1
LỜI NÓI ĐU
Thc hin tinh thn ch đo ca Ban thư Trung ương Đng Cộng sn Vit Nam
ti Kết lun s 94 KL/TW, ngày 28/3/2014, v vic tiếp tc đi mới hc tp lý lun chính -
tr trong h thng giáo dc quc dân và Quyết đnh ca Bộ Giáo dc và Đào to v vic
thành lp Hi đng biên son giáo trình Kinh tế chính tr Mác Lênin theo tinh thn đi -
mới và nâng cao cht lượng giáo dc đi hc dành cho h cao đng sư phm và đi hc,
- Lênin đã biên son và cho ra mt cun giáo trình dành cho h đào to cao đng sư phm,
đi hc không chuyên lý lun chính tr.
Ni dung cun giáo trình này được biên son theo tinh thn trung thành với ch
nghĩa Mác Lênin, cơ bn, cp nht, đng thời có s tiếp thu tinh hoa kết qu nghiên cu -
mới nht ca khoa hc kinh tế chính tr trên thế giới c v ni dung và hình thc trình bày
ca mt cun giáo trình khoa hc kinh tế chính tr trong điu kin mới.
Theo tinh thn đi mới ni dung và phương pháp giáo dc đi hc, cun giáo trình
được trình bày gm 6 chương nhm đáp ng quy đnh ca Bộ Giáo dc và Đào to là thời
lượng 2 tín ch. So với các giáo trình đã tng xut bn trong các ln gn đây, giáo trình
kinh tế chính tr Mác Lênin ln này được trình bày theo th thc mới nhm phát huy -
nhng giá tr bn vng ca kinh tế chính tr Mác Lênin đng thời nâng cao tính thiết -
thc đi với vic hình thành k năng, tư duy, tm nhìn ca sinh viên khi tham gia h
thng các hot đng kinh tế xã hi sau khi tt nghip chương trình đào to ti nhà trường.
Với mc tiêu như vy, h thng các chuyên đ được thiết kế lôgíc theo nguyên tc
sư phm ca mt cun giáo trình bc đi hc và toát lên hai mng tri thc cơ bn ca kinh
tế chính tr Mác Lênin đó là nhng tri thc kinh tế chính tr v phương thc sn xut tư
bn ch nghĩa và nhng vn đ kinh tế chính tr ca thời k quá đ lên ch nghĩa xã hi
Vit Nam.
Tham gia biên son cun giáo trình này là tp th các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ
đang ging dy trong các Trưng Đi hc, Các hc vin trong h thng giáo
2
dc quc dân. Với tinh thn nghiêm cn ca vic xây dng giáo trình bc Đi hc, Hi
đng các nhà giáo đã thc hin ly ý kiến v khung chương trình và đ cương chi tiết môn
hc t đ ngũ các nhà giáo đang trc tiếp tham gia ging dy ti hơn hai mươi trường đi
hc trên phm vi c nước. Trên cơ sđó, giáo trình được biên son với s n lc và tâm
huyết ca các nhà khoa hc trong Hi đng biên son. Mc dù vy, chc chn không
tránh khi thiếu sót, Hi đng mong nhn được s chia s v tri thc khoa hc t phía đi
ngũ các nhà giáo, nhà khoa hc đ cun giáo trình được hoàn chnh hơn.
Thư t góp ý xin gi v: Bộ Giáo dc và Đào to, 49 Đi Cồ Vit, Hà Ni.
TM HI ĐNG BIÊN SON
CH TCH
PGS.TS Ngô Tun Nghĩa
3
Chương 1
ĐI NG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU VÀ CHC NĂNG
CA KINH T CHÍNH TR C - LÊNIN
Như tên gi ca chương, mc đích ca chương 1 s trang b cho sinh viên nhng tri
thc cơ bn v s ra đời và phát trin ca môn hc kinh tế chính tr Mác Lênin, v đi -
tượng nghiên cu, phương pháp nghiên cu và chc năng ca khoa hc kinh tế chính tr
Mác - Lênin trong nhn thc cũng như trong thc tin. Trên cơ snhn thc như vy s
giúp cho sinh viên hình dung được mt cách sáng rõ ni dung khoa hc ca môn hc kinh
tế chính tr Mác Lênin và ý nghĩa ca môn hc đi với bn thân mi người lao đng -
cũng như qun lý khi tham gia các hot đng kinh tế - xã hi.
KHÁI QUÁT S HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH T CHÍNH
TRỊ MÁC - LÊNIN
Trong dòng chy tư tưởng kinh tế ca nhân loi k t thời k c đi cho tới ngày
nay, do đc thù trình đ phát trin ng với mi giai đon lch s, mi nn sn xut xã hi
mà hình thành nhiu tư tưởng, trường phái lý lun v kinh tế khác nhau.
Mc dù có s đa dng v ni hàm lý lun, ni dung tiếp cn và đi tượng nghiên
cu riêng phn ánh trình đ nhn thc, lp trường tư tưởng và quan đim lợi ích ca mi
trường phái, song các chuyên ngành khoa hc kinh tế nói chung và khoa hc kinh tế chính
tr nói riêng đu có đim chung ch chúng là kết qu ca quá trình không ngng hoàn
thin. c phm trù, khái nim khoa hc với tư cách là kết qu nghiên cu và phát trin
khoa hc kinh tế chính tr giai đon sau đu có s kế tha mt cách sáng to trên cơ s
nhng tin đ lý lun đã được khám phá giai đon trước đó, đng thời da trên cơ s
kết qu tng kết thc tin kinh tế ca xã hi đang din ra. Kinh tế chính tr Mác - nin,
mt trong nhng môn khoa hc kinh tế chính tr ca nhân loi, được hình thành và phát
trin theo logic lch s như vy.
V mt thut ng, thut ng khoa hc được Kinh tế chính tr (political economy)
xut hin vào đu thế k th XVII trong tác phm đưc Chuyên lun v kinh tế chính tr
xut bn năm 1615. Đây là tác phm mang tính lý lun kinh tế chính tr ca nhà kinh tế
người Pháp (thuc trường phái trng thương Pháp) có tên gi là A.Mông Crêchiên
(A.Montchretien). Trong tác phm này, tác gi đ xut môn khoa
4
hc mới khoa hc Tuy nhiên, tác phm này mới ch là nhng phác tho - kinh tế chính tr.
ban đu v môn hc kinh tế chính tr. Phi k tới thế k XVIII, với s xut hin lý lun
ca A. Smith mt nhà kinh tế hc nước Anh tế chính tr mới trthành môn - - thì kinh
môn hc có tính h thng với các phm trù, khái nim chuyên ngành. K t đó, kinh tế
chính tr dn tr thành mt môn khoa hc và đưc phát trin cho đến tn ngày nay.
Xét mt cách khái quát, dòng chy tư tưởng kinh tế ca loài người có th được mô
t như sau: T thi c đi đến cui thế k XVIII và t sau thế k th XVIII đến nay.
Trong thi gian t thời c đi đến cui thế k th XVIII có nhng tư tưởng kinh tế
thời k c, trung đi (t thời c đi đến thế k th XV) ch nghĩa trng thương (t thế -
k th XV đến cui thế k XVII, ni bt là lý thuyết kinh tế ca các nhà kinh tế nước
Anh, Pháp và Italia) - ch nghĩa trng nông (t gia thế k th XVII đến na đu thế k
XVIII, ni bt là lý thuyết kinh tế ca các nhà kinh tế Pháp) kinh tế chính tr tư sn c -
đin Anh (t gia thế k XVII đến cui thế k XVIII).
Trong thời k c, trung đi ca lch s nhân loi, do trình đ phát trin khách quan
ca các nn sn xut nên, nhìn chung mới có ri rác các tư tưởng kinh tế được phn ánh
trong các công trình ca các nhà tư tưởng, chưa hình thành h thng lý thuyết kinh tế
chính tr hoàn chnh vi nghĩa bao hàm các phm trù, khái nim khoa hc.
Chủ nghĩa trng thương là h thng lý lun kinh tế chính tr đu tiên nghiên cu v
nn sn xut tư bn ch nghĩa. Tư tưởng trng thương ch nghĩa th hin tp trung thông
qua các chính sách kinh tế ca nhà nước ca giai cp tư sn trong thời k hình thành ban
đu. Chủ nghĩa trng thương coi trng vai trò ca hot đng thương mi. c đi biu tiêu
biu ca ch nghĩa trng thương bao gm: Starfod (Anh); Thomas Mun (Anh); Xcaphuri
(Italia); Antonso Serra (Italia); Antoine Montchretien (Pháp).
Chủ nghĩa trng nông là h thng lý lun kinh tế chính tr nhn mnh vai trò ca
sn xut nông nghip. Coi trng shu tư nhân và t do kinh tế. Đi biu tiêu biu ca
ch nghĩa trng nông Pháp gm: Francois Queney; Turgot; Boisguillebert.
5
Kinh tế chính tr c đin Anh là h thng lý lun kinh tế ca các nhà kinh tế tư sn
trình bày mt cách h thng các phm trù kinh tế trong nn kinh tế th trường như hàng
hóa, giá tr, tin t, giá c, tin công, lợi nhun đ rút ra nhng quy lut vn đng ca
nn kinh tế th trường. Đi biu tiêu biu ca kinh tế chính tr tư sn c đin Anh gm:
W.Petty; A. Smith; D. Recardo.
T sau thế k XVIII đến nay, lch s tư tưởng kinh tế ca nhân loi chng kiến các
con đường phát trin đa dng với các dòng lý thuyết kinh tế khác nhau. Cụ th:
Dòng lý thuyết kinh tế chính tr ca C.Mác (1818 1883) kế tha trc tiếp nhng -
giá tr khoa hc ca kinh tế chính tr tư sn c đin Anh đ phát trin lý lun, phân tích
mt cách khoa hc, toàn din v nn sn xut tư bn ch nghĩa, tìm ra nhng quy lut
kinh tế chi phi s hình thành, phát trin và lun chng vai trò lch s ca phương thc
sn xut tư bn ch nghĩa. Cùng với C.Mác, Ph. Ănghen cũng là người có công lớn trong
vic công b lý lun kinh tế chính tr, mt trong ba b phn cu thành ca ch nghĩa Mác.
Lý lun Kinh tế chính tr ca C.Mác và Ph. Ănghen (1820 ) được th hin tp trung -1895
và cô đng nht trong . Trong đó, C.Mác trình bày mt cách khoa hc với tư B Tư bn
cách là mt chnh th các phm trù cơ bn ca nn kinh tế th trường như hàng hóa, tin
t, giá tr thng dư, tích lu, lợi nhun, lợi tc, đa tô, tư bn, cnh tranh cùng các quy lut
kinh tế cơ bn cũng như các quan h xã hi gia các giai cp trong nn kinh tế th trường
dưới bi cnh nn sn xut tư bn ch nghĩa. c lý lun kinh tế chính tr ca C.Mác nêu
trên được khái quát thành các hc thuyết lớn như hc thuyết giá tr, hc thuyết giá tr
thng dư, hc thuyết tích lu, hc thuyết v lợi nhun, hc thuyết v đa tô Với hc
thuyết giá tr thng dư nói riêng và Bộ Tư bn nói chung C.Mác đã xây dng cơ skhoa
hc, cách mng cho s hình thành ch nghĩa Mác nói chung và nn tng tư tưởng cho giai
cp công nhân. Hc thuyết giá tr thng dư ca C.Mác đng thời cũng là cơ skhoa hc
lun chng cho vai trò lch s ca phương thc sn xut tư bn ch nghĩa.
