Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING _ _ _ ***_ _ _ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Trong bài nói chuyện tại Trường chính trị trung cấp quân đội (25-
10- 1951), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cũ như người đi đầu ngược xuống
đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được
dưới đất, đầu ngẩng lên trời”. Hãy chứng minh Hồ Chí Minh đã thực hiện
cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức ở Việt Nam? Giáo viên hướng dẫn: Ngô Thị Minh Nguyệt Hà Nội, Nhóm thực hiện: Nhóm 4 2023 Lớp học phần: 2320HCMI0111 MỤC LỤC
MỤC LỤC...............................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................2
PHẦN 1: NHỮNG NỌI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO
ĐỨC ..............................................................................................................................3
1. Đạo đức cũ và đạo đức mới mà Hồ Chí Minh nhắc đến...............................................3
2. Sự khác nhau giữa đạo đức cũ và đạo đức mới............................................................4
3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức mởi................................5
a. Trung với nước, hiếu với dân.............................................................................5
b. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư..............................................................7
c. Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa...................................................14
d. Tinh thần quốc tế trong sáng .............................................................................15
PHẦN 2: KẾT LUẬN....................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................22 LỜI MỞ ĐẦU 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, nhà lãnh tụ vĩ đại của Đảng
Cộng Sản Việt Nam và dân tộc ta. Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di
sản vô cùng to lớn đó là chính là tư tưởng về đạo đức cách mạng. Có thể nói, tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân
tộc Việt Nam, nền đạo đức đã được hình thành từ hàng ngàn năm xuyên suốt chiều dài
lịch sử dân tộc ta. Người đã kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của dân tộc, vừa
thâu góp những đạo đức của thời đại, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp
với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới và hướng tới việc xây dựng
con người mới có đủ đức, đủ tài phục vụ đất nước và làm rạng ngời con người Việt
Nam. Tư tưởng đạo đức của Người cũng được thể hiện trong bài nói chuyện tại
Trường chính trị trung cấp quân đội (25-10-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới
như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời”. Hơn nữa chính
là trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Người luôn xem
trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của
người cách mạng. Bởi lẽ đó tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng sâu
sắc, phong phú cả về lý luận và thực tiễn. Hơn hết cuộc đời của Người chính là một
tấm gương sáng phản ánh một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do
chính bản thân mình đặt ra. 2
PHẦN 1: NHỮNG NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
1. Đạo đức mới và đạo đức cũ Hồ Chí Minh
Đạo đức cũ mà Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây là đạo đức thực dân phong kiến, là
thứ đạo đức ích kỷ, nó làm kìm hãm, trói buộc con người, tàn phá con người. Đạo đức
cũ là đạo đức của cá nhân chủ nghĩa, là sự ích kỷ cực đoan của giai cấp tư sản, là đạo
đức của giai cấp tiểu tư sản, kìm hãm con người trong những lợi ích riêng tủn mủn,
cục bộ, hẹp hòi, cũng như trong vòng gia trưởng nhỏ bé. Đạo đức cũ cũng là đạo đức
tôn giáo luôn khuyên con người khắc kỷ, cam chịu, chấp nhận số phận trong chốn trần
tục, để hướng về một cuộc sống tốt đẹp hơn sau khi chết ở nơi thiên đàng hay chốn niết bàn.
Đạo đức mới là đạo đức cách mạng, đạo đức của người cách mạng trong thời kỳ
giải phóng dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là đạo đức vì dân
tộc, vì nhân dân, vì con người. Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề
xướng và cùng với Đảng dày công xây dựng, bồi đắp là đạo đức mang bản chất của
giai cấp công nhân, kết hợp với những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và
những tinh hoa đạo đức của nhân loại. Nền đạo đức ấy ngày càng phát triển cùng với
sự vận động của thực tiễn cách mạng Việt Nam, trở thành một bộ phận hết sức quan
trọng khắc họa bộ mặt của nền văn hóa Việt Nam. Đây là đạo đức vĩ đại, bởi lẽ, đạo
đức đó “không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân
tộc, của loài người”.
Đạo đức mới đã lật ngược lại các kiểu đạo đức cũ của giai cấp thống trị, áp bức
bóc lột nhân dân lao động. Đạo đức mới xóa bỏ những chuẩn mực đạo đức phong kiến
vẫn luôn luôn trói buộc nhân dân lao động vào những lễ giáo hủ bại, phục vụ chế độ
đẳng cấp, tôn ti trật tự hết sức hà khắc của xã hội phong kiến.
2. Sự khác nhau giữa đạo đức cũ và đạo đức mới
“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức
mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”. Bọn phong 3
kiến ngày xưa nêu cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân
dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm,
liêm, chính là cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để cho nước, cho dân.
Bảng so sánh sự khác nhau giữa đạo đức cũ và đạo đức mới Đạo đức cũ Đạo đức mới
Khái niệm Đạo đức thực dân, phong kiến Đạo đức cách mạng Bản chất
- Đạo đức của cá nhân chủ nghĩa:
Mang bản chất của giai cấp công
nhân, kết hợp với những truyền
Áp bức bóc lột nhân dân lao
thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc động.
và những tinh hoa đạo đức của
Trói buộc nhân dân lao động nhân loại do Hồ Chí Minh đề vào những lễ giáo
hủ bại, xướng và cùng với Đảng dày công
phục vụ cho chế độ đẳng cấp xây dựng, bồi đắp.
tôn ty trật tự hết sức hà khắc của giai cấp phong kiến.
- Vì lợi ích chung của Đảng, của
dân tộc, của loài người: Xuất phát
- Mang sự ích kỷ của giai cấp tư sản, từ người cách mạng trong thời kỳ
kìm hãm sự phát triển: Kìm hãm con giải phóng dân tộc đi lên xây dựng
người trong những lợi ích riêng tủn chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. mủn, cục bộ, hẹp hòi , cũng như
trong vòng gia trưởng nhỏ bé.
- Xoá bỏ những chuẩn mực đạo
đức phong khiến của đạo đức cũ.
- Đi theo những chuẩn mực cổ hủ
như: Khuyên con người khắc kỷ, -> Mang tính vĩ đại.
cam chịu, chấp nhận số phận trong ⇒ Ngày càng phát triển cùng với
chốn trần tục, để hướng về một cuộc sự vận động của thực tiễn cách
sống tốt đẹp hơn sau khi chết ở nơi mạng Việt Nam, trở thành một bộ
thiên đàng hay chốn niết bàn.
phận hết sức quan trọng khắc họa 4
.bộ mặt của nền văn hóa Việt Nam.
Nó đã trở thành vũ khí mạnh mẽ
của Đảng và của dân tộc ta trong
cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình,
hợp tác và hữu nghị với tất cả các
dân tộc khác trên thế giới.
3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức mới
a) Trung với nước, hiếu với dân
Trung, Hiếu là phạm trù cốt lõi của đạo đức phong kiến mà đạo Nho đã dạy và
đòi hỏi đối với người quân tử. Đạo Nho dạy người quân tử phải trung quân ái quốc -
trung với vua là yêu nước. Còn chữ Hiếu, nghĩa là hết lòng thờ kính cha mẹ, ông bà,
người trên của mình. Để thực hiện chữ Trung, trong các triều đại phong kiến đã có rất
nhiều tấm gương trung liệt, sẵn sàng chết để vua sống, sẵn sàng tuân theo lệnh vua
hoặc khi vua tử nạn, họ cũng tự chết theo. Thực hiện chữ Hiếu với cha mẹ, trong chế
độ phong kiến có không ít những người con chăm bẵm, nâng giấc cho cha mẹ lúc bệnh
hoạn, yếu đau, một mực nghe theo lời dạy bảo của cha mẹ.
Từ Trung, Hiếu của đạo Nho, Bác Hồ tiếp thu, kế thừa và phát triển lên thành
phạm trù mới của đạo đức cách mạng: Trung với nước, Hiếu với dân. Có lúc Bác còn
dạy: Trung với Đảng, Hiếu với dân. Thực chất Nước và Đảng trong lời dạy của Bác
được hiểu là một. Bởi vì, Đảng là người lãnh đạo, người đại diện cho dân, cho nước;
ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Đảng là
đạo đức, là văn minh; là trí tuệ của đất nước trong quá trình phát triển của Trung với
nước, Hiếu với dân. Bác dạy, ngày xưa, hiếu với dân là chỉ hiếu với cha mẹ mình,
ngày nay, hiếu với dân, là tôn trọng nhân dân, phục vụ nhân dân, trong đó có cha mẹ
mình. Chữ Hiếu của đạo đức mới có nội hàm rộng hơn, nhân văn hơn. 5
Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo đức mới so với đạo đức cũ:
Từ quan niệm cũ “Trung với vua, Hiếu với cha mẹ” trong đạo đức cũ phản ánh
bổn phận của dân đối với vua, trung thành với vua cũng có nghĩa là trung thành với
nước, vì vua với nước là một, vua là nước, nước là nước của vua. Còn Hiếu thì chỉ thu
hẹp trong phạm vi gia đình là con cái phải hiếu thảo với cha mẹ. Hồ Chí Minh đã kế
thừa giá trị chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc và đưa vào đó một nội dung
mới, cao rộng hơn là “Trung với nước, Hiếu với dân”.
