








Preview text:
lOMoARcPSD|40246642
Nhà nước và pháp luật phong kiến Tây Âu
Lịch Sử Văn Minh Thế Giới (Đại học Kinh tế Quốc dân) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
Đề bài: Tìm hiểu về nhà nước pháp luật Tây Âu từ thế
kỷ 5 đến thế kỷ 11
1. Quá trình hình thành nhà nước phong kiến Tây Âu
- Quá trình hình thành và phát triển nhà nước phong kiến Tây Âu từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 11 gồm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Thế kỷ 4-5 sau công nguyên là thời kỳ thành lập nhà nước phong kiến Frank.
+ Giai đoạn 2: Thế kỷ 9-14 là thời kỳ phân quyền cát cứ ở Tây Âu.
1.1. Sự thành lập nhà nước German
- Bộ lạc German: (gồm người Iaranieng, Hung Nô, Frank)
+ Họ tập trung sinh sống ở: phía đông đường biên giới sông Rhine và sông
Đanuyp của đế quốc La Mã.
+ Trước khi chinh phục Tây âu, người German đang ở đang ở giai đoạn quá độ
từ công xã nguyên thủy lên chế độ có giai cấp - nhà nước. Đến thế kỷ thứ 3 các
bộ lạc German liên kết thành những liên minh bộ lạc Oxtorogot, Vidigot, Vangdan,
Frank, Anglo, Sacxon, Alamang, Lombard... và tấn công vùng biên giới của đế quốc Roma.
- Đến khoảng từ thế kỷ thứ 4-5, các tộc người German tràn vào chinh phục vùng đất Tây
La Mã (và trong lịch sử thì được gọi là những cuộc thiên di lớn).
- Khi ấy, những thủ lĩnh quân sự của người German chính là những người được tín nhiệm
và có thế lực nhất, không những thế sự an ninh lãnh thổ đòi hỏi tăng cường quyền lực ->
vì vậy quyền chỉ huy quân sự dần dần chuyển hoá thành vương quyền.
- Khi vào thống trị Tây Âu họ chiếm đoạt đất đai bằng cách bóc lột địa tô của chúa đất địa phương.
- Người German đã nhảy vọt từ chế độ công xã nguyên thủy tan rã bỏ qua chế độ chiếm
hữu nô lệ tiến lên chế độ phong kiến.
- Đến nửa sau thế kỷ thứ 5, người các tộc người German xây dựng được các vương quốc
phong kiến ở Tây Âu như: vương quốc Frank, vương quốc Vidigot (Tây Ban Nha và miền
Tây Nam Gôlo), vương quốc Burgonde (đông nam xứ Gôlo), các vương quốc của người
Anglo-Sacxon (Anh), vương quốc Xuyevo, vương quốc Vangdan,...
-> Đến giữa thế kỷ 5, phần lớn đất đai phía Tây của đế quốc Tây La Mã thuộc về người German.
- Năm 476, tướng German là Odoacre lật đổ hoàng đế Romulus Augustulus - vị hoàng đế
cuối cùng của Tây La Mã. Tây La Mã diệt vong, người German lập thêm vương quốc: Oxtorogot, Lombard, Frank.
- Sau khi chiếm được La Mã, người German phải tổ chức lãnh thổ mà họ chiếm được.
Không thể thu nạp những người La Mã vào thị tộc, không thể dùng tổ chức thị tộc để quản
lý xã hội mới. Vì vậy chỉ có thể thay thế nhà nước La Mã bằng một nhà nước khác. Các cơ
quan của tổ chức thị tộc phải chuyển hóa trở thành cơ quan nhà nước và do tình thế thúc
đẩy đã chuyển hóa rất nhanh chóng.
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
1.2. Quá trình hình thành chế độ phong kiến Tây Âu (hay sự xuất hiện của các quan hệ
phong kiến trong lòng đế quốc La Mã)
- Nhà nước phong kiến Tây Âu được hình thành dựa trên nền tảng là nhà nước chiếm hữu nô
lệ ở La Mã trong thời kỳ cổ đại.
- Đế quốc La Mã được xem là đế chế hùng mạnh bậc nhất trong thời kỳ cổ đại ở phương Tây
với lãnh thổ vô cùng rộng lớn.