Sau khi C.Mác và Ph. Ănghen qua đời, V.I.Lênin tiếp tc kế tha, b sung, phát
trin lý lun kinh tế chính tr theo phương pháp lun ca C.Mác và có nhiu đóng góp
khoa hc đc bit quan trng. Trong đó ni bt là kết qu nghiên cu, ch ra nhng đc
đim kinh tế ca ch nghĩa tư bn giai đon cui thế k XIX, đu thế k XX, nhng vn
đ kinh tế chính tr cơ bn ca thời k quá đ lên ch nghĩa xã
6
hi... Với ý nghĩa đó, dòng lý thuyết kinh tế chính tr này được đnh danh vi tên gi
kinh tế chính tr Mác - nin.
Sau khi V.I.nin qua đời, các nhà nghiên cu kinh tế ca các Đng Cộng sn tiếp
tc nghiên cu và b sung, phát trin kinh tế chính tr Mác Lênin cho đến ngày nay. -
Cùng với lý lun ca các Đng Cộng sn, hin nay, trên thế giới có rt nhiu nhà kinh tế
nghiên cu kinh tế chính tr theo cách tiếp cn ca kinh tế chính tr ca C.Mác với nhiu
công trình được công b trên khp thế giới. c công trình nghiên cu đó được xếp vào
nhánh Kinh tế chính tr Mácxít (Maxist nhng người theo ch nghĩa- Mác).
Dòng lý thuyết kinh tế kế tha nhng lun đim mang tính khái quát tâm lý, hành
vi ca kinh tế chính tr tư sn c đin Anh (dòng lý thuyết này được C.Mác gi là nhng
nhà kinh tế chính tr tm thường) không đi sâu vào phân tích, lun gii các quan h xã hi
trong quá trình sn xut cũng như vai trò lch s ca ch nghĩa tư bn to ra cách tiếp cn
khác với cách tiếp cn ca C.Mác. S kế tha này to cơ shình thành nên các nhánh lý
thuyết kinh tế đi sâu vào hành vi người tiêu dùng, hành vi ca nhà sn xut (cp đ vi mô)
hoc các mi quan h gia các đi lượng lớn ca nn kinh tế (cp đ vĩ mô). Dòng lý
thuyết này được xây dng và phát trin bởi rt nhiu nhà kinh tế và nhiu trường phái lý
thuyết kinh tế ca các quc gia khác nhau phát trin t thế k XIX cho đến ngày nay.
Cần lưu ý thêm, trong giai đon t thế k th XV đến thế k th XIX, còn phi k
thêm tới dòng lý thuyết kinh tế ca các nhà tư tưởng xã hi ch nghĩa không tưởng (thế
k XV XIX) và kinh tế chính tr tiu tư sn (cui thế k th XIX). Dòng lý thuyết kinh tế -
này hướng vào phê phán nhng khuyết tt ca ch nghĩa tư bn song nhìn chung các quan
đim da trên cơ stình cm cá nhân, chu nh hưởng ca ch nghĩa nhân đo, không ch
ra được các quy lut kinh tế cơ bn ca nn kinh tế th trường tư bn ch nghĩa và do đó
không lun chng đưc vai trò lch s ca ch nghĩa tư bn trong quá trình phát trin ca
nhân loi.
Như vy, kinh tế chính tr Mác Lênin là mt trong nhng dòng lý thuyết kinh tế -
chính tr nm trong dòng chy phát trin tư tưởng kinh tế ca nhân loi, được hình thành
và đt nn móng bởi C.Mác Ph. Ănghen, da trên cơ skế tha và phát trin nhng giá -
tr khoa hc ca kinh tế chính tr ca nhân loi trước đó, trc tiếp là nhng giá tr khoa
hc ca kinh tế chính tr tư sn c đin Anh, được V.I.Lênin kế tha và phát trin. Kinh
tế tr chính Mác - nin có quá trình phát
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
trin liên tc k t gia thế k th XIX đến nay. Kinh tế chính tr Mác - Lênin là mt
môn khoa hc trong h thng các môn khoa hc kinh tế ca nhân loi.
ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KINH T CHÍNH
TRỊ MÁC - LÊNIN
Đi tưng nghiên cu ca kinh tế chính tr Mác - Lênin
Với tư cách là mt môn khoa hc, kinh tế chính tr Mác Lênin có đi tượng -
nghiên cu riêng.
Như trên đã đ cp, s hình thành và phát trin ca kinh tế chính tr là mt quá
trình liên tc trong dòng chy tư tưởng kinh tế ca nhân loi. Do đó, mi mt giai đon
phát trin ca nn sn xut xã hi, do nhn thc và thế gii quan ca mi trưng phái kinh
tế mà có các quan nim khác nhau v đi tượng nghiên cu ca kinh tế chính tr khác
nhau. Vì vy, đ hiu rõ hơn v đi tượng nghiên cu ca môn hc kinh tế chính tr Mác -
Lênin, vic đim li các quan đim trước C.Mác v đi tượng nghiên cu ca kinh tế
chính tr là rt cn thiết. C th là:
Trong lý lun ca ch nghĩa trng thương thì lĩnh vc lưu thông (trng tâm là
ngoi thương) đưc coi là đi tượng nghiên cu ca kinh tế chính tr.
Trong h thng lý lun ca ch nghĩa trng nông thì lĩnh vc sn xut nông nghip
được coi là đi tưng nghiên cu ca kinh tế chính tr.
Trong lý lun ca kinh tế chính tr tư sn c đin Anh thì đi tượng nghiên cu ca
kinh tế chính tr là bn cht và ngun gc ca ca ci và s giàu có ca các quc gia.
Hp 1.1. Quan nim ca A.Smith v đi tưng nghiên cu ca Kinh tế chính tr
Political economy considered as a branch of the science of a statesman or legislator
proposes two distict objects, first, to supply a plentiful revenue or subsistence for the
people, or more properly to enable them to provide such revenue or subsistence for
themselves; and secondly, to suply the state or commonwealth with a revenue sufficient
for the public service. It proposes to enrich both the people and sovereign.
Kinh tế chính tr là mt ngành khoa hc gn vi chính khách hay nhà lp pháp
hưng ti hai mc tiêu, th nht là to ra ngun thu nhp di dào và sinh kế phong phú
cho ngưi dân, hay chính xác hơn là to điu kin đ ngưi dân t to ra thu nhp và
sinh kế cho bn thân mình, th hai là to ra kh năng có đưc ngun ngân sách đy đ
cho nhà nưc hay toàn b nhân dân đ thc hin nhim v công. Kinh tế chính tr hưng
ti làm cho c ngưi dân cũng như quc gia tr nên giàu có.
Ngun: A.Smith (1776), An Inquiry in to the Nature and Causes of the Wealth of
Nations.
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
8
c quan đim nêu trên mc dù chưa thc s khoa hc, chưa toàn din song chúng
có giá tr lch s và phn ánh trình đ phát trin ca khoa hc kinh tế chính tr ca nhân
loi trưc C.Mác.
Kế tha nhng thành tu khoa hc kinh tế chính tr ca nhân loi, da trên quan
đim duy vt v lch s, trong quan nim ca mình, C.Mác và Ph. Ănghen quan nim
kinh tế chính tr có th được hiu theo hai nghĩa. Nghĩa rng và nghĩa hp.
Theo nghĩa hp, kinh tế chính tr nghiên cu v mt phương thc sn xut c th
và kết qu ca vic nghiên cu là khám phá ra nhng quy lut kinh tế ca phương thc
sn xut y. Nghĩa là, theo C.Mác, đi tượng nghiên cu ca kinh tế chính tr là nn sn
xut có tính cht xã hi. Cụ th, hơn trong b Tư bn C.Mác nhn mnh rng, đi tượng
nghiên cu ca b Tư bn là phương thc sn xut tư bn ch nghĩa và nhng quan h
sn xut trao đi và thích ng với phương thc sn xut tư bn ch nghĩa và mc đích
cui cùng ca tác phm Tư bn là tìm ra quy lut vn đng kinh tế ca xã hi y.
Theo nghĩa rng, Ph.Ănghen cho rng: Kinh tế chính tr, theo nghĩa rng nht, là
khoa hc v nhng quy lut chi phi s vt cht và s nhng tư liu sinh sn xut trao đi
hot vt cht trong xã hi loài ngườiNhng điu kin trong đó người ta sn xut sn
phm và trao đi chúng đu thay đi tu tng nước, và trong mi nước li thay đi tu
tng thế h. Bởi vy, không th có cùng mt môn kinh tế chính tr duy nht cho tt c mi
nước và tt c mi thời đi lch smôn kinh tế chính tr, v thc cht là mt môn khoa
hc có tính lch s nó nghiên cu trước hết là nhng quy lut đc thù ca tng giai
đon phát trin ca và ca , và ch sau khi nghiên cu như thếsn xut trao đi xong xuôi
ri nó mới có th xác đnh ra mt vài quy lut hoàn toàn có tính cht chung, thích dng,
nói chung cho sn xut và trao đi
1
.
1
C.Mác và Ph. Ănghen: Nxb Chính tr quc gia, Hà Ni, 1994, t.20, tr.207,208.Toàn tp,
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
9
Theo quan đim ca V.I.Lênin, kinh tế chính tr không nghiên cu s sn xut mà
nghiên cu nhng quan h xã hi gia người với người trong sn xut, nghiên cu chế đ
xã hi ca sn xut
2
.
Tng hợp các quan đim ca C.Mác, Ph. Ănghen; V.I.Lênin nêu trên có th rút ra:
Đi tưng nghiên cu ca kinh tế chính tr Mác Lênin là các quan h xã hi gia ngưi -
vi ngưi trong sn xut và trao đi mà các quan h này đưc đt trong s liên h cht
ch vi s phát trin ca lc lưng sn xut và kiến trúc thưng tng tương ng.
Như vy, kinh tế chính tr Mác Lênin xác đnh đi tượng nghiên cu nm trong -
nn sn xut cơ sca s tn ti và phát trin ca xã hi loài người. Mi nn sn xut -
đu có s thng nht bin chng ca các yếu t cơ bn bao gm: lc lượng sn xut (tư i)
liu sn xut và sc lao đng ca con người) và các quan h gia con người với con ii)
người trong quá trình sn xut và trao đi.
Trong hai yếu t cơ bn đó, kinh tế chính tr Mác Lênin nghiên cu quan h gia -
con người với con người trong sn xut và trao đi, không nghiên cu bn thân lc lượng
sn xut.
Tuy nhiên, cn lưu ý rng, các quan h gia con người với con người trong quá
trình sn xut và trao đi chu s tác đng quy đnh bởi trình đ phát trin ca lc lượng
sn xut. Cho nên, mc dù không nghiên cu lc lượng sn xut, song, kinh tế chính tr
Mác - Lênin nghiên cu quan h gia con người với con người trong sn xut và trao đi
trong mi liên h vi s phát trin ca trình đ lc lượng sn xut.
n cnh chu s tác đng bin chng bởi trình đ lc lưng sn xut, các quan h
xã hi gia con người với con người trong quá trình sn xut và trao đi còn có tác đng
bin chng với kiến trúc thượng tng xã hi (nhà nước, chính tr, pháp lut) cho nên,
khi nghiên cu quan h gia con người với con người trong sn xut và trao đi, kinh tế
chính tr Mác Lênin không tách bit quan h y ra khi s liên h bin chng với kiến -
trúc thưng tng tương ng mà đt quan h y trong s liên h vi kiến trúc thưng tng.
Vic nghiên cu ca kinh tế chính tr không phi ch đ nghiên cu các quan h
gia con ngưi vi con người trong sn xut và trao đi, mc đích nghiên cu
2
V.I.Lênin: Toàn tp, Nxb Tiến b, Maxcơva, 1976, t.3, tr.58.
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
10
â
á
ca kinh tế chính tr Mác - Lênin là nhm khám phá các quy lut kinh tế chi phi các quan
h gia người với người trong sn xut và trao đi, t đó vn dng các quy lut y đ gii
quyết hài hòa các quan h lợi ích, to đng lc cho con người sáng to, t đó mà góp phn
thúc đy văn minh và s phát trin toàn din ca xã hi. Theo nghĩa như vy, Kinh tế
chính tr không đơn thun ch là khoa hc v thúc đy s giàu có hơn thế, kinh tế mà
chính tr Mác Lênin còn góp phn thúc đy trình đ văn minh và phát trin toàn din ca -
xã hi.
Quy lut kinh tế phn ánh nhng mi liên h bn cht, khách quan, lp đi lp li
ca các hin tưng và quá trình kinh tế.
Quy lut kinh tế mang tính khách quan, là quy lut xã hi, do đó, s tác đng ca
các quy lut kinh tế phi thông qua các hot đng ca con người trong xã hi với nhng
đng cơ lợi ích khác nhau. Quy lut kinh tế tác đng vào các đng cơ lợi ích ca con
người t đó mà điu chnh hành vi kinh tế ca con người. Chính bởi l đó, khi vn dng
đúng các quy lut kinh tế s to ra các quan h lợi ích kinh tế hài hòa, t đó to đng lc
thúc đy s sáng to ca con người trong xã hi. Thông qua đó mà thúc đy s giàu có và
văn minh ca xã hi.
Hp 1.2. Phân bit quy lut kinh tế và chính sách kinh tế
Quy lut kinh tế tn ti khách quan, không ph thuc vào ý chí ca con ngưi, con
ngưi không th th tiêu quy lut kinh tế, nhưng có th nhn thc và vn dng quy lut
kinh tế đ phc v li ích ca mình.
Chính sách kinh tế là sn phm ch quan ca con ngưi đưc hình thành trên cơ s
vn dng các quy lut kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có th phù hp, hoc không phù hp
n
vi quy lut kinh tế khách quan.
ô,
Ngun: Hi đng trung ương ch đo biên son giáo trình quc gia các b môn
h
khoa hc Mác - nin (1999), Giáo trình Kinh tế chính tr Mác - Lênin, Nxb Chính tr quc
gia, H, tr.31.
c.
h
ác
quan h gia con người với con người trong sn xut và trao đi, có tác đng chiu sâu,
bn cht, toàn din, lâu dài. Thế mnh ca các khoa hc kinh tế khác là ch ra nhng hin
tượng và xu hướng hot đng kinh tế c th trên b mt xã hi, có tác đng trc tiếp, x
lý linh hot các hot đng kinh tế trên b mt xã hi. Vì vy, s
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
11
là thiếu hiu biết nếu đi lp cc đoan kinh tế chính tr Mác - Lênin với các khoa hc kinh
tế khác. Cần nm vng nhng nguyên lý ca kinh tế chính tr Mác Lênin đ có cơ s -
khoa hc phương pháp lun cho các chính sách kinh tế n đnh, xuyên sut. Đng thời,
tiếp thu có chn lc nhng thành tu ca các khoa hc kinh tế khác đ góp phn gii
quyết nhng tình hung mang tính c th.
Phương pháp nghiên cu ca kinh tế chính tr c - Lênin
Với tư cách là mt môn khoa hc, kinh tế chính tr Mác Lênin s dng các -
phương pháp nghiên cu bao gm:
Phương pháp lun duy vt bin chng. Đây là phương pháp yêu cu vic nghiên
cu các khía cnh thuc đi tượng nghiên cu ca kinh tế chính tr phi đt trong mi liên
h tác đng qua li ln nhau và phát trin không ngng. Đây là phương pháp lun đc bit
quan trng được áp dng trong nghiên cu kinh tế chính tr đ giúp cho các kết qu
nghiên cu rút ra tránh rơi vào tình trng ch quan, duy ý chí, vi phm quy lut kinh tế.
Phương pháp logíc kết hợp với lch s, đây là phương pháp được s dng trong
nhiu ngành khoa hc xã hi cũng như trong kinh tế chính tr Mác Lênin. Phương - pháp
logíc kết hợp với lch s cho phép khám phá bn cht, các xu hướng và quy lut kinh tế
gn với tiến trình hình thành, phát trin ca chúng, cho phép rút ra nhng kết qu nghiên
cu mang tính lôgíc t trong tiến trình lch s ca các quan h gia con người với con
người trong quá trình sn xut và trao đi.
Phương pháp tru tượng hóa khoa hc. Do kinh tế chính tr Mác - nin nghiên
cu các quan h xã hi gia con người với con người trong quá trình sn xut và trao đi
ca mt nn sn xut nht đnh. Đây là các quan h tru tượng. Vì vy, khác với các môn
khoa hc khác, đó, đ tìm ra bn cht, tính quy lut và quy lut ca đi tượng nghiên
cu, người ta có th s dng các bin pháp thc nghim; đi với kinh tế chính tr Mác -
Lênin, vic thc nghim là không th. Vì vy, phương pháp nghiên cu đc thù ca kinh
tế chính tr Mác Lênin là phương pháp tru tượng hóa khoa hc. L dĩ nhiên, tru tượng -
hóa khoa hc cũng được s dng nhiu các môn khoa hc khác. Tuy nhiên, với kinh tế
chính tr Mác - nin , đây là phương pháp ph biến.
Phương pháp tru tượng hóa khoa hc là mt trong nhng phương pháp nghiên
cu khoa hc xã hi, trong đó có kinh tế chính tr Mác Lênin, mà khi s dng phương -
pháp này đòi hi s gt b đi nhng yếu t ngu nhiên xy ra trong
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
12
các hin tượng quá trình nghiên cu, đ t đó tách ra được nhng hin tượng bn vng,
mang tính đin hình, n đnh ca đi tượng nghiên cu. T đó mà nm được bn cht,
xây dng được các phm trù và khám phá được tính quy lut và quy lut chi phi s vn
đng ca đi tưng nghiên cu.
Cần chú ý rng, khi s dng phương pháp tru tượng hóa khoa hc, cn phi biết
xác đnh giới hn ca s tru tượng hóa. Không được tu tin, ch quan loi b nhng
ni dung hin thc ca đi tượng nghiên cu gây sai lch bn cht ca đi tượng nghiên
cu.
CHC NĂNG CA KINH T CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Chc năng nhn thc
Kinh tế chính tr Mác Lênin là mt b phn trong ba b phn ca ch nghĩa Mác - -
Lênin. Ba b phn đó là: Triết hc Mác Lênin; Kinh tế chính tr Mác Lênin; Chủ nghĩa - -
xã hi khoa hc. Với tư cách là mt môn khoa hc lý lun thuc khoa hc kinh tế, kinh tế
chính tr Mác Lênin cung cp h thng tri thc khoa hc v s vn đng ca các quan h -
gia người với người trong sn xut và trao đi; v s liên h tác đng bin chng gia
các quan h gia người với người trong sn xut và trao đi với lc lượng sn xut và
kiến trúc thượng tng tương ng trong nhng nc thang phát trin khác nhau ca nn sn
xut xã hi. T đó, kinh tế chính tr Mác nin khám phá nhng quy lut chi phi s -
phát trin ca sn xut và trao đi. Nhng tri thc như vy s giúp khám phá và nhn thc
mt cách đúng đn lch s phát trin ca sn xut và phát trin ca nhân loi nói chung,
v nn sn xut tư bn ch nghĩa và thời k quá đ lên ch nghĩa xã hi nói riêng. Nhng
tri thc ca kinh tế chính tr với tư cách là tri thc lý lun nn tng s giúp nhn thc sâu
sc v bn cht ca các hin tượng, quá trình kinh tế din ra trên b mt nn kinh tế xã
hi; phân tích làm rõ nhng nguyên nhân sâu xa ca s giàu có ca các quc gia trong s
liên h với thế giới; khái quát nhng trin vng và xu hướng phát trin kinh tế xã hi
trong nhng giai đon lch s và nhng bi cnh phát trin mới.
Với ý nghĩa như vy, nhng tri thc ca kinh tế chính tr Mác Lênin s to lp cơ -
skhoa hc, nn tng lý lun, phương hướng cho s hình thành các chính sách kinh tế,
đnh hướng chiến lược cho s phát trin kinh tế nói riêng và thúc đy văn minh xã hi nói
chung. Trong trường hợp Vit Nam, nếu các chính sách kinh tế được hoch đnh mà
không da trên cơ s tri thc lý lun ca kinh tế chính tr Mác
- Lênin s khó có th mang li hiu qu thúc đy phát trin kinh tế - dài. xã hi lâu
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
13
Chc năng tư tưng
Kinh tế chính tr Mác góp phn to lp nn tng tư tưởng cng sn cho - nin
nhng người lao đng tiến b và yêu chung t do, yêu chung hòa bình, cng c nim
tin cho nhng ai phn đu vì mc tiêu dân giàu, nước mnh, xã hi dân ch, công bng,
văn minh. Kinh tế chính tr Mác in góp phn xây dng thế gii quan khoa hc cho - n
nhng ai có mong mun xây dng mt chế đ xã hi tt đp, hướng tới gii phóng con
người, xóa b dn nhng áp bc, bt công gia con người với con người.
Chc năng thc tin
Kết qu nghiên cu ca kinh tế chính tr Mác Lênin là khám phá ra nhng quy -
lut và tính quy lut chi phi s vn đng ca các quan h gia con người với con người
trong sn xut và trao đi. Do vy, khi nhn thc được các quy lut s giúp cho người lao
đng cũng như nhng nhà hoch đnh chính sách biết vn dng các quy lut kinh tế y
vào trong thc tin hot đng lao đng cũng như qun tr quc gia ca mình. Quá trình
vn dng đúng các quy lut kinh tế khách quan thông qua điu chnh hành vi cá nhân
hoc các chính sách kinh tế s góp phn thúc đy nn kinh tế xã hi phát trin theo -
hướng tiến b. Kinh tế chính tr Mác Lênin, theo nghĩa đó mang trong nó chc năng ci -
to thc tin, thúc đy văn minh ca xã hi. Thông qua gii quyết hài hòa các quan h lợi
ích trong quá trình phát trin mà luôn to đng lc đ thúc đy tng các nhân và toàn xã
hi không ngng sáng to, t đó ci thin không ngng đời sng vt cht, tinh thn ca
toàn xã hi.
Chc năng phương pháp lun
Mi môn khoa hc kinh tế ngành có h thng phm trù, khái nim khoa hc riêng,
song đ hiu được mt cách sâu sc, bn cht, thy được s gn kết mt cách bin chng
gia kinh tế với chính tr và căn nguyên ca s dch chuyn trình đ văn minh ca xã hi
thì cn phi da trên cơ sam hiu nn tng lý lun t kinh tế chính tr. Theo nghĩa như
vy, kinh tế chính tr Mác Lênin th hin chc năng phương pháp lun, nn tng lý lun -
khoa hc cho vic tiếp cn các khoa hc kinh tế chuyên ngành.
***
Nhng thut ng khoa hc cơ bn cn ghi nh:
Kinh tế chính tr Mác - Lênin:
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
14
Kinh tế chính tr Mác Lênin là b môn khoa hc được bt ngun t s kế tha -
nhng kết qu khoa hc ca kinh tế chính tr nhân loi, do C.Mác - Ph. Ăng ghen sáng
lp, được Lênin và các đng cng sn, công nhân quc tế b sung phát trin cho đến ngày
nay. Môn khoa hc Kinh tế chính tr Mác Lênin nghiên cu các quan h xã hi gia con -
người với con người trong sn xut và trao đi trong mt nn sn xut xã hi gn với lc
lượng sn xut và kiến trúc thượng tng tương ng ca nn sn xut xã hi đó.
Phương pháp tru tưng hóa khoa hc:
Là phương pháp nghiên cu mà trong đó vic nghiên cu được tiến hành thông qua
tách các hin tượng ngu nhiên, không đin hình thuc đi tượng nghiên cu đ tìm ra
bn cht ca đi tượng nghiên cu, t đó có th khái quát được các quy lut chi phi s
vn đng ca đi tưng nghiên cu.