Hồ Chí Minh cho rằng, Trung với nước phải gắn liền Hiếu với dân vì nước là
của dân, còn dân thì là chủ của đất nước, bao nhiêu quyền hành lực lượng đều ở nơi
dân, bao nhiêu lợi ích đều ở nơi dân. Đảng và chính phủ là đày tớ của nhân dân chứ
không phải quan nhân dân để đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Trung với nước là phải tuyệt
đối trung thành với sự nghiệp nước và giữ nước, trung thành với con đường phát triển,
đi lên của đất nước, suốt đời phấn đấu cho đảng và cách mạng.
Đề cập đến chữ Hiếu, Hồ Chí Minh khuyên mọi người phải hiếu thảo với cha
mẹ, biết ơn, kính trọng, hết lòng phụng dưỡng, noi gương những điều tốt của cha mẹ.
Nhưng Hồ Chí Minh không dừng lại ở chỗ đó, Hiếu với dân không có nghĩa là không
Hiếu với cha mẹ mà Hiếu với dân trong đó có cha mẹ mình. Người cách mạng mà
không có Hiếu với cha mẹ mình thì cũng không thể Hiếu với dân được. Muốn Hiếu
với cha mẹ, với dân phải tu thân (tu dưỡng đạo đức). “, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
là lời răn dạy của người xưa, nhưng có sức sống bền vững răn dạy cho con người hôm
nay và mai sau . Từ Hiếu với cha mẹ, Hồ Chí Minh phát triển thành “Hiếu với Dân”.
Yêu dân, kính dân, tôn trọng dân, lấy dân làm gốc. Phải đề cao tinh thần phục vụ nhân
dân, có trách nhiệm trước nhân dân, Hồ Chí Minh nêu 3 loại trách nhiệm của người
cán bộ: trước hết là trách nhiệm với nhân dân, rồi với công việc, sau cùng mới là trách
nhiệm với cấp trên. Phải luôn luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, chăm lo cải
thiện đời sống cho dân, khi dân còn thiếu thì mình không có quyền đòi hỏi sung sướng
cho riêng mình. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của dân, nâng cao dân trí, để
dân biết và sử dụng được quyền làm chủ của mình.
Trung với nước, Hiếu với dân theo đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện trong
mọi công việc cách mạng của Đảng, trong từng suy nghĩ và việc làm cụ thể của mỗi 6
cán bộ, đảng viên của Đảng và mỗi người dân. Dù mục tiêu, nhiệm vụ trong mỗi thời
kỳ cách mạng tuy khác nhau, nhưng yêu cầu về Trung, Hiếu luôn nhất quán và là tiêu
chí chung cho các cán bộ cách mạng và các tầng lớp nhân dân học tập và rèn luyện.
Liên hệ tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu
dạy chúng ta Trung với nước, Hiếu với dân. Người dạy chúng ta bằng chính tấm
gương từ cuộc đời Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi
Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra
vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo”. Với nhân dân, Bác luôn canh cánh một nỗi
niềm, lo cho từng cảnh đời của mỗi con người. Mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội
mà Bác nêu ra hết sức giản đơn và dễ hiểu: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân…Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ấm no, tự do, hạnh
phúc… Chủ nghĩa xã hội là xã hội do người dân làm chủ. Đã là chủ phải xứng đáng
với vai trò làm chủ. Chính phủ do dân bầu ra phải có trách nhiệm lo cho nhân dân:
“làm cho dân có ăn”, “ làm cho dân có mặc”, “ làm cho dân có chỗ ở”, “ làm cho dân
có học hành”. Nhiều lần, Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ là công bộc
của dân, chứ không phải là quan lại của dân. Không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng
sản mà được dân tin yêu, mến phục? Người đến với dân như những người thân yêu,
ruột thịt, bình dị. Bác đến thăm cánh đồng hạn hán, Người ngồi lên guồng tát nước,
Người cầm gầu dây tát nước… Người đến ngõ hẻm Hà Nội đêm ba mươi tết với
những người dân đang không có tết, những mảnh đời nghèo đói, tần tảo, manh quần,
tấm áo chưa lành…Tấm gương trong sáng hết lòng vì Tổ quốc vì nhân dân của Bác
kính yêu cũng bắt đầu, cũng từ sự biểu hiện của những điều bình dị nhất, gần gũi nhất,
cụ thể nhất nhưng thật là vĩ đại soi cho chúng ta noi theo.
b) Cần, kiệm, liêm, chính. Chí công vô tư
Đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, theo Hồ Chí Minh là nền
tảng của đời sống mới, là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Đây là những
đức tính mà bản thân mỗi cán bộ, đảng viên lấy đó để điều chỉnh, soi rọi, thực hiện
trong mọi hoạt động. Cần kiệm, liêm, chính cũng là phẩm chất của đạo đức truyền
thống, nhưng được Bác Hồ đưa vào những nội dung theo yêu cầu mới, khác cơ bản về
đối tượng thực hiện. Trong chế độ phong kiến cũng nêu những khái niệm cần, kiệm, 7
liêm, chính, nhưng họ bắt nhân dân thực hiện để phục vụ cho quyền lợi của họ, chứ
giai cấp phong kiến không bao giờ thực hiện. Còn đối với Bác Hồ, đề ra cần, kiệm,
liêm, chính là bắt buộc cán bộ, đảng viên phải làm gương thực hiện để nhân dân noi
theo, đem lợi ích cho dân, cho nước.
Tháng 3-1947, do nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” Bác kêu gọi thi đua xây
dựng “đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính” và giải thích rất rõ, dễ hiểu. Tháng 6-
1949, để tiếp tục răn dạy cán bộ về đạo đức, Bác viết tác phẩm “Cần, kiệm, liêm,
chính”. Bác coi bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” là những đức tính của người cán
bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Bác viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người.”
Sau đó, Bác còn viết bốn bài báo đăng trên báo cứu quốc giải thích rõ nội hàm bốn đức tính này.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn
đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách
mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về
vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách
mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra. Trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức, những phẩm chất đạo đức được Người nêu ra là phù hợp với từng
đối tượng, có khi Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn nhất định. Từ đó
Người đã khái quát thành những phẩm chất chung, cơ bản nhất của con người Việt
Nam trong thời đại mới là: Trung với nước, Hiếu với dân; yêu thương con người; Cần,
Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng. Trong những phẩm
chất đó thì phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư được Người đề cập
nhiều nhất bởi phẩm chất này gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, gắn 8
liền giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân trong đời
công cũng như trong đời tư, trong sinh hoạt cũng như trong công tác.
Vậy “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là gì?” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải
thích ý nghĩa và mối liên quan của những từ này một cách đơn giản, rõ ràng và rất dễ hiểu.
Cần, tức là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai; lao động
với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng. Cần còn là làm việc một cách thông
minh, sáng tạo, có kế hoạch, khoa học. Theo Bác, con người có đức Cần thì việc gì, dù
khó khăn đến mấy, cũng làm được. Đúng như câu tục ngữ kiến tha lâu cũng đầy tổ,
nước chảy mãi đá cũng mòn. Bác lưu ý, kẻ địch của chữ Cần là lười biếng. Bác cho
rằng nếu có một người, một địa phương, hoặc một ngành mà lười biếng thì khác nào
toàn chuyến xe đang chạy, mà có một bánh trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm
trễ cả một chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.
Kiệm, tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của
dân, của nước, của bản thân; phải tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ, không phô trương
hình thức, không xa xỉ, hoang phí. Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của
con người. Cần mà không Kiệm thì như gió vào nhà trống, như nước đổ vào cái thùng
không đáy, làm chừng nào xào chừng ấy, rốt cuộc không lại hoàn không. Kiệm mà
không Cần thì không tăng thêm và không phát triển được. Bác giải thích, tiết kiệm
không phải là bủn xỉn. Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng
không nên tiêu, nhưng khi có việc cần làm lợi cho dân, cho nước thì hao bao nhiêu
của, tốn bao nhiêu công cũng vui lòng, như thế mới là kiệm.
Liêm, nghĩa là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân,
không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người
tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Vì vậy mà
quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Bác đã nhắc lại một số ý kiến của các
bậc hiền triết ngày trước: Mạnh Tử cho rằng: "Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy". Do
vậy, Bác yêu cầu mỗi người, nhất là cán bộ lãnh đạo phải thực hiện tốt chữ Liêm. Chữ
Liêm và chữ Kiệm phải đi đôi với nhau như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có
Kiệm thì mới Liêm được, bởi xa xỉ ắt sinh tham lam, không giữ được Liêm. Bác cũng 9
chỉ rõ ngược lại với chữ Liêm là tham ô, là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét nhân
dân, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của nhà nước làm quỹ riêng cho địa
phương mình. Tham ô là trộm cướp, là kẻ thù của nhân dân. Muốn Liêm thật sự thì phải chống tham ô.
Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng
đắn, thẳng thắn, tức là tà. Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, nhưng
còn phải chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống,
số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có
trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và
việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc tà là người ác.
Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có
ngành, lá, hoa, quả, mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn
phải Chính mới là người hoàn toàn.
Chí công vô tư, là ham làm những việc ích quốc, lợi dân, không ham địa vị,
không màng công danh, vinh hoa phú quý; “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ
(tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc).
Thực hành chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, nâng cao đạo đức cách
mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi
người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.
Hồ Chí Minh viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là
vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và
ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người
cũng phân biệt lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân.
Nét sáng tạo của Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức mới so với đạo đức cũ
về “Cần, kiệm, liêm, chính. Chí công vô tư”
Vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM
CHÍNH” theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu mà mỗi cán bộ, đảng viên
phải xây dựng và thường xuyên rèn luyện để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy
tớ trung thành của nhân dân. Đồng thời, đó cũng là một trong những tiêu chuẩn để
phân loại, đánh giá quá trình phấn đấu của mỗi người trong công tác và sinh hoạt đời
thường. Với ý nghĩa đó, việc triển khai Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII 10
về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ
thị 05) trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng,
thực hành “Cần, kiệm, liêm, chính” những năm qua đã góp phần tạo sự chuyển biến
trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức
năng về vai trò, ý nghĩa của việc thấm nhầm yêu cầu phải thường xuyên rèn luyện đạo
đức cách mạng trong cả hệ thống chính trị; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục
ý thức thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc. Gắn thực hiện Chỉ thị 05 với
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, coi đây là giải pháp đột phá để việc tự soi, tự sửa,
tự rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, “Cần, kiệm, liêm, chính ” nói riêng trở
thành việc là thường xuyên, liên tục của mỗi cán bộ, đảng viên.
Hai là, tiếp tục thực hiện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” gắn với học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, có những chuyên đề cụ thể
về ““cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” với những nội dung thiết thực, để nâng cao
chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc
“Cần, kiệm, liêm, chính”, tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu
cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.
Ba là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ,
đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ
quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng
phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư” trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng
thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên
không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý
thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong
mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ 11
chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất
chính, tham ô, tham nhũng,v.v.., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân.
Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và
tổ chức ta” trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế
pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có
quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong
rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với yêu cầu phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư” trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa,
trả thù, trù úm...Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo Bác, tự giác rèn luyện
“cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trở thành việc làm hằng ngày, tự giác của mỗi
cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Liên hệ với tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Bác rất quan tâm đến việc rèn
luyện tư cách đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, từ lời nói đến
việc làm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về
cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để chúng ta học tập và noi theo.
Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, phong cách làm việc, từ
cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch
nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với
những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Bác ăn mặc rất giản dị và tiết kiệm. Quần
áo Bác mặc chỉ có vài bộ, may cùng kiểu. Có cái áo của Bác rách, vá đi vá lại, thay cổ
mà Bác vẫn không cho đổi. Có lần Bác nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của
Đảng một cách chân tình: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế
này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Đôi dép cao su của Bác, bộ
quần áo kaki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay,
Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo.
Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của Việt
Nam Thông tấn xã. Chiếc ô tô Bác đi công tác hay đi thăm đồng bào và chiến sĩ trong
cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường. Bác không dùng chiếc điều hoà nhiệt độ do
các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở nước ngoài biếu, mà đề nghị chuyển
chiếc điều hoà ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại trại điều dưỡng 12
hoặc quân y viện, mặc dù lúc đó Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện (nhà
54) rất nóng. Những bữa ăn thanh đạm của Người “thường là dưa cà, đôi khi có thịt”.
Những lần đi thăm các địa phương, Bác thường không báo trước và mang theo cơm
nắm để tránh sự đón rước linh đình, gây phiền hà và tốn kém tiền của nhân dân.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiến khu Việt Bắc, Bác ở
trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị thì đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô,
Bác cũng chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của người thợ điện, sau đó chuyển sang nhà sàn,
chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà
sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước ta.
Sự tiết kiệm của Bác còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ
tịch Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác
chỉ là tổ công tác ít người kiêm nhiều việc. Cách mạng Tháng Tám thành công, trở về
Thủ đô, các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những lần đi công tác
xa, không cần nhiều cán bộ cùng đi, Bác cho những anh em còn lại về thăm gia đình.
Bác dặn “Các chú tranh thủ về thăm nhà, nhưng nhớ đúng hẹn lên đón Bác”. Điều đó
thể hiện sự quan tâm của Bác đối với con người và cũng là một hình thức tiết kiệm thời gian.
