. Thứ nhất, do
chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo ở nước ta còn thấp so với yêu cầu của công
cuộc đổi mới, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Hiện nay,
toàn quốc có hơn 70.000 cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ tốt nghiệp ra trường, nhưng không
tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không đúng nghề đào tạo; nhiều người
được tuyển chọn phải đào tạo lại mới sử dụng được. Thứ hai, hệ thống giáo
dục-đào tạo ở nước ta còn bị khép kín, thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa
các phương thức giáo dục, đào tạo, còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Thứ ba,
chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, với sản xuất kinh
doanh và nhu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ. Thứ tư,
chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và kỹ năng,
phương pháp làm việc. Thứ năm, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chủ yếu
truyền thụ kiến thức một chiều; tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn thiếu
thực chất, mắc bệnh thành tích. Thứ sáu, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Thứ bảy, cơ chế, chính sách,
đầu tư cho giáo dục, đào tạo chưa phù hợp; cơ sở vật chất-kỹ thuật thiếu đồng bộ, còn lạc hậu…
Như vậy, việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tao; phát triển
nguồn nhân lực là yêu cầu bức thiết. Đó vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp giúp
chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức của thời cuộc và phát triển bền vững. Tuy
nhiên, nếu không quyết liệt đổi mới, hoặc đổi mới “nhỏ giọt”, cục bộ, từng phần,
tức là giáo dục, đào tạo vẫn không khác hơn kiểu cũ thì nguy cơ tụt hậu xa hơn
luôn ở kề bên; đường lối đổi mới của Đảng sẽ mất dần động lực phát triển, chúng
ta sẽ không thể đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thậm chí rơi vào
“cái bẫy thu nhập trung bình”. Điều kiện tiên quyết, suy đến cùng là do con người
quyết định, trong đó giáo dục, đào tạo, nền học vấn là nhân tố quan trọng nhất.
Đảng ta nhất quán khẳng định: “Giáo dục, đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, “đầu
tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư cho phát triển”. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả
thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới giáo dục, đào tạo từ
Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII đến nay vẫn còn những hạn chế, bất cập, chất lượng thấp.
Đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực
hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động
quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học... Điều này
không phải đến Đại hội XII, Đảng ta mới xác định như vậy. Vấn đề là ở chỗ: Trong
những năm qua, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu giáo dục toàn diện chưa
được hiểu và thực hiện đúng; nay chúng ta cần nhận thức đúng hơn và thực hiện hiệu quả hơn.
Lâu nay, ở nước ta, các trường chủ yếu trang bị kiến thức cho người học, lấy
nó và dựa vào nó để phát triển năng lực. Nhiều năm qua, chúng ta đã nhận ra sự
bất cập, hạn chế của việc này, nên đã chuyển hướng sang phát triển phẩm chất và
năng lực người học. Tuy nhiên, do thiếu tính đồng bộ và nhận thức chưa thống
nhất, nên việc dạy và học vẫn theo cách cũ: Trang bị kiến thức là chính, phát triển
phẩm chất và năng lực là phụ. Từ khi có Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8,
khóa XI, trong xã hội ta, về nhận thức đã có sự thay đổi nhất định, dần đi đến
thống nhất về sự cần thiết phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Để “đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” đạt hiệu
quả cao, chúng ta phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp.
Một giải pháp quan trọng được nêu trong dự thảo, đó là: Đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào
tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Trên cơ
sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo, công khai mục tiêu,
chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và
chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo là đổi mới chương trình khung các môn
học và nội dung của nó theo hướng phát triển mạnh năng lực và phẩm chất người
học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm mới: Dạy người,
dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy nghề).
Tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực,
phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật
và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền
thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng.
Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp.
Dạy Ngoại ngữ và Tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử
dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số;
dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài. Nói
một cách khác, yếu tố đầu tiên của triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay là tăng
cường yếu tố dạy người-chủ nhân của chế độ mới, của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đổi mới chương trình, nội dung giáo dục, đào tạo cần đổi mới công
tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo hướng đa dạng hóa,
cập nhật tri thức mới, đáp ứng yêu cầu của từng bậc học, các chương trình giáo
dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của từng đối tượng. Cần khắc phục lối
học tập trung vào một số môn học, một “khuôn” trong một sách giáo khoa, giáo
trình, tài liệu. Ở giai đoạn đầu của đổi mới, nên vừa nghiên cứu, biên soạn các
sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy và học chung cho mọi người, vừa nghiên
cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu riêng cho phù hợp với từng
loại đối tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, năng khiếu cá
nhân. Vì vậy, trong xây dựng cấu trúc chương trình môn học cần chú trọng nghiên
cứu, biên soạn bổ sung các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu bắt buộc và tài liệu
tham khảo, bổ trợ phù hợp với phát triển phẩm chất, năng lực riêng của một lớp đối
tượng. Theo đó, cần vận dụng phương pháp, cách thức xây dựng chương trình sau
đại học để thiết kế, xây dựng các chương trình khung cho các bậc học theo hướng
chuyên đề hóa dành cho người học có năng khiếu về những lĩnh vực nhất định.
Đây là hướng mở để phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân người học, góp
phần đào tạo chuyên sâu, chuyên gia. Theo đó, nên chia tổng thời gian học thành
hai phần, trong đó, một nửa dành cho học các môn chung, số thời gian còn lại
dành cho việc học các môn riêng theo năng khiếu để phát triển phẩm chất, năng
lực cá nhân. Điều này đòi hỏi người dạy phải tự đổi mới, nâng tầm cao tri thức và
đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy cho phù hợp. Hơn thế, nó cũng đặt ra
cho người quản lý, các khoa, trường sư phạm phải đổi mới cách tuyển chọn nhân
sự đào tạo giáo viên, giảng viên theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của
người giáo viên, giảng viên tương lai. Rõ ràng, khi mục tiêu giáo dục, đào tạo
được thay đổi căn bản, thì bắt buộc chương trình khung, nội dung, phương pháp,
hình thức giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Phương pháp dạy và học mới không chỉ làm cho người học phát triển tư duy
độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành. Cùng với đó,
cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả
giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng. Cần gắn chặt giáo
dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn
nhà trường, viện nghiên cứu với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; gắn lý
luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những
phương cách tốt nhất, hiệu quả nhất để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực nước nhà, như văn kiện trình Đại hội XII của Đảng đã đề ra.
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở
nước ta được nêu trong văn kiện Đại hội XII, về thực chất, là một cuộc cách mạng
trong lĩnh vực này, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặt của đời
sống xã hội Việt Nam, là sự vun trồng “nguyên khí quốc gia”, làm cho nền học
vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững.