1
BÀI 1
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
I. KHÁI NIỆM ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM V NGHIÊN CỨU N HỌC
1. Khái niệm giáo dục quốc phòng và an ninh
Giáo dục quốc phòng và an ninh là quá trình sư phạm tổng thể, có mục đích, có
tổ chức, kế hoạch, phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục (giảng viên) tới đối
tượng giáo dục, nhằm giúp sinh viên nắm vững những tư tưởng, quan điểm về chiến
tranh cách mạng của Đảng; xây dựng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa hội, lòng tự
hào, tự n dân tộc; phát triển các kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết đsẵn sàng
tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Với tiếp cận là quá trình sư phạm tổng thể, giáo dục quốc phòng và an ninh bao
gồm quá trình bộ phận cấu thành, đó là: quá trình dạy học quá trình giáo dục trải
nghiệm quân sự, an ninh. Hai quá trình đó mối liên hệ biện chứng, tác động hỗ trợ
lẫn nhau trong một thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định.
Dạy học là quá trình có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch; phối hợp thống nhất
giữa hoạt động của người dạy (giảng viên) hoạt động của người học (sinh viên);
với chức ng vượt trội nhằm trang bị hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển
tư duy sáng tạo, hình thành năng lực quân sự cho sinh viên.
Giáo dục trải nghiệm quân sự, an ninh quá trình mục đích, tổ chức,
kế hoạch; phối hợp thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục (giảng viên, n bộ
quản lý sinh viên) đối tượng giáo dục (sinh viên); với chức năng vượt trội nhằm
hình thành tư tưởng, quan điểm về chiến tranh cách mạng của Đảng, xây dựng lòng
yêu nước, yêu chủ nghĩa hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, niềm tin vào chiến thắng
vào đồng chí đồng đội, sẵn sàng tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, an
toàn xã hội.
Quá trình dạy học quá trình giáo dục trải nghiệm quân sự, an ninh đều được
cấu thành từ các yếu tố trong mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau gồm: mục
tiêu, yêu cầu; nội dung, chương trình; hình thức, phương pháp; phương tiện kỹ thuật
dạy học; nhà giáo, sinh viên và kết quả giáo dục.
Trong đó ngiáo, nhà quản giáo dục sinh viên hai chủ thể tác động
qua lại với nhau biến quá trình giáo dục quốc phòng, an ninh vốn yêu cầu khách
quan bên ngoài chuyển thành kết quả giáo dục trong nhân cách sinh viên và ngược lại
sinh viên chủ thtiếp nhận tích cực biến qtrình giáo dục thành “tự giáo dục”,
thành sản phẩm “trong chính sinh viên”. Tuy nhiên, giữa dạy học và giáo dục trải
nghiệm quân sự, an ninh những đặc điểm khác nhau. Sự khác nhau được thể hiện
mục tiêu nội dung, phương pháp hình thức, kết quả, hoạt động của chủ thgiáo
dục, hoạt động của đối tượng giáo dục và chức năng vượt trội của mỗi quá trình.
2. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
a) Nghiên cứu đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nghiên cứu sở luận và những quan điểm bản của Đảng Cộng sản Việt
Nam vđường lối quốc phòng an ninh, bao gồm: quan điểm bản của chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; xây
dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vTổ quốc Việt Nam hội
2
chủ nghĩa; chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa; xây
dựng lực lượng trang nhân n Việt Nam; kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với
tăng cường quốc phòng, an ninh đối ngoại; những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ
thuật quân sViệt Nam; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động
viên động viên quốc phòng; xây dựng bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới
quốc gia trong tình hình mới; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc;
những vấn đ bản vbảo vệ an ninh quốc gia bảo đảm trật tự, an toàn hội.
Trong đó: Học thuyết Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội
và bảo vệ Tổ quốc sở lý luận đĐảng ta đề ra chủ trương, đường lối chiến lược
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng trang nhân dân tiến
hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Các quan điểm, đường lối quốc phòng và
an ninh của Đảng có tính kế thừa và phát triển toàn bộ truyền thống dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Đó cũng đặc trưng nghệ thuật quân sự, an ninh Việt Nam đã
chiến thắng những kẻ thù hung hãn nhất.
b) Nghiên cứu công tác quốc phòng và an ninh
Nghiên cứu những vấn đề bản về nhiệm vụ nội dung công c quốc phòng
an ninh của Đảng hiện nay, bao gồm: phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa
bình”, bạo loạn lật đcủa các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; một số
nội dung bản về dân tộc, tôn giáo, đấu tranh phòng chống các thế lực thù địch lợi
dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; phòng, chống vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường; phòng, chống vi phạm pháp luật vbảo đảm trật tự
an toàn giao thông; phòng, chống một số loại tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm
người khác; an toàn thông tin phòng, chống vi phạm pháp luật trên không gian
mạng; an ninh phi truyền thống đấu tranh phòng chống các đe da an ninh phi
truyền thống Việt Nam. Nhà nước quy định nhiệm vụ về quốc phòng, quân sự, an
ninh cho các bộ, ngành, quan trung ương, địa phương đơn vị sở. Do vậy,
nghiên cứu về công tác Quốc phòng an ninh thực chất nghiên cứu hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật của nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn
hội an ninh chính trị. Mọi công dân đều trách nhiệm tham gia công tác quốc
phòng, luyện tập quân sự, giữ gìn bảo vệ an ninh, trật tự an toàn hội. Tăng cường
tiềm lực quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, phòng chống có hiệu quả chiến lược
“diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với ch mạng Việt
Nam, kể cả việc phòng chống chiến tranh công nghệ cao trong tương lai. Nghiên cứu
thực hiện tốt công tác quốc phòng an ninh để xây dựng lòng tin chiến thắng
trước mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam.
c) Nghiên cứu về quân sự chung
Nghiên cứu các kiến thức chung về lĩnh vực quân sự cần thiết như: chế độ sinh
hoạt, học tập, công tác trong ngày, tuần; chế đnền nếp chính quy, bố trí trật tự nội
vụ trong doanh trại; hiểu biết chung về các quân, binh chủng trong quân đội; điều
lệnh đội ngũ từng người có súng; điều lệnh đội ngũ đơn vị; hiểu biết chung về bản đ
địa hình quân sự; phòng tránh địch tiến công hỏa lực bằng khí công nghệ cao; ba
môn quân sự phối hợp Kiến thức về quân sự chung trong môn học là những kiến thức
quân sự phổ thông, sinh viên cần nắm được và kiến thức nền tảng phục vụ rèn
luyện chính quy, chấp hành kỷ luật trong môi trường quân sự. Qua đó rèn luyện tác
3
phong, ý thức tổ chức kỷ luật cho sinh viên góp phần xây dựng phẩm chất nhân cách
con người mới xã hội chủ nghĩa.
d) Nghiên cứu kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật
Nghiên cứu những kỹ thuật chiến thuật chiến đấu bản của người chiến sĩ
khi thực hiện nhiệm vchiến đấu trên chiến trường gồm: kỹ thuật bắn súng tiểu liên
AK; tính năng, cấu tạo, cách sử dụng một số loại lựu đạn thường dùng. Ném lựu
đạn bài 1; từng người trong chiến đấu tiến công; từng người trong chiến đấu phòng
ngự; từng người làm nhiệm vụ cảnh giới. Đây những kỹ, chiến thuật bản, sinh
viên cần hiểu được đặc điểm, nguyên lý, tác dụng… hiểu bản chất các nội dung kỹ
thuật chiến thuật bộ binh; về khả năng sát thương, với các phương pháp phòng tránh
đơn giản, hiệu quả. Trên cơ sở đó nghiên cứu thực nh các bài tập t với thực tế,
thành thạo các thao tác kỹ thuật, chiến thuật trong chiến đấu. Đồng thời có thể ứng
dụng các kỹ thuật này khi tham gia dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật.
II. CƠ S PHƯƠNG PHÁP LUN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
Việc nghiên cứu môn học giáo dục quốc phòng an ninh đòi hỏi phải nắm
vững sở phương pháp luận, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với đối
tượng, phạm vi và tính chất đa dạng ca nội dung môn học này.
1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu môn học giáo dục
quốc phòng an ninh học thuyết Mác nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến
tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở lý luận, phương pháp luận của đường
lối quốc phòng và an ninh của Đảng và những vấn đề bản khác của giáo dục quốc
phòng và an ninh. Để nắm vững cơ sở, phương phương pháp luận này trong quá trình
nghiên cứu, phát triển giáo dục quốc phòng và an ninh đòi hỏi vận dụng đúng đắn các
quan điểm tiếp cận khoa học sau:
Quan điểm hệ thống: Đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nội dung của
giáo dục quốc phòng và an ninh một cách toàn diện, tổng thể, trong mối quan hệ phát
triển giữa các bộ phận, các vấn đề của môn học.
Quan điểm lịch sử, logic: Trong nghiên cứu giáo dục quốc phòng an ninh
đòi hỏi phải nhìn thấy sự phát triển của đối tượng, vấn đnghiên cứu theo thời gian,
không gian với những điều kiện lịch sử, cụ thể để từ đó giúp ta phát hiện, khái quát
nhận thức đúng những quy luật, nguyên tắc của hoạt động quốc phòng, an ninh.
Quan điểm thực tiễn: Chỉ ra phương hướng cho việc nghiên cứu giáo dục quốc
phòng an ninh phải bám sát thực tiễn xây dựng quân đội công an nhân dân,
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn hiện nay.
2. Các phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu xây dựng, phát triển nội dung giáo dục quốc phòng an
ninh với tư cách là một bộ môn khoa học cần chú ý sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu khoa học.
- Các phương pháp thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá,
hình hoá, giả thiết nhằm thu thập thông tin khoa học tn cơ sở nghiên cứu các n
bản, tài liệu về quốc phòng và an ninh để rút ra các kết luận khoa học cần thiết, không
ngừng bổ sung phát triển làm phong phú nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh.
4
- c phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan t, điều tra, khảo sát thực tế,
nghiên cứu các sản phẩm quốc phòng, an ninh, tổng kết kinh nghiệm, thí nghiệm,
thực nghiệm… nhằm tác động trực tiếp vào đối tượng trong thực tiễn, từ đó khái quát
bản chất, quy luật của các hoạt động quốc phòng, an ninh; bổ sung làm phong phú nội
dung cũng như kiểm định tính xác thực, tính đúng đắn của các kiến thức giáo dục
quốc phòng và an ninh.
- Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học thuyết thực hành nhằm bảo
đảm cho người học vừa nhận thức sâu sắc về đường lối, nghệ thuật quân sự, nắm
chắc thuyết kỹ thuật chiến thuật, vừa rèn luyện phát triển được các kỹ năng
công tác quốc phòng, thuần thục các thao tác, hành động quân sự.
III. GIỚI THIỆU MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
1. Đặc điểm môn học
- Giáo dục quốc phòng an ninh môn học được luật định: Đây môn học
được luật hóa nhằm thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và được thể chế hoá bằng
các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước nhằm giúp sinh viên thực hiện mục
tiêu “phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe,
thẩm mỹ nghề nghiệp; phẩm chất, năng lực ý thức công dân; có lòng yêu
nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Kế tục và phát huy những kết quả thực hiện chương trình huấn luyện quân sự
phổ thông (1961), giáo dục quốc phòng (1991), trong những năm qua, đđáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới phù hợp với quy chế giáo dục -
đào tạo trình đđại học, năm 2000 chương trình tiếp tục được đổi mới, bsung; đến
năm 2007 triển khai thực hiện nghị định của Chính phủ về giáo dục quốc phòng và an
ninh, môn học giáo dục quốc phòng được lồng ghép nội dung an ninh thành môn học
giáo dục quốc phòng an ninh. Hiện nay, đang thực hiện theo nghị định số
13/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2014 quy định chi tiết biện pháp thi hành
luật giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013. Như vậy, trong từng giai đoạn cách
mạng, chương trình môn học giáo dục quốc phòng an ninh đều những đổi mới
phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước công tác quốc phòng an ninh trong
từng thời kì, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của giáo dục - đào tạo với quốc phòng
an ninh.
- Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học có kiến thức tổng hợp và có tỷ lệ
thuyết cao trong tổng chương trình môn học: Kiến thức môn học bao gồm cả kiến
thức khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học quân svà thuộc nhóm
c môn học chung, có tỉ lệ lý thuyết chiếm trên 70% chương trình môn học.
2. Chương trình môn học
Môn học giáo dục quốc phòng an ninh trình đđại học, cao đẳng ban hành
theo thông tư số 05/2020/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo.
Chương trình được xây dựng trên cơ sở phát triển trình độ các cấp học dưới, bảo đảm
liên thông, logic; mỗi học phần là những khối kiến thức tương đối độc lập, tiện cho
sinh viên tích lũy trong quá trình học tập. Kết cấu chương trình gồm bn học phần:
- Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam,
45 tiết.
- Học phần II: Công tác quốc phòng và an ninh, 30 tiết.
5
- Học phần III: Quân sự chung, 30 tiết.
- Học phần IV: Kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật, 60 tiết.
BÀI 2
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH, QUÂN ĐỘI
VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh
a) Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội
- Chiến tranh một trong những vấn đphức tạp, trước Mác đã nhiều n
tư tưởng đcập đến vấn đề này nhưng đều phiến diện hoặc rơi vào chủ nghĩa duy
tâm, tôn giáo; đáng chú ý nhất là tưởng của C.Ph.Claudơvít (1780 1831), ông
quan niệm: Chiến tranh một hành vi bạo lực để buộc đối phương phục tùng ý chí
của mình và sự huy động sức mạnh không hạn độ, sức mạnh đến tột cùng của các
bên tham chiến. đây, C.Ph.Claudơvít đã chỉ ra được đặc trưng cơ bản của chiến
tranh là sử dụng bạo lực. Tuy nhiên, C.Ph.Claudơvít chưa luận giải được bản chất của
hành vi bạo lực ấy. Kế thừa pphán các quan niệm về chiến tranh trong lịch sử
chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Chiến tranh hiện tượng chính trị hội tính
lịch sử, đó cuộc đấu tranh trang tổ chức giữa các giai cấp, nhà nước (hoặc
liên minh giữa các nước) nhằm đạt mục đích chính trị nhất định. Với quan niệm này
chiến tranh có 4 đặc trưng sau :
+ Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - hội nghĩa không phải hiện
tượng tự nhiên bên ngoài xã hội, mà nó hiện tượng chính trị xã hội, nó gắn với giai
cấp, Nhà nước, đảng phái.
+ Trong chiến tranh đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh cơ bản, lực lượng
vũ trang là công c chủ yếu để tiến hành chiến tranh.
+ Chiến tranh bao giờ cũng nhằm thực hiện mục đích chính trị của Nhà nước,
của giai cấp nhất định.
+ Chiến tranh tính lịch sử nghĩa chỉ tồn tại trong những giai đoạn lịch
sử nhất định, nó không tồn tại vĩnh viễn.
Bốn đặc trưng của chiến tranh có quan hệ biện chứng với nhau, một hiện tượng
được gọi là chiến tranh phải đ4 đặc trưng trên nếu thiếu bất cứ đặc tng nào thì
nó không phải là chiến tranh.
b) Nguồn gốc chiến tranh
- Quan điểm ngoài Mác-xít:
+ Chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo cho rằng: Chiến tranh là hiện tượng do thượng
đế, chúa trời sinh ra để trừng phạt loài người những hành vi tội ác họ đã gây ra
ở dưới trần gian.
+ Thuyết quyết định luận kỹ thuật khẳng định: Sự phát triển của KHKT
nguồn gốc, là thủ phạm gây ra mọi cuộc chiến tranh trong lịch sử.
6
+ Nhà tâm học Sigmund Freud (1856 1939) lại quy nguyên nhân chiến
tranh hành vi hiếu chiến của con người thuộc về bản năng phá hoại hay còn được
gọi bản năng chết (death instinct). Bản năng này hướng hành vi phá hoại của con
người ra bên ngoài.
+ Chủ nghĩa Darwin xã hội: (Social Darwinism) hay thuyết định mệnh quốc gia,
coi quốc gia có đặcnh sinh học. Nghĩa, quốc gia cũng sự cạnh tranh với nhau đ
tiến hóa giống như trong giới tự nhiên. thế, chiến tranh trở thành cách thức đấu
tranh phổ biến giữa các quốc gia mục đích sinh tồn. Thông qua chiến tranh, những
quốc gia “tốt” mạnh sẽ tồn tại,n quốc gia “xấu” và yếu sẽ bị tiêu vong.
Như vậy, bằng nhiều cách giải khác nhau nhưng các quan điểm trên đều
ngụy biện cho sự tồn tại của chiến tranh, che đậy bản chất xâm lược tội ác của
chiến tranh phi nghĩa đối với nhân loại.
- Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin:
Kế thừa có phê phán các quan điểm về nguồn gốc chiến tranh trong lịch sử, chủ
nghĩa Mác-Lênin khẳng định: Chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu nhân
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp không thể điều hòa.
+ Nguồn gốc kinh tế: Sự xuất hiện tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất nguồn gốc u xa, suy đến ng đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại
của chiến tranh. Chế đ hữu nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại
của chiến tranh. Nó chính là nguồn gốc kinh tế, cơ bản nhất của mọi xung đột xã hội.
C.Mác Ph.Ăngghen khẳng định chiến tranh gắn với bạo lực, ra đời trong
một giai đoạn lịch sử nhất định khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định đ
tạo ra năng suất lao động cao sản phẩm dư thừa đđể người ta chiếm đoạt của
nhau. Điều này lý giải tại sao trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có chiến tranh.
Trải qua hàng vạn m trong chế độ cộng sản nguyên thủy, khi chưa chế độ
hữu, chưa giai cấp đối kháng thì chiến tranh với tính ch là một hiện tượng chính
trị hội ng chưa xuất hiện. Mặc thời y đã xuất hiện những cuộc xung
đột trang. Nhưng đó không phải một cuộc chiến tranh chỉ một dạng “lao
động thời cổ”. Bởi vì, xét vmặt hội, hội cộng sản nguyên thuỷ một hội
không giai cấp, bình đẳng, không tình trạng phân chia thành kẻ giàu, người
nghèo, kđi áp bức bóc lột người bị áp bức bóc lột. Về kinh tế, không của “dư
thừa tương đối” để người này thể chiếm đoạt lao động của người khác, mục tiêu
các cuộc xung đột đó chỉ để tranh giành các điều kiện tự nhiên thuận lợi để tồn tại
như: nguồn nước, i cỏ, vùng săn bắn hay hang động,... Về mặt kỹ thuật quân sự,
trong các cuộc xung đột này, tất cả các bên tham gia đều không có lực lượng vũ trang
chuyên nghiệp, ng như khí chuyên dùng. Tất cả các thành viên của blạc với
mọi công cụ lao động thường ngày đều tham gia o cuộc xung đột đó. Do đó, các
cuộc xung đột vũ trang này hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên tự phát.
+ Nguồn gốc xã hội: Sự xuất hiện của giai cấp và đối kháng giai cấp trong
hội là nguồn gốc trực tiếp dẫn đến chiến tranh. Ph. Ăngghen chỉ rõ, khi chế độ chiếm
hữu nhân về liệu sản xuất xuất hiện cùng với sra đời của giai cấp,
tầng lớp áp bức bóc lột thì chiến tranh ra đời và tồn tại như một tất yếu khách quan.
Chế độ áp bức bóc lột càng hoàn thiện thì chiến tranh càng phát triển. Chiến tranh trở
thành “bạn đường” của mọi chế đtư hữu.
7
Như vậy, chiến tranh nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất và đối kháng giai cấp trong xã hội. Trong đó, chế độ hữu là nguồn gốc sâu xa
còn đối kháng giai cấp nguồn gốc nguồn gốc trực tiếp của chiến tranh nên muốn
xóa bỏ chiến tranh phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra nó.
c) Bản chất của chiến tranh
- Trong lịch sử đã nhiều nhà tưởng, nhà quân sự khái quát về bản chất
chiến tranh tiêu biểu như:
+ Thời cổ đại, Arixtốt (384-322 TCN) đã khái quát bản chất chiến tranh là
nghệ thuật chính trị.
+ G. Hêghen quan niệm chiến tranh là công cụ thực hiện mục đích chính trị.
+ C.Ph.Claudơvít nhà lý luận quân sự của nước Phổ cho rằng: “Chiến tranh của
một cộng đồng tiến hành bao giờ cũng là một hành vi chính trị, một sự kế tục của các
quan hệ chính trị, một sự thực hiện các quan hệ chính trị bằng các biện pháp khác
(thủ đoạn bạo lực)”. Quan điểm này đã bước tiến nhất định về bản chất chiến
tranh, nhưng cũng không tránh khỏi sai lầm. Do hạn chế về duy chính trị, Ông
cho rằng chính trị không phải là quan hệ giai cấp, dân tộc và nếu thì chỉ đơn thuần
đưng lối đối ngoại, không đề cập đến đối nội.
- Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao quan điểm của các
nhà tư tưởng trên, kế thừa, phát triển vạch ra bản chất chiến tranh. V.I.Lênin
khẳng định: “Chiến tranh stiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ
thể bằng bạo lực)”. Về hình thức khái quát của C.Ph.Claudơvít V.I. Lênin như
nhau, nhưng bản chất lại khác nhau căn bản. Đối với C.Ph.Claudơvít, chính trị chỉ
đơn thuần quan hệ đối ngoại, không đề cập đến chính trị từ quan hệ đối nội, quan
hệ giai cấp trong một nước, quan hệ đối nội còn quyết định quan hệ đối ngoại.
Khi giải thích chính trị sai lầm thì giải thích bản chất chiến tranh cũng sẽ không khoa
học. Bản chất chiến tranh trong quan niệm của chủ nghĩa c - Lênin thể hiện trên
hai mặt cơ bản.
+ Chiến tranh là một hiện tượng chính trị xã hội. Chiến tranh thuộc phạm trù xã
hội, đồng thời là phạm trù chính trị. Chiến tranh không đồng nhất với mọi hiện tượng
hội, mọi hiện tượng chính trị, nhưng đã là chiến tranh phải thuộc phạm trù hội,
chính trị.
+ Chiến tranh không đồng nhất với chính trị, nó chỉ là kế tục chính trị bằng thủ
đoạn đặc thù, thủ đoạn bạo lực trang. Chính trị mục đích, nội dung của chiến
tranh, còn chiến tranh chỉmột trong những phương thức tiến hành, thực hiện chính
trị. Trong các phương thức tiến hành, thực hiện chính trị, chiến tranh phương thức
đặc biệt. Trước khi chiến tranh nổ ra, các phương thức phi chiến tranh đã được vận
dụng nếu tiến hành không hiệu lực thì phương thức chiến tranh mới được thực
hiện. Tiếp cận bản chất chiến tranh trong sự thống nhất giữa hai mặt của chiến tranh.
Mặt chính trị mặt phương thức bạo lực trang không tách rời. Như vậy, những
xung đột trang trong hội cộng sản nguyên thuỷ không nội dung chính trị,
không phải chiến tranh. Trong hội giai cấp, những phương thức thực hiện
chính trị không sử dụng bạo lực trang không phải chiến tranh. Trong lịch sử,
các thế lực tiến hành chiến tranh xâm lược, phản động thường tìm cách che đậy nội
dung chính trị để xuyên tạc bản chất chiến tranh. Những quan điểm cho tiến hành
8
chiến tranh thực hiện ý nguyện của chúa, giương ngọn cờ tôn giáo…là tìm cách
che đậy nội dung chính trị, xuyên tạc bản chất chiến tranh. Hiện nay, các thế lực phản
động cũng đưa ra lý do lật đmột chế đđộc tài, gia đình trị hoặc bảo vệ thế giới tự
do…đều tìm cách che đậy nội dung chính trị phản động trong tiến hành chiến tranh
xâm lược.
- Mối quan hệ giữa chính trị và chiến tranh.
Chiến tranh và chính trị là những hiện tượng chính trị hội khác nhau, nhưng
quan hệ hữu với nhau. Quan hệ giữa chính trị và chiến tranh một phương diện
quan trọng của bản chất chiến tranh. Trong mối quan hệ giữa chính trị và chiến tranh,
chính trị quyết định chiến tranh trên mọi phương diện.
+ Chính trị quyết định mục đích chiến tranh.
Bất kỳ một cuộc chiến tranh nào đều hướng tới một mục đích chính trị nhất
định. Mục đích chính trị của chiến tranh biểu hiện nhiều khía cạnh khác nhau. Mỗi
giai cấp trong một dân tộc tiến hành chiến tranh với nhau mục đích chính trị khác
nhau. Trước sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh giành chính quyền, bạo lực
phản cách mạng giai cấp thống trị sử dụng nhằm mục đích giữ vững địa vị, lợi
ích, chế độ chính trị hiện tại. Ngược lại, quần chúng nhân dân dưới slãnh đạo của
lực lượng tiên tiến, tiến hành chiến tranh cách mạng mục đích lật đổ chế độ chính
trị hiện tại, thiết lập chế độ mới. Những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc, mục đích
chính trị của mỗi bên tham chiến cũng khác nhau. Với các nước xâm lược, mục đích
áp đặt mt chế độ chính trbù nhìn, tay sai cho chúng; với các dân tộc chống lại
chiến tranh xâm lược, mục đích là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước.
+ Chính trị quy định tiến trình và kết cục chiến tranh.
Tiến trình, diễn biến của chiến tranh rất phức tạp, nhưng cái chung nhất do
chính trị quy định. Mỗi giai đoạn của tiến trình phát triển chiến tranh đều có mục đích
chính trị cụ thể, nhưng thống nhất với mục đích chung. Tiến trình kết cục của
chiến tranh được chỉ đạo bởi mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước thống trị, do
lợi ích của giai cấp thống trị quyết định. một thời đại cụ thể, chế độ chính trị nào
tiến bộ thì chiến tranh do tiến hành thường xu hướng phát triển ngày càng
mạnh và giành thắng lợi. Ngược lại, những cuộc chiến tranh của chế độ chính trị đã
lỗi thời thường đi vào bế tắc, ngõ cụt, sa lầy. Đây là xu hướng chung của lịch sphát
triển chiến tranh. V.I.Lênin cho rằng: “Mọi cuộc chiến tranh đều gắn với chế đ
chính trị đã sinh ra nó”. Tuy nhiên, trong thời điểm cụ thể không hẳn mọi cuộc chiến
tranh của chế độ chính trị tiến bộ tiến hành đều thắng lợi. Bởi chiến tranh còn bị chi
phối bởi nhiều nhân tố khác.
+ Chính trị quyết định bản chất và tính chất chính trị xã hội của chiến tranh.
Chiến tranh chính trị từ đầu đến cuối, thậm chí trước khi nổ ra chiến tranh,
trong giai đoạn chuẩn bị đã chính trị, do chính trị quyết định. Bản chất tiến bộ
cách mạng của chế độ chính trị squyết định bản chất tính chất chính nghĩa, tiến
bộ của chiến tranh. Ngược lại, chế độ chính trị đã lỗi thời thì những cuộc chiến tranh
mang tính chất phi nghĩa, phản động.
+ Chiến tranh tác động trở lại chính trị. Đây tác động của một phương thức
thực hiện đến mục đích, nội dung của chính trị. Biểu hiện tác động của chiến
tranh đến chính trị cũng rất da dạng. Chiến tranh có thể thúc đẩy nhanh hay chậm thực
9
hiện mục đích chính trị, thậm chí làm thất bại hoàn toàn mục đích chính trị. Thắng lợi
hay thất bại của chiến tranh sẽ kết thúc mục đích chính trị một giai đoạn cụ thể,
những nấc thang phát triển tiến tới mục đích chung của toàn bộ cuộc chiến tranh.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh
a) Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật, tác động ca
chiến tranh đến đời sống xã hội
i về mục đích cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định:
“Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc
lập của Tổ Quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt
dân ta làm nô lệ”
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành
nước ta cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tranh của nhân dân ta
chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và
thống nhất đất nước.
b) Hồ Chí Minh xác định tính chất xã hội của chiến tranh
Trên cơ sở mục đích chính trị của chiến tranh, Hồ Chí Minh đã xác định tính
chất xã hội của chiến tranh, chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm
lược chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của chúng ta ng hộ chiến tranh chính
nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
- Kế thừa phát triển tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin về bạo lực ch
mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt
Nam. Người khẳng định: “Chế độ thực dân, tự bản đã một hành động bạo lực,
độc lập tự do không thể cầu xin mà được, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại
bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”
- Bạo lực cách mạng theo tưởng Hồ Chí Minh được tạo bởi sức mạnh của
toàn dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu
tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân,
trong đó phải lực lượng trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân
phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân,
đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, …
c) Hồ Chí Minh khẳng định: Chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta
là chiến tranh nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi con người là nhân tố quyết định thắng lợi trong
chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi dân gốc, là cội nguồn của sức
mạnh để “xây dựng lầu thắng lợi”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân
một trong những di sản quý báu của Người. tưởng này được Hồ Chí Minh trình
bày một cách giản dị, dễ hiểu song vô cùng sinh động và sâu sắc.
- Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cuộc chiến tranh toàn
dân, toàn diện, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản. Tư tưởng của Người được thể hiện nét trong lời kêu gọi toàn
Quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19/12/1946: “Bất đàn ông, đàn bà,
bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc... hễ là người Việt
Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp đcứu Tổ Quốc. Ai có súng dùng súng, ai
10
có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra
sức chống thực n Pháp cứu nước”. Đđánh thắng giặc xâm lược, Người tiếp
tục khẳng định: “Ba mươi mốt triệu đồng bào ta cả hai miền, bất già trẻ, gái trai,
phải là ba mươi mốt triệu chiến anh dũng diệt cứu nước, quyết giành thắng lợi
cuối cùng”.
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn n,
trong đó phải lực lượng trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân
phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân,
đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá... Kháng chiến
toàn dân nhưng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đây nhân
tố quyết định thắng lợi của chiến tranh chống xâm lược.
II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ QUÂN ĐỘI
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội
a) Khái niệm quân đội
Trên cơ sở những đặc điểm, đặc trưng cơ bản của quân đội, Chủ nghĩa Mác-
Lênin cho rằng: quân đội tập đoàn người trang do nhà nước, hoặc tập đoàn
chính trị có chức năng nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích
cơ bản của mình bằng bạo lực vũ trang, kể cả tiến hành chiến tranh. Như vậy, so với
các tổ chức xã hội khác quân đội có các đặc trưng sau:
- Quân đội tổ chức của một nhà nước nhất định, do nhà nước tổ chức, xây
dựng và nuôi dưỡng. Đây là đặc trưng cơ bản của quân đội, để phân biệt tổ chức quân
đội với các tổ chức hội khác tổ chức trang trong hội cộng sản nguyên
thuỷ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể cũng những quân đội công cụ
bạo lực vũ trang của một tập đoàn chính trị đại diện cho một giai cấp nhất định, đang
thực hiện chức ng nhà nước. Vthực chất, đây tổ chức tiền thân của một chính
quyền nhà nước mới đang ra đời trên thực tế.
- Quân đội tổ chức của những người trang và thực hiện chức năng của
bằng các vũ khí chuyên dùng. Đây là đặc trưng cơ bản, biểu hiện mối quan hệ đặc
thù giữa con người kcủa tổ chức quân đội, quan hệ này luôn ảnh hưởng trực
tiếp đến sức mạnh chiến đấu và khả năng chiến đấu của quân đội. Đây là dấu hiệu đặc
thù để phân biệt quân đội với các tổ chức khác trong hội. Quân đội tổ chức bạo
lực vũ trang đưc nhà nước sử dụng để tiến hành chiến tranh.
- Chiến tranh quân đội luôn gắn liền với nhau. Quân đội xuất hiện tồn tại
với tính cách công cụ tiến hành chiến tranh của nhà nước. Quân đội sẽ mất đi cùng
với sự tiêu vong của nhà nước, khi hình thái kinh tế - hội cộng sản chủ nghĩa được
xây dựng thành công và chiến tranh đã đưc loại trừ khỏi đời sống nhân loại.
Ba đặc trưng cơ bản trên của quân đội có quan hệ biện chứng với nhau, phản ánh
các mối liên hệ tất yếu của một tổ chức đặc thù trong xã hội có giai cấp nhà nước.
b) Nguồn gốc ra đời của quân đội
- Chủ nghĩa Mác Lênin đã chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc ra
đời của quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế - xã hội và khẳng định: quân đội là một
hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của hội loài người,
khi xuất hiện chế độ hữu về tư liệu sản xuất sự đối kháng giai cấp trong hội.
11
Chính chế độ tư hữu đối kháng giai cấp đã làm nảy sinh nhà nước thống trị c
lột. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị đàn áp quần chúng nhân dân lao động,
giai cấp thống trị đã tổ chức ra lực lượng trang thường trực làm công cụ bạo lực
của nhà nước.
Như vậy, chế độ hữu về tư liệu sản xuất và sự phân chia xã hội thành giai
cấp đối kháng nguồn gốc ra đời của quân đội. Chừng nào còn chế độ tư hữu, còn
chế độ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại. Quân đội chỉ mất đi khi giai cấp,
nhà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong.
c) Bản chất giai cấp của quân đội
Bản chất của quân đội được xác định bởi quân đội đó do giai cấp nào tổ chức
ra, công cụ bạo lực đó nằm trong tay ai phục vụ trước hết cho lợi ích của giai
cấp nào trong hội. Từ cách tiếp cận khoa học trên, các nhà kinh điển chủ nghĩa
Mác - Lênin khẳng định bản chất quân đội là công cụ bạo lực trang của một giai
cấp, một nhà nước nhất định nhằm phục vcho giai cấp nhà nước tổ chức, nuôi
dưỡng nó. phương diện này, quân đội của các giai cấp nhà nước thống trị, bóc
lột trong lịch sử bao giờ cũng công cụ bạo lực trang để tiến hành chiến tranh và
đàn áp nhân dân lao động. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không phải chỉ dưới chính thể quân
chủ, quân đội mới là công cụ đàn áp. Nó vẫn công cụ đàn áp trong tất cả các chính
thể cộng hoà tư sản, kể cả những chính thể cộng hoà dân chủ nhất"
- Với tính cách một hiện tượng chính trị - hội, bất cứ quân đội nào trong
lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Cái quyết định bản chất giai cấp của một
quân đội chỗ, quân đội đó chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội nào; hoạt động
của quân đội đó bảo vlợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc
một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà ớc đã tổ chức ra quân đội. Bản
chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình y dựng tổ chức
quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo
đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai
cấp đó. Trong lịch sử chưa một quân đội nào chiến đấu lợi ích chung của tất cả
các giai cấp, nó công cụ bạo lực trang của một giai cấp, một nhà nước nhất
định. Để giữ vững phương hướng chính trị tăng cường bản chất giai cấp cho quân
đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng h
thống giáo dục về tưởng cho binh nh; thực hiện triệt đ đường lối tổ chức,
phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội.
- Trong tình hình hiện nay, các học giả tư sản thường đề cao luận điểm “phi
chính trị hóa quân đội”, cho rằng quân đội phải đứng ngoài chính trị, quân đội là công
cụ bạo lực của toàn hội, không mang bản chất giai cấp. Thực chất quan điểm “phi
chính trị hóa quân đội” của các học giả sản nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản, làm giảm sức mạnh chiến đấu, từng bước làm thoái hóa vchính trị
tư tưởng, phai nhạt bản chất cách mạng của quân đội. Đó một mục tiêu quan trọng
trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
d) Sức mạnh chiến đấu của quân đội
- Khái niệm sức mạnh chiến đấu của quân đội:
Theo quan điểm Mác - Lênin, sức mạnh chiến đấu của quân đội tổng thể các
yếu tố vật chất, tinh thần sự tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả
12
năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị
của nhà nước, giai cấp nhất định.
Sức mạnh chiến đấu của quân đội được biểu hiện cụ thể trình độ, khả ng
sẵn sàng chiến đấu chiến đấu của quân đội. Trong điều kiện hoà bình trình đ
huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Trong điều kiện chiến tranh khả ng
hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu với hiệu suất chiến đấu cao. Sức mạnh chiến đấu của
quân đội được biểu hiện ở hiệu lực chiến lược, ở khả năng răn đe, làm nhụt ý chí xâm
lược của kthù. Sức mạnh chiến đấu của quân đội cũng được thể hiện trong tương
quan so sánh với sức mạnh chiến đấu của đối tượng tác chiến cụ thể gắn với những
điều kiện lịch sử cụ thể.
- Các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội: Sức mạnh chiến đấu
của quân đội sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó các yếu tcơ bản
như: quân số, cấu tổ chức biên chế; chính trị - tinh thần kỷ luật; số lượng, chất
lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; trình độ khoa học và nghệ thuật quân sự; bản
lĩnh lãnh đạo, trình độ tổ chức, chỉ huy, quản lý của đội ngũ sỹ quan. Giữa các yếu tố
trên mối quan hệ biện chứng với nhau. Tuy nhiên, vị trí, vai trò của từng yếu tố
không ngang bằng nhau, trong những điều kiện xác định, yếu tố chính trị tinh thần
giữ vai tquyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. V.I. Lênin khẳng định:
Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần
chúng đang đổ máu trên chiến trường”
Trong xây dựng sức mạnh chiến đấu cho quân đội, các ông rất chú trọng đến
khâu đào tạo đội ngũ cán bộ, đánh giá nhận xét về tài năng ca các tướng lĩnh
quân sự, đồng thời phê phán sự yếu kém của đội ngũ này.
e) Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của Lênin
- V.I. Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển lý luận của C.c, Ph.Ăngghen vquân
đội và vận dụng tnh công trong xây dựng quân đội kiu mới của giai cấp sản.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, các thế lực thù địch
điên cuồng chống phá nước Nga Xô viết. Để bảo vệ thành quả cách mạng, V.I. Lênin
yêu cầu phải giải tán quân đội cũ và thành lập quân đội kiểu mới (hồng quân) của giai
cấp sản. V.I. Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc bản trong xây dựng quân đội
kiểu mới: Đảng cộng sản lãnh đạo Hồng quân tăng cường bản chất giai cấp công
nhân; đoàn kết thống nhất quân đội với nhân dân; trung thành với chủ nghĩa Quốc tế
vô sản; xây dựng chính quy; không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức; phát triển hài
hòa các quân chủng, binh chủng; sẵn sàng chiến đấu. Trong đó sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản nguyên tắc quan trọng nhất quyết định đến sức mạnh, sự tồn tại, phát
triển, chiến đấu, chiến thắng của Hồng quân.
- Ngày nay, những nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I.
Lênin vẫn giữ nguyên giá trị; là cơ sở luận khoa học cho các Đảng cộng sản xác
định phương hướng tổ chức xây dựng quân đội của mình.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội
a) Hồ Chí Minh khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có
tính quy luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam
- Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa sự ra đời của quân
đội với sự nghiệp giải phóng giai cấp giải phóng dân tộc. Người viết: “Dân tộc
13
Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn đánh chúng phải lực lượng quân
sự, phải có tổ chức”
- Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng ta đã quán triệt sâu sắc học thuyết Mác
Lênin vbạo lực cách mạng của giai cấp sản. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng đã khẳng định con đường đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc
bạo lực cách mạng để giành chính quyền yêu cầu phải tổ chức lc lượng trang
để làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng.
+ Trong Chính cương vắn tắt của Đảng (02/1930) do Chủ tịch Hồ Chí Minh
khởi thảo đã đề cập đến việc “Tổ chức ra quân đội công nông”.
+ Luận cương chính trị của Đảng (10/1930) cũng chỉ nhiệm vụ: “Vũ trang
cho công nông”, “Lập quân đội công nông” và “Tổ chức ra đội tự vệ công nông”.
+ Trong phong trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao viết Nghệ Tĩnh,
từ lực lượng khởi nghĩa của công - nông, Đội tự vệ công nông (Tự vệ Đỏ) đã ra đời.
Đó là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
+ Hàng loạt tổ chức vũ trang lần lượt được thành lập và phát triển như: Du kích
Nam Kỳ (1940), Đội du kích Bắc n (1941), Cứu Quốc quân (1941),... Phong trào
đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp sự trưởng
thành nhanh chóng của các tổ chức vũ trang quần chúng đòi hỏi cách mạng Việt Nam
phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức đđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
cách mạng giải phóng dân tộc.
+ Sau một thời gian gấp t chuẩn bị, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng
giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh
Cao Bằng (nay xóm Nà Sang, Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng),
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập theo chỉ thị của Lãnh tụ
Hồ Chí Minh.
- Thực tiễn lịch sử cho thấy, kẻ thù sử dụng bạo lực phản cách mạng để áp bức
dịch dân tộc ta. Do vậy, muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, chúng ta
phải tổ chức bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
- Để thực hiện được mục tiêu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng
sản Việt Nam đã tổ chức ra quân đội nhân dân Việt Nam lực lượng trang cách
mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động, đấu tranh với kẻ thù giai cấp
và kẻ thù dân tộc.
b) Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân
- Với cương vị người tổ chức, lãnh đạo, giáo dục n luyện quân đội ta,
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng bản chất giai cấp công nhân cho quân
đội. Bản chất giai cấp công nhân liên hệ mật thiết với tính nhân dân trong tiến hành
chiến tranh nhân dân chống thực dân, đế Quốc xâm lược.
- Trong xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội, Chủ tịch Hồ C
Minh hết sức quan tâm đến giáo dục, nuôi dưỡng các phẩm chất cách mạng, bản lĩnh
chính trị và coi đócơ sở, nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện.
- Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp
tổ chức lãnh đạo, giáo dục rèn luyện, được nhân dân hết lòng yêu thương, đùm
bọc, đồng thời được kế thừa những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc hàng
ngàn năm văn hiến lịch sử đấu tranh dựng nước gắn liền với giữ nước oanh liệt.
14
Do đó, ngay từ khi ra đời trong suốt quá trình phát triển, quân đội ta luôn thực sự
một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng
thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
c) Khẳng định quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu
- Đây là một trong những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phát triển
lý luận về quân đội. Người lập luận: bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của
quân đội ta là một thể thống nhất, xem đó như là biểu hiện tính quy luật của quá trình
hình thành, phát triển quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.
- Trong bài “Tình đoàn kết quân dân ngày càng thêm bền chặt” ngày 3/3/1952,
Người viết: Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân.