Những lời nói của Bác về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn
còn nguyên giá trị. Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành cần kiệm liêm chính
vẫn mãi mãi để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi theo. Trong kháng chiến cũng
như trong xây dựng đất nước đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư. Họ là những người luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong lao động sản
xuất, chiến đấu và học tập. Tuy nhiên còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc
biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác.
Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền...
ngày càng nhiều. Các vụ án PM18 ở Bộ Giao thông vận tải, vụ chạy cô-ta ở Bộ thương
mại hay vụ án Mạc Kim Tôn ở Thái Bình, v.v... cho thấy đó là những cán bộ, đảng
viên bị sa sút về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tha hoá về lối sống. Họ đã làm giảm
sút lòng tin, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Thực hành tốt những lời dạy của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, làm tăng lòng tin của nhân dân vào 13
Đảng và chính quyền. Như vậy là chúng ta cũng đã góp phần thực hiện tốt cuộc vận
động: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
c) Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
Nét mới trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức
Nói về yêu thương con người và sống tình nghĩa, Bác xác định đây là tình cảm,
phẩm chất cao đẹp nhất. Trong tư tưởng của Người, không có con người chung chung,
trừu tượng mà là con người cụ thể. Người luôn luôn dành tình yêu thương rộng lớn
cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Ở Hồ Chí Minh,
tình yêu thương đồng bào, đồng chí của Người rất bao la, rộng lớn và toàn diện, không
phân biệt vùng, miền, trẻ, già, trai, gái… hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có
chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Đó là một thứ tình cảm đặc biệt, không phải từ
người bên trên trông xuống, không phải do động lòng trắc ẩn của người đứng ngoài
trông vào, cũng không phải là tình thương chung chung siêu giai cấp, hay tình thương
kiểu tôn giáo, mà là sự đồng cảm sâu sắc. Bác viết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Lòng yêu thương và tình nghĩa với con người còn thể hiện trong các mối quan
hệ: bạn bè, đồng chí, anh em. Trong các mối quan hệ đó, người đòi hỏi phải nghiêm
khắc với chính mình, nhưng rộng lượng với người khác. Con người cần có thái độ tôn
trọng con người, tìm cách nâng đỡ người khác, như cách Bác khẳng định “làm cho
phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Yêu thương con người
không phải là sự nuông chiều, thả mặc mà phải quan tâm giúp đỡ họ trên tinh thần đấu
tranh phê và tự phê bình, chứ không phải là dĩ hoà vi quý, bao che khuyết điểm.
Chưa dừng lại ở đó, lòng yêu thương, sống tình nghĩa của Bác Hồ còn đong đầy
niềm tin vào sức mạnh, phẩm giá, sự vươn lên mạnh mẽ và tính sáng tạo của con
người, dù nhất thời họ còn thấp bé, sai lầm, lạc lối. Người ta ai cũng có tốt, có xấu, ai
cũng có thiện - ác ở trong lòng, nhưng “Dù là xấu, tốt, văn minh hay giã man đều có
tình”. Hồ Chí Minh xem xét con người trong tính đa dạng của nó, nên dù “có thế này,
thế khác” nhưng vẫn tin ở họ. Bác cho rằng, phải có lòng khoan dung, độ lượng và biết 14
nâng đỡ làm con người, xét mỗi người trong tính đa dạng các quan hệ xã hội; đa dạng
trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng và đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân,
điều kiện sống, làm việc…
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong tình yêu thương con người và việc
sống có tình nghĩa được thể hiện xuyên suốt trong cuộc đời của Người. Suốt cả đời,
Bác đã hết lòng, tận tâm vì sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc. Người đã hết lòng
yêu thương con người, tận trung với nước, tận hiếu với dân.
Khi trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Người vẫn luôn đau đáu về niềm hạnh
phúc, quyền được sống của người dân cả nước “Tôi chỉ có ham muốn tột bậc, là làm
sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tình yêu của người nhân văn sâu sắc, bởi
nó xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp cùng chủ nghĩa nhân văn
của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Ngay trước giờ phút đi xa, Người vẫn
luôn canh cánh trong lòng “không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn
nữa”. Trong Di chúc để lại cho muôn đời sau, Người căn dặn Đảng: phải có tình đồng
chí thương yêu lẫn nhau, mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.
