



















Preview text:
BÀI 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ
NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP
I. KHÁI NIỆM NGÀNH LUẬT HIẾN
PHÁP, ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH,
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA
NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP
1.Khái niệm ngành luật Hiến pháp
Ngành luật Hiến pháp là một ngành luật
độc lập trong hệ thống pháp luật của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất.
Trong phạm vi môn học Luật Hiến pháp,
khái niệm Luật Hiến pháp được hiểu là ngành
luật Hiến pháp. Môn học Luật Hiến pháp
không chỉ nghiên cứu các quy định hiện hành
của ngành Luật Hiến pháp, mà còn nghiên cứu
quá trình phát sinh, phát triển, còng như cơ sở
lý luận có liên quan của các quy định ấy. 1
2.Đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật
nói chung được hiểu là những quan hệ xã hội
được các quy phạm pháp luật của ngành luật
đó điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của ngành
luật là căn cứ cơ bản để phân biệt ngành luật
đó với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật.
Ngành luật Hiến pháp là một ngành luật
trong hệ thống pháp luật, có đối tượng điều
chỉnh là các quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan
trọng nhất. Những quan hệ xã hội được coi là
quan trọng nhất là các quan hệ xã hội có nội
dung gắn liền với: (1) xác định chế độ xã hội,
xác định những nền tảng để xây dựng xã hội,
nhà nước; (2) xác định quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân sống trong xã hội ấy, nhà
nước ấy; (3) xác định việc tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước.
Tuy nhiên, không phải tất cả các quan hệ
xã hội có nội dung nêu trên đều được Luật
Hiến pháp điều chỉnh. Luật Hiến pháp chỉ điều 2
chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất trong
số những quan hệ xã hội nêu trên.
3.Phương pháp điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp
Cùng với đối tượng điều chỉnh, phương
pháp điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp
còng là căn cứ để phân biệt ngành luật Hiến
pháp với các ngành luật khác. Phương pháp
điều chỉnh của một ngành luật nói chung, là
cách thức tác động của các quy phạm pháp luật
vào đối tượng điều chỉnh của ngành luật ấy.
Phương pháp điều chỉnh của ngành luật
Hiến pháp là cách thức mà các quy phạm pháp
luật của ngành luật Hiến pháp tác động vào các
quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của
ngành luật. Phương pháp điều chỉnh của ngành
luật Hiến pháp mang tính mệnh lệnh, quyền
uy. Bên cạnh đó, ngành luật Hiến pháp có đối
tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội, cơ bản
nên thông thường cách thức tác động vào các
quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của
ngành luật Hiến pháp là quy định nguyên tắc
chung ứng xử cho loại quan hệ ấy. Trong một
số trường hợp, các quy phạm pháp luật của 3
ngành luật Hiến pháp cùng đưa ra các quyền, nghĩa vụ cụ thể.
II. NGUỒN VÀ HỆ THỐNG LUẬT HIẾN PHÁP
1. Nguồn của Luật Hiến pháp
Nguồn của luật Hiến pháp là tổng thể các
văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các
quy phạm pháp luật cấu thành nên ngành luật
Hiến pháp. Gồm các hình thức văn bản: Hiến
pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; một số
Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch
nước; Nghị định của Chính phủ; Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh
án TNND tối cao, Viện trưởng VKSND tối
cao; một số Nghị quyết của HĐND, Quyết
định của UBND. Trong chừng mực nào đó,
nguồn của luật Hiến pháp còn phải kể đến
Tuyên ngôn độc lập và lời nói đầu các bản
Hiến pháp của Nhà nước ta.
2. Hệ thống Luật Hiến pháp
Hệ thống luật Hiến pháp gồm nhiều chế
định pháp luật khác nhau, mỗi chế định điều 4
chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định thuộc
đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến
pháp, các chế định ấy liên hệ mật thiết với
nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Hệ thống luật Hiến pháp được chia thành
các chế định cơ bản sau: (1) chế định về chế độ
chính trị; (2) chế định về chế độ kinh tế; (3)
chế định về chế độ văn hoá, giáo dục, khoa
học, công nghệ; (4) chế định về quốc phòng,
an ninh; (5) chế định về quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân; (6) chế định về bầu cử; (7)
chế định về Quốc hội; (8) Chế định về Chủ tịch
nước; (9) Chế định về Chính phủ; (10) Chế
định về Hội đồng nhân dân; (11) Chế định về
Uỷ ban nhân dân; (12) Chế định về Toà án
nhân dân; (13) Chế định về Viện kiểm sát nhân dân.