Chức năng ca Kinh tế chính tr Mác - Lênin:
Kinh tế chính tr Mác Lênin giúp khám phá các quy lut kinh tế chi phi các quan -
h xã hi gia con người với con người trong sn xut và trao đi; cung cp tri thc lý
lun kinh tế cơ bn, nn tng cho vic tiếp cn các khoa hc kinh tế chuyên ngành khác;
với Vit Nam, kinh tế chính tr Mác Lênin góp phn cng c tư tưởng cho người lao -
đng yêu chung t do, mong mun phn đu vì mt xã hi tt đp, văn minh.
Ch đ tho lun:
Chỉ ra s liên h gia kinh tế chính tr Mác Lênin trong h thng các khoa hc -
kinh tế?
Câu hi ôn tp:
1. Phân tích s hình thành và phát trin ca kinh tế chính tr Mác - nin?
2. Đi tượng nghiên cu ca kinh tế chính tr Mác Lênin? Chức năng ca kinh tế -
chính tr Mác - Lênin với tư cách là mt môn khoa hc?
3. Nêu ý nghĩa ca vic nghiên cu kinh tế chính tr Mác - nin trong quá trình
lao đng và qun tr quc gia?
Tài liu hc tp
Tài liu bt buc đc:
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
15
1. Robert B.Ekelund, JR và Robert F.Hébert (2003), Lch s các hc thuyết kinh
tế, Bản tiếng Vit, Nxb Thng kê, H.
2. Vin Kinh tế chính tr hc, Hc vin Chính tr quc gia H Chí Minh (2018),
Giáo trình Kinh tế chính tr Mác - Lênin, Nxb Lý lun Chính tr, H.
Tài liu đc thêm
1. Bộ Giáo dc và đào to (2018), Giáo trình kinh tế chính tr Mác - nin dành
cho h Cao đng, Đi hc chuyên lý lun chính tr, Nxb Giáo dc, H.
2. C.Mác- H. Ph. Ănghen: , tp 20, tp 23, Nxb Chính tr quc gia, 1994,Toàn tp
3. V.I. Lênin: Toàn tp, tp 3, Nxb Tiến b Maxcơva, 1976, M.
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
16
Chương 2
HÀNG HÓA, TH TRƯNG VÀ VAI TRÒ CA CÁC CH TH
THAM GIA TH TRƯNG
Lý lun giá tr là cơ snn tng đ xây dng hc thuyết giá tr thng dư và cũng là
xut phát đim trong toàn b hc thuyết kinh tế ca Mác. Da trên nghiên cu v hàng
hóa, v lao đng sn xut hàng hóa và đc bit là phát hin ra tính cht hai mt ca lao
đng sn xut hàng hóa, Mác đã gii quyết được trit đ các vn đ liên quan đến ngun
gc, bn cht ca giá tr các nhà kinh tế trước Mác chưa làm được. T đó, làm rõ mà
ngun gc thc s ca giá tr, giá tr thng dư, lợi nhun và các hình thc biu hin ca
lợi nhun trong kinh tế th trường. Chính tính cht khoa hc và cánh mng trong lý lun
giá tr ca Mác đã làm cho hc thuyết giá tr thng dư trthành viên đá tng trong trong
toàn b hc thuyết kinh tế ca ông.
Ni dung cơ bn trong lý lun giá tr ca Mác gm các vn đ v hàng hóa và hai
thuc tính ca hàng hóa; tính cht hai mt ca lao đng sn xut hàng hóa; ngun gc,
bn cht ca giá tr; tin t, giá c, giá c th trường và các mi quan h kinh tế gia
nhng người sn xut hàng hóa trên th trường biu hin thông qua các quy lut kinh tế.
Ngày nay, mc dù trong kinh tế hc hin đi xut hin nhiu lý thuyết và các quan
nim khác nhau v giá tr, lao đng, tin t, th trường… song lý lun giá tr ca Mác vn
còn nguyên giá tr, vn là cơ skhoa hc quan trng đ nghiên cu nn sn xut hàng hóa
và kinh tế th trưng hin đi.
SN XUT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA
Điu kin ra đi và phát trin ca sn xut hàng hóa
Sn xut hàng hóa và điu kin ra đi ca sn xut hàng hóa
Sn xut hàng hóa là kiu t chc kinh tế mà đó nhng người sn xut ra sn
phm không phi đ tiêu dùng cho bn thân mà đ trao đi, mua bán trên th trường.
Trong lch s, không phi ngay t đu khi loài người xut hin đã có sn xut hàng hóa.
Sn xut hàng hóa ch tn ti và phát trin trong mt s phương thc sn xut xã hi, gn
lin với nhng điu kin lich s nht đnh.
Theo Mác, sn xut hàng hóa ch ra đời khi có đ hai điu kin là phân công lao
đng xã hi và s tách bit v mt kinh tế gia các ch th sn xut.
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
17
Phân công lao đng xã hi là s phân chia lao đng xã hi thành các ngành, các
lĩnh vc sn xut khác nhau, to nên s chuyên môn hóa ca nhng người sn xut thành
nhng ngành, ngh khác nhau. Do phân công lao đng xã hi, mi người ch sn xut mt
hoc mt vài sn phm nht đnh. Trong khi đó, nhu cu ca h li đòi hi nhiu loi sn
phm khác nhau. Đ tha mãn nhu cu, gia nhng người sn xut cn có s trao đi sn
phm với nhau. Như vy, phân công lao đng xã hi làm xut hin mi quan trao đi h
sn phm gia nhng người sn xut với nhau. Phân công lao đng xã hi càng phát trin
thì sn xut và trao đi sn phm càng m rng hơn, đa dng hơn. Vì vy, phân công lao
đng xã hi đóng vai trò là cơ scho s ra đời ca sn xut hàng hóa.
Tuy nhiên, nếu ch có phân công lao đng xã hi thì cũng chưa th có sn xut và
trao đi hàng hóa. Trong lch s, mt s công xã c đi đã có s phân công lao đng
khá chi tiết, như công xã th tc n Đ thời c đi, nhưng sn phm ca lao đng chưa tr
thành hàng hóa. Bởi vì đó tư liu sn xut là ca chung, sn phm ca tng nhóm sn
xut chuyên môn hóa cũng là ca chung, được dùng chung cho các thành viên trong công
xã, không phi thông qua trao đi, mua bán. Vì vy, mun sn xut hàng hóa ra đời và tn
ti phi có điu kin th hai là s tách bit tương đi v mt kinh tế gia các ch th sn
xut.
S tách bit v mt kinh tế gia các ch th sn xut làm cho gia nhng người
sn xut đc lp với nhau, khác nhau v lợi ích. Trong điu kin đó, người này mun tiêu
dùng sn phm ca người khác phi thông qua trao đi, mua bán sn phm, tc là phi
trao đi dưới hình thc hàng hóa. Nói cách khác, s tách bit v mt kinh tế gia nhng
người sn xut đòi hi vic trao đi sn phm gia h với nhau phi da trên nguyên tc
bình đng, ngang giá, hai bên đu có li; tc là trao đi mang hình thái trao đi hàng hóa.
Trong lch s, s tách bit v mt kinh tế gia các ch th sn xut bt đu xut
hin khi chế đ tư hu v tư liu sn xut ra đời. Sau này, do s xut hin nhiu quan h
shu khác nhau v tư liu sn xut; s tách bit gia quyn shu và quyn s dng tư
liu sn xut; s xut hin ca nhiu hình thc kinh tế c th khác nhau nên s tách bit
v mt kinh tế gia các ch th sn xut tiếp tc tn ti và đa dng hơn.
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
18
Tóm li, sn xut hàng hóa ch ra đời và tn ti khi có đ hai điu kin trên. Thiếu
mt trong hai điu kin thì không có sn xut hàng hóa và sn phm ca lao đng cũng
không mang hình thái hàng hóa.
Đc trưng và ưu thế ca sn xut hàng hóa
Lch s phát trin sn xut ca xã hi được bt đu t sn xut t cp t túc tiến
lên sn xut hàng hóa. Sn xut t cp, t túc là sn xut ra sn phm nhm tha mãn trc
tiếp nhu cu ca người sn xut. Kiu t chc sn xut t cp, t túc, hay còn gi là kinh
tế t nhiên, gn lin với giai đon sơ khai ca sn xut, khi lc lượng sn xut chưa phát
trin, tình trng ph biến ca sn xut là lao đng gin đơn, đóng ca, khép kín, hướng
vào tha mãn nhu cu hn hp, thp kém. S hn chế ca nhu cu đã hn chế sn xut
phát trin.
Sn xut hàng hóa ra đời là bước phát trin sn xut căn bn trong lch s phát
trin ca xã hi loài người. Sn xut hàng hóa đã phá vtính khép kín ca sn xut, phá
vthành trì phong kiến, gii phóng lc lượng sn xut, lc lượng lao đng và nâng cao
hiu qu kinh tế ca xã hi. So với sn xut t cp, t túc, sn xut hàng hóa có đc trưng
và ưu thế cơ bn sau:
Sn xut hàng hóa là sn xut sn phm cho người khác, sn xut đ bán trên th
trường nên vic mrng quy mô sn xut không b hn chế bởi nhu cu hn hp ca
người sn xut. Chính nhu cu lớn và không ngng tăng lên là mt đng lc mnh m cho
s phát trin ca sn xut hàng hóa.
Sn xut hàng hóa gn lin với cnh tranh nên buc người sn xut phi năng đng
trong sn xut kinh doanh; phi thường xuyên ci tiến k thut, hợp lý hóa sn xut đ
tăng năng sut lao đng, nâng cao cht lưng sn phm nhm bán đưc nhiu hàng hóa và
thu được nhiu lợi nht; t đó, t phát thúc đy lc lượng sn xut phát trin. Đây là mt
đng lc mnh m cho s phát trin sn xut xã hi.
Sn xut hàng hóa ra đời trên cơ sphân công lao đng và li thúc đy s phát
trin ca phân công lao đng, phát trin chuyên môn hóa, to điu kin đ phát huy thế
mnh, phát huy lợi thế so sánh ca mi cá nhân, mi đơn v sn xut cũng như các khu
vc, các vùng kinh tế.
Sn xut và trao đi hàng hóa gn với tính cht mca các quan h kinh tế, các
quan h hàng hóa tin t, làm cho không gian giao lưu kinh tế gia các khu vc, các
nước, đa phương rng. đc trưng các ngày càng m nh cht m là ca
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
19
các quan h hàng hóa tin t, mtrong quan h gia nhng người sn xut, gia các
doanh nghip, các đa phương, gia các vùng và với nước ngoài. T đó, quan h hàng hóa
tin t to nên s sng đng ca nn kinh tế, to điu kin nâng cao đời sng vt cht,
tinh thn ca nhân dân.
Tuy nhiên, bên cnh nhng mt tích cc trên, sn xut hàng hóa cũng còn tn ti
nhiu mt trái và c nhng tác đng tiêu cc đi với đời sng kinh tế, xã hi như phân
hóa giàu nghèo gia nhng người sn xut; chy theo lợi ích cá nhân làm tn hi đến các
giá tr đo đc truyn thng; sn xut không kim soát được tim n nguy cơ mt cân đi,
khng hong kinh tế, phá hoi môi trường sinh thái Nhng tác đng tiêu cc đó có th
hn chế được nếu có vai trò qun lý, điu tiết t mt ch th chung ca toàn b nn kinh
tế là nhà nước.
Hàng hóa và hai thuc tính ca hàng hóa
Hàng hóa là sn phm ca lao đng, có th tha mãn mt nhu cu nào đó ca con
người thông qua trao đi, mua bán. Hàng hóa là phm trù lch s; sn phm ca lao đng
ch mang hình thái hàng hóa khi đưc trao đi, mua bán trên th trường.