- Đến thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, nhà nước La Mã có dấu hiệu suy yếu (đánh dấu bằng
sự khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ)
- Sau một thời gian bị bóc lột quá nặng nề bởi tầng lớp chủ nô để phục vụ cho nhu cầu phát
triển kinh tế , nô lệ đã đứng lên đấu tranh bằng nhiều phương thức:
+ Khởi nghĩa: khởi nghĩa đòi quyền tự do, quyền làm người, quyền sở hữu tài sản.
+ Bỏ trốn -> các hoạt động kinh tế thông thường ở nhà nước Lã Mã bắt đầu đình trệ, nhà
nước La Mã bắt đầu suy yếu, nên việc mở rộng chiến tranh, bắt nô lệ bắt đầu khó khăn ->
khủng hoảng nô lệ -> khủng hoảng nền kinh tế. Một số chủ nô đứng trước nguy cơ bị phá sản.
- Để đối phó với sự khủng hoảng, chủ nô thay đổi phương thức bóc lột: chia đất làm hai phần
+ Phần nhỏ: chủ nô quản lý, không trực tiếp làm việc mà yêu cầu nô lệ sx trên mảnh đất
này và toàn bộ lợi tức chủ nô sẽ nhận hết.
+ Phần lớn: chia nhỏ và phát canh cho nô lệ. Nô lệ sx trên mảnh đất đấy thì bắt buộc nộp
lại địa tô là tô hiện vật, thực hiện tô lao dịch. -> Lệ nông. Chủ nô -> Chủ đất (Lãnh chúa)
- Các chủ đất lớn tổ chức ra quân đội riêng của mình để bảo vệ trang viên. Thực lực của họ
ngày càng mạnh, có xu hướng thoát ly khỏi chính quyền trung ương, dần dần trở thành
những “ông vua nhỏ”. Chúa đất lớn chính là tiền thân của chúa phong kiến. Trong xã hội
đã từng bước hình thành hai giai cấp đặc trưng của chế độ phong kiến là địa chủ và
nông nô cùng phương thức bóc lột chủ yếu là địa tô. Ngoài ra trong xã hội còn có tầng
lớp dân tự do và nô lệ.
- Sau khi chinh phục được xứ Gôlơ thì người Frank từ chế độ thị tộc bước sang quá trình
phong kiến hóa. Quá trình phong kiến hóa thể hiện ở 3 mặt:
+ Lãnh địa hóa toàn bộ ruộng đất trong xã hội
+ Nông nô hóa giai cấp nông dân
+ Trang viên hóa nền kinh tế
- Do các vua của người Frank trong quá trình xâm lược đã chiếm được nhiều ruộng đất =>
+ Vua giao một phần đất đai cho công xã thị tộc để thành lập những công xã nông thôn
+ Vua giao một phần cho quý tộc một phần cho nhà thờ thiên chúa giáo
+ Vua giữ lại một phần lãnh địa rộng lớn cùng với những người chiếm hữu nhiều
ruộng đất => giai cấp mới gọi là tầng lớp địa chủ ( lãnh chúa ).
1.3. Cơ cấu giai cấp của xã hội phong kiến
- Giai cấp thống trị:
+ Công - Hầu - Bá - Tử - Nam (cao xuống thấp)
+ Lãnh chúa lớn: Công tước (lãnh địa rất lớn), Hầu tước (lãnh địa gồm mấy
quận) , Bá tước (lãnh địa chỉ 1 quận)
+ Khi được phong tước vị, lãnh chúa trở thành quý tộc phong kiến (lãnh
chúa thế tục, lãnh chúa tăng lữ)
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
=> Tầng lớp lãnh chúa thường ít học nhưng có tinh thần thượng võ, lấy chiến đấu làm nghề
nghiệp => nền tảng cho quyền lực của nhà vua, việc chia quyền lực và đất đai gây ra tình trạng cát cứ sau này.
+ Lãnh chúa thế tập: những lãnh chúa theo chế độ cha truyền con nối.