III. QUAN HỆ PHÁP LUẬT HIẾN PHÁP
1. Khái niệm, đặc điểm của quan hệ
pháp luật Hiến pháp
Quan hệ pháp luật Hiến pháp là những
quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật Hiến
pháp điều chỉnh, quy định các quyền và nghĩa 5
vụ pháp lý đối với các chủ thể trong mối quan
hệ ấy. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được
Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
- Quan hệ pháp luật Hiến pháp là một loại quan hệ pháp luật.
- Quan hệ pháp luật Hiến pháp hình thành
trên cơ sở các quy phạm pháp luật Hiến pháp.
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên
trong quan hệ pháp luật Hiến pháp được đảm
bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
2. Các yếu tố cấu thành của quan hệ
pháp luật Hiến pháp
a) Chủ thể của quan hệ pháp luật Hiến pháp
Chủ thể của quan hệ pháp luật Hiến pháp là
những chủ thể được các quy phạm pháp luật
của ngành luật Hiến pháp điều chỉnh, quy định
các quyền và nghĩa vụ cụ thể. Những chủ thể
này tham gia vào các quan hệ pháp luật để
hưởng quyền và làm nghĩa vụ trong quan hệ ấy.
Chủ thể của quan hệ pháp luật Hiến pháp
gồm: Nhà nước, các cơ quan nhà nước, các tổ 6
chức chính trị, chính trị - xã hội, công dân Việt
Nam, người nước ngoài, người không quốc
tịch, những người có chức trách trong các cơ
quan nhà nước, các đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân, Hội đồng bầu cử, Uỷ ban
bầu cử, Tổ bầu cử… Trong số các chủ thể này,
có một số loại chủ thể đặc trưng, chỉ xuất hiện
trong quan hệ pháp luật Hiến pháp.
b) Nội dung của quan hệ pháp luật Hiến pháp
Nội dung của quan hệ pháp luật Hiến pháp
là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể trong quan hệ pháp luật Hiến pháp. Các
quyền và nghĩa vụ được xác định trên cơ sở
các quy phạm pháp luật của ngành luật Hiến
pháp điều chỉnh quan hệ ấy.
c) Khách thể của quan hệ pháp luật Hiến pháp
Khách thể của quan hệ pháp luật Hiến pháp
là những vấn đề, những giá trị, lợi ích và hành
vi cụ thể mà các chủ thể của quan hệ pháp luật
Hiến pháp mong muốn đạt được hoặc bắt buộc
phải thực hiện để đáp ứng nhu cầu của chủ thể
khác theo quy định của quy phạm pháp luật 7
Hiến pháp, như: lãnh thổ quốc gia, đất đai,
sông núi, địa giới, danh dự, nhân phẩm, lao
động, học tập, kinh doanh... 8 BÀI 2
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIẾN PHÁP
I. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA HIẾN PHÁP
1.Nguồn gốc của Hiến pháp
Thuật ngữ Hiến pháp đã xuất hiện từ rất
sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Thuật ngữ này bắt nguồn từ chữ Latinh:
“Cònstitutio” với nghĩa là thiết lập, xác định.
Tuy vậy, trong một khoảng thời gian dài, thuật
ngữ này được sử dụng với những nghĩa khác
nhau và khác so với quan niệm hiện nay về Hiến pháp.
Dưới thời La mã cổ đại, Hiến pháp được sử
dụng với nghĩa là một hình thức văn bản của
Hoàng đế. Trung Hoa cổ đại, Hiến pháp được
sử dụng với nghĩa là kỷ cương, phép nước.