Hàng hóa có th s dng cho nhu cu cá nhân hoc nhu cu cho sn xut. Khi s
dng cho tiêu dùng cá nhân gi là hàng tiêu dùng; khi tiêu dùng cho sn xut gi là tư liu
sn xut. Hàng hóa khi có nhng thuc tính, chc năng đc bit thì được gi là hàng hóa
đc bit. Hàng hóa có th tn ti dng vt th hu hình (hàng hóa thông thường) hoc
dng phi vt (hàng hóa dch v). Bất c hàng hóa nào cũng bao gm hai thuc tính là th
giá tr s dng và giá tr.
Giá tr s dng ca hàng hóa là công dng ca vt phm, có th tha mãn mt nhu
cu nào đó ca con người; có th là nhu cu vt cht hoc tinh thn; có th là nhu cu tiêu
dùng cá nhân như lương thc, thc phm, qun áo hoc tiêu dùng cho sn xut như
nguyên, nhiên vt liu, máy móc, thiết b, công c sn xut...
Giá tr s dng ca hàng hóa do thuc tính t nhiên ca vt th hàng hóa quyết
đnh và là ni dung vt cht ca ca ci. Vì vy giá tr s dng ca hàng hóa là phm trù
c th, ta có th cm nhn đưc bng các giác quan ca con ngưi.
Giá tr s dng là ni dung vt cht ca ca ci, nhưng vic phát hin và s dng
nhng thuc tính đó tùy thuc vào trình đ phát trin ca khoa hc k thut và lc lượng
sn xut. Xã hi càng tiến b, khoa hc k thut, phân công lao đng xã hi và lc lượng
sn xut càng phát trin thì s lưng giá tr s dng càng nhiu,
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
20
chng loi càng phong phú, đa dng, cht lượng càng cao. Ví d than đá hoc du m ban
đu ch được dùng làm cht đt; v sau nhs phát trin ca khoa hc k thut chúng
được s dng trong rt nhiu lĩnh vc khác nhau, có nhiu công dng khác nhau cũng như
rt nhiu sn phm đưc làm ra t than đá, du m.
Giá tr s dng ch được thc hin khi con người s dng hay tiêu dùng hàng hóa.
Khi chưa tiêu dùng, giá tr s dng ch trng thái kh năng. Đ giá tr s dng trng
thái kh năng biến thành giá tr s dng hin thc, hàng hóa phi được đưa vào tiêu dùng.
Điu này nói lên ý nghĩa quan trng ca tiêu dùng đi vi sn xut.
Giá tr s dng là thuc tính gn lin với vt th hàng hóa, nhưng không phi là giá
tr s dng cho bn thân người sn xut hàng hóa, mà là giá tr s dng cho người khác,
cho người mua, tc là giá tr s dng xã hi. Đ giá tr s dng ca hàng hóa đi vào tiêu
dùng thì trước tiên hàng hóa phi được trao đi, mua bán trên th trường. Điu này đòi hi
người sn xut phi quan tâm, đáp ng đúng nhu cu, th hiếu ca người mua, người tiêu
dùng. như vy sn phm hàng hóa mới được người mua, ngưi tiêu dùng chp nhn.
Mt vt khi đã là hàng hóa thì nht thiết phi có giá tr s dng. Tuy nhiên, không
phi bt c vt gì có giá tr s dng cũng là hàng hóa. Chẳng hn không khí rt cn cho
cuc sng con người nhưng không phi là hàng hóa, không phi đi tượng trao đi, mua
bán vì chúng không phi là sn phm ca lao đng, không do lao đng ca con người to
ra. Vì vy, mt sn phm mun trthành hàng hóa thì giá tr s dng ca nó phi do lao
đng ca con ngưi to ra, phi là sn phm ca lao đng, tc chúng phi có giá tr.
Giá tr ca hàng hóa là lao đng xã hi ca người sn xut đã hao phí đ sn xut
ra hàng hóa hay lao đng ca người sn xut kết tinh trong hàng hóa. Vt gì không do lao
đng ca con người to ra, không phi là sn phm ca lao đng thì không có giá tr. Giá
tr n cha bên trong giá tr s dng ca hàng hóa nên là phm trù tru tượng. Giá tr ch
được biu hin ra bên ngoài thông qua trao đi, mua bán hay được biu hin thông qua
giá tr trao đi.
Giá tr trao đi là mt quan h v s lượng, mt t l trao đi gia nhng giá tr s
dng khác nhau. Ví d 1m vi = 20 kg thóc. V mt vt cht, không th so sánh gia giá
tr s dng ca vi với giá tr s dng ca thóc được vì chúng khác nhau v cht. Gia vi
và thóc có th so sánh, trao đi được vi nhau bởi chúng có

Preview text:

LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
tại Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014, về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính
trị trong hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc
thành lập Hội đồng biên soạn giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin theo tinh thần đổi
mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học dành cho hệ cao đẳng sư phạm và đại học,
Hội đồng biên soạn Giáo trình Kinh tế chính trị Mác
- Lênin đã biên soạn và cho ra mắt cuốn giáo trình dành cho hệ đào tạo cao đẳng sư phạm,
đại học không chuyên lý luận chính trị.
Nội dung cuốn giáo trình này được biên soạn theo tinh thần trung thành với chủ
nghĩa Mác - Lênin, cơ bản, cập nhật, đồng thời có sự tiếp thu tinh hoa kết quả nghiên cứu
mới nhất của khoa học kinh tế chính trị trên thế giới cả về nội dung và hình thức trình bày
của một cuốn giáo trình khoa học kinh tế chính trị trong điều kiện mới.
Theo tinh thần đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đại học, cuốn giáo trình
được trình bày gồm 6 chương nhằm đáp ứng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo là thời
lượng 2 tín chỉ. So với các giáo trình đã từng xuất bản trong các lần gần đây, giáo trình
kinh tế chính trị Mác - Lênin lần này được trình bày theo thể thức mới nhằm phát huy
những giá trị bền vững của kinh tế chính trị Mác - Lênin đồng thời nâng cao tính thiết
thực đối với việc hình thành kỹ năng, tư duy, tầm nhìn của sinh viên khi tham gia hệ
thống các hoạt động kinh tế xã hội sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo tại nhà trường.
Với mục tiêu như vậy, hệ thống các chuyên đề được thiết kế lôgíc theo nguyên tắc
sư phạm của một cuốn giáo trình bậc đại học và toát lên hai mảng tri thức cơ bản của kinh
tế chính trị Mác Lênin đó là những tri thức kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa và những vấn đề kinh tế chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tham gia biên soạn cuốn giáo trình này là tập thể các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ
đang giảng dạy trong các Trường Đại học, Các học viện trong hệ thống giáo 1
dục quốc dân. Với tinh thần nghiêm cẩn của việc xây dựng giáo trình bậc Đại học, Hội
đồng các nhà giáo đã thực hiện lấy ý kiến về khung chương trình và đề cương chi tiết môn
học từ độ ngũ các nhà giáo đang trực tiếp tham gia giảng dạy tại hơn hai mươi trường đại
học trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đó, giáo trình được biên soạn với sự nỗ lực và tâm
huyết của các nhà khoa học trong Hội đồng biên soạn. Mặc dù vậy, chắc chắn không
tránh khỏi thiếu sót, Hội đồng mong nhận được sự chia sẻ về tri thức khoa học từ phía đội
ngũ các nhà giáo, nhà khoa học để cuốn giáo trình được hoàn chỉnh hơn.
Thư từ góp ý xin gửi về: Bộ Giáo dục và Đào tạo, 49 Đại Cồ Việt, Hà Nội. TM HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN CHỦ TỊCH
PGS.TS Ngô Tuấn Nghĩa 2 Chương 1
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG
CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Như tên gọi của chương, mục đích của chương 1 sẽ trang bị cho sinh viên những tri
thức cơ bản về sự ra đời và phát triển của môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin, về đối
tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và chức năng của khoa học kinh tế chính trị
Mác - Lênin trong nhận thức cũng như trong thực tiễn. Trên cơ sở nhận thức như vậy sẽ
giúp cho sinh viên hình dung được một cách sáng rõ nội dung khoa học của môn học kinh
tế chính trị Mác - Lênin và ý nghĩa của môn học đối với bản thân mỗi người lao động
cũng như quản lý khi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội.
KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Trong dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhân loại kể từ thời kỳ cổ đại cho tới ngày
nay, do đặc thù trình độ phát triển ứng với mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền sản xuất xã hội
mà hình thành nhiều tư tưởng, trường phái lý luận về kinh tế khác nhau.
Mặc dù có sự đa dạng về nội hàm lý luận, nội dung tiếp cận và đối tượng nghiên
cứu riêng phản ánh trình độ nhận thức, lập trường tư tưởng và quan điểm lợi ích của mỗi
trường phái, song các chuyên ngành khoa học kinh tế nói chung và khoa học kinh tế chính
trị nói riêng đều có điểm chung ở chỗ chúng là kết quả của quá trình không ngừng hoàn
thiện. Các phạm trù, khái niệm khoa học với tư cách là kết quả nghiên cứu và phát triển
khoa học kinh tế chính trị ở giai đoạn sau đều có sự kế thừa một cách sáng tạo trên cơ sở
những tiền đề lý luận đã được khám phá ở giai đoạn trước đó, đồng thời dựa trên cơ sở
kết quả tổng kết thực tiễn kinh tế của xã hội đang diễn ra. Kinh tế chính trị Mác - Lênin,
một trong những môn khoa học kinh tế chính trị của nhân loại, được hình thành và phát
triển theo logic lịch sử như vậy.
Về mặt thuất ngữ, thuật ngữ khoa học Kinh tế chính trị (political economy) được
xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVII trong tác phẩm Chuyên luận về kinh tế chính trị được
xuất bản năm 1615. Đây là tác phẩm mang tính lý luận kinh tế chính trị của nhà kinh tế
người Pháp (thuộc trường phái trọng thương Pháp) có tên gọi là A.Mông Crêchiên
(A.Montchretien). Trong tác phẩm này, tác giả đề xuất môn khoa 3
học mới - khoa học kinh tế chính trị. Tuy nhiên, tác phẩm này mới chỉ là những phác thảo
ban đầu về môn học kinh tế chính trị. Phải kể tới thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện lý luận
của A. Smith - một nhà kinh tế học nước Anh- thì kinh tế chính trị mới trở thành môn
môn học có tính hệ thống với các phạm trù, khái niệm chuyên ngành. Kể từ đó, kinh tế
chính trị dần trở thành một môn khoa học và được phát triển cho đến tận ngày nay.
Xét một cách khái quát, dòng chảy tư tưởng kinh tế của loài người có thể được mô
tả như sau: Từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XVIII và từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay.
Trong thời gian từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ thứ XVIII có những tư tưởng kinh tế
thời kỳ cổ, trung đại (từ thời cổ đại đến thế kỷ thứ XV) - chủ nghĩa trọng thương (từ thế
kỷ thứ XV đến cuối thế kỷ XVII, nổi bật là lý thuyết kinh tế của các nhà kinh tế ở nước
Anh, Pháp và Italia) - chủ nghĩa trọng nông (từ giữa thế kỷ thứ XVII đến nửa đầu thế kỷ
XVIII, nổi bật là lý thuyết kinh tế của các nhà kinh tế ở Pháp) - kinh tế chính trị tư sản cổ
điển Anh (từ giữa thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII).
Trong thời kỳ cổ, trung đại của lịch sử nhân loại, do trình độ phát triển khách quan
của các nền sản xuất nên, nhìn chung mới có rải rác các tư tưởng kinh tế được phản ánh
trong các công trình của các nhà tư tưởng, chưa hình thành hệ thống lý thuyết kinh tế
chính trị hoàn chỉnh với nghĩa bao hàm các phạm trù, khái niệm khoa học.