+ Lãnh chúa tăng lữ: do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của giáo hội. Đứng đầu là đại
giáo chủ, rồi đến giáo chủ và cuối cùng là giáo phụ
- Giai cấp bị trị: nông dân tự do, nông dân nửa tự do, lệ nông, nô lệ.
+ Lệ nông: đông nhất, được nhận một phần đất do địa chủ giao cho, có nghĩa vụ
nộp tô, nộp thuế thân, làm lao dịch và không được rời ruộng đất.
+ Nô lệ: làm việc trong các trang viên bao gồm đầy tớ, làm nghề thủ công trong
xưởng của lãnh chúa và làm trên đồng ruộng, bị coi là tài sản và có thể mua bán.
+ Nông dân nửa tự do: ruộng đất chịu sự bảo hộ của lãnh chúa. Luôn đứng trước nguy cơ nông nô hóa.
+ Nông nô: không còn tư liệu sản xuất và lệ thuộc vào lãnh chúa, không hoàn toàn
mất tự do, có gia đình riêng, tài sản riêng và lãnh chúa k có quyền giết hại, không
được phép rời khỏi lãnh địa, không được tự do kết hôn.
(=> Nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của nhà nước phong kiến Tây âu:
+ Sự xuất hiện quan hệ phong kiến trong lòng đế quốc La Mã
+ Sự tấn công vào lãnh thổ La Mã của tộc người German)
1.4. Quá trình hình thành, phát triển và tan rã của nhà nước Frank.
- Trong số các vương quốc phong kiến được người German thiết lập thì vương quốc do
liên minh bộ lạc Frank với sự cầm đầu của thủ lĩnh quân sự Clovis là vương quốc hùng
mạnh nhất và ảnh hưởng quan trọng đến toàn bộ lịch sử Châu Âu sơ kỳ phong kiến. - Quá trình hình thành:
+ Ban đầu cư trú ở hữu ngạn, hạ lưu sông Rhine sau đó họ vượt qua sông Rhine
tràn vào Gôlơ. Đến thế kỷ thứ 4 thì định cư ở đông bắc Gôlơ
+ Sau khi đế quốc Tây La Mã diệt vong thì người Frank mở các cuộc tấn công chinh phục vùng này.
+ Để nâng cao địa vị, vua Clovis đã làm lễ rửa tội theo Kitô giáo => các thế lực tôn
giáo đồng tình với các cuộc chinh phục và xóa bỏ sự cách biệt chủng tộc giữa người Roma và Frank
+ Vua Clovis thuyết phục dân chúng Frank theo Kitô giáo -> nhận được sự ủng hộ
của nhà thờ, giáo hội giúp vua củng cố vương quyền và ngược lại vua cũng cấp cho
Giáo hội nhiều đất đai.
+ Lãnh thổ của vương quốc Frank bao gồm ¾ xứ Gôlơ và một vùng rộng lớn ở hữu ngạn sông Rhine.
=> Clovis là người khai quốc, là ông vua đầu tiên của vương quốc Frank.
- Nhà nước Frank tồn tại qua 2 triều đại là triều đại Merovingien và triều đại Carolingien.
+ Triều đại Merovingien: do Clovis tạo dựng. Năm 511 sau khi Clovis chết vương
quốc Frank được chia thành 4 phần cho 4 con trai của Clovis. Sau đó các ông vua
dòng họ Clovis không ngừng mở rộng lãnh thổ đến nửa sau thế kỷ thứ 6 thì Frank
trở thành vương quốc hùng mạnh nhất Tây Âu. Do mâu thuẫn nội bộ kéo dài hàng
thập kỷ nên quyền lực ngày càng suy yếu. Năm 613 được thống nhất dưới triều vua
Clote II nhưng quyền lại phần lớn thuộc về các lãnh chúa lớn. Đến thế kỷ thứ 8,
vua chỉ còn quyền lực trên danh nghĩa, mọi quyền nằm trong tay các thừa tướng.
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
Quyền lực của các dòng họ quý tộc ngày càng mạnh, đặc biệt là dưới thời thừa
tướng Charles Martel (715 - 741 )
+ Triều đại Carolingien: Năm 751, Pepin thừa kế chức thừa tướng của cha là
Charles Martel đã lật đổ triều đại của Merovingien lập ra triều đại Carolingien. Năm
755 Pepin đã đem đất đai lấy được ở vùng trung Italia tặng cho giáo hoàng Roma
để trả ơn giáo hoàng đã ủng hộ ông tiến hành cuộc chính biến. Từ đó Tây Âu xuất
hiện quốc gia của Thiên chúa giáo.Vương triều cường thịnh nhất dưới thời con của Pepin 768 - 814.
- Hòa ước Verdun: năm 814 khi Charlemagne chết, vua Louis lên thay. Vua Louis không
công bằng trong đối xử với các con nên gây ra mâu thuẫn dẫn đến nội chiến. Năm 843, ba
người con của vua Louis đã ký hòa ước Verdun. Theo bản hòa ước thì lãnh thổ của đế quốc
Frank chia làm ba phần. Hòa ước Verdun là mốc đánh dấu sự diệt vong của nhà nước
Frank và là sự hình thành ba nước lớn ở Tây Âu là Đức, Pháp, Italia.
1.5. Tổ chức bộ máy nhà nước Frank.
- Đứng đầu là vua (hoàng đế): nắm toàn bộ quyền lực, tổng chỉ huy quân đội, quan toàn cao nhất
+ Vua coi lãnh thổ là tài sản, quan chức chỉ là bầy tôi
+ Phong tước và ban tước cho một số quý tộc, tước vị được cha truyền con nối
+ Là tổng chỉ huy quân đội, giữ quyền xét xử tối cao, quyền thu thuế
- Bộ máy nhà nước có một số quan chức cao cấp, có sự phân công nhưng không rõ ràng và cố định:
+ Quan hầu phòng, quan coi kho rượu, quan coi kho bạc, pháp quan, quan chỉ huy quân đội.
+ Chức vị quản lý trông coi các trang viên của nhà vua (ngang bá tước), đứng đầu
các viên quản lý là quan quản lý tạm gọi là thừa tướng .
+ Đứng đầu bộ máy quan lại là các chức Thừa tướng, Tổng giám mục và Đại thần
cung đình. Thừa tướng giữ chức Bí thư và Trưởng ấn của nhà vua, Tổng giám mục
quản lý các giáo sĩ trong cả nước, Quan đại thần cung đình được coi như thừa tướng
trước kia, quản lý các việc hành chính ở cung đình.
+ Ngoài ra còn có quan Thống chế, quan Chánh án, quan Coi quốc khố,...
- Đơn vị hành chính địa phương: là các khu quản hạt ( đứng đầu là Bá tước, nắm cả
quyền hành chính, tư pháp, tài chính và quân sự) - Cơ quan toà án:
+ Toà án cấp cao nhất là tòa án của nhà vua, các pháp quan từ Chánh án đến Bồi
thẩm đều là những quý tộc do Vua chỉ định. Phiên tòa do pháp quan thay mặt vua chủ trì việc xét xử
+ Mỗi khu quản hạt có một toà án địa phương do bá tước làm chánh án
+ Các đoàn khâm sai do nhà vua phái về các địa phương được phép tiến hành công việc xét xử - Quân đội:
+ Thân binh phát triển thành tổ chức quân đội chuyên nghiệp
+ Bộ phận quân đội khác tập hợp theo từng địa hạt dưới cờ của bá tước
Như vậy qua hai triều vương quốc Frank thì bộ máy nhà nước có ba bộ phận chính và hoàn chỉnh
là Chính quyền, Tòa án và quân đội.
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
2. Trạng thái phân quyền cát cứ phong kiến.
- Phân quyền cát cứ đã nảy sinh từ thời đế quốc Frank
- Từ sau hòa ước Verdun, Tây Âu hoàn toàn ở trạng thái phân quyền cát cứ, mỗi vương
quốc nhỏ cũng bị chia cắt thành nhiều vùng
- Thời kỳ phân quyền cát cứ này kéo dài gần 5 thế kỷ ( 9 - 16 )
+ Về kinh tế thời kỳ này: lấy nông nghiệp và chăn nuôi là chủ yếu, công thương nghiệp không phát triển
+ Về cơ cấu xã hội quan hệ cơ bản là quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân
+ Về văn hóa thời kỳ này: nền văn hóa La Mã suy tàn. Con em quý tộc chủ yếu
được giáo dục quân sự. Giáo sĩ là tầng lớp có văn hóa duy nhất trong xã hội. Văn
hóa và giáo dục ở thời kỳ này thấp kém.
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng phân quyền cát cứ ở Tây Âu.
+ Thứ nhất: sở hữu tư nhân của lãnh chúa là rất lớn và rất điển hình, cùng với chế
độ phân phong và chế độ thừa kế ruộng đất tạo ra quan hệ thần thuộc và tôn chủ.
+ Thứ hai: quyền sở hữu tối cao ruộng đất không thuộc về vua, kinh tế của các lãnh
chúa chủ yếu là kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín.
+ Thứ ba: sự hình thành đế quốc phong kiến Frank là kết quả của các cuộc đấu
tranh xâm lược và được duy trì bằng bạo lực, không có cơ sở kinh tế vì vậy chỉ là
một liên hiệp tạm thời ko vững chắc.
+ Thứ tư: Trong phạm vi cả Tây Âu và ở từng nước, các cộng đồng dân cư có trình
độ phát triển kinh tế xh khác nhau, có khuynh hướng tách khỏi chính quyền trung ương.
+ Thứ năm: Các lãnh địa có phạm vi khác nhau, có nhiều lãnh địa rộng lớn, có pháp
luật, quân đội riêng, thu thuế riêng nên rất dễ dẫn đến khả năng lấn át quyền vua.
+ Thứ sáu: từng nước lại có những nguyên nhân khác nhau. Ở Pháp, có những triều
Vua mà lãnh địa nhỏ hơn nhiều lãnh chúa - thế lực của vua rất hạn chế,...
+ Thứ bảy giao thông kém phát triển
+ Thứ tám: pháp luật thời kỳ này không cho phép cư dân của lãnh địa này kết hôn
với cư dân lãnh địa khác.
3. Chính quyền tự trị thành thị và cơ quan đại diện đẳng cấp
- Xuất hiện ngay trong lòng quá trình phát triển của chế độ phong kiến, khi nghề thủ công
nghiệp hình thành, thợ thủ công và nông nô từ các vùng nông thôn kéo đến thành thị làm ăn buôn bán
- Sự ra đời của các thành phố diễn ra từ TK 10-11 tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và vị trí địa lý từng vùng
3.1. Chính quyền tự trị thành phố:
- Tất cả thành thị nằm trên đất đai của lãnh chúa phong kiến:
+ Thành thị lệ thuộc vào lãnh chúa phong kiến và bị lãnh chúa cai trị, lãnh chúa có
nhiều quyền với thành thị như quyền tư pháp, thu thuế, cư trú
+ Mâu thuẫn xã hội giữa lãnh chúa phong kiến với thị dân và dân nghèo
=>Hình thành phong trào đấu tranh của các thành thị để giải phóng khỏi ách thống
trị chúa phong kiến bắt đầu từ TK 11 và sôi nổi nhất ở TK 12-13. Hai xu hướng:
Hình thành phong trào đấu tranh của các thành thị để giành đc chế độ tự trị (nơi ko
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
có tiềm lực kinh tế); Nộp tiền cho lãnh chúa để đc hưởng quyền tự trị (nơi có tiềm lực kinh tế)
- Tuy mức độ giành tự trị có khác nhau nhưng có điểm chung là các cư dân của tất cả các
thành thị đều được tự do - Về pháp luật:
+ Trong luật lệ của cộng hòa thành phố , luật thị trường giữ vai trò quan trọng =>
đảm bảo tính bất khả xâm phạm của hàng hoá, trừng phạt kẻ phạm tội, bảo hộ công
thương nghiệp phát triển
+ Luật lệ phường chống lại sự cạnh tranh nội bộ
- Hoạt động thương nghiệp, đời sống chính trị:
+ Thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc
+ Thay đổi tình trạng xã hội, tăng cường đấu tranh giai cấp
+ Chống phong kiến phân tán, thúc đẩy quá trình từ phong kiến phân quyền sang
tập quyền; tạo điều kiện hình thành các quốc gia thống nhất
+ Thúc đẩy phát triển văn hóa, giáo dục
⇒ Sự phát triển của thành phố tự trị được coi là sự phát triển của chế độ phong kiến
- Sự ra đời của chính quyền tự trị thành phố chứng tỏ:
+ Tầng lớp thị dân giàu có có thế lực kinh tế và trở thành 1 tầng lớp xã hội quan trọng