Đánh giặc đgiành lại độc lập thống nhất cho Tổ Quốc, để bảo vệ tdo, hạnh phúc
của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác
d) Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội
Theo Hồ Chí Minh, quân đội nhân dân Việt Nam phải do Đảng Cộng sản Việt
Nam tổ chức lãnh đạo, sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội tuyệt đối, trực
tiếp đối với mọi mặt công tác ca quân đội. Đây vấn đề tính nguyên tắc bất
di bất dịch trong tổ chức xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Người nói:
quyền lãnh đạo quân đội ta thuộc về một Đảng duy nhất, đó Đảng Cộng sản Việt
Nam; quyền lãnh đạo đó luôn được giữ vững ng cường cùng với quá trình
trưởng thành chiến thắng của quân đội; quân đội phải chấp hành nghiêm chỉnh sự
lãnh đạo của Đảng. Sự nh đạo của Đảng nhân tố tạo nên sức mạnh địch của
quân đội, về điều này khi nói chuyện tại buổi chiêu đãi mừng quân đội nhân dân Việt
Nam tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì
đó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”
Từ tưởng đó của Hồ Chí Minh, ngay từ khi còn các đội tự vệ, đội du kích
đầu tiên:
Bên cạnh chánh pđội trưởng phải đại biểu của Đảng cộng sản lãnh đạo
đến ngày 22/12/1944 thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đồng
thời lập chi bộ đội (13 đảng viên).
- Giai đoạn 1945- 1954: Thành lập Quân uỷ trung ương tháng 1/1946; tháng
2/1947, hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội đưc kiện tn từ trung ương đến chi bộ.
- Giai đoạn 1946 - 1948: Thực hiện lãnh đạo của tập thể cấp uỷ Đảng theo hệ
thống dọc và ngang.
- Giai đoạn 1948 - 1952: Thực hiện chế độ chính uỷ tối hậu quyết định.
- Tháng 5/1952: Thực hiện chế độ tập thể Đảng uỷ lãnh đạo thủ trưởng quân sự
chính trị phân công tổ chức thực hiện.
- Giai đoạn sau 1954: Tiếp tục thực hiện tập thể Đảng uỷ lãnh đạo thủ trưởng
chính trị quân sự phân công phụ trách.
e) Nhiệm vụ và chức năng cơ bản của quân đội
- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hiện nay quân đội ta hai nhiệm v
chính. Một là, xây dựng một đội quân ngày càng vững mạnh sẵn sàng chiến đấu.
Hai là, thiết thực tham gia lao động sản xuất góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội”
- Quân đội ta ba chức năng: Ba chức năng đó phản ánh cả mặt đối nội, đối
ngoại của quân đội.
15
+ quân đội chiến đấu: Với tư cách là đội quân chiến đấu, quân đội luôn sẵn
sàng chiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc hội chủ nghĩa, góp
phần bảo vệ trật tự an toàn hội, tham gia vào cuộc tiến công địch trên mặt trận
luận, chính tr- tư tưởng, văn hóa.
+ đội quân công tác: quân đội tham gia vận động quần chúng nhân dân xây
dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, góp phần tăng cường sự đoàn kết giữa Đảng
với nhân dân, quân đội với nhân dân; giúp dân chống thiên tai, giải quyết khó khăn
trong sản xuất đời sống, tuyên truyền vận động nhân dân hiểu chấp hành
đúng đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
+ Là đội quân sản xuất: quân đội tăng gia sản xuất cải thiện đời sống, xây dựng
kinh tế, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Trong điều kiện hiện nay, quân đội
còn lực lượng nòng cốt xung kích trong xây dựng kinh tế - Quốc phòng các
địa bàn chiến lược, nhất biên giới, biển đảo, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó
khăn gian khổ và ở những địa bàn có những tình huống phức tạp nảy sinh.
III. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Quan điểm của ch nghĩa Mác-nin v bảo v Tquốc xã hi ch nghĩa
a) Bảo vệ Tổ quốc XHCN là một tất yếu khách quan
- Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân.
- Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa hội phải đi đôi với bảo vệ T
quốc xã hội chủ nghĩa.
- Xuất phát từ quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc.
- Xuất phát từ bản chất, âm mưu của kẻ thù và thực tiễn cách mạng thế giới.
b) Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc,
toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động
- V.I. Lênin chỉ rõ: Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ, trách nhiệm
của toàn Đảng, toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp
vô sản thế giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chnghĩa. Người
khẳng định: “Không bao giờ người ta thể chiến thắng được một dân tộc đa số
công nhân nông dân đã biết, đã cảm trông thấy rằng họ bảo vệ chính quyền của
mình, chính quyền Xô Viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự
nghiệp một khi thắng lợi sẽ đảm bảo cho họ cũng như con i họ khả ng
hưởng thụ mọi thành quả n a, mọi tnh quả lao động của con người”
c) Bảo vệ Tổ quốc hội chủ nghĩa, phải thường xuyên ng cường tiềm lực
Quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội
- Học thuyết Bảo vệ Tquốc hội chủ nghĩa ca V.I. Lênin đã khẳng định:
Bảo vệ Tổ quốc hội chủ nghĩa sự nghiệp thiêng liêng, cao cả, mang tính cách
mạng, chính nghĩa ý nghĩa Quốc tế sâu sắc; sự nghiệp đó phải được quan tâm,
chuẩn bị chu đáo và kiên quyết.
- V.I. Lênin cùng Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo nhân dân, tranh thủ thời gian
hòa bình, xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, từng bước biến các tiềm lực thành
sức mạnh hiện thực của nền Quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
d) Đảng cộng sản nh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hội chnga
V.I. Lênin chra rằng: Đảng cộng sản phải nh đạo mọi mặt s nghiệp bảo vTổ quốc.
16
- Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, ng kiến
để lôi kéo quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hi sinh.
- Trong quân đội, chế độ chính ủy được thực hiện, cán bộ chính trị được lấy t
đại biểu ưu tú của công nông, thực chất đó đại diện của Đảng, để thực hiện sự lãnh
đạo của Đảng trong quân đội.
- Đảng hướng dẫn, giám sát các hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức
xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất,
là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
a) Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan
Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ
nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác
cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Ý chí giữ nước của Người rất sâu sắc kiên quyết. Trong lời kêu gọi toàn
Quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Người nói: “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Hỡi đồng bào! Chúng ta
phải đứng lên!”.
Trước khi đi xa, trong di chúc Người n dặn: “Cuộc kháng chiến chống
cứu nước thể còn kéo dài, đồng bào ta thể phải hy sinh nhiều của nhiều người.
Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn”
Trong cuộc kháng chiến chống cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra
một chân rằng: Không quý hơn độc lập tdo”. Hễ còn một n xâm lược
trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi.
Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vTổ quốc tư tưởng xuyên suốt
trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
b) Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là nghĩa vụ
và trách nhiệm của mọi công dân
- Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ
Chí Minh. Bảo vệ Tổ quốc hội chủ nghĩa trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công
dân Việt Nam. Người đã từng nói quan điểm về độc lập dân tộc: “Nếu nước độc
lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Trong tư duy nhận thức của mình, Hồ Chí Minh luôn xác định độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc trên nền tảng xã hội chủ nghĩa. Độc
lập dân tộc mục tiêu trực tiếp trước mắt, tính cấp bách; muốn hoàn thành được
mục tiêu cuối cùng, giải phóng hoàn toàn các tầng lớp nhân dân lao động khỏi áp bức
bóc lột thì phải đi tới cách mạng hội chủ nghĩa, phải đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa. Theo Người, chủ nghĩa xã hội là một đảm bảo cho độc lập dân tộc bền vững.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa hội luận điểm bản, trọng tâm
trong toàn bộ quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
c) Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc kết hợp với
sức mạnh thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp
trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hội chủ nghĩa. Đó sức mạnh của toàn dân tộc,
toàn dân, của từng người dân, của các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở; sức
17
mạnh của các nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế văn hóa - hội, sức mạnh truyền
thống với hiện đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
So sánh về sức mạnh giữa chúng ta với quân xâm lược trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ, Người phân tích: Chúng ta chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết toàn dân
từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sđồng tình ủng hộ rộng
lớn của các nước hội chủ nghĩa nhân dân tiến bộ trên thế giới, chúng ta nhất
định thắng.
Người căn dặn: Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng mạnh, sẵn sàng
chiến đấu đgiữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
d) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
hội chủ nghĩa Đảng ta người lãnh đạo tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo.
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ Quốc, toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa
hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đthực hiện thắng
lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, chúng ta cần thực hiện tốt một snội
dung chiến lược sau đây:
- Một là, xây dựng tiềm lực toàn diện của đất nước, đặc biệt tiềm lực kinh tế,
tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân vững mạnh,
y dựng quân đội nhân dân công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại.
- Ba là, quán triệt tưởng cách mạng tiến công, chủ động đánh thắng địch
trong mọi hoàn cảnh, tình huống chiến tranh.
- Bốn là, ng cường slãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự
nghiệp quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
BÀI 3
XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, AN NINH NHÂN DÂN
BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN
DÂN, AN NINH NHÂN DÂN
1. Một số khái niệm
- Quốc phòng: Là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn n tộc,
trong đó sức mạnh quân s là đặc tng, lực ợng vũ trang nhân n làmng cốt.
- Quốc phòng toàn dân: công cuộc giữ nước mang tính chất "của dân, do
dân, dân", phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với Quốc phòng an ninh,
dưới slãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm
chủ, nhằm giữ vững hòa bình ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động
xâm lược bạo loạn lật đổ của các thế lực đế Quốc, phản động; bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
18
- Nền quốc phòng toàn n: Là sức mạnh quốc phòng của đất nước được xây
dựng trên nền tảng nhân lực, vật lực, tinh thần mang tính chất toàn dân, toàn diện,
độc lập, tự chủ, tự cường.
- An ninh: Theo từ điển tiếng Việt thì an ninh “tình hình trật tự xã hội bình
thường, yên ổn, không rối loạn” hoặc “yên ổn về mặt trật tự hội, không rối
loạn”. Như vậy, an ninh thực chất sự an toàn, ổn định ca các lợi ích cốt lõi của
cộng đồng, của xã hội hay của một quốc gia dân tộc.
- An ninh nhân dân: sự an toàn, ổn định của các lợi ích cốt lõi với sự tham
gia của toàn dân, do nhân dân tiến hành, lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt,
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp
vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi âm mưu hành động xâm phạm
an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, cùng với quốc phòng toàn dân bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa. Bộ phận của lực lượng trang nhân dân
Việt Nam vai trò nòng cốt trong snghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh quốc
gia nhiệm vụ: đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động xâm phạm an ninh
quốc gia, bảo vệ chế độ hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, chính quyền, các lực lượng
vũ trang và nhân dân.
- Nền an ninh nhân dân: sự an toàn, n định của các lợi ích cốt lõi của quốc
gia trên cơ sở sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết truyền thống dựng
nước, ginước của dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia,
trong đó lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt.
2. Vị trí vai trò
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh vị trí
chiến lược của cách mạng nhằm tạo ra sức mạnh để ngăn ngừa, đẩy lùi, đánh bại mọi
âm mưu, hành động xâm hại đến mục tiêu trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam hội chủ nghĩa. Đảng ta đã khẳng định: "Trong khi đặt trọng tâm
vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ
bảo vệ Tquốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng an ninh coi đó nhiệm vụ chiến
lược gắn bó chặt chẽ"
3. Đặc trưng
Nn quốc phòng toàn n, an ninh nhân dân ca nưc ta có nhng đặc trưng sau:
- Nền Quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chỉ mục đích duy nhất là tự
vệ chính đáng
Đặc trưng này thể hiện sự khác nhau vbản chất trong xây dựng nền quốc
phòng, an ninh của những quốc gia độc lập chủ quyền đi theo con đường hội
chủ nghĩa với các nước khác.
Chúng ta xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh là
đtự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế đhội chủ nghĩa cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc của nhân dân.
- Đó là nền quốc phòng, an ninh dân, của n và do toàn thnhân dân tiến hành
Đặc trưng dân, của dân, do dân của nền quốc phòng, an ninh nước ta thể
hiện truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
19
Đặc trưng dân, của dân, do dân mục đích tự vệ của nền quốc phòng, an
ninh cho phép ta huy động mọi người, mọi tổ chức, mọi lực lượng đều thực hiện xây
dựng nền quốc phòng, an ninh đấu tranh quốc phòng, an ninh. Đồng thời, đường
lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh phải xuất phát từ lợi
ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân.
- Đó nền quốc phòng, an ninh sức mạnh tổng hợp do nhiều yếu tố tạo
thành sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng, an ninh nước ta tạo thành bởi rất nhiều
yếu tố như chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, khoa học, quân sự, an ninh,…
Cả trong nước, ngoài nước, của dân tộc của thời đại, trong đó những yếu
tố bên trong của dân tộc bao giờ cũng giữ vai tquyết định. Sức mạnh tổng hợp của
nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân cơ sở, tiền đề biện pháp để nhân
dân đánh thắng kẻ thù xâm lược.
- Nền quốc phòng, an ninh nhân dân được xây dựng toàn diện từng bước
hiện đại
Việc tạo ra sức mạnh quốc phòng, an ninh không chỉ sức mạnh quân sự, an
ninh mà phải huy động được sức mạnh của toàn dân về mọi mặt chính trị, quân sự, an
ninh, kinh tế, n hoá, khoa học. Phải kết hợp hữu cơ giữa quốc phòng, an ninh với
các mặt hoạt động xây dựng đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với
hoạt động đối ngoại.
Xây dựng nền quốc phòng, an ninh toàn diện phải đi đôi với xây dựng nền
quốc phòng, an ninh hiện đại một tất yếu khách quan. Xây dựng quân đội nhân
dân, công an nhân dân từng bước hiện đại. Kết hợp giữa xây dựng con người giác
ngộ chính trị, tri thức với khí trang bkỹ thuật hiện đại. Phát triển công nghiệp
quốc phòng, từng bước trang bị hiện đại cho các lực lượng trang nhân dân. Kết
hợp chặt chẽ phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh.
- Nền quốc phòng toàn dân gắn chặt với nền an ninh nhân dân
Nền quốc phòng nền an ninh nhân dân của chúng ta đều được xây dựng
nhằm mục đích tvệ, đều phải chống thù trong, giặc ngoài để bảo vTổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Giữa nền quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân ch khác nhau về
phương thức tchức lực lượng, hoạt động cụ thể, theo mục tiêu cụ thể được phân
công.