Sinh thời, Bác luôn thể hiện sự nghiêm khắc và cũng rất đỗi yêu thương, bao
dung người khác. Bác luôn trân trọng, nâng đỡ, quan tâm đến các công việc của các
đồng chí trong Đảng. Như câu chuyện một đồng chí được Bác Hồ mời đến xông đất
khi phải một mình ở lại cơ quan trực Tết âm năm 1956, hay câu chuyện Bác Hồ tắm
cho trẻ em ở Việt Bắc năm 1944… có rất nhiều câu chuyện được thuật lại về sự quan
tâm, tình nghĩa, trái tim ấm nồng yêu thương Bác dành cho đồng chí, đồng bào.
d, Tinh thần quốc tế trong sáng:
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức
cộng sản chủ nghĩa. Điều này bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nhân, nhằm vào
mối quan hệ rộng lớn vượt ra khỏi giới hạn quốc gia - dân tộc. Đó là tinh thần đoàn kết
với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước mà Hồ Chí Minh đã dày
công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự 15
nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với
tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Sự đoàn
kết nhằm vào mục tiêu lớn của thời đại hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội, là độc lập dân tộc và dân chủ xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước,
các dân tộc. Tinh thần quốc tế ấy vẫn được gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản, hay chủ
nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Nội dung của chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sâu sắc.
Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn
thế giới và các dân tộc bị áp bức, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với
những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng và
phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập và chủ nghĩa
bành trướng bá quyền. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết
với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động cả nước trong cuộc đấu tranh giải
phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.
Thứ hai: Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục
tiêu chung “bốn phương vô sản đều là anh em”. Ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh
khẳng định, thực dân, đế quốc là kẻ thù của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thù của
nhân dân lao động chính quốc. Bởi vậy, để chống lại kẻ thù chung, để giải phóng thân
phận nô lệ và bị bóc lột, đòi hỏi sự đoàn kết liên minh, chặt chẽ nhân dân lao động ở
thuộc địa và chính quốc.
Điểm mới và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh:
Bọn đế quốc không chỉ áp bức bóc lột nhân dân các nước thuộc địa, mà còn thống trị
nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc. Người đã ví chủ nghĩa đế quốc giống
như “con đỉa hai vòi”. Một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào
giai cấp vô sản ở thuộc địa. Muốn giết con đỉa ấy. phải đồng thời cắt cả hai vòi. Vì thế,
nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản, đánh đổ chúng là nhiệm vụ chung của cả nhân dân
lao động chính quốc và thuộc địa, đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực lượng nói trên. Thực
tiễn lịch sử cũng đã chứng minh cho luận điểm đó của Hồ Chí Minh. Dân tộc Việt 16
Nam chiến thắng được những kẻ thù hùng mạnh cũng bởi toàn dân luôn đoàn kết một
lòng; đồng thời, đã nhận được sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ quý báu cả về tinh thần và
vật chất của các nước anh em, bạn bè yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
Thứ ba: Đoàn kết quốc tế là nhằm những mục tiêu lớn của thời đại hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, các
dân tộc dựa trên cơ sở bình đẳng và kết hợp giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định, những cuộc cách mạng của các dân tộc bất kỳ gần hay
xa, to hay nhỏ đều có quan hệ chặt chẽ với nhau. Bởi vậy, kể từ năm 1924, Người đã
trở thành một trong những cán bộ Châu Á đầu tiên thực thi nhiệm vụ liên kết giữa các
dân tộc Châu Á với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Hồ Chí Minh tha thiết với
độc lập, tự do của dân tộc mình, cho nên cũng rất trân trọng độc lập tự do của các dân
tộc khác. Bởi thế, người hết sức căm giận trước bất cứ một hành động xâm lược nào và
cho rằng: Giúp đỡ một dân tộc khác bảo vệ độc lập tự do của họ cũng chính là bảo vệ
lợi ích của đất nước mình. Đây chính là một bước phát triển mới trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết quốc tế. Vì lẽ đó, Người luôn động viên nhân dân Việt Nam vừa
tiến hành sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc mình, vừa thực hiện sự giúp đỡ
vô tư chí tình, chí nghĩa với các dân tộc anh em.
Thứ tư: Chủ nghĩa quốc tế vô sản phải gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Trong
bài “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế” (1953), Người đã nhấn mạnh: “Tinh
thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức
kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới.” Đối với Chủ tịch Hồ
Chí Minh, đoàn kết quốc tế còn phải gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là
chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Nếu tinh thần
yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư
tưởng dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ nghĩa bành trướng bá quyền nước lớn, kỳ thị dân tộc.
Những khuynh hướng sai lệch ấy có thể dẫn đến chỗ phá vỡ một quốc gia dân tộc hay
một liên bang đã quốc gia dân tộc, phá vỡ tinh thần đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu
tranh chung, thậm chí có thể đưa đến tình trạng đối đầu, thù địch.