+ Chính quyền tự trị thành phố và cơ quan đại diện đẳng cấp đều thuộc tầng lớp giàu có -
là kiến trúc thượng tầng của chế độ pk đang ở trạng thái phân quyền cát cứ chuẩn bị chuyển
sang chính thể quân chủ chuyên chế phong kien
4. Quá trình xác lập chính thể quân chủ chuyên chế - Thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến
- Bối cảnh: Thế kỉ 11, nền kinh tế Tây Âu đã có những bước phát triển, thủ công nghiệp trở thành
ngành chính mang tính chất chuyên môn. Thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp. Thị dân, tư
sản bị lãnh chúa bóc lột nặng nề. Chế độ cát cứ kìm hãm sự phát triển của kinh tế thành thị. Thị
dân khi lớn mạnh đã đấu tranh chống lại lãnh chúa phong kiến để giải phóng thành thị, nhiều thành
thị có quyền tự trị - thị dân đã có quyền tự do, bình đẳng, thúc đẩy công thương nghiệp phát triển nhanh chóng
Quá trình xác lập chính thể quân chủ chuyên chế trải qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Xác lập chính thể quân chủ trung ương tập quyền nhằm xóa bỏ chế độ phân
quyền cát cứ của các lãnh chúa lớn
+ Giai đoạn 2: Xây dựng và củng cố nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế
5. Pháp luật phong kiến Tây Âu
5.1. Nguồn gốc của pháp luật phong kiếnTây Âu: (đa dạng)
- Tập quán pháp: là nguồn quan trọng nhất của pháp luật, bắt nguồn từ nhiều tập quán của
người German => chủ yếu khi chế độ pk mới hình thành
- Luật La Mã cổ đại: các quy luật dẫn chiếu từ luật La Mã cổ đại; điều chỉnh rất rộng và cụ
thể các quan hệ Xh đặc biệt là quan hệ dân sự, kỹ thuật lập pháp rõ ràng, chuẩn xác
- Văn bản pháp luật của Nhà nước: Luật pháp của triều đình phong kiến, chiếu chỉ, mệnh
lệnh của vua, án lệ và quyết định của Toà án nhà vua
- Luật của Giáo hội thiên chúa: điều chỉnh nhiều quan hệ XH (hôn nhân, thừa kế, …); Pháp
luật phong kiến mang đậm tính chất tôn giáo (giai đoạn sau tín điều tôn giáo còn đc nâng lên thành QPPL)
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
- Luật lệ của lãnh chúa, chính quyền ở các thành phố tự trị:
+ Lãnh địa: phong tục, luật lệ địa phương
+ Chính quyền tự trị thành phố: quy tắc phường hội
- Đầu TK 6 bắt đầu có các bộ luật thành văn nhưng đến đầu TK 11,12 luật thành văn của Tây Âu mới phát triển 5.2.
Nội dung của pháp luật Tây Âu: 5.2.1. Bộ luật Xa lích
- Thời kỳ đầu khi đế quốc Frank mới thành lập, pháp luật chủ yếu là phong tục, tập quán
của Bộ lạc Gierman được pháp điển hoá. Nổi bật nhất là Bộ luật Xa lích
- Luật Xa lích gồm 65 điều, được soạn dưới triều vua Clovis I (TK 6) - giai đoạn đầu thời
kỳ trung cổ của đế quốc Frank
- Toàn bộ nội dung của Bộ luật phản ánh đời sống xã hội và cách quản lí nhiều phương
diện: quản lý đất đai,quan hệ công xã, quan hệ giữa người German và La Mã, vị trí pháp lí
của nhà vua, quan điểm đạo đức, …
- Phần lớn nội dung của luật Xa lích đề cập cách thức xử lý đối với những hành vi xâm phạm đến tính mạng -Các điều khoản:
+ Nhóm 1: Các điều khoản liên quan đến quản lý nhà nước và thủ tục tố tụng tại phiên tòa
+ Nhóm 2: Các điều khoản liên quan đến quyền sở hữu tài sản
+ Nhóm 3: Các điều khoản về thừa kế
+ Nhóm 4: Các điều khoản liên quan đến hành vi phá hoại sx nông nghiệp
+ Nhóm 5: Các điều khoản liên quan đến các tội phạm hình sự
+ Nhóm 6: Các điều khoản liên quan đến quyền nhân thân, bảo lãnh và quan hệ hôn nhân gia đình 5.2.2.