Hiến pháp, theo quan niệm hiện đại, là một
đạo luật cơ bản, quan trọng của mỗi quốc gia,
có nội dung xác định chế độ xã hội, xác định
các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
xác định những nguyên tắc cơ bản về tổ chức 1
và hoạt dộng của bộ máy nhà nước. Sự ra đời
của Hiến pháp gắn liền với thắng lợi của cách
mạng tư sản, đồng thời đánh dấu sự chấm dứt
của chế độ phong kiến, chế độ chiếm hữu nô
lệ. Trong Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước
phong kiến không hề biết tới Hiến pháp. Dưới
chế độ phong kiến, vua hay hoàng đế được coi
là “thiên tử”, thâu tóm trong tay toàn bộ quyền
lực nhà nước: quyền đặt ra pháp luật, quyền cắt
cử quan lại để cai quản đất nước, quyền xét xử
tối cao. Người dân trong xã hội được gọi là
"thần dđn" đó bị tước đoạt cả các quyền tối
thiểu nhất của còn người, như quyền sống,
quyền tự do: Vua cho sống thì được sống, vua
bắt chết thì phải chết. Để hạn chế quyền lực vô
hạn định của nhà vua, tiến tới lật đổ chế độ
thống trị hà khắc, độc đoán, chuyên quyền
phong kiến, giai cấp tư sản đó phát động cuộc
cách mạng tư sản. Để tập hợp lực lượng giai
cấp tư sản cần đến một nền tảng lý luận để
thuyết phục mọi người. Giai cấp tư sản đó tìm
đến những tư tưởng đòi hỏi sự phân chia quyền
lực được nêu ra từ thời cổ đại, phát triển chúng
để phục vụ cho cuộc cách mạng tư sản. 2
Những khẩu hiệu đòi hạn chế quyền lực vụ
hạn của nhà vua, đòi hỏi những quyền cơ bản
của còn người như: quyền sống, quyền tự do,
bình đẳng, công bằng đó được đông đảo các
tầng lớp nhân dân ủng hộ và tham gia vào cuộc
cách mạng này. Cách mạng tư sản thắng lợi,
Hiến pháp ra đời là sự kiện chính trị - xã hội
quan trọng, khẳng định sự thống trị của giai
cấp tư sản tiến bộ, đang lên và là lực lượng đại
diện cho một phương thức sản xuất mới -
phương thức sản xuất TBCN, một chế độ cai
trị mới - chế độ dân chủ tư sản, đồng thời đánh
dấu sự rút lui khỏi vũ đài chính trị của giai cấp
phong kiến cùng với chế độ cai trị độc đoán, chuyên quyền của nó.
Văn bản có tính chất Hiến pháp đầu tiên ra
đời trong cách mạng tư sản ở nước Anh (1640-
1654) là đạo luật năm 1653 về "Hình thức cai
quản Nhà nước Anh, Xcốtlen, Ailen và những
địa phận thuộc chúng", trong đó quy định hình
thức tổ chức quyền lực mới. Hiến pháp Hoa
Kỳ năm 1787, Hiến pháp của Pháp năm, Hiến
pháp Ba Lan năm 1791, Hiến pháp Na-uy năm
1814, Hiến pháp Bỉ nam 1831, Hiến pháp Ac- 3
hen-ti-na năm 1853, Hiến pháp Luych-xăm-
bua năm 1868, Hiến pháp Thụy Sỹ năm 1874...
Đến cuối thế kỷ thứ 18, ở nhiều nước châu Âu
đó có Hiến pháp và sự ra đời các bản Hiến
pháp nói trên đánh dấu bước khởi đầu lịch sử
lập hiến của nhân loại. Hiện nay, trên thế giới
có khoảng 190 nước có Hiến pháp và sự hiện
diện của Hiến pháp được xem là dấu hiệu pháp
lý không thể thiếu của một Nhà nước dân chủ hiện đại.
2.Bản chất của Hiến pháp
Hiến pháp, với tư cách là một đạo luật cơ
bản, luật gốc của Nhà nước, vì vậy nó mang
đầy đủ bản chất của pháp luật nói chung, đó là
bản chất giai cấp và bản chất xã hội. Bản chất
giai cấp được thể hiện: Hiến pháp là sự thể
hiện ý chí của giai cấp thống trị, là công cụ để
bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp thống
trị. Bản chất xã hội của Hiến pháp được thể
hiện: Hiến pháp là tổng hợp của các quy tắc xử
sự cơ bản nhất, quan trọng nhất góp phần bảo
vệ những lợi ích chung của cả quốc gia, dân 4
tộc và toàn xã hội, là công cụ để duy trì và
thiết lập trật tự, ổn định của xã hội.
Hiến pháp còn thể hiện là đạo luật cơ bản,
luật gốc của Nhà nước. Các quy định của Hiến
pháp trở thành những nguyên tắc tối cao trong
hệ thống pháp luật quốc gia. Xuất phát từ
những nguyên tắc cơ bản trong Hiến pháp,
nhiều văn bản luật và dưới luật được ban hành
để triển khai, thực hiện những nguyên tắc ấy.
Bất cứ một văn bản pháp luật nào trái với các
nguyên tắc trong Hiến pháp đều bị coi là vi
hiến và bị hủy bỏ, bãi bỏ theo những thủ tục nhất định.
Hiến pháp còn mang tính nhân bản ở việc ghi
nhận quyền của còn người. Thông qua Hiến
pháp, mọi người trong xã hội thoát khỏi thân
phận “thần dân”, được trở thành “công dân” và
được Nhà nước ghi nhận cho hưởng những
quyền nhất định. Theo nguyên tắc, đó là những
quyền tối thiểu mà công dân được hưởng, các
văn bản khác được trao thêm quyền cho người
dân, nhưng không được hạn chế bớt những
quyền của người dân đã được ghi nhận trong
Hiến pháp. Các văn bản khác còng không được 5
hạn chế, cản trở việc hưởng thụ các quyền của
người dân được ghi nhận trong Hiến pháp.