Chủ nghĩa trọng thương là hệ thống lý luận kinh tế chính trị đầu tiên nghiên cứu về
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng trọng thương chủ nghĩa thể hiện tập trung thông
qua các chính sách kinh tế của nhà nước của giai cấp tư sản trong thời kỳ hình thành ban
đầu. Chủ nghĩa trọng thương coi trọng vai trò của hoạt động thương mại. Các đại biểu tiêu
biểu của chủ nghĩa trọng thương bao gồm: Starfod (Anh); Thomas Mun (Anh); Xcaphuri
(Italia); Antonso Serra (Italia); Antoine Montchretien (Pháp).
Chủ nghĩa trọng nông là hệ thống lý luận kinh tế chính trị nhấn mạnh vai trò của
sản xuất nông nghiệp. Coi trọng sở hữu tư nhân và tự do kinh tế. Đại biểu tiêu biểu của
chủ nghĩa trọng nông ở Pháp gồm: Francois Queney; Turgot; Boisguillebert. 4
Kinh tế chính trị cổ điển Anh là hệ thống lý luận kinh tế của các nhà kinh tế tư sản
trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế thị trường như hàng
hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền công, lợi nhuận… để rút ra những quy luật vận động của
nền kinh tế thị trường. Đại biểu tiêu biểu của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh gồm:
W.Petty; A. Smith; D. Recardo.
Từ sau thế kỷ XVIII đến nay, lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại chứng kiến các
con đường phát triển đa dạng với các dòng lý thuyết kinh tế khác nhau. Cụ thể:
Dòng lý thuyết kinh tế chính trị của C.Mác (1818-1883) kế thừa trực tiếp những
giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh để phát triển lý luận, phân tích
một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra những quy luật
kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cùng với C.Mác, Ph. Ănghen cũng là người có công lớn trong
việc công bố lý luận kinh tế chính trị, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác.
Lý luận Kinh tế chính trị của C.Mác và Ph. Ănghen (1820-1895) được thể hiện tập trung
và cô đọng nhất trong Bộ Tư bản. Trong đó, C.Mác trình bày một cách khoa học với tư
cách là một chỉnh thể các phạm trù cơ bản của nền kinh tế thị trường như hàng hóa, tiền
tệ, giá trị thặng dư, tích luỹ, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản, cạnh tranh cùng các quy luật
kinh tế cơ bản cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường
dưới bối cảnh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các lý luận kinh tế chính trị của C.Mác nêu
trên được khái quát thành các học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị
thặng dư, học thuyết tích luỹ, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô… Với học
thuyết giá trị thặng dư nói riêng và Bộ Tư bản nói chung C.Mác đã xây dựng cơ sở khoa
học, cách mạng cho sự hình thành chủ nghĩa Mác nói chung và nền tảng tư tưởng cho giai
cấp công nhân. Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đồng thời cũng là cơ sở khoa học
luận chứng cho vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sau khi C.Mác và Ph. Ănghen qua đời, V.I.Lênin tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát
triển lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đóng góp
khoa học đặc biệt quan trọng. Trong đó nổi bật là kết quả nghiên cứu, chỉ ra những đặc
điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những vấn
đề kinh tế chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã 5
hội... Với ý nghĩa đó, dòng lý thuyết kinh tế chính trị này được định danh với tên gọi
kinh tế chính trị Mác - Lênin.
Sau khi V.I.Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng sản tiếp
tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển kinh tế chính trị Mác - Lênin cho đến ngày nay.
Cùng với lý luận của các Đảng Cộng sản, hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nhà kinh tế
nghiên cứu kinh tế chính trị theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị của C.Mác với nhiều
công trình được công bố trên khắp thế giới. Các công trình nghiên cứu đó được xếp vào
nhánh Kinh tế chính trị Mácxít (Maxist - những người theo chủ nghĩa Mác).
Dòng lý thuyết kinh tế kế thừa những luận điểm mang tính khái quát tâm lý, hành
vi của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (dòng lý thuyết này được C.Mác gọi là những
nhà kinh tế chính trị tầm thường) không đi sâu vào phân tích, luận giải các quan hệ xã hội
trong quá trình sản xuất cũng như vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản tạo ra cách tiếp cận
khác với cách tiếp cận của C.Mác. Sự kế thừa này tạo cơ sở hình thành nên các nhánh lý
thuyết kinh tế đi sâu vào hành vi người tiêu dùng, hành vi của nhà sản xuất (cấp độ vi mô)
hoặc các mối quan hệ giữa các đại lượng lớn của nền kinh tế (cấp độ vĩ mô). Dòng lý
thuyết này được xây dựng và phát triển bởi rất nhiều nhà kinh tế và nhiều trường phái lý
thuyết kinh tế của các quốc gia khác nhau phát triển từ thế kỷ XIX cho đến ngày nay.
Cần lưu ý thêm, trong giai đoạn từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XIX, còn phải kể
thêm tới dòng lý thuyết kinh tế của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng (thế
kỷ XV-XIX) và kinh tế chính trị tiểu tư sản (cuối thế kỷ thứ XIX). Dòng lý thuyết kinh tế
này hướng vào phê phán những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản song nhìn chung các quan
điểm dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo, không chỉ
ra được các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và do đó
không luận chứng được vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển của nhân loại.
Như vậy, kinh tế chính trị Mác - Lênin là một trong những dòng lý thuyết kinh tế
chính trị nằm trong dòng chảy phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại, được hình thành
và đặt nền móng bởi C.Mác - Ph. Ănghen, dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá
trị khoa học của kinh tế chính trị của nhân loại trước đó, trực tiếp là những giá trị khoa
học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, được V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Kinh
tế chính trị Mác - Lênin có quá trình phát 6
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
triển liên tục kể từ giữa thế kỷ thứ XIX đến nay. Kinh tế chính trị Mác - Lênin là một
môn khoa học trong hệ thống các môn khoa học kinh tế của nhân loại.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Với tư cách là một môn khoa học, kinh tế chính trị Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu riêng.
Như trên đã đề cập, sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị là một quá
trình liên tục trong dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhân loại. Do đó, mỗi một giai đoạn
phát triển của nền sản xuất xã hội, do nhận thức và thế giới quan của mỗi trường phái kinh
tế mà có các quan niệm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị khác
nhau. Vì vậy, để hiểu rõ hơn về đối tượng nghiên cứu của môn học kinh tế chính trị Mác -
Lênin, việc điểm lại các quan điểm trước C.Mác về đối tượng nghiên cứu của kinh tế
chính trị là rất cần thiết. Cụ thể là:
Trong lý luận của chủ nghĩa trọng thương thì lĩnh vực lưu thông (trọng tâm là
ngoại thương) được coi là đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị.
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa trọng nông thì lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
được coi là đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị.
Trong lý luận của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh thì đối tượng nghiên cứu của
kinh tế chính trị là bản chất và nguồn gốc của của cải và sự giàu có của các quốc gia.
Hộp 1.1. Quan niệm của A.Smith về đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị
Political economy considered as a branch of the science of a statesman or legislator
proposes two distict objects, first, to supply a plentiful revenue or subsistence for the
people, or more properly to enable them to provide such revenue or subsistence for
themselves; and secondly, to suply the state or commonwealth with a revenue sufficient
for the public service. It proposes to enrich both the people and sovereign.
Kinh tế chính trị là một ngành khoa học gắn với chính khách hay nhà lập pháp
hướng tới hai mục tiêu, thứ nhất là tạo ra nguồn thu nhập dồi dào và sinh kế phong phú
cho người dân, hay chính xác hơn là tạo điều kiện để người dân tự tạo ra thu nhập và
sinh kế cho bản thân mình, thứ hai là tạo ra khả năng có được nguồn ngân sách đầy đủ
cho nhà nước hay toàn bộ nhân dân để thực hiện nhiệm vụ công. Kinh tế chính trị hướng
tới làm cho cả người dân cũng như quốc gia trở nên giàu có.
Nguồn: A.Smith (1776), An Inquiry in to the Nature and Causes of the Wealth of Nations.
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
Các quan điểm nêu trên mặc dù chưa thực sự khoa học, chưa toàn diện song chúng
có giá trị lịch sử và phản ánh trình độ phát triển của khoa học kinh tế chính trị của nhân loại trước C.Mác.
Kế thừa những thành tựu khoa học kinh tế chính trị của nhân loại, dựa trên quan
điểm duy vật về lịch sử, trong quan niệm của mình, C.Mác và Ph. Ănghen quan niệm
kinh tế chính trị có thể được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu về một phương thức sản xuất cụ thể
và kết quả của việc nghiên cứu là khám phá ra những quy luật kinh tế của phương thức
sản xuất ấy. Nghĩa là, theo C.Mác, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là nền sản
xuất có tính chất xã hội. Cụ thể, hơn trong bộ Tư bản C.Mác nhấn mạnh rằng, đối tượng
nghiên cứu của bộ Tư bản là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ
sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và mục đích
cuối cùng của tác phẩm Tư bản là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội ấy.
Theo nghĩa rộng, Ph.Ănghen cho rằng: “Kinh tế chính trị, theo nghĩa rộng nhất, là
khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự trao đổi những tư liệu sinh
hoạt vật chất trong xã hội loài người…Những điều kiện trong đó người ta sản xuất sản
phẩm và trao đổi chúng đều thay đổi tuỳ từng nước, và trong mỗi nước lại thay đổi tuỳ
từng thế hệ. Bởi vậy, không thể có cùng một môn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi
nước và tất cả mọi thời đại lịch sử…môn kinh tế chính trị, về thực chất là một môn khoa
học có tính lịch sử… nó nghiên cứu trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai
đoạn phát triển của sản xuất và của trao đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như thế xong xuôi
rồi nó mới có thể xác định ra một vài quy luật hoàn toàn có tính chất chung, thích dụng,
nói chung cho sản xuất và trao đổi”1.
1 C.Mác và Ph. Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.207,208. 8
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
Theo quan điểm của V.I.Lênin, “kinh tế chính trị không nghiên cứu sự sản xuất mà
nghiên cứu những quan hệ xã hội giữa người với người trong sản xuất, nghiên cứu chế độ
xã hội của sản xuất”2.
Tổng hợp các quan điểm của C.Mác, Ph. Ănghen; V.I.Lênin nêu trên có thể rút ra:
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là các quan hệ xã hội giữa người
với người trong sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ chặt
chẽ với sự phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng.
Như vậy, kinh tế chính trị Mác - Lênin xác định đối tượng nghiên cứu nằm trong
nền sản xuất - cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Mỗi nền sản xuất
đều có sự thống nhất biện chứng của các yếu tố cơ bản bao gồm: i) lực lượng sản xuất (tư
liệu sản xuất và sức lao động của con người) và ii) các quan hệ giữa con người với con
người trong quá trình sản xuất và trao đổi.
Trong hai yếu tố cơ bản đó, kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu quan hệ giữa
con người với con người trong sản xuất và trao đổi, không nghiên cứu bản thân lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các quan hệ giữa con người với con người trong quá
trình sản xuất và trao đổi chịu sự tác động quy định bởi trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Cho nên, mặc dù không nghiên cứu lực lượng sản xuất, song, kinh tế chính trị
Mác - Lênin nghiên cứu quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi
trong mối liên hệ với sự phát triển của trình độ lực lượng sản xuất.
Bên cạnh chịu sự tác động biện chứng bởi trình độ lực lượng sản xuất, các quan hệ
xã hội giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và trao đổi còn có tác động
biện chứng với kiến trúc thượng tầng xã hội (nhà nước, chính trị, pháp luật…) cho nên,
khi nghiên cứu quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi, kinh tế
chính trị Mác - Lênin không tách biệt quan hệ ấy ra khỏi sự liên hệ biện chứng với kiến
trúc thượng tầng tương ứng mà đặt quan hệ ấy trong sự liên hệ với kiến trúc thượng tầng.