Kết hợp chặt chgiữa quốc phòng an ninh phải thường xuyên tiến hành
đồng bộ, thống nhất từ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch xây dựng, hoạt động
của cả nước cũng n từng vùng, miền, địa phương, mọi cấp, mọi ngành.
II. XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, AN NINH NHÂN
DÂN VỮNG MẠNH ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Mục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững
mạnh hiện nay
Tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế,
văn hoá, hội, khoa học, công nghđể giữ vững hòa bình, ổn định, đẩy lùi, ngăn
chặn nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình
thức và quy mô.
20
Tạo thế chủ động cho sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc, nhằm bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước,
nhân dân chế độ hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo van ninh
chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng n hoá, xã hội; giữ vững ổn định chính
trị, môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn n, an ninh nhân dân vững
mạnh hiện nay
a) Xây dựng tiềm lực nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân đáp ứng yêu
cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tiềm lực quốc phòng, an ninh là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính có thể
huy động để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Tiềm lực quốc phòng, an ninh đưc thể hiện ở trên tất cả lĩnh vực của đời sống
xã hội, nhưng tập trung ở tiềm lực chính trị, tinh thần; tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa
học, công nghệ; tiềm lực quân sự, an ninh. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh là
tập trung xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần; tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa học,
công nghệ và xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh.
- Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần
+ Tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân
khả ng về chính trị, tinh thần thể huy động tạo nên sức mạnh đthực hiện
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Tiềm lực chính trị, tinh thần được biểu hiện ng
lực lãnh đạo của Đảng, quản điều hành của Nhà nước; ý chí, quyết tâm của nhân
dân, của các lực lượng trang nhân dân sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong mọi điều kiện hoàn cảnh, tình huống
nhất định.
+ Tiềm lực chính trị, tinh thần là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của quốc
phòng, an ninh, tác động to lớn đến hiệu quả xây dựng sử dụng các tiềm lực
khác, là cơ sở, nền tảng của tiềm lực quân sự, an ninh.
+ Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, an ninh
nhân dân cần tập trung: Xây dựng tình yêu quê hương đất nước, niềm tin đối với sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, đối với chế độ hội chủ nghĩa. Xây dựng
hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây
dựng khối đại đoàn kết toàn n; nâng cao cảnh giác cách mạng; givững ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt giáo dục quốc phòng, an ninh.
- Xây dựng tiềm lực kinh tế
+ Tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là khả năng
về kinh tế của đất nước có thể khai thác, huy động nhằm phục vụ cho quốc phòng, an
ninh.
+ Tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được biểu
hiện nhân lực, vật lực, tài lực của quốc gia thể huy động cho quốc phòng, an
ninh tính cơ động của nền kinh tế đất nước trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Tiềm
lực kinh tế tạo sức mạnh vật chất cho nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân,
cơ sở vật chất của các tiềm lực khác.

Preview text:

BÀI 1
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
1. Khái niệm giáo dục quốc phòng và an ninh
Giáo dục quốc phòng và an ninh là quá trình sư phạm tổng thể, có mục đích, có
tổ chức, có kế hoạch, phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục (giảng viên) tới đối
tượng giáo dục, nhằm giúp sinh viên nắm vững những tư tưởng, quan điểm về chiến
tranh cách mạng của Đảng; xây dựng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự
hào, tự tôn dân tộc; phát triển các kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết để sẵn sàng
tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Với tiếp cận là quá trình sư phạm tổng thể, giáo dục quốc phòng và an ninh bao
gồm quá trình bộ phận cấu thành, đó là: quá trình dạy học và quá trình giáo dục trải
nghiệm quân sự, an ninh. Hai quá trình đó có mối liên hệ biện chứng, tác động hỗ trợ
lẫn nhau trong một thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định.
Dạy học là quá trình có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch; phối hợp thống nhất
giữa hoạt động của người dạy (giảng viên) và hoạt động của người học (sinh viên);
với chức năng vượt trội nhằm trang bị hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển
tư duy sáng tạo, hình thành năng lực quân sự cho sinh viên.
Giáo dục trải nghiệm quân sự, an ninh là quá trình có mục đích, có tổ chức, có
kế hoạch; phối hợp thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục (giảng viên, cán bộ
quản lý sinh viên) và đối tượng giáo dục (sinh viên); với chức năng vượt trội nhằm
hình thành tư tưởng, quan điểm về chiến tranh cách mạng của Đảng, xây dựng lòng
yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, niềm tin vào chiến thắng
vào đồng chí đồng đội, sẵn sàng tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Quá trình dạy học và quá trình giáo dục trải nghiệm quân sự, an ninh đều được
cấu thành từ các yếu tố trong mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau gồm: mục
tiêu, yêu cầu; nội dung, chương trình; hình thức, phương pháp; phương tiện kỹ thuật
dạy học; nhà giáo, sinh viên và kết quả giáo dục.
Trong đó nhà giáo, nhà quản lý giáo dục và sinh viên là hai chủ thể tác động
qua lại với nhau biến quá trình giáo dục quốc phòng, an ninh vốn là yêu cầu khách
quan bên ngoài chuyển thành kết quả giáo dục trong nhân cách sinh viên và ngược lại
sinh viên là chủ thể tiếp nhận tích cực biến quá trình giáo dục thành “tự giáo dục”,
thành sản phẩm “trong chính sinh viên”. Tuy nhiên, giữa dạy học và giáo dục trải
nghiệm quân sự, an ninh có những đặc điểm khác nhau. Sự khác nhau được thể hiện
ở mục tiêu nội dung, phương pháp hình thức, kết quả, hoạt động của chủ thể giáo
dục, hoạt động của đối tượng giáo dục và chức năng vượt trội của mỗi quá trình.
2. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
a) Nghiên cứu đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nghiên cứu cơ sở lý luận và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt
Nam về đường lối quốc phòng và an ninh, bao gồm: quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; xây
dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội 1
chủ nghĩa; chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây
dựng lực lượng xũ trang nhân dân Việt Nam; kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với
tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại; những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ
thuật quân sự Việt Nam; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động
viên và động viên quốc phòng; xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới
quốc gia trong tình hình mới; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc;
những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Trong đó: Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội
và bảo vệ Tổ quốc là cơ sở lý luận để Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối chiến lược
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tiến
hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Các quan điểm, đường lối quốc phòng và
an ninh của Đảng có tính kế thừa và phát triển toàn bộ truyền thống dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Đó cũng là đặc trưng nghệ thuật quân sự, an ninh Việt Nam đã
chiến thắng những kẻ thù hung hãn nhất.
b) Nghiên cứu công tác quốc phòng và an ninh
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về nhiệm vụ nội dung công tác quốc phòng
và an ninh của Đảng hiện nay, bao gồm: phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa
bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; một số
nội dung cơ bản về dân tộc, tôn giáo, đấu tranh phòng chống các thế lực thù địch lợi
dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; phòng, chống vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường; phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự
an toàn giao thông; phòng, chống một số loại tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm
người khác; an toàn thông tin và phòng, chống vi phạm pháp luật trên không gian
mạng; an ninh phi truyền thống và đấu tranh phòng chống các đe da an ninh phi
truyền thống ở Việt Nam. Nhà nước quy định nhiệm vụ về quốc phòng, quân sự, an
ninh cho các bộ, ngành, cơ quan trung ương, địa phương và đơn vị cơ sở. Do vậy,
nghiên cứu về công tác Quốc phòng và an ninh thực chất là nghiên cứu hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật của nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã
hội và an ninh chính trị. Mọi công dân đều có trách nhiệm tham gia công tác quốc
phòng, luyện tập quân sự, giữ gìn bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường
tiềm lực quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, phòng chống có hiệu quả chiến lược
“diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt
Nam, kể cả việc phòng chống chiến tranh công nghệ cao trong tương lai. Nghiên cứu
và thực hiện tốt công tác quốc phòng và an ninh để xây dựng lòng tin chiến thắng
trước mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam.
c) Nghiên cứu về quân sự chung
Nghiên cứu các kiến thức chung về lĩnh vực quân sự cần thiết như: chế độ sinh
hoạt, học tập, công tác trong ngày, tuần; chế độ nền nếp chính quy, bố trí trật tự nội
vụ trong doanh trại; hiểu biết chung về các quân, binh chủng trong quân đội; điều
lệnh đội ngũ từng người có súng; điều lệnh đội ngũ đơn vị; hiểu biết chung về bản đồ
địa hình quân sự; phòng tránh địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công nghệ cao; ba
môn quân sự phối hợp Kiến thức về quân sự chung trong môn học là những kiến thức
quân sự phổ thông, sinh viên cần nắm được và là kiến thức nền tảng phục vụ rèn
luyện chính quy, chấp hành kỷ luật trong môi trường quân sự. Qua đó rèn luyện tác 2
phong, ý thức tổ chức kỷ luật cho sinh viên góp phần xây dựng phẩm chất nhân cách
con người mới xã hội chủ nghĩa.
d) Nghiên cứu kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật
Nghiên cứu những kỹ thuật và chiến thuật chiến đấu cơ bản của người chiến sĩ
khi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường gồm: kỹ thuật bắn súng tiểu liên
AK; tính năng, cấu tạo, và cách sử dụng một số loại lựu đạn thường dùng. Ném lựu
đạn bài 1; từng người trong chiến đấu tiến công; từng người trong chiến đấu phòng
ngự; từng người làm nhiệm vụ cảnh giới. Đây là những kỹ, chiến thuật cơ bản, sinh
viên cần hiểu được đặc điểm, nguyên lý, tác dụng… hiểu rõ bản chất các nội dung kỹ
thuật chiến thuật bộ binh; về khả năng sát thương, với các phương pháp phòng tránh
đơn giản, hiệu quả. Trên cơ sở đó nghiên cứu thực hành các bài tập sát với thực tế,
thành thạo các thao tác kỹ thuật, chiến thuật trong chiến đấu. Đồng thời có thể ứng
dụng các kỹ thuật này khi tham gia dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật.
II. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu môn học giáo dục quốc phòng và an ninh đòi hỏi phải nắm
vững cơ sở phương pháp luận, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với đối
tượng, phạm vi và tính chất đa dạng của nội dung môn học này.
1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu môn học giáo dục
quốc phòng và an ninh là học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến
tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở lý luận, phương pháp luận của đường
lối quốc phòng và an ninh của Đảng và những vấn đề cơ bản khác của giáo dục quốc
phòng và an ninh. Để nắm vững cơ sở, phương phương pháp luận này trong quá trình
nghiên cứu, phát triển giáo dục quốc phòng và an ninh đòi hỏi vận dụng đúng đắn các
quan điểm tiếp cận khoa học sau:
Quan điểm hệ thống: Đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nội dung của
giáo dục quốc phòng và an ninh một cách toàn diện, tổng thể, trong mối quan hệ phát
triển giữa các bộ phận, các vấn đề của môn học.
Quan điểm lịch sử, logic: Trong nghiên cứu giáo dục quốc phòng và an ninh
đòi hỏi phải nhìn thấy sự phát triển của đối tượng, vấn đề nghiên cứu theo thời gian,
không gian với những điều kiện lịch sử, cụ thể để từ đó giúp ta phát hiện, khái quát
nhận thức đúng những quy luật, nguyên tắc của hoạt động quốc phòng, an ninh.
Quan điểm thực tiễn: Chỉ ra phương hướng cho việc nghiên cứu giáo dục quốc
phòng và an ninh là phải bám sát thực tiễn xây dựng quân đội và công an nhân dân,
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn hiện nay.
2. Các phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu xây dựng, phát triển nội dung giáo dục quốc phòng và an
ninh với tư cách là một bộ môn khoa học cần chú ý sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Các phương pháp lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, mô
hình hoá, giả thiết nhằm thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn
bản, tài liệu về quốc phòng và an ninh để rút ra các kết luận khoa học cần thiết, không
ngừng bổ sung phát triển làm phong phú nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh. 3
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát thực tế,
nghiên cứu các sản phẩm quốc phòng, an ninh, tổng kết kinh nghiệm, thí nghiệm,
thực nghiệm… nhằm tác động trực tiếp vào đối tượng trong thực tiễn, từ đó khái quát
bản chất, quy luật của các hoạt động quốc phòng, an ninh; bổ sung làm phong phú nội
dung cũng như kiểm định tính xác thực, tính đúng đắn của các kiến thức giáo dục quốc phòng và an ninh.
- Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học lý thuyết và thực hành nhằm bảo
đảm cho người học vừa có nhận thức sâu sắc về đường lối, nghệ thuật quân sự, nắm
chắc lý thuyết kỹ thuật và chiến thuật, vừa rèn luyện phát triển được các kỹ năng
công tác quốc phòng, thuần thục các thao tác, hành động quân sự.
III. GIỚI THIỆU MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 1. Đặc điểm môn học
- Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học được luật định: Đây là môn học
được luật hóa nhằm thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và được thể chế hoá bằng
các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước nhằm giúp sinh viên thực hiện mục
tiêu “phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu
nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Kế tục và phát huy những kết quả thực hiện chương trình huấn luyện quân sự
phổ thông (1961), giáo dục quốc phòng (1991), trong những năm qua, để đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới và phù hợp với quy chế giáo dục -
đào tạo trình độ đại học, năm 2000 chương trình tiếp tục được đổi mới, bổ sung; đến
năm 2007 triển khai thực hiện nghị định của Chính phủ về giáo dục quốc phòng và an
ninh, môn học giáo dục quốc phòng được lồng ghép nội dung an ninh thành môn học
giáo dục quốc phòng và an ninh. Hiện nay, đang thực hiện theo nghị định số
13/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2014 quy định chi tiết và biện pháp thi hành
luật giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013. Như vậy, trong từng giai đoạn cách
mạng, chương trình môn học giáo dục quốc phòng và an ninh đều có những đổi mới
phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và công tác quốc phòng và an ninh trong
từng thời kì, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của giáo dục - đào tạo với quốc phòng và an ninh.
- Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học có kiến thức tổng hợp và có tỷ lệ
lý thuyết cao trong tổng chương trình môn học: Kiến thức môn học bao gồm cả kiến
thức khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học quân sự và thuộc nhóm
các môn học chung, có tỉ lệ lý thuyết chiếm trên 70% chương trình môn học.