Hiến pháp còn là cơ sở để hạn chế quyền lực
của các cơ quan nhà nước, tránh sự lạm quyền
của các cơ quan này. Hiến pháp ghi nhận
những quyền hạn tối đa mà các cơ quan nhà
nước được hưởng và những nghĩa vụ tối thiểu
mà các cơ quan nhà nước phải thực hiện. Các
văn bản khác được trao thêm nghĩa vụ cho các
cơ quan nhà nước, nhưng không được trao
thêm các quyền ngoài những quyền mà Hiến pháp quy định.
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA HIẾN PHÁP
1.Quá trình hình thành và phát triển
của Hiến pháp trong xã hội tư sản
Hiến pháp được hình thành cùng với cuộc
cách mạng tư sản, là sản phẩm của cách mạng
tư sản. Trong cuộc cách mạng do giai cấp tư
sản lãnh đạo nhằm chống lại chế độ phong
kiến, chống lại quyền lực vô hạn của vua, chóa
phong kiến. Để tập hợp lực lượng, giai cấp tư
sản đã đưa ra yêu cầu phải xây dựng Hiến pháp 6
nhằm để hạn chế hoặc xoá bỏ quyền lực vô hạn
của vua chóa phong kiến. Hình thức hạn chế
hoặc xoá bỏ quyền lực được thực hiện bằng
cách: xoá bỏ chính thể quân chủ để xây dựng
chính thể cộng hoà hoặc chỉ hạn chế quyền lực
của nhà vua bằng cách áp dụng hình thức
chính thể quân chủ hạn chế.
Giai cấp tư sản tiếp tục phục hưng những
tư tưởng phân quyền đã được nêu lên trong
thời kỳ cổ đại, phát triển chúng thành những
học thuyết phân quyền, tiêu biểu như học
thuyết phân quyền của J.Locke, Montexkio.
Theo đó, quyền lực không những phải chống
lại sự tập trung trong tay nhà vua, mà quyền
lực cần phải được phân chia thành các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời,
những quyền này phải được giao cho các cơ
quan khác nhau, có sự kiềm chế, đối trọng
nhau để tránh sự lạm quyền và chuyên quyền.
Hiến pháp trong thời kỳ đầu thắng lợi của
cuộc cách mạng tư sản, Hiến pháp được sử
dụng để ghi nhận sự thắng lợi của cuộc cách
mạng dân chủ, tuyên bố các quyền công dân và
để hạn chế hay xoá bỏ quyền lực của nhà vua. 7
Trong giai đoạn này, Hiến pháp mang giá trị
tích cực, ngoài việc bảo vệ quyền lợi cho giai
cấp tư sản thì các tầng lớp, giai cấp khác đóng
vai trò là lực lượng hậu thuẫn cho giai cấp tư
sản giành thắng lợi còng được bảo vệ.
Khi giai cấp công nhân trong xã hội đã
phát triển cả về chất và lượng, trở thành giai
cấp đối trọng với giai cấp tư sản. Khi ấy, Hiến
pháp là sản phẩm của nhà nước tư sản lại được
sử dụng để chống lại giai cấp công nhân và
nhân dân lao động. Hiến pháp trong giai đoạn
này, tuy có quy định các quyền công dân
nhưng mang tính chất hình thức và phản dân
chủ. Bản chất của Hiến pháp chỉ bảo vệ quyền
lợi cho giai cấp tư sản - lực lượng chiếm thiểu
số trong xã hội, Hiến pháp không đứng về số đông dân chúng.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với
thắng lợi của Xô viết, các nhà nước XHCN
được hình thành và trở thành một hệ thống đối
trọng với các nước TBCN. Trước sự đấu tranh
mạnh mẽ của giai cấp công nhân và dân chúng
lao động, cùng với sự nhận thức của dân chúng
được tăng cường. Để tập hợp lực lượng và để 8
nhận được sự ủng hộ của dân chúng, giai cấp
tư sản còng đã phải ghi nhận và thực hiện đầy
đủ hơn các quyền chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội của công dân. Vì vậy, Hiến pháp trong giai
đoạn này đã lại chứa đựng những yếu tố tích cực, tiến bộ.