Việc nghiên cứu của kinh tế chính trị không phải chỉ để nghiên cứu các quan hệ
giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi, mục đích nghiên cứu
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1976, t.3, tr.58. 9
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
của kinh tế chính trị Mác - Lênin là nhằm khám phá các quy luật kinh tế chi phối các quan
hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi, từ đó vận dụng các quy luật ấy để giải
quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, tạo động lực cho con người sáng tạo, từ đó mà góp phần
thúc đẩy văn minh và sự phát triển toàn diện của xã hội. Theo nghĩa như vậy, Kinh tế
chính trị không đơn thuần chỉ là khoa học về thúc đẩy sự giàu có mà hơn thế, kinh tế
chính trị Mác - Lênin còn góp phần thúc đẩy trình độ văn minh và phát triển toàn diện của xã hội.
Quy luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại
của các hiện tượng và quá trình kinh tế.
Quy luật kinh tế mang tính khách quan, là quy luật xã hội, do đó, sự tác động của
các quy luật kinh tế phải thông qua các hoạt động của con người trong xã hội với những
động cơ lợi ích khác nhau. Quy luật kinh tế tác động vào các động cơ lợi ích của con
người từ đó mà điều chỉnh hành vi kinh tế của con người. Chính bởi lẽ đó, khi vận dụng
đúng các quy luật kinh tế sẽ tạo ra các quan hệ lợi ích kinh tế hài hòa, từ đó tạo động lực
thúc đẩy sự sáng tạo của con người trong xã hội. Thông qua đó mà thúc đẩy sự giàu có và văn minh của xã hội.
Hộp 1.2. Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế
Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con
người không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật
kinh tế để phục vụ lợi ích của mình.
Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở
vận dụng các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp, hoặc n không phù h âợp
với quy luật kinh tế khách quan. ô,
Nguồn: Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn h
khoa học Mác - Lênin (1999), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc á gia, H, tr.31. c. h ác
quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi, có tác động chiều sâu,
bản chất, toàn diện, lâu dài. Thế mạnh của các khoa học kinh tế khác là chỉ ra những hiện
tượng và xu hướng hoạt động kinh tế cụ thể trên bề mặt xã hội, có tác động trực tiếp, xử
lý linh hoạt các hoạt động kinh tế trên bề mặt xã hội. Vì vậy, sẽ 10
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
là thiếu hiểu biết nếu đối lập cực đoan kinh tế chính trị Mác - Lênin với các khoa học kinh
tế khác. Cần nắm vững những nguyên lý của kinh tế chính trị Mác - Lênin để có cơ sở
khoa học phương pháp luận cho các chính sách kinh tế ổn định, xuyên suốt. Đồng thời,
tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các khoa học kinh tế khác để góp phần giải
quyết những tình huống mang tính cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Với tư cách là một môn khoa học, kinh tế chính trị Mác - Lênin sử dụng các
phương pháp nghiên cứu bao gồm:
Phương pháp luận duy vật biện chứng. Đây là phương pháp yêu cầu việc nghiên
cứu các khía cạnh thuộc đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị phải đặt trong mối liên
hệ tác động qua lại lẫn nhau và phát triển không ngừng. Đây là phương pháp luận đặc biệt
quan trọng được áp dụng trong nghiên cứu kinh tế chính trị để giúp cho các kết quả
nghiên cứu rút ra tránh rơi vào tình trạng chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật kinh tế.
Phương pháp logíc kết hợp với lịch sử, đây là phương pháp được sử dụng trong
nhiều ngành khoa học xã hội cũng như trong kinh tế chính trị Mác - Lênin. Phương pháp
logíc kết hợp với lịch sử cho phép khám phá bản chất, các xu hướng và quy luật kinh tế
gắn với tiến trình hình thành, phát triển của chúng, cho phép rút ra những kết quả nghiên
cứu mang tính lôgíc từ trong tiến trình lịch sử của các quan hệ giữa con người với con
người trong quá trình sản xuất và trao đổi.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học. Do kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên
cứu các quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và trao đổi
của một nền sản xuất nhất định. Đây là các quan hệ trừu tượng. Vì vậy, khác với các môn
khoa học khác, ở đó, để tìm ra bản chất, tính quy luật và quy luật của đối tượng nghiên
cứu, người ta có thể sử dụng các biện pháp thực nghiệm; đối với kinh tế chính trị Mác -
Lênin, việc thực nghiệm là không thể. Vì vậy, phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh
tế chính trị Mác - Lênin là phương pháp trừu tượng hóa khoa học. Lẽ dĩ nhiên, trừu tượng
hóa khoa học cũng được sử dụng nhiều ở các môn khoa học khác. Tuy nhiên, với kinh tế
chính trị Mác - Lênin, đây là phương pháp phổ biến.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là một trong những phương pháp nghiên
cứu khoa học xã hội, trong đó có kinh tế chính trị Mác - Lênin, mà khi sử dụng phương
pháp này đòi hỏi sự gạt bỏ đi những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong 11
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
các hiện tượng quá trình nghiên cứu, để từ đó tách ra được những hiện tượng bền vững,
mang tính điển hình, ổn định của đối tượng nghiên cứu. Từ đó mà nắm được bản chất,
xây dựng được các phạm trù và khám phá được tính quy luật và quy luật chi phối sự vận
động của đối tượng nghiên cứu.
Cần chú ý rằng, khi sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, cần phải biết
xác định giới hạn của sự trừu tượng hóa. Không được tuỳ tiện, chủ quan loại bỏ những
nội dung hiện thực của đối tượng nghiên cứu gây sai lệch bản chất của đối tượng nghiên cứu.
CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Chức năng nhận thức
Kinh tế chính trị Mác - Lênin là một bộ phận trong ba bộ phận của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Ba bộ phận đó là: Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị Mác - Lênin; Chủ nghĩa
xã hội khoa học. Với tư cách là một môn khoa học lý luận thuộc khoa học kinh tế, kinh tế
chính trị Mác - Lênin cung cấp hệ thống tri thức khoa học về sự vận động của các quan hệ
giữa người với người trong sản xuất và trao đổi; về sự liên hệ tác động biện chứng giữa
các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi với lực lượng sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tương ứng trong những nấc thang phát triển khác nhau của nền sản
xuất xã hội. Từ đó, kinh tế chính trị Mác - Lênin khám phá những quy luật chi phối sự
phát triển của sản xuất và trao đổi. Những tri thức như vậy sẽ giúp khám phá và nhận thức
một cách đúng đắn lịch sử phát triển của sản xuất và phát triển của nhân loại nói chung,
về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng. Những
tri thức của kinh tế chính trị với tư cách là tri thức lý luận nền tảng sẽ giúp nhận thức sâu
sắc về bản chất của các hiện tượng, quá trình kinh tế diễn ra trên bề mặt nền kinh tế xã
hội; phân tích làm rõ những nguyên nhân sâu xa của sự giàu có của các quốc gia trong sự
liên hệ với thế giới; khái quát những triển vọng và xu hướng phát triển kinh tế xã hội
trong những giai đoạn lịch sử và những bối cảnh phát triển mới.
Với ý nghĩa như vậy, những tri thức của kinh tế chính trị Mác - Lênin sẽ tạo lập cơ
sở khoa học, nền tảng lý luận, phương hướng cho sự hình thành các chính sách kinh tế,
định hướng chiến lược cho sự phát triển kinh tế nói riêng và thúc đẩy văn minh xã hội nói
chung. Trong trường hợp Việt Nam, nếu các chính sách kinh tế được hoạch định mà
không dựa trên cơ sở tri thức lý luận của kinh tế chính trị Mác
- Lênin sẽ khó có thể mang lại hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội lâu dài. 12
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
Chức năng tư tưởng
Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần tạo lập nền tảng tư tưởng cộng sản cho
những người lao động tiến bộ và yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình, củng cố niềm
tin cho những ai phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh. Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho
những ai có mong muốn xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con
người, xóa bỏ dần những áp bức, bất công giữa con người với con người.
Chức năng thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là khám phá ra những quy
luật và tính quy luật chi phối sự vận động của các quan hệ giữa con người với con người
trong sản xuất và trao đổi. Do vậy, khi nhận thức được các quy luật sẽ giúp cho người lao
động cũng như những nhà hoạch định chính sách biết vận dụng các quy luật kinh tế ấy
vào trong thực tiễn hoạt động lao động cũng như quản trị quốc gia của mình. Quá trình
vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua điều chỉnh hành vi cá nhân
hoặc các chính sách kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo
hướng tiến bộ. Kinh tế chính trị Mác - Lênin, theo nghĩa đó mang trong nó chức năng cải
tạo thực tiễn, thúc đẩy văn minh của xã hội. Thông qua giải quyết hài hòa các quan hệ lợi
ích trong quá trình phát triển mà luôn tạo động lực để thúc đẩy từng các nhân và toàn xã
hội không ngừng sáng tạo, từ đó cải thiện không ngừng đời sống vật chất, tinh thần của toàn xã hội.
Chức năng phương pháp luận
Mỗi môn khoa học kinh tế ngành có hệ thống phạm trù, khái niệm khoa học riêng,
song để hiểu được một cách sâu sắc, bản chất, thấy được sự gắn kết một cách biện chứng
giữa kinh tế với chính trị và căn nguyên của sự dịch chuyển trình độ văn minh của xã hội
thì cần phải dựa trên cơ sở am hiểu nền tảng lý luận từ kinh tế chính trị. Theo nghĩa như
vậy, kinh tế chính trị Mác - Lênin thể hiện chức năng phương pháp luận, nền tảng lý luận
khoa học cho việc tiếp cận các khoa học kinh tế chuyên ngành. ***
Những thuật ngữ khoa học cơ bản cần ghi nhớ:
Kinh tế chính trị Mác - Lênin: 13
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
Kinh tế chính trị Mác - Lênin là bộ môn khoa học được bắt nguồn từ sự kế thừa
những kết quả khoa học của kinh tế chính trị nhân loại, do C.Mác - Ph. Ăng ghen sáng
lập, được Lênin và các đảng cộng sản, công nhân quốc tế bổ sung phát triển cho đến ngày
nay. Môn khoa học Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu các quan hệ xã hội giữa con
người với con người trong sản xuất và trao đổi trong một nền sản xuất xã hội gắn với lực
lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của nền sản xuất xã hội đó.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học:
Là phương pháp nghiên cứu mà trong đó việc nghiên cứu được tiến hành thông qua
tách các hiện tượng ngẫu nhiên, không điển hình thuộc đối tượng nghiên cứu để tìm ra
bản chất của đối tượng nghiên cứu, từ đó có thể khái quát được các quy luật chi phối sự
vận động của đối tượng nghiên cứu.
Chức năng của Kinh tế chính trị Mác - Lênin:
Kinh tế chính trị Mác - Lênin giúp khám phá các quy luật kinh tế chi phối các quan
hệ xã hội giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi; cung cấp tri thức lý
luận kinh tế cơ bản, nền tảng cho việc tiếp cận các khoa học kinh tế chuyên ngành khác;
với Việt Nam, kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần củng cố tư tưởng cho người lao
động yêu chuộng tự do, mong muốn phấn đấu vì một xã hội tốt đẹp, văn minh. Chủ đề thảo luận:
Chỉ ra sự liên hệ giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin trong hệ thống các khoa học kinh tế? Câu hỏi ôn tập:
1. Phân tích sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác - Lênin?
2. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin? Chức năng của kinh tế
chính trị Mác - Lênin với tư cách là một môn khoa học?
3. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin trong quá trình
lao động và quản trị quốc gia? Tài liệu học tập
Tài liệu bắt buộc đọc: 14
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
1. Robert B.Ekelund, JR và Robert F.Hébert (2003), Lịch sử các học thuyết kinh
tế, Bản tiếng Việt, Nxb Thống kê, H.
2. Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018),
Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Lý luận Chính trị, H.
Tài liệu đọc thêm
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2018), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin dành
cho hệ Cao đẳng, Đại học chuyên lý luận chính trị, Nxb Giáo dục, H.
2. C.Mác- Ph. Ănghen: Toàn tập, tập 20, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, 1994, H.
3. V.I. Lênin: Toàn tập, tập 3, Nxb Tiến bộ Maxcơva, 1976, M. 15
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến Chương 2
HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ
THAM GIA THỊ TRƯỜNG
Lý luận giá trị là cơ sở nền tảng để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư và cũng là
xuất phát điểm trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác. Dựa trên nghiên cứu về hàng
hóa, về lao động sản xuất hàng hóa và đặc biệt là phát hiện ra tính chất hai mặt của lao
động sản xuất hàng hóa, Mác đã giải quyết được triệt để các vấn đề liên quan đến nguồn
gốc, bản chất của giá trị mà các nhà kinh tế trước Mác chưa làm được. Từ đó, làm rõ
nguồn gốc thực sự của giá trị, giá trị thặng dư, lợi nhuận và các hình thức biểu hiện của
lợi nhuận trong kinh tế thị trường. Chính tính chất khoa học và cánh mạng trong lý luận
giá trị của Mác đã làm cho học thuyết giá trị thặng dư trở thành viên đá tảng trong trong
toàn bộ học thuyết kinh tế của ông.
Nội dung cơ bản trong lý luận giá trị của Mác gồm các vấn đề về hàng hóa và hai
thuộc tính của hàng hóa; tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa; nguồn gốc,
bản chất của giá trị; tiền tệ, giá cả, giá cả thị trường và các mối quan hệ kinh tế giữa
những người sản xuất hàng hóa trên thị trường biểu hiện thông qua các quy luật kinh tế.
Ngày nay, mặc dù trong kinh tế học hiện đại xuất hiện nhiều lý thuyết và các quan
niệm khác nhau về giá trị, lao động, tiền tệ, thị trường… song lý luận giá trị của Mác vẫn
còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu nền sản xuất hàng hóa
và kinh tế thị trường hiện đại.
SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA
Điều kiện ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó những người sản xuất ra sản
phẩm không phải để tiêu dùng cho bản thân mà để trao đổi, mua bán trên thị trường.
Trong lịch sử, không phải ngay từ đầu khi loài người xuất hiện đã có sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa chỉ tồn tại và phát triển trong một số phương thức sản xuất xã hội, gắn
liền với những điều kiện lich sử nhất định.
Theo Mác, sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện là phân công lao
động xã hội và sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất. 16
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, các
lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành
những ngành, nghề khác nhau. Do phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một
hoặc một vài sản phẩm nhất định. Trong khi đó, nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản
phẩm khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu, giữa những người sản xuất cần có sự trao đổi sản
phẩm với nhau. Như vậy, phân công lao động xã hội làm xuất hiện mối quan hệ trao đổi
sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau. Phân công lao động xã hội càng phát triển
thì sản xuất và trao đối sản phẩm càng mở rộng hơn, đa dạng hơn. Vì vậy, phân công lao
động xã hội đóng vai trò là cơ sở cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa.
Tuy nhiên, nếu chỉ có phân công lao động xã hội thì cũng chưa thể có sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Trong lịch sử, ở một số công xã cổ đại đã có sự phân công lao động
khá chi tiết, như công xã thị tộc Ấn Độ thời cổ đại, nhưng sản phẩm của lao động chưa trở
thành hàng hóa. Bởi vì ở đó tư liệu sản xuất là của chung, sản phẩm của từng nhóm sản
xuất chuyên môn hóa cũng là của chung, được dùng chung cho các thành viên trong công
xã, không phải thông qua trao đổi, mua bán. Vì vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn
tại phải có điều kiện thứ hai là sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất.
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người
sản xuất độc lập với nhau, khác nhau về lợi ích. Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu
dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm, tức là phải
trao đổi dưới hình thức hàng hóa. Nói cách khác, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những
người sản xuất đòi hỏi việc trao đổi sản phẩm giữa họ với nhau phải dựa trên nguyên tắc
bình đẳng, ngang giá, hai bên đều có lợi; tức là trao đổi mang hình thái trao đổi hàng hóa.
Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất bắt đầu xuất
hiện khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ra đời. Sau này, do sự xuất hiện nhiều quan hệ
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất; sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư
liệu sản xuất; sự xuất hiện của nhiều hình thức kinh tế cụ thể khác nhau… nên sự tách biệt
về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất tiếp tục tồn tại và đa dạng hơn. 17
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
Tóm lại, sản xuất hàng hóa chỉ ra đời và tồn tại khi có đủ hai điều kiện trên. Thiếu
một trong hai điều kiện thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm của lao động cũng
không mang hình thái hàng hóa.
Đặc trưngưu thế của sản xuất hàng hóa
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội được bắt đầu từ sản xuất tự cấp tự túc tiến
lên sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất ra sản phẩm nhằm thỏa mãn trực
tiếp nhu cầu của người sản xuất. Kiểu tổ chức sản xuất tự cấp, tự túc, hay còn gọi là kinh
tế tự nhiên, gắn liền với giai đoạn sơ khai của sản xuất, khi lực lượng sản xuất chưa phát
triển, tình trạng phổ biến của sản xuất là lao động giản đơn, đóng cửa, khép kín, hướng
vào thỏa mãn nhu cầu hạn hẹp, thấp kém. Sự hạn chế của nhu cầu đã hạn chế sản xuất phát triển.
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước phát triển sản xuất căn bản trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người. Sản xuất hàng hóa đã phá vỡ tính khép kín của sản xuất, phá
vỡ thành trì phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất, lực lượng lao động và nâng cao
hiệu quả kinh tế của xã hội. So với sản xuất tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hóa có đặc trưng và ưu thế cơ bản sau:
Sản xuất hàng hóa là sản xuất sản phẩm cho người khác, sản xuất để bán trên thị
trường nên việc mở rộng quy mô sản xuất không bị hạn chế bởi nhu cầu hạn hẹp của
người sản xuất. Chính nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên là một động lực mạnh mẽ cho
sự phát triển của sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa gắn liền với cạnh tranh nên buộc người sản xuất phải năng động
trong sản xuất kinh doanh; phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để
tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm bán được nhiều hàng hóa và
thu được nhiều lợi nhất; từ đó, tự phát thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Đây là một
động lực mạnh mẽ cho sự phát triển sản xuất xã hội.
Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở phân công lao động và lại thúc đẩy sự phát
triển của phân công lao động, phát triển chuyên môn hóa, tạo điều kiện để phát huy thế
mạnh, phát huy lợi thế so sánh của mỗi cá nhân, mỗi đơn vị sản xuất cũng như các khu vực, các vùng kinh tế.
Sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn với tính chất mở của các quan hệ kinh tế, các
quan hệ hàng hóa tiền tệ, làm cho không gian giao lưu kinh tế giữa các khu vực, các
nước, các địa phương ngày càng mở rộng. Tính chất mở là đặc trưng của 18
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
các quan hệ hàng hóa tiền tệ, mở trong quan hệ giữa những người sản xuất, giữa các
doanh nghiệp, các địa phương, giữa các vùng và với nước ngoài. Từ đó, quan hệ hàng hóa
tiền tệ tạo nên sự “sống động” của nền kinh tế, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hóa cũng còn tồn tại
nhiều mặt trái và cả những tác động tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như phân
hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất; chạy theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các
giá trị đạo đức truyền thống; sản xuất không kiểm soát được tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối,
khủng hoảng kinh tế, phá hoại môi trường sinh thái… Những tác động tiêu cực đó có thể
hạn chế được nếu có vai trò quản lý, điều tiết từ một chủ thể chung của toàn bộ nền kinh tế là nhà nước.
Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con
người thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa là phạm trù lịch sử; sản phẩm của lao động
chỉ mang hình thái hàng hóa khi được trao đổi, mua bán trên thị trường.
Hàng hóa có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu cho sản xuất. Khi sử
dụng cho tiêu dùng cá nhân gọi là hàng tiêu dùng; khi tiêu dùng cho sản xuất gọi là tư liệu
sản xuất. Hàng hóa khi có những thuộc tính, chức năng đặc biệt thì được gọi là hàng hóa
đặc biệt. Hàng hóa có thể tồn tại ở dạng vật thể hữu hình (hàng hóa thông thường) hoặc ở
dạng phi vật thể (hàng hóa dịch vụ). Bất cứ hàng hóa nào cũng bao gồm hai thuộc tính là
giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu
cầu nào đó của con người; có thể là nhu cầu vật chất hoặc tinh thần; có thể là nhu cầu tiêu
dùng cá nhân như lương thực, thực phẩm, quần áo… hoặc tiêu dùng cho sản xuất như
nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất...
Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết
định và là nội dung vật chất của của cải. Vì vậy giá trị sử dụng của hàng hóa là phạm trù
cụ thể, ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan của con người.
Giá trị sử dụng là nội dung vật chất của của cải, nhưng việc phát hiện và sử dụng
những thuộc tính đó tùy thuộc vào trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và lực lượng
sản xuất. Xã hội càng tiến bộ, khoa học kỹ thuật, phân công lao động xã hội và lực lượng
sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng càng nhiều, 19
Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến
chủng loại càng phong phú, đa dạng, chất lượng càng cao. Ví dụ than đá hoặc dầu mỏ ban
đầu chỉ được dùng làm chất đốt; về sau nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật chúng
được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, có nhiều công dụng khác nhau cũng như
rất nhiều sản phẩm được làm ra từ than đá, dầu mỏ.
Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa.
Khi chưa tiêu dùng, giá trị sử dụng chỉ ở trạng thái khả năng. Để giá trị sử dụng ở trạng
thái khả năng biến thành giá trị sử dụng hiện thực, hàng hóa phải được đưa vào tiêu dùng.
Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đối với sản xuất.
Giá trị sử dụng là thuộc tính gắn liền với vật thể hàng hóa, nhưng không phải là giá
trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hóa, mà là giá trị sử dụng cho người khác,
cho người mua, tức là giá trị sử dụng xã hội. Để giá trị sử dụng của hàng hóa đi vào tiêu
dùng thì trước tiên hàng hóa phải được trao đổi, mua bán trên thị trường. Điều này đòi hỏi
người sản xuất phải quan tâm, đáp ứng đúng nhu cầu, thị hiếu của người mua, người tiêu
dùng. Có như vậy sản phẩm hàng hóa mới được người mua, người tiêu dùng chấp nhận.
Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng. Tuy nhiên, không
phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng là hàng hóa. Chẳng hạn không khí rất cần cho
cuộc sống con người nhưng không phải là hàng hóa, không phải đối tượng trao đổi, mua
bán vì chúng không phải là sản phẩm của lao động, không do lao động của con người tạo
ra. Vì vậy, một sản phẩm muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải do lao
động của con người tạo ra, phải là sản phẩm của lao động, tức chúng phải có giá trị.
Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí đề sản xuất
ra hàng hóa hay lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Vật gì không do lao
động của con người tạo ra, không phải là sản phẩm của lao động thì không có giá trị. Giá
trị ẩn chứa bên trong giá trị sử dụng của hàng hóa nên là phạm trù trừu tượng. Giá trị chỉ
được biểu hiện ra bên ngoài thông qua trao đổi, mua bán hay được biểu hiện thông qua giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, một tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị sử
dụng khác nhau. Ví dụ 1m vải = 20 kg thóc. Về mặt vật chất, không thể so sánh giữa giá
trị sử dụng của vải với giá trị sử dụng của thóc được vì chúng khác nhau về chất. Giữa vải
và thóc có thể so sánh, trao đổi được với nhau bởi chúng có 20