Nội dung của Pháp luật Phong kiến Tây Âu thời kỳ cát cứ
* Pháp luật tố tụng và tư pháp:
- Nền tư pháp của lãnh chúa phong kiến chiếm ưu thế hơn nền tư pháp của Vua
- Tổ chức luật sư hoạt động như các ngành nghề khác trong Xh và có vai trò quan trọng
trong đời sống Xh (chỉ luật sư trong tổ chức luật sư mới được tham gia vào việc tố tụng )
- Sau khi Nghị viện ra đời, Viện công tố hình thành, dần dần Công tố tách khỏi Nghị viện
và do 1 uỷ viên công tố của nhà vua đứng đầu
* Chế định về dân sự:
- Về quyền sở hữu ruộng đất: thừa nhận quyền sở hữu của công xã, tư nhân. Chế độ tư hữu
về động sản đã xuất hiện -> quan hệ pháp lí do lãnh chúa quy định
- Những quy định về lĩnh canh, nghĩa vụ địa tô, lao dịch, thủ tục thừa kế trở nên phức tạp
- Quy định về hợp đồng mua bán, tặng cho, thuê mướn khá hoàn thiện
* Chế định về hôn nhân và gia đình
- Luật Xa lích đã có quy phạm quy định nghiêm cấm việc cướp, bắt cóc, mua bán phụ nữ làm vợ
- Luật hôn nhân gia đình chịu ảnh hưởng của thế lực nhà thờ và luật lệ thiên chúa giáo: luật
cấm ly hôn, người phụ nữ thường mất năng lực pháp lý về tài sản
- Pháp luật cho phép được dùng cực hình với phụ nữ, trai gái công xã ko đc kết hôn với trai gái làng khác
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com) lOMoARcPSD|40246642
- Tuy nhiên, ở nhiều địa phương nước Anh cho người vợ quản lý tài sản của mình * Luật hình sự:
- Tục trả nợ máu vẫn tồn tại khá đậm nét, cho phép người thân nạn nhân được trả thù
- Toà án cho phép nộp tiền phạt để thay thế (bất cứ phạm tội j cũng có thể nộp phạt để chuộc tội)
- Các tội phản quốc, ko trung thành với vua, lãnh chúa pk, chống lại nhà thờ và luật lệ tôn
giáo, trộm cắp tài sản của nhà nước … đều bị coi là trọng tội ko đc chuộc bằng tiền mà bị xử tử hình
- Pháp luật bị ảnh hưởng sâu sắc của thiên chúa giáo, khi xét xử nếu ko có chứng cứ hợp
pháp thì áp dụng nguyên tắc thần thánh tài phán
- Có những quy định về tố tụng mang tính cảm tính, bất hợp lý
Tóm lại: Pháp luật là phương tiện của nhà nước để đàn áp bóc lột nhân dân lao động, bảo vệ quyền
lợi, địa vị của tập đoàn phong kiến thế tục và tập đoàn phong kiến giáo hội
So với pháp luật thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, pháp luật Tây Âu kém phát triển hơn vì:
- Tình trạng phân quyền cát cứ kéo dài và kt tự cấp, tự túc đã kìm hãm sự phát triển của KT hàng hoá
- Các lãnh chúa phong kiến phải tập trung vào cuộc chinh phạt lẫn nhau ko có thời gian xây dựng pháp luật
- Tuyệt đại đa số cư dân trình độ thấp, XH ko pt GD
- Pháp luật ảnh hưởng sâu sắc của Thiên chúa giáo
Downloaded by Uyenn Thu (uyenthu8344@gmail.com)