2.Quá trình hình thành và phát triển
của Hiến pháp trong xã hội XHCN
Hiến pháp XHCN được hình thành gắn liền
với cuộc cách mạng vô sản. Giai cấp vô sản đã
tiến hành phê phán Hiến pháp tư sản, chỉ ra
rằng Hiến pháp tư sản có bản chất chỉ phục vụ
cho lợi ích của giai cấp tư sản. Đồng thời còng
nhận thấy được những giá trị tích cực của Hiến
pháp, giai cấp vô sản cho rằng còng cần phải
xây dựng một loại Hiến pháp mới cho một xã
hội mới, xã hội XHCN. Hiến pháp được xây
dựng để ghi nhận thắng lợi của giai cấp vô sản,
ghi nhận những nền tảng của chế độ XHCN,
ghi nhận những quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân, ghi nhận những nguyên tắc cơ bản
về tổ chức quyền lực nhà nước. 9
Trong giai đoạn đầu, từ cách mạng tháng
Mười đến năm 1945, Hiến pháp XHCN chỉ tồn
tại trong phạm vi nội bộ quốc gia (Liên bang
Nga, sau là liên bang Xô viết). Sau này, khi
các nước XHCN khác được hình thành, cùng
với nó là sự ra đời của các bản Hiến pháp, như:
Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến pháp
Bungary năm 1947, Hiến pháp Rumani năm
1948, Hiến pháp Cộng hoà dân chủ Đức năm
1949, Hiến pháp Hungary năm 1949, Hiến
pháp Ba lan năm 1952, Hiến pháp Trung Hoa
năm 1954. Từ năm 1990 đến nay, khi các nước
XHCN ở Đông Âu tan rã và quay trở lại với
hình thức nhà nước tư sản, các bản Hiến pháp
XHCN ở các nước này đã được thay đổi, trở
thành các bản Hiến pháp tư sản. Hiến pháp
XHCN hiện chỉ còn áp dụng tại một số rất ít
quốc gia, trong đó có Việt Nam.
III. PHÂN LOẠI HIẾN PHÁP
1.Phân loại Hiến pháp theo hình thức biểu hiện a)
Hiến pháp thành văn
Hiến pháp thành văn là Hiến pháp được
biểu hiện dưới hình thức văn bản. Thông 10
thường là một văn bản, trong trường hợp đặc
biệt, Hiến pháp được thể hiện dưới hình thức
nhiều văn bản. Ví dụ như Hiến pháp Thụy
Điển được biểu hiện thông qua các đạo luật:
Luật về chính thể (1809), Luật về kế vị ngôi
vua (1810), Luật về nghị viện (1810), Luật về tự do báo chí (1812).
Hiến pháp thành văn là một đạo luật cơ
bản, quan trọng nhất của quốc gia, hiện nay đa
số các quốc gia sử dụng Hiến pháp thành văn. b)
Hiến pháp không thành văn
Hiến pháp không thành văn là Hiến pháp
không được thể hiện dưới hình thức văn bản cụ
thể. Hiến pháp không thành văn được thể hiện
thông qua các quy phạm pháp luật, các quy tắc
trong phong tục, tập quán, truyền thống, án lệ.
Hiện nay chỉ có một số ít quốc gia sử dụng
Hiến pháp không thành văn, như: Anh,
Niudilan, Isaren, Libia. Hiến pháp không thành
văn không mang tính long trọng như Hiến
pháp thành văn, tuy vậy lại thuận tiện trong thủ
tục thông qua và sửa đổi.
2.Phân loại Hiến pháp theo nội dung
a) Hiến pháp cổ điển 11
Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp có nội
dung chủ yếu quy định về tổ chức quyền lực
nhà nước, ít có những quy định về các quyền
tự do. Hiến pháp cổ điển xuất hiện nhiều ở giai
đoạn cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tuy vậy,
có một số Hiến pháp được ban hành trong thời
gian gần đây còng được coi là Hiến pháp cổ
điển. Một số bản Hiến pháp cổ điển tiêu biểu
như: Hiến pháp Hoa Kỳ 1787, Hiến pháp Áo
1920, Hiến pháp Ailen 1937, Hiến pháp Thụy
Điển 1974, Hiến pháp Canada 1982.
b) Hiến pháp hiện đại
Hiến pháp hiện đại là Hiến pháp có nội
dung được mở rộng, quy định thêm nhiều
quyền tự do của công dân. Các bản Hiến pháp
hiện đại tiêu biểu như: Hiến pháp Pháp 1946,
1958; Hiến pháp Cộng hoà dân chủ Đức 1949;
Hiến pháp các nước XHCN.
3.Phân loại Hiến pháp theo thủ tục thông qua a)
Hiến pháp nhu tính
Hiến pháp nhu tính là Hiến pháp có thủ tục
thông qua như một đạo luật thông thường. b)
Hiến pháp cương tính 12