









Preview text:
lOMoAR cPSD| 59691467 CƠ BẢN
Khái niệm triết học: Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về
TG và vị trí của con người trong TG đó. Là khoa học về những quy luật vận động,
phát triển chung nhất của tự nhiên, XH và tư duy.
Đối tượng của Triết học: Nghiên cứu những vấn đề chung nhất của TG, của
XH và con người, mối quan hệ của con người và tư duy của con người với TG xung quanh.
Vai trò của Triết học: Thế giới quan và phương pháp luận.
2 nguyên lý, 3 quy luật, 6 cặp phạm trù
1. Sự ra đời của triết học Mác – Lênin; vai trò của triết học Mác – Lênin
trong đời sống xã hội.
Sự ra đời của triết học Mác – Lênin
Triết học là dạng tri thức lý luận xuất hiện sớm nhất trong lịch sử các loại
hình lý luận của nhân loại.
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có nguồn gốc nhận
thức và nguồn gốc xã hội. -
Nguồn gốc nhận thức của triết học là nói đến sự hình thành,
phát triển của tư duy trừu tượng, của năng lực khái quát trong nhận thức
của con người. Tri thức cụ thể, riêng lẻ về thế giới đến một giai đoạn
nhất định phải được tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa thành những
khái niệm, phạm trù, quan điểm, quy luật, luận thuyết... đủ sức phổ quát
để giải thích thế giới.
Triết học ra đời đáp ứng nhu cầu đó của nhận thức. Do nhu cầu của sự tồn
tại, con người không thỏa mãn với các tri thức riêng lẻ, cục bộ về thế giới, càng
không thỏa mãn với cách giải thích của các tín điều và giáo lý tôn giáo. Tư duy
triết học bắt đầu từ các triết lý, từ sự khôn ngoan, từ tình yêu sự thông thái, dần
hình thành các hệ thống những tri thức chung nhất về thế giới.
Triết học chỉ xuất hiện khi kho tàng tri thức của loài người đã hình thành
được một vốn hiểu biết nhất định và trên cơ sở đó, tư duy con người cũng đã đạt
đến trình độ có khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. -
Nguồn gốc xã hội của triết học là triết học chỉ ra đời khi xã
hội loài người đã đạt đến một trình độ tương đối cao của sản xuất xã hội,
phân công lao động xã hội hình thành, của cải tương đối thừa dư, tư hữu
hóa tư liệu sản xuất được luật định, giai cấp phân hóa rõ và mạnh, nhà nước ra đời. lOMoAR cPSD| 59691467
Trong một xã hội như vậy, tầng lớp trí thức xuất hiện, giáo dục và nhà
trường hình thành và phát triển, các nhà thông thái đã đủ năng lực tư duy để trừu
tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa toàn bộ tri thức thời đại và các hiện tượng
của tồn tại xã hội để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận, các triết thuyết.
Với sự tồn tại mang tính pháp lý của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, của trật tự giai cấp và của bộ máy nhà nước, triết học, tự nó đã mang trong
mình tính giai cấp sâu sắc, nó công khai tính đảng là phục vụ cho lợi ích của những
giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.
Nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của sự ra đời của triết học
chỉ là sự phân chia có tính chất tương đối để hiểu triết học đã ra đời trong điều
kiện nào và với những tiền đề như thế nào.
Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống xã hội
Triết học Mác-Lênin là TGQ, PPL khoa học và Cách mạng cho con người
trong nhận thức và thực tiễn.
Có vai trò định hướng quan trọng cho con người trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn của mình. Giúp chúng ta nhận thức được con đường cần đi, có
được phương pháp đặt ra vấn đề và giải quyết vấn đề. Tránh nhầm lẫn, lạc lối giữa
vô vàn cái mới, cái phức tạp.
Xuất phát từ 1 lập trường triết học đúng đắn, chúng ta có thể có được những
cách giải quyết đúng đắn các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Tuy nhiên, cũng ko nên
tuyệt đối hóa vai trò của triết học dẫn đến những sai lầm giáo điều, máy móc. -
Triết học Mác-Lênin là cơ sở TGQ, PPL khoa học và Cách
mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh. -
Triết học Mác-Lênin còn là cơ sở lý luận khoa học của công
cuộc xây dựng CNXH trên TG và sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN ở VN.
TGQ triết học giúp chúng ta nhìn nhận, đánh giá bối cảnh mới, đánh giá tình
hình trong nước và TG; cũng như con đường phát triển của đất nước trong tương lai.
PPL của Triết học Mác-Lênin giúp giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực
tiễn xây dựng CNXH và đổi mới đất nước. (Như giải quyết MQH giữa KTTT và
CNXH; MQH giữa đổi mới KT với đổi mới CT,...)
2. Vấn đề cơ bản của Triết học.
Theo Ăng-ghen, “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của
triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.
- Mọi trào lưu triết học đều xoay quanh giải quyết vấn đề này. lOMoAR cPSD| 59691467
- Giải quyết được vấn đề cơ bản của Triết học sẽ giải quyết được mọi vấn
đề khác trong phạm vi và đối tượng nghiên cứu triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời hai câu hỏi lớn. -
Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước,
cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Nói cách khác, khi tìm ra
nguyên nhân cuối cùng của hiện tượng, sự vật, hay sự vận động đang
cần phải giải thích, thì nguyên nhân vật chất hay nguyên nhân tinh thần
đóng vai trò là cái quyết định. -
Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới
hay không? Nói cách khác, khi khám phá sự vật và hiện tượng, con
người có dám tin rằng mình sẽ nhận thức được sự vật và hiện tượng hay không.
3. Vật chất, ý thức; mối quan hệ biện chứng giữa vật chất - ý thức; Ý nghĩa
phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức.
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con người chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Thứ nào có tính khách quan (tính độc lập sự tồn tại không phụ thuộc vào ý
thức của con người) được coi là vật chất. Ví dụ:
Vật chất của triết học: Vật thể (cầm nắm được), tri thức, quy luật, hay bất cứ
thứ gì tồn tại khách quan.
Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào bộ óc người, là
phản ánh tích cực chủ động, sáng tạo hình ảnh chủ quan.
a) Ý thức là sự phản ánh vật chất
- Cái phản ánh (ý thức)
- Cái được phản ánh (vật chất)
b) Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
- Ý thức là hình ảnh không phải bản thân sự vật
- Sự vật được di chuyển vào não và được cải biến trong đó
- Mức độ cải biến tùy theo mỗi chủ thể
c) Ý thức có sự phản ánh tích cực chủ động, sáng tạo
Không phải vật chất như thế nào thì phản ánh đúng vào bộ não của
chúng ta như thế đó Ví dụ:
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất - ý thức lOMoAR cPSD| 59691467
Theo quan điểm Triết học Mác – Lênin, VC và YT có mối quan hệ biện
chứng, trong đó VC quyết định YT, còn YT tác động tích cực trở lại VC.
Vật chất quyết định ý thức
- Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức
- Vật chất quyết định bản chất của ý thức
- Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
- Ý thức có thể biến đổi nhanh hoặc chậm hơn vật chất
- Ý thức có thể tác động trở lại thế giới vật chất
Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức -
Phải có quan điểm khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. -
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải biết xuất phát từ
thực tiễnkhách quan, tôn trọng quy luật khách quan. -
Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại hoạt động
thực tiễn, nêncần phát huy tính chủ động sáng tạo của ý thức.
4. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật (nguyên lý mối liên
hệphổ biến, nguyên lý về sự phát triển).
a) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật,
hiện tượng của thế giới, chúng là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật.
Tính chất của nguyên lý mối liên hệ phổ biến
- Tính khách quan: Các mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng là
khách quan, tồn tại độc lập với ý chí của con người. Con người chỉ có thể
nhận thức và vận dụng các mối liên hệ này vào hoạt động thực tiễn.
- Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ
với các sự vật, hiện tượng khác. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại
một cách biệt lập hoàn toàn.
- Tính đa dạng và phong phú: Các mối liên hệ rất đa dạng và phong
phú, bao gồm nhiều loại hình khác nhau như mối liên hệ giữa các mặt đối
lập, giữa lượng và chất, giữa cái chung và cái riêng, giữa bản chất và hiện tượng.
Ý nghĩa phương pháp luận lOMoAR cPSD| 59691467 -
Quan điểm toàn diện: Khi nghiên cứu hoặc giải quyết vấn đề,
cần xem xét toàn diện các mối liên hệ và tác động qua lại giữa các yếu tố. -
Quan điểm lịch sử - cụ thể: Mỗi sự vật, hiện tượng cần được
xem xét trong bối cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể của nó.