2. Chương trình môn học
Môn học giáo dục quốc phòng và an ninh trình độ đại học, cao đẳng ban hành
theo thông tư số 05/2020/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chương trình được xây dựng trên cơ sở phát triển trình độ các cấp học dưới, bảo đảm
liên thông, logic; mỗi học phần là những khối kiến thức tương đối độc lập, tiện cho
sinh viên tích lũy trong quá trình học tập. Kết cấu chương trình gồm bốn học phần:
- Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam, 45 tiết.
- Học phần II: Công tác quốc phòng và an ninh, 30 tiết. 4
- Học phần III: Quân sự chung, 30 tiết.
- Học phần IV: Kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật, 60 tiết. BÀI 2
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH, QUÂN ĐỘI
VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh
a) Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội
- Chiến tranh là một trong những vấn đề phức tạp, trước Mác đã có nhiều nhà
tư tưởng đề cập đến vấn đề này nhưng đều phiến diện hoặc rơi vào chủ nghĩa duy
tâm, tôn giáo; đáng chú ý nhất là tư tưởng của C.Ph.Claudơvít (1780 – 1831), ông
quan niệm: Chiến tranh là một hành vi bạo lực để buộc đối phương phục tùng ý chí
của mình và là sự huy động sức mạnh không hạn độ, sức mạnh đến tột cùng của các
bên tham chiến. Ở đây, C.Ph.Claudơvít đã chỉ ra được đặc trưng cơ bản của chiến
tranh là sử dụng bạo lực. Tuy nhiên, C.Ph.Claudơvít chưa luận giải được bản chất của
hành vi bạo lực ấy. Kế thừa có phê phán các quan niệm về chiến tranh trong lịch sử
chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Chiến tranh là hiện tượng chính trị xã hội có tính
lịch sử, đó là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp, nhà nước (hoặc
liên minh giữa các nước) nhằm đạt mục đích chính trị nhất định. Với quan niệm này
chiến tranh có 4 đặc trưng sau :
+ Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội nghĩa là không phải là hiện
tượng tự nhiên bên ngoài xã hội, mà nó là hiện tượng chính trị xã hội, nó gắn với giai
cấp, Nhà nước, đảng phái.
+ Trong chiến tranh đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh cơ bản, lực lượng
vũ trang là công cụ chủ yếu để tiến hành chiến tranh.
+ Chiến tranh bao giờ cũng nhằm thực hiện mục đích chính trị của Nhà nước,
của giai cấp nhất định.
+ Chiến tranh có tính lịch sử nghĩa là nó chỉ tồn tại trong những giai đoạn lịch
sử nhất định, nó không tồn tại vĩnh viễn.
Bốn đặc trưng của chiến tranh có quan hệ biện chứng với nhau, một hiện tượng
được gọi là chiến tranh phải có đủ 4 đặc trưng trên nếu thiếu bất cứ đặc trưng nào thì
nó không phải là chiến tranh.
b) Nguồn gốc chiến tranh
- Quan điểm ngoài Mác-xít:
+ Chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo cho rằng: Chiến tranh là hiện tượng do thượng
đế, chúa trời sinh ra để trừng phạt loài người vì những hành vi tội ác mà họ đã gây ra ở dưới trần gian.
+ Thuyết quyết định luận kỹ thuật khẳng định: Sự phát triển của KHKT là
nguồn gốc, là thủ phạm gây ra mọi cuộc chiến tranh trong lịch sử. 5
+ Nhà tâm lý học Sigmund Freud (1856 – 1939) lại quy nguyên nhân chiến
tranh và hành vi hiếu chiến của con người thuộc về bản năng phá hoại hay còn được
gọi là bản năng chết (death instinct). Bản năng này hướng hành vi phá hoại của con người ra bên ngoài.
+ Chủ nghĩa Darwin xã hội: (Social Darwinism) hay thuyết định mệnh quốc gia,
coi quốc gia có đặc tính sinh học. Nghĩa là, quốc gia cũng có sự cạnh tranh với nhau để
tiến hóa giống như trong giới tự nhiên. Vì thế, chiến tranh trở thành cách thức đấu
tranh phổ biến giữa các quốc gia vì mục đích sinh tồn. Thông qua chiến tranh, những
quốc gia “tốt” và mạnh sẽ tồn tại, còn quốc gia “xấu” và yếu sẽ bị tiêu vong.
Như vậy, dù bằng nhiều cách lí giải khác nhau nhưng các quan điểm trên đều
ngụy biện cho sự tồn tại của chiến tranh, che đậy bản chất xâm lược và tội ác của
chiến tranh phi nghĩa đối với nhân loại.
- Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin:
Kế thừa có phê phán các quan điểm về nguồn gốc chiến tranh trong lịch sử, chủ
nghĩa Mác-Lênin khẳng định: Chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp không thể điều hòa.
+ Nguồn gốc kinh tế: Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất là nguồn gốc sâu xa, suy đến cùng đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại
của chiến tranh. Chế độ tư hữu là nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại
của chiến tranh. Nó chính là nguồn gốc kinh tế, cơ bản nhất của mọi xung đột xã hội.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định chiến tranh gắn với bạo lực, nó ra đời trong
một giai đoạn lịch sử nhất định khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định để
tạo ra năng suất lao động cao có sản phẩm dư thừa đủ để người ta chiếm đoạt của
nhau. Điều này lý giải tại sao trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có chiến tranh.
Trải qua hàng vạn năm trong chế độ cộng sản nguyên thủy, khi chưa có chế độ tư
hữu, chưa có giai cấp đối kháng thì chiến tranh với tính cách là một hiện tượng chính
trị xã hội cũng chưa xuất hiện. Mặc dù ở thời kì này đã xuất hiện những cuộc xung
đột vũ trang. Nhưng đó không phải là một cuộc chiến tranh mà chỉ là một dạng “lao
động thời cổ”. Bởi vì, xét về mặt xã hội, xã hội cộng sản nguyên thuỷ là một xã hội
không có giai cấp, bình đẳng, không có tình trạng phân chia thành kẻ giàu, người
nghèo, kẻ đi áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột. Về kinh tế, không có của “dư
thừa tương đối” để người này có thể chiếm đoạt lao động của người khác, mục tiêu
các cuộc xung đột đó chỉ để tranh giành các điều kiện tự nhiên thuận lợi để tồn tại
như: nguồn nước, bãi cỏ, vùng săn bắn hay hang động,... Về mặt kỹ thuật quân sự,
trong các cuộc xung đột này, tất cả các bên tham gia đều không có lực lượng vũ trang
chuyên nghiệp, cũng như vũ khí chuyên dùng. Tất cả các thành viên của bộ lạc với
mọi công cụ lao động thường ngày đều tham gia vào cuộc xung đột đó. Do đó, các
cuộc xung đột vũ trang này hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên tự phát.
+ Nguồn gốc xã hội: Sự xuất hiện của giai cấp và đối kháng giai cấp trong xã
hội là nguồn gốc trực tiếp dẫn đến chiến tranh. Ph. Ăngghen chỉ rõ, khi chế độ chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của giai cấp,
tầng lớp áp bức bóc lột thì chiến tranh ra đời và tồn tại như một tất yếu khách quan.
Chế độ áp bức bóc lột càng hoàn thiện thì chiến tranh càng phát triển. Chiến tranh trở
thành “bạn đường” của mọi chế độ tư hữu. 6
Như vậy, chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất và đối kháng giai cấp trong xã hội. Trong đó, chế độ tư hữu là nguồn gốc sâu xa
còn đối kháng giai cấp là nguồn gốc nguồn gốc trực tiếp của chiến tranh nên muốn
xóa bỏ chiến tranh phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra nó.
c) Bản chất của chiến tranh
- Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng, nhà quân sự khái quát về bản chất
chiến tranh tiêu biểu như:
+ Thời cổ đại, Arixtốt (384-322 TCN) đã khái quát bản chất chiến tranh là nghệ thuật chính trị.
+ G. Hêghen quan niệm chiến tranh là công cụ thực hiện mục đích chính trị.
+ C.Ph.Claudơvít nhà lý luận quân sự của nước Phổ cho rằng: “Chiến tranh của
một cộng đồng tiến hành bao giờ cũng là một hành vi chính trị, một sự kế tục của các
quan hệ chính trị, một sự thực hiện các quan hệ chính trị bằng các biện pháp khác
(thủ đoạn bạo lực)”. Quan điểm này đã có bước tiến nhất định về bản chất chiến
tranh, nhưng cũng không tránh khỏi sai lầm. Do hạn chế về tư duy chính trị, vì Ông
cho rằng chính trị không phải là quan hệ giai cấp, dân tộc và nếu có thì chỉ đơn thuần
ở đường lối đối ngoại, không đề cập đến đối nội.
- Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao quan điểm của các
nhà tư tưởng trên, kế thừa, phát triển và vạch ra bản chất chiến tranh. V.I.Lênin
khẳng định: “Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ
thể là bằng bạo lực)”. Về hình thức khái quát của C.Ph.Claudơvít và V.I. Lênin như
nhau, nhưng bản chất lại khác nhau căn bản. Đối với C.Ph.Claudơvít, chính trị chỉ
đơn thuần là quan hệ đối ngoại, không đề cập đến chính trị từ quan hệ đối nội, quan
hệ giai cấp trong một nước, mà quan hệ đối nội còn quyết định quan hệ đối ngoại.
Khi giải thích chính trị sai lầm thì giải thích bản chất chiến tranh cũng sẽ không khoa
học. Bản chất chiến tranh trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện trên hai mặt cơ bản.
+ Chiến tranh là một hiện tượng chính trị xã hội. Chiến tranh thuộc phạm trù xã
hội, đồng thời là phạm trù chính trị. Chiến tranh không đồng nhất với mọi hiện tượng
xã hội, mọi hiện tượng chính trị, nhưng đã là chiến tranh phải thuộc phạm trù xã hội, chính trị.
+ Chiến tranh không đồng nhất với chính trị, nó chỉ là kế tục chính trị bằng thủ
đoạn đặc thù, thủ đoạn bạo lực vũ trang. Chính trị là mục đích, là nội dung của chiến
tranh, còn chiến tranh chỉ là một trong những phương thức tiến hành, thực hiện chính
trị. Trong các phương thức tiến hành, thực hiện chính trị, chiến tranh là phương thức
đặc biệt. Trước khi chiến tranh nổ ra, các phương thức phi chiến tranh đã được vận
dụng nếu tiến hành không có hiệu lực thì phương thức chiến tranh mới được thực
hiện. Tiếp cận bản chất chiến tranh trong sự thống nhất giữa hai mặt của chiến tranh.
Mặt chính trị và mặt phương thức bạo lực vũ trang không tách rời. Như vậy, những
xung đột vũ trang trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có nội dung chính trị,
không phải là chiến tranh. Trong xã hội có giai cấp, những phương thức thực hiện
chính trị không sử dụng bạo lực vũ trang không phải là chiến tranh. Trong lịch sử,
các thế lực tiến hành chiến tranh xâm lược, phản động thường tìm cách che đậy nội
dung chính trị để xuyên tạc bản chất chiến tranh. Những quan điểm cho tiến hành 7
chiến tranh là thực hiện ý nguyện của chúa, giương ngọn cờ tôn giáo…là tìm cách
che đậy nội dung chính trị, xuyên tạc bản chất chiến tranh. Hiện nay, các thế lực phản
động cũng đưa ra lý do lật đổ một chế độ độc tài, gia đình trị hoặc bảo vệ thế giới tự
do…đều tìm cách che đậy nội dung chính trị phản động trong tiến hành chiến tranh xâm lược.
- Mối quan hệ giữa chính trị và chiến tranh.
Chiến tranh và chính trị là những hiện tượng chính trị xã hội khác nhau, nhưng
quan hệ hữu cơ với nhau. Quan hệ giữa chính trị và chiến tranh là một phương diện
quan trọng của bản chất chiến tranh. Trong mối quan hệ giữa chính trị và chiến tranh,
chính trị quyết định chiến tranh trên mọi phương diện.
+ Chính trị quyết định mục đích chiến tranh.
Bất kỳ một cuộc chiến tranh nào đều hướng tới một mục đích chính trị nhất
định. Mục đích chính trị của chiến tranh biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Mỗi
giai cấp trong một dân tộc tiến hành chiến tranh với nhau có mục đích chính trị khác
nhau. Trước sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh giành chính quyền, bạo lực
phản cách mạng mà giai cấp thống trị sử dụng là nhằm mục đích giữ vững địa vị, lợi
ích, chế độ chính trị hiện tại. Ngược lại, quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của
lực lượng tiên tiến, tiến hành chiến tranh cách mạng có mục đích lật đổ chế độ chính
trị hiện tại, thiết lập chế độ mới. Những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc, mục đích
chính trị của mỗi bên tham chiến cũng khác nhau. Với các nước xâm lược, mục đích
là áp đặt một chế độ chính trị bù nhìn, tay sai cho chúng; với các dân tộc chống lại
chiến tranh xâm lược, mục đích là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước.
+ Chính trị quy định tiến trình và kết cục chiến tranh.
Tiến trình, diễn biến của chiến tranh rất phức tạp, nhưng cái chung nhất là do
chính trị quy định. Mỗi giai đoạn của tiến trình phát triển chiến tranh đều có mục đích
chính trị cụ thể, nhưng thống nhất với mục đích chung. Tiến trình và kết cục của
chiến tranh được chỉ đạo bởi mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước thống trị, do
lợi ích của giai cấp thống trị quyết định. Ở một thời đại cụ thể, chế độ chính trị nào
tiến bộ thì chiến tranh do nó tiến hành thường có xu hướng phát triển ngày càng
mạnh và giành thắng lợi. Ngược lại, những cuộc chiến tranh của chế độ chính trị đã
lỗi thời thường đi vào bế tắc, ngõ cụt, sa lầy. Đây là xu hướng chung của lịch sử phát
triển chiến tranh. V.I.Lênin cho rằng: “Mọi cuộc chiến tranh đều gắn với chế độ
chính trị đã sinh ra nó”. Tuy nhiên, trong thời điểm cụ thể không hẳn mọi cuộc chiến
tranh của chế độ chính trị tiến bộ tiến hành đều thắng lợi. Bởi chiến tranh còn bị chi
phối bởi nhiều nhân tố khác.
+ Chính trị quyết định bản chất và tính chất chính trị xã hội của chiến tranh.