Có thể nói tinh thần quốc tế trong sáng trong đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn
từ tình yêu thương đối với con người; vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người, mang lại tự do và bình đẳng thực sự cho 17
con người. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã dày công xây đắp tình
đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đã tạo ra một kiểu
quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay đối đầu nhằm kiến tạo một nền văn hóa hòa bình
cho nhân loại. Trong Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả
mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc… suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên
thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do”. Người cũng nhấn mạnh, thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ thuộc về
chúng ta, sẽ thuộc về chủ nghĩa xã hội nếu như tất cả các nước anh em và các Đảng
anh em đoàn kết chặt chẽ với nhau. Từ chủ nghĩa quốc tế trong sáng đó, Hồ Chí Minh
đã đặt nền móng và xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của nhân dân Việt
Nam với các dân tộc trên thế giới, góp phần vào những thắng lợi to lớn của nhân dân
Việt Nam và nhân dân thế giới.
Hồ Chí Minh chính là hiện thân, là tấm gương mẫu mực của chủ nghĩa yêu
nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Điều đó được
thể hiện ở nhiều mặt và ở khắp các lĩnh vực công tác.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã đến nhiều nước trên thế giới,
các nước tư bản cũng như thuộc địa. Người đã chứng kiến cảnh cùng cực của giai cấp
công nhân và Nhân dân lao động, đồng thời cũng thấy rõ cách sống xa hoa của giai cấp
tư sản. Thực tế sinh động đã giúp Người đồng cảm và nhận thức rõ: Nơi đâu cũng có
người nghèo như ở xứ mình, dù ở các nước thuộc địa hay chính quốc, họ đều bị áp
bức, bóc lột tàn nhẫn bởi chủ nghĩa thực dân tàn ác.
Đến tháng 6-1919, khi gửi tới Hội nghị Vecxay “Bản yêu sách của Nhân Dân
An Nam”, lần đầu tiên xuất hiện trên vũ đài quốc tế, Người đã thể hiện tư tưởng sát
cánh cùng các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho sự bình đẳng. Người đã sớm xác định
cuộc đấu tranh của Việt Nam, cũng như cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị
áp bức là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Từ lời phát biểu đầu tiên tại Đại
hội Tua (12-1920) trở đi, Người luôn khẳng định cuộc cách mạng của các dân tộc bị áp
bức đều có quan hệ với nhau. Nói về sự liên minh đoàn kết đấu tranh của nhân dân lao
động ở các nước thuộc địa, khi đó Người đã chỉ rõ: “Các nước thuộc địa và phụ thuộc 18
muốn được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân thì chỉ bằng
cách đoàn kết thật chặt chẽ để chống kẻ thù chung”. Cũng là một người dân thuộc địa,
Người thấy được khả năng, sức mạnh đoàn kết của các dân tộc thuộc địa và tin tưởng
vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của họ.
Ngày 26-6-1921 tại Paris (Pháp), Người đã tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các
dân tộc thuộc địa. Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Người đã rút ra kết
luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc
lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình
hữu ái vô sản” (Đoàn kết giai cấp, Le Paria số 25, 5-1924). Kết luận này cho thấy
nhận thức của Người về ý thức dân tộc và ý thức giai cấp đã vươn từ tầm nhìn quốc
gia lên tầm nhìn quốc tế. Kết luận trên cũng là sự khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc
tế của Hồ Chí Minh - đoàn kết với những người cần lao trên thế giới, luôn gắn liền lợi
ích dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế. Sau này, trong
cương vị là Ủy viên Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, Người đã tham gia sáng
lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tại Trung Quốc vào năm 1925.
Người đã trở thành một trong những cán bộ châu Á đầu tiên thực thi nhiệm vụ liên kết
giữa các dân tộc châu Á với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Những hoạt động
không biết mệt mỏi của Người trong những cương vị này đã tạo được lòng tin yêu đối
với các đồng chí và nhân loại tiến bộ. Nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-sơ-tan, vào
cuối năm 1923, sau khi gặp gỡ, trò chuyện với NGười đã viết một bài đăng báo
Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ), có đoạn: “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm
ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy được sự yên tĩnh
mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.
Trong những năm tháng Nhân Dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập và bảo vệ
nền độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hết sức chăm lo phát triển tình hữu
nghị giữa Việt Nam với các nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh để mở rộng
quan hệ quốc tế của Việt Nam, Người nhận định: “Tùy phong tục mỗi dân mỗi khác,
nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và
ghét sự dữ”, và khẳng định sự ủng hộ của Nhân Dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh
của Nhân Dân các nước vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đồng thời, Người còn 19