Nguyên lý này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự phức tạp và đa dạng của thế
giới, từ đó có thể đưa ra những quyết định và hành động phù hợp hơn trong thực tiễn.
b) Nguyên lý về sự phát triển là một trong những nguyên lý cơ bản của phép
biện chứng duy vật. Nguyên lý này khẳng định rằng mọi sự vật và hiện tượng
trong thế giới khách quan đều luôn vận động và phát triển. Sự phát triển này
diễn ra theo hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn.
Tính chất của nguyên lý về sự phát triển
- Tính khách quan: Sự phát triển là một quá trình khách quan, không
phụ thuộc vào ý chí của con người. Con người chỉ có thể nhận thức và vận
dụng các quy luật của sự phát triển vào thực tiễn.
- Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng đều trải qua quá trình phát
triển. Không có gì tồn tại một cách tĩnh tại và bất biến.
- Tính liên tục và kế thừa: Sự phát triển diễn ra liên tục, trong đó các
giai đoạn sau kế thừa và phát triển từ các giai đoạn trước.
Ý nghĩa phương pháp luận
- Quan điểm phát triển: Khi nghiên cứu hoặc giải quyết vấn đề, cần
xem xét sự vật và hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của chúng.
- Quan điểm toàn diện: Cần xem xét sự phát triển trong mối liên hệ
với các yếu tố khác, không tách rời hoặc cô lập.
5. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật (Chung - Riêng;
Tất nhiên – Ngẫu nhiên; Nguyên nhân- Kết quả; Bản chất - Hiện tượng; Nội
dung - Hình thức; Khả năng và hiện thực).
a) Cái chung và Cái riêng
- Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
- Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những thuộc tính, những mặt giống
nhau và được lặp lại trong các cái riêng khác nhau.
- Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ có ở sự
vật, hiện tượng này mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Mối quan hệ cái riêng – cái chung – cái đơn nhất lOMoAR cPSD| 59691467
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng biểu hiện sự tồn
tại của mình (Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng).
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung (Không có cái riêng
nào tồn tại tuyệt đối độc lập)
- Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú. Cái chung là cái bộ phận, sâu sắc.
- Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển. Ý nghĩa
- Chỉ có thể tìm cái chung trong những sự vật, hiện tượng riêng lẻ không
được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người.
- Cái chung là cái sâu sắc, bản chất. Phải dựa vào cái chung để tạo cái riêng.
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất tích
cực trở thành cái chung và cái chung tiêu cực trở thành cái đơn nhất.
b) Tất nhiên – ngẫu nhiên
- Tất nhiên dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết
cấu sự vật quyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng
như thế chứ không thể khác.
- Ngẫu nhiên dùng để chỉ cái do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp
của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định, nó có thể xuất hiện, có thể không
xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, cũng có thể xuất hiện như thế khác.
Mối quan hệ giữa tất nhiên – ngẫu nhiên
- TT và NN đều tồn tại khách quan và đều có vai trò đối với sự vận động, phát triển.
- TT và NN tồn tại thống nhất với nhau. Không có cái TT và NN thuần túy. -
TT và NN có thể thay đổi vị trí cho nhau. c) Nguyên nhân – kết quả
- Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt
trong cùng một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
và sẽ gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
- Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân gây ra.
Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả
- MQH giữa nguyên nhân và kết quả là mqh khách quan, tất yếu.
+ NN có trước và sinh ra KQ
+ Có NN thì chắc chắn sẽ có KQ
+ Có KQ thì tức là do NN gây ra
- Một KQ có thể do một NN tạo ra hoặc do rất nhiều NN tạo ra.
- Một NN cũng có thể dẫn đến nhiều KQ khác nhau.
- NN tạo ra KQ nhưng KQ này lại là NN của một KQ khác. lOMoAR cPSD| 59691467 Ý nghĩa
- NN luôn có trước KQ. Muốn tìm NN của một hiện tượng nào đó cần tìm
những sự kiện xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện. Và muốn loại bỏ
KQ nào đó, cần loại bỏ NN làm nảy sinh ra nó.
- Cần phân loại các NN để có những giải pháp xử lý đúng đắn.
- Phải tìm ra KQ chính, KQ phụ, cơ bản và không cơ bản.
- Phải có tầm nhìn điều chỉnh NN ban đầu để định hướng KQ trong tương lai.
6. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa
phươngpháp luận được rút ra từ việc nghiên cứu các quy luật.
Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại 1. Nội dung quy luật
- Vị trí, vai trò của quy luật: Chỉ ra cách thức chung nhất của sự phát triển
- Khái niệm chất, lượng
+ Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn
có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là
nó mà không phải là cái khác.
+ Lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật,
biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của
sự vật cũng như các thuộc tính của nó.
- Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
+ Độ (là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay
đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng)
+ Điểm nút (là thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã có thể làm thay
đổi chất của sự vật)
+ Bước nhảy (là sự chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng gây nên)
2. Ý nghĩa Phương pháp luận của quy luật
- Trong nhận thức và thực tiễn, nên tránh 2 khuynh hướng + Tả khuynh + Hữu khuynh lOMoAR cPSD| 59691467
- Thực hiện những bước nhảy trong cuộc sống phải chú ý điều kiện kháchquan và chủ quan
- Tránh tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng “đốt cháy giai đoạn”
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 1. Nội dung quy luật
- Vị trí, vai trò của quy luật chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển
- Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính,
những quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách
khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Mâu thuẫn biện chứng là trạng thái mà các mặt đối lập liên hệ, tác
động qua lại lẫn nhau, bài trừ phủ định lẫn nhau.
- Sự “thống nhất” của các mặt đối lập
- Sự “đấu tranh” của các mặt đối lập
- Mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển
2. Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật -
Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến, là cái vốn có của các sự
vật, hiệntượng do đó, nghiên cứu sự vật hiện tượng, phải xem xét quá
trình phát sinh, phát triển của mâu thuẫn. -
Để thúc đẩy sự vật phát triển, ta phải tìm mọi cách để giải
quyết mâuthuẫn, khôngđược điều hòa mâu thuẫn.
Quy luật phủ định của phủ định 1. Nội dung quy luật
- Vị trí, vai trò của quy luật: Khuynh hướng của sự phát triển. - Phủ định:
+ Mọi sự vật hiện tượng đều có quá trình sinh ra, tồn tại, mất đi và được
thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác.
+ Phủ định là sự thay thế hình thức tồn tại này bằng hình thái tồn tại khác
của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển.
- Phủ định biện chứng: sự phủ định có sự kế thừa và tạo điều kiện cho sự phát triển. + Tính khách quan + Tính kế thừa lOMoAR cPSD| 59691467
- Phủ định của phủ định:
+ Sự phát triển diễn ra qua nhiều lần phủ định, tạo ra một khuynh hướng đi từ thấp đến cao
+ Cái mới xuất hiện dường như lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn. - Ví dụ:
2. Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật -
Tránh được cái nhìn phiến diện giản đơn trong việc nhận thức
các sự vật,hiện tượng. -
Cái mới ra đời là tất yếu, tiến bộ hơn so với cái cũ. Cần có ý
thức pháthiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển. -
Khi phủ định cái cũ, cần phải biết sàng lọc, kế thừa những yếu
tố hớp lýcủa cái cũ, tránh phủ định sạch trơn.
7. Tồn tại xã hội - ý thức xã hội; Tính độc lập tương đối của ý thức XH.
1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội
- Tồn tại xã hội: toàn bộ đời sống vật chất của XH và những
điều kiện sinh hoạt vật chất của nó. Đây là hình thức biểu hiện của vật
chất trong lĩnh vực XH, bao gồm 3 yếu tố cơ bản:
+ Phương thức SX: đầu tiên nhất, quyết định nhất. + Môi trường tự nhiên + Điều kiện dân số
- Ý thức xã hội: toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, những tâm
tư, tình cảm, những tập tục truyền thống… của XH phản ánh lại tồn tại
XH ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.
+ Ý thức xã hội thông thường + Ý thức lý luận
2. Về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: -
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội:
+ Tồn tại xã hội nào thì sinh ra ý thức xã hội ấy.
+ Khi tồn tại xã hội thay đổi một cách căn bản, nhất là khi phương thức SX
đã thay đổi thì sớm hay muộn thì ý thức xã hội cũng phải thay đổi theo. -
Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của ý thức xã hội
lên tồntại xã hội: lOMoAR cPSD| 59691467
+ Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
+ Vai trò tiên phong vượt trước của tri thức khoa học, bộ phận này trong ý
thức xã hội có khả năng nắm bắt các quy luật vận động khách quan, từ đó đưa ra
được những dự báo, tiên đoán về sự phát triển của XH, nên có thể đi trước một
bước so với tồn tại xã hội.
+ Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội có thể làm cho nó có
một trình độ phát triển cao hơn so với tồn tại xã hội.