Chiến tranh là chính trị từ đầu đến cuối, thậm chí trước khi nổ ra chiến tranh,
trong giai đoạn chuẩn bị đã có chính trị, do chính trị quyết định. Bản chất tiến bộ
cách mạng của chế độ chính trị sẽ quyết định bản chất và tính chất chính nghĩa, tiến
bộ của chiến tranh. Ngược lại, chế độ chính trị đã lỗi thời thì những cuộc chiến tranh
mang tính chất phi nghĩa, phản động.
+ Chiến tranh tác động trở lại chính trị. Đây là tác động của một phương thức
thực hiện đến mục đích, nội dung của nó là chính trị. Biểu hiện tác động của chiến
tranh đến chính trị cũng rất da dạng. Chiến tranh có thể thúc đẩy nhanh hay chậm thực 8
hiện mục đích chính trị, thậm chí làm thất bại hoàn toàn mục đích chính trị. Thắng lợi
hay thất bại của chiến tranh sẽ kết thúc mục đích chính trị ở một giai đoạn cụ thể, là
những nấc thang phát triển tiến tới mục đích chung của toàn bộ cuộc chiến tranh.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh
a) Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật, tác động của
chiến tranh đến đời sống xã hội
Nói về mục đích cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định:
“Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc
lập của Tổ Quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ”
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành
ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tranh của nhân dân ta
chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và
thống nhất đất nước.
b) Hồ Chí Minh xác định tính chất xã hội của chiến tranh
Trên cơ sở mục đích chính trị của chiến tranh, Hồ Chí Minh đã xác định tính
chất xã hội của chiến tranh, chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm
lược là chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của chúng ta là ủng hộ chiến tranh chính
nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
- Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin về bạo lực cách
mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt
Nam. Người khẳng định: “Chế độ thực dân, tự bản nó đã là một hành động bạo lực,
độc lập tự do không thể cầu xin mà có được, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại
bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”
- Bạo lực cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh được tạo bởi sức mạnh của
toàn dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu
tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân,
trong đó phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân
phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân,
đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, …
c) Hồ Chí Minh khẳng định: Chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta
là chiến tranh nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi con người là nhân tố quyết định thắng lợi trong
chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi dân là gốc, là cội nguồn của sức
mạnh để “xây dựng lầu thắng lợi”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân là
một trong những di sản quý báu của Người. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh trình
bày một cách giản dị, dễ hiểu song vô cùng sinh động và sâu sắc.
- Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranh toàn
dân, toàn diện, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản. Tư tưởng của Người được thể hiện rõ nét trong lời kêu gọi toàn
Quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19/12/1946: “Bất kì đàn ông, đàn bà,
bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc... hễ là người Việt
Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ Quốc. Ai có súng dùng súng, ai 9
có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra
sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, Người tiếp
tục khẳng định: “Ba mươi mốt triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kì già trẻ, gái trai,
phải là ba mươi mốt triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mĩ cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”.
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân,
trong đó phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân
phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân,
đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá... Kháng chiến
toàn dân nhưng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đây là nhân
tố quyết định thắng lợi của chiến tranh chống xâm lược.
II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ QUÂN ĐỘI
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội
a) Khái niệm quân đội
Trên cơ sở những đặc điểm, đặc trưng cơ bản của quân đội, Chủ nghĩa Mác-
Lênin cho rằng: quân đội là tập đoàn người có vũ trang do nhà nước, hoặc tập đoàn
chính trị có chức năng nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích
cơ bản của mình bằng bạo lực vũ trang, kể cả tiến hành chiến tranh.
Như vậy, so với
các tổ chức xã hội khác quân đội có các đặc trưng sau:
- Quân đội là tổ chức của một nhà nước nhất định, do nhà nước tổ chức, xây
dựng và nuôi dưỡng. Đây là đặc trưng cơ bản của quân đội, để phân biệt tổ chức quân
đội với các tổ chức xã hội khác và tổ chức vũ trang trong xã hội cộng sản nguyên
thuỷ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể cũng có những quân đội là công cụ
bạo lực vũ trang của một tập đoàn chính trị đại diện cho một giai cấp nhất định, đang
thực hiện chức năng nhà nước. Về thực chất, đây là tổ chức tiền thân của một chính
quyền nhà nước mới đang ra đời trên thực tế.
- Quân đội là tổ chức của những người có vũ trang và thực hiện chức năng của
nó bằng các vũ khí chuyên dùng. Đây là đặc trưng cơ bản, biểu hiện mối quan hệ đặc
thù giữa con người và vũ khí của tổ chức quân đội, quan hệ này luôn ảnh hưởng trực
tiếp đến sức mạnh chiến đấu và khả năng chiến đấu của quân đội. Đây là dấu hiệu đặc
thù để phân biệt quân đội với các tổ chức khác trong xã hội. Quân đội là tổ chức bạo
lực vũ trang được nhà nước sử dụng để tiến hành chiến tranh.
- Chiến tranh và quân đội luôn gắn liền với nhau. Quân đội xuất hiện và tồn tại
với tính cách là công cụ tiến hành chiến tranh của nhà nước. Quân đội sẽ mất đi cùng
với sự tiêu vong của nhà nước, khi hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa được
xây dựng thành công và chiến tranh đã được loại trừ khỏi đời sống nhân loại.
Ba đặc trưng cơ bản trên của quân đội có quan hệ biện chứng với nhau, phản ánh
các mối liên hệ tất yếu của một tổ chức đặc thù trong xã hội có giai cấp và nhà nước.
b) Nguồn gốc ra đời của quân đội
- Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc ra
đời của quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế - xã hội và khẳng định: quân đội là một
hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người,
khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối kháng giai cấp trong xã hội. 10
Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm nảy sinh nhà nước thống trị bóc
lột. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và đàn áp quần chúng nhân dân lao động,
giai cấp thống trị đã tổ chức ra lực lượng vũ trang thường trực làm công cụ bạo lực của nhà nước.
Như vậy, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân chia xã hội thành giai
cấp đối kháng là nguồn gốc ra đời của quân đội. Chừng nào còn chế độ tư hữu, còn
chế độ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại. Quân đội chỉ mất đi khi giai cấp,
nhà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong.
c) Bản chất giai cấp của quân đội
Bản chất của quân đội được xác định bởi quân đội đó do giai cấp nào tổ chức
ra, công cụ bạo lực đó nằm trong tay ai và nó phục vụ trước hết cho lợi ích của giai
cấp nào trong xã hội. Từ cách tiếp cận khoa học trên, các nhà kinh điển chủ nghĩa
Mác - Lênin khẳng định bản chất quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai
cấp, một nhà nước nhất định nhằm phục vụ cho giai cấp và nhà nước tổ chức, nuôi
dưỡng nó. Ở phương diện này, quân đội của các giai cấp và nhà nước thống trị, bóc
lột trong lịch sử bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang để tiến hành chiến tranh và
đàn áp nhân dân lao động. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không phải chỉ dưới chính thể quân
chủ, quân đội mới là công cụ đàn áp. Nó vẫn là công cụ đàn áp trong tất cả các chính
thể cộng hoà tư sản, kể cả những chính thể cộng hoà dân chủ nhất"
- Với tính cách là một hiện tượng chính trị - xã hội, bất cứ quân đội nào trong
lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Cái quyết định bản chất giai cấp của một
quân đội là ở chỗ, quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội nào; hoạt động
của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc
một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội. Bản
chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức
quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo
đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai
cấp đó. Trong lịch sử chưa có một quân đội nào chiến đấu vì lợi ích chung của tất cả
các giai cấp, vì nó là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất
định. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân
đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ
thống giáo dục về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức,
phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội.
- Trong tình hình hiện nay, các học giả tư sản thường đề cao luận điểm “phi
chính trị hóa quân đội”, cho rằng quân đội phải đứng ngoài chính trị, quân đội là công
cụ bạo lực của toàn xã hội, không mang bản chất giai cấp. Thực chất quan điểm “phi
chính trị hóa quân đội” của các học giả tư sản nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản, làm giảm sức mạnh chiến đấu, từng bước làm thoái hóa về chính trị
tư tưởng, phai nhạt bản chất cách mạng của quân đội. Đó là một mục tiêu quan trọng
trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
d) Sức mạnh chiến đấu của quân đội
- Khái niệm sức mạnh chiến đấu của quân đội:
Theo quan điểm Mác - Lênin, sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng thể các
yếu tố vật chất, tinh thần và sự tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả 11
năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị
của nhà nước, giai cấp nhất định.
Sức mạnh chiến đấu của quân đội được biểu hiện cụ thể ở trình độ, khả năng
sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Trong điều kiện hoà bình là trình độ
huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Trong điều kiện chiến tranh là khả năng
hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu với hiệu suất chiến đấu cao. Sức mạnh chiến đấu của
quân đội được biểu hiện ở hiệu lực chiến lược, ở khả năng răn đe, làm nhụt ý chí xâm
lược của kẻ thù. Sức mạnh chiến đấu của quân đội cũng được thể hiện trong tương
quan so sánh với sức mạnh chiến đấu của đối tượng tác chiến cụ thể gắn với những
điều kiện lịch sử cụ thể.
- Các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội: Sức mạnh chiến đấu
của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố cơ bản
như: quân số, cơ cấu tổ chức biên chế; chính trị - tinh thần và kỷ luật; số lượng, chất
lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; trình độ khoa học và nghệ thuật quân sự; bản
lĩnh lãnh đạo, trình độ tổ chức, chỉ huy, quản lý của đội ngũ sỹ quan. Giữa các yếu tố
trên có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tuy nhiên, vị trí, vai trò của từng yếu tố là
không ngang bằng nhau, trong những điều kiện xác định, yếu tố chính trị tinh thần
giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. V.I. Lênin khẳng định:
“Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần
chúng đang đổ máu trên chiến trường”
Trong xây dựng sức mạnh chiến đấu cho quân đội, các ông rất chú trọng đến
khâu đào tạo đội ngũ cán bộ, đánh giá và nhận xét về tài năng của các tướng lĩnh
quân sự, đồng thời phê phán sự yếu kém của đội ngũ này.
e) Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của Lênin
- V.I. Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen về quân
đội và vận dụng thành công trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, các thế lực thù địch
điên cuồng chống phá nước Nga Xô viết. Để bảo vệ thành quả cách mạng, V.I. Lênin
yêu cầu phải giải tán quân đội cũ và thành lập quân đội kiểu mới (hồng quân) của giai
cấp vô sản. V.I. Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội
kiểu mới: Đảng cộng sản lãnh đạo Hồng quân tăng cường bản chất giai cấp công
nhân; đoàn kết thống nhất quân đội với nhân dân; trung thành với chủ nghĩa Quốc tế
vô sản; xây dựng chính quy; không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức; phát triển hài
hòa các quân chủng, binh chủng; sẵn sàng chiến đấu. Trong đó sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất quyết định đến sức mạnh, sự tồn tại, phát
triển, chiến đấu, chiến thắng của Hồng quân.
- Ngày nay, những nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I.
Lênin vẫn giữ nguyên giá trị; là cơ sở lý luận khoa học cho các Đảng cộng sản xác
định phương hướng tổ chức xây dựng quân đội của mình.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội
a) Hồ Chí Minh khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có
tính quy luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam
- Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa sự ra đời của quân
đội với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc. Người viết: “Dân tộc 12
Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn đánh chúng phải có lực lượng quân
sự, phải có tổ chức”
- Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng ta đã quán triệt sâu sắc học thuyết Mác
– Lênin về bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng đã khẳng định con đường đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc là
bạo lực cách mạng để giành chính quyền và yêu cầu phải tổ chức lực lượng vũ trang
để làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng.
+ Trong Chính cương vắn tắt của Đảng (02/1930) do Chủ tịch Hồ Chí Minh
khởi thảo đã đề cập đến việc “Tổ chức ra quân đội công nông”.
+ Luận cương chính trị của Đảng (10/1930) cũng chỉ rõ nhiệm vụ: “Vũ trang
cho công nông”, “Lập quân đội công nông” và “Tổ chức ra đội tự vệ công nông”.
+ Trong phong trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh,
từ lực lượng khởi nghĩa của công - nông, Đội tự vệ công nông (Tự vệ Đỏ) đã ra đời.
Đó là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
+ Hàng loạt tổ chức vũ trang lần lượt được thành lập và phát triển như: Du kích
Nam Kỳ (1940), Đội du kích Bắc Sơn (1941), Cứu Quốc quân (1941),... Phong trào
đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và sự trưởng
thành nhanh chóng của các tổ chức vũ trang quần chúng đòi hỏi cách mạng Việt Nam
phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
cách mạng giải phóng dân tộc.
+ Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng
giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh
Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng),
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập theo chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.
- Thực tiễn lịch sử cho thấy, kẻ thù sử dụng bạo lực phản cách mạng để áp bức
nô dịch dân tộc ta. Do vậy, muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, chúng ta
phải tổ chức bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
- Để thực hiện được mục tiêu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng
sản Việt Nam đã tổ chức ra quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang cách
mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động, đấu tranh với kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc.
b) Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân
- Với cương vị là người tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện quân đội ta,
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng bản chất giai cấp công nhân cho quân
đội. Bản chất giai cấp công nhân liên hệ mật thiết với tính nhân dân trong tiến hành
chiến tranh nhân dân chống thực dân, đế Quốc xâm lược.
- Trong xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội, Chủ tịch Hồ Chí
Minh hết sức quan tâm đến giáo dục, nuôi dưỡng các phẩm chất cách mạng, bản lĩnh
chính trị và coi đó là cơ sở, nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện.
- Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp
tổ chức lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân hết lòng yêu thương, đùm
bọc, đồng thời được kế thừa những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc có hàng
ngàn năm văn hiến và lịch sử đấu tranh dựng nước gắn liền với giữ nước oanh liệt. 13
Do đó, ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình phát triển, quân đội ta luôn thực sự
là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng
thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
c) Khẳng định quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu
- Đây là một trong những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phát triển
lý luận về quân đội. Người lập luận: bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của
quân đội ta là một thể thống nhất, xem đó như là biểu hiện tính quy luật của quá trình
hình thành, phát triển quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.
- Trong bài “Tình đoàn kết quân dân ngày càng thêm bền chặt” ngày 3/3/1952,
Người viết: Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân.
