lOMoARcPSD| 61716317
HỆ THỐNG CÂU HỎI TỰ LUẬN THI VẤN ĐÁP
MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
(NGÀNH LUẬT KINH TẾ, NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ,
LUẬT KINH TẾ CHẤT LƯỢNG CAO - 03 TÍN CHỈ)
NĂM HỌC 2023 - 2024
1. Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam. Lấyví
dụ minh họa.
Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP các QHXH nền tảng, bản nhất
quan trọng nhất trong hội. Trong quá trình tham gia vào đời sống
hội, con người thiết lập nhiều QHXH khác nhau, tuy nhiên các QHXH đó
không ngang hàng với nhau mà giữa chúng có thứ bậc nhất định. Có những
QHXH làm nền tảng cho sự hình thành các QHXH khác. Đây các QHXH
bản và quan trọng nhất trong quá trình quản hội bằng pháp luật. Mỗi
khi nội dung điều chỉnh các QHXH nền tảng sự thay đổi thì nội dung
điều chỉnh các QHXH khác trong cùng lĩnh vực cũng có sự thay đổi theo
Đối tượng điều chỉnh của LHP chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Các QHXH nền tảng, bản quan trọng nhất trong các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc
phòng, chính sách đối ngoại
Trong lĩnh vực chính trị, ngành LHP điều chỉnh các mối quan hệ nền tảng,
bản quan trọng nhất liên quan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà
nước tổ chức quyền lực nhà nước, hthống chính trị,... Khi điều chỉnh
các QHXH nền tảng của lĩnh vực chính trị, ngành LHP đồng thời thiết lập
nền tảng của chế độ chính trị. Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục,
khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính sách đối ngoại, những
QHXH nền tảng ngành LHP điều chỉnh những QHXH liên quan tới
định hướng phát triển lớn của từng lĩnh vực, dụ hình phát triển kinh
tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hóa, Qua việc điều chỉnh các
QHXH đó, ngành LHP hình thành các chính sách bản nhất, quan trọng
nhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực
Nhóm 2: Các QHXH nền tảng, bản quan trọng nhất trong lĩnh vực
quan hệ giữa nhà nước người dân, hay có thể gọi là các QHXH xác định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân
Trong đời sống xã hội, các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