Đánh giặc để giành lại độc lập thống nhất cho Tổ Quốc, để bảo vệ tự do, hạnh phúc
của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác
d) Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội
Theo Hồ Chí Minh, quân đội nhân dân Việt Nam phải do Đảng Cộng sản Việt
Nam tổ chức và lãnh đạo, sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là tuyệt đối, trực
tiếp và đối với mọi mặt công tác của quân đội. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc bất
di bất dịch trong tổ chức và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Người nói:
quyền lãnh đạo quân đội ta thuộc về một Đảng duy nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt
Nam; quyền lãnh đạo đó luôn được giữ vững và tăng cường cùng với quá trình
trưởng thành chiến thắng của quân đội; quân đội phải chấp hành nghiêm chỉnh sự
lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của
quân đội, về điều này khi nói chuyện tại buổi chiêu đãi mừng quân đội nhân dân Việt
Nam tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì
đó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”
Từ tư tưởng đó của Hồ Chí Minh, ngay từ khi còn là các đội tự vệ, đội du kích đầu tiên:
Bên cạnh chánh phó đội trưởng phải có đại biểu của Đảng cộng sản lãnh đạo
đến ngày 22/12/1944 thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đồng
thời lập chi bộ đội (13 đảng viên).
- Giai đoạn 1945- 1954: Thành lập Quân uỷ trung ương tháng 1/1946; tháng
2/1947, hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội được kiện toàn từ trung ương đến chi bộ.
- Giai đoạn 1946 - 1948: Thực hiện lãnh đạo của tập thể cấp uỷ Đảng theo hệ thống dọc và ngang.
- Giai đoạn 1948 - 1952: Thực hiện chế độ chính uỷ tối hậu quyết định.
- Tháng 5/1952: Thực hiện chế độ tập thể Đảng uỷ lãnh đạo thủ trưởng quân sự
chính trị phân công tổ chức thực hiện.
- Giai đoạn sau 1954: Tiếp tục thực hiện tập thể Đảng uỷ lãnh đạo thủ trưởng
chính trị quân sự phân công phụ trách.
e) Nhiệm vụ và chức năng cơ bản của quân đội
- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hiện nay quân đội ta có hai nhiệm vụ
chính. Một là, xây dựng một đội quân ngày càng vững mạnh và sẵn sàng chiến đấu.
Hai là, thiết thực tham gia lao động sản xuất góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội”
- Quân đội ta có ba chức năng: Ba chức năng đó phản ánh cả mặt đối nội, đối ngoại của quân đội. 14
+ Là quân đội chiến đấu: Với tư cách là đội quân chiến đấu, quân đội luôn sẵn
sàng chiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp
phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, tham gia vào cuộc tiến công địch trên mặt trận lý
luận, chính trị - tư tưởng, văn hóa.
+ Là đội quân công tác: quân đội tham gia vận động quần chúng nhân dân xây
dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, góp phần tăng cường sự đoàn kết giữa Đảng
với nhân dân, quân đội với nhân dân; giúp dân chống thiên tai, giải quyết khó khăn
trong sản xuất và đời sống, tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ và chấp hành
đúng đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
+ Là đội quân sản xuất: quân đội tăng gia sản xuất cải thiện đời sống, xây dựng
kinh tế, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Trong điều kiện hiện nay, quân đội
còn là lực lượng nòng cốt và xung kích trong xây dựng kinh tế - Quốc phòng ở các
địa bàn chiến lược, nhất là ở biên giới, biển đảo, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó
khăn gian khổ và ở những địa bàn có những tình huống phức tạp nảy sinh.
III. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
a) Bảo vệ Tổ quốc XHCN là một tất yếu khách quan
- Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân.
- Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
- Xuất phát từ quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc.
- Xuất phát từ bản chất, âm mưu của kẻ thù và thực tiễn cách mạng thế giới.
b) Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc,
toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động
- V.I. Lênin chỉ rõ: Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ, là trách nhiệm
của toàn Đảng, toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp
vô sản thế giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người
khẳng định: “Không bao giờ người ta có thể chiến thắng được một dân tộc mà đa số
công nhân và nông dân đã biết, đã cảm và trông thấy rằng họ bảo vệ chính quyền của
mình, chính quyền Xô Viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự
nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ đảm bảo cho họ cũng như con cái họ có khả năng
hưởng thụ mọi thành quả văn hóa, mọi thành quả lao động của con người”
c) Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải thường xuyên tăng cường tiềm lực
Quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội
- Học thuyết Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I. Lênin đã khẳng định:
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả, mang tính cách
mạng, chính nghĩa và có ý nghĩa Quốc tế sâu sắc; sự nghiệp đó phải được quan tâm,
chuẩn bị chu đáo và kiên quyết.
- V.I. Lênin cùng Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo nhân dân, tranh thủ thời gian
hòa bình, xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, từng bước biến các tiềm lực thành
sức mạnh hiện thực của nền Quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
d) Đảng cộng sản lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
V.I. Lênin chỉ ra rằng: Đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 15
- Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến
để lôi kéo quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hi sinh.
- Trong quân đội, chế độ chính ủy được thực hiện, cán bộ chính trị được lấy từ
đại biểu ưu tú của công nông, thực chất đó là đại diện của Đảng, để thực hiện sự lãnh
đạo của Đảng trong quân đội.
- Đảng hướng dẫn, giám sát các hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức
xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất,
là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
a) Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan
Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác
cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Ý chí giữ nước của Người rất sâu sắc và kiên quyết. Trong lời kêu gọi toàn
Quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Người nói: “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”.
Trước khi đi xa, trong di chúc Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước có thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người.
Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn”
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra
một chân lý rằng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Hễ còn một tên xâm lược
trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi.
Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng xuyên suốt
trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
b) Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là nghĩa vụ
và trách nhiệm của mọi công dân
- Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ
Chí Minh. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công
dân Việt Nam. Người đã từng nói rõ quan điểm về độc lập dân tộc: “Nếu nước độc
lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Trong tư duy và nhận thức của mình, Hồ Chí Minh luôn xác định độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc trên nền tảng xã hội chủ nghĩa. Độc
lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp trước mắt, có tính cấp bách; muốn hoàn thành được
mục tiêu cuối cùng, giải phóng hoàn toàn các tầng lớp nhân dân lao động khỏi áp bức
bóc lột thì phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, phải đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa. Theo Người, chủ nghĩa xã hội là một đảm bảo cho độc lập dân tộc bền vững.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là luận điểm cơ bản, trọng tâm
trong toàn bộ quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
c) Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc kết hợp với
sức mạnh thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp
trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là sức mạnh của toàn dân tộc,
toàn dân, của từng người dân, của các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở; là sức 16
mạnh của các nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế văn hóa - xã hội, sức mạnh truyền
thống với hiện đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
So sánh về sức mạnh giữa chúng ta với quân xâm lược trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ, Người phân tích: Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết toàn dân
từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ rộng
lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới, chúng ta nhất định thắng.
Người căn dặn: Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng mạnh, sẵn sàng
chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
d) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa Đảng ta là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ Quốc, toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội
dung chiến lược sau đây:
- Một là, xây dựng tiềm lực toàn diện của đất nước, đặc biệt tiềm lực kinh tế,
tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh,
xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
- Ba là, quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, chủ động đánh thắng địch
trong mọi hoàn cảnh, tình huống chiến tranh.
- Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự
nghiệp quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc. BÀI 3
XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, AN NINH NHÂN DÂN
BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN
DÂN, AN NINH NHÂN DÂN
1. Một số khái niệm
- Quốc phòng: Là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc,
trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
- Quốc phòng toàn dân: Là công cuộc giữ nước mang tính chất "của dân, do
dân, và vì dân", phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với Quốc phòng và an ninh,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm
chủ, nhằm giữ vững hòa bình ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động
xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực đế Quốc, phản động; bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa 17
- Nền quốc phòng toàn dân: Là sức mạnh quốc phòng của đất nước được xây
dựng trên nền tảng nhân lực, vật lực, tinh thần mang tính chất toàn dân, toàn diện,
độc lập, tự chủ, tự cường.
- An ninh: Theo từ điển tiếng Việt thì an ninh là “tình hình trật tự xã hội bình
thường, yên ổn, không có rối loạn” hoặc “yên ổn về mặt trật tự xã hội, không có rối
loạn”. Như vậy, an ninh thực chất là sự an toàn, ổn định của các lợi ích cốt lõi của
cộng đồng, của xã hội hay của một quốc gia dân tộc.
- An ninh nhân dân: Là sự an toàn, ổn định của các lợi ích cốt lõi với sự tham
gia của toàn dân, do nhân dân tiến hành, lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt,
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp
vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm
an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, cùng với quốc phòng toàn dân bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân
Việt Nam có vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh quốc
gia có nhiệm vụ: đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động xâm phạm an ninh
quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân.
- Nền an ninh nhân dân: Là sự an toàn, ổn định của các lợi ích cốt lõi của quốc
gia trên cơ sở sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng
nước, giữ nước của dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia,
trong đó lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt. 2. Vị trí vai trò
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh có vị trí
chiến lược của cách mạng nhằm tạo ra sức mạnh để ngăn ngừa, đẩy lùi, đánh bại mọi
âm mưu, hành động xâm hại đến mục tiêu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã khẳng định: "Trong khi đặt trọng tâm
vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng và an ninh coi đó là nhiệm vụ chiến
lược gắn bó chặt chẽ" 3. Đặc trưng
Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân của nước ta có những đặc trưng sau:
- Nền Quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chỉ có mục đích duy nhất là tự vệ chính đáng
Đặc trưng này thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc
phòng, an ninh của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa với các nước khác.
Chúng ta xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh là
để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc của nhân dân.
- Đó là nền quốc phòng, an ninh vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành
Đặc trưng vì dân, của dân, do dân của nền quốc phòng, an ninh nước ta là thể
hiện truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. 18
Đặc trưng vì dân, của dân, do dân và mục đích tự vệ của nền quốc phòng, an
ninh cho phép ta huy động mọi người, mọi tổ chức, mọi lực lượng đều thực hiện xây
dựng nền quốc phòng, an ninh và đấu tranh quốc phòng, an ninh. Đồng thời, đường
lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh phải xuất phát từ lợi
ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân.
- Đó là nền quốc phòng, an ninh có sức mạnh tổng hợp do nhiều yếu tố tạo
thành sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng, an ninh nước ta tạo thành bởi rất nhiều
yếu tố như chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, khoa học, quân sự, an ninh,…
Cả ở trong nước, ngoài nước, của dân tộc và của thời đại, trong đó những yếu
tố bên trong của dân tộc bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Sức mạnh tổng hợp của
nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là cơ sở, tiền đề và là biện pháp để nhân
dân đánh thắng kẻ thù xâm lược.
- Nền quốc phòng, an ninh nhân dân được xây dựng toàn diện và từng bước hiện đại
Việc tạo ra sức mạnh quốc phòng, an ninh không chỉ ở sức mạnh quân sự, an
ninh mà phải huy động được sức mạnh của toàn dân về mọi mặt chính trị, quân sự, an
ninh, kinh tế, văn hoá, khoa học. Phải kết hợp hữu cơ giữa quốc phòng, an ninh với
các mặt hoạt động xây dựng đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với
hoạt động đối ngoại.
Xây dựng nền quốc phòng, an ninh toàn diện phải đi đôi với xây dựng nền
quốc phòng, an ninh hiện đại là một tất yếu khách quan. Xây dựng quân đội nhân
dân, công an nhân dân từng bước hiện đại. Kết hợp giữa xây dựng con người có giác
ngộ chính trị, có tri thức với vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Phát triển công nghiệp
quốc phòng, từng bước trang bị hiện đại cho các lực lượng vũ trang nhân dân. Kết
hợp chặt chẽ phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh.
- Nền quốc phòng toàn dân gắn chặt với nền an ninh nhân dân
Nền quốc phòng và nền an ninh nhân dân của chúng ta đều được xây dựng
nhằm mục đích tự vệ, đều phải chống thù trong, giặc ngoài để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giữa nền quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân chỉ khác nhau về
phương thức tổ chức lực lượng, hoạt động cụ thể, theo mục tiêu cụ thể được phân công.
Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh phải thường xuyên và tiến hành
đồng bộ, thống nhất từ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch xây dựng, hoạt động
của cả nước cũng như từng vùng, miền, địa phương, mọi cấp, mọi ngành.
II. XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, AN NINH NHÂN
DÂN VỮNG MẠNH ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Mục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh hiện nay
Tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế,
văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ để giữ vững hòa bình, ổn định, đẩy lùi, ngăn
chặn nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và quy mô. 19
Tạo thế chủ động cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước,
nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh
chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá, xã hội; giữ vững ổn định chính
trị, môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh hiện nay
a) Xây dựng tiềm lực nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân đáp ứng yêu
cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tiềm lực quốc phòng, an ninh là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính có thể
huy động để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Tiềm lực quốc phòng, an ninh được thể hiện ở trên tất cả lĩnh vực của đời sống
xã hội, nhưng tập trung ở tiềm lực chính trị, tinh thần; tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa
học, công nghệ; tiềm lực quân sự, an ninh. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh là
tập trung xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần; tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa học,
công nghệ và xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh.
- Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần
+ Tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân
là khả năng về chính trị, tinh thần có thể huy động tạo nên sức mạnh để thực hiện
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Tiềm lực chính trị, tinh thần được biểu hiện ở năng
lực lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước; ý chí, quyết tâm của nhân
dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong mọi điều kiện hoàn cảnh, tình huống nhất định.
+ Tiềm lực chính trị, tinh thần là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của quốc
phòng, an ninh, có tác động to lớn đến hiệu quả xây dựng và sử dụng các tiềm lực
khác, là cơ sở, nền tảng của tiềm lực quân sự, an ninh.
+ Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, an ninh
nhân dân cần tập trung: Xây dựng tình yêu quê hương đất nước, niềm tin đối với sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng
hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao cảnh giác cách mạng; giữ vững ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt giáo dục quốc phòng, an ninh.
- Xây dựng tiềm lực kinh tế
+ Tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là khả năng
về kinh tế của đất nước có thể khai thác, huy động nhằm phục vụ cho quốc phòng, an ninh.
+ Tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được biểu
hiện ở nhân lực, vật lực, tài lực của quốc gia có thể huy động cho quốc phòng, an
ninh và tính cơ động của nền kinh tế đất nước trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Tiềm
lực kinh tế tạo sức mạnh vật chất cho nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, là
cơ sở vật chất của các tiềm lực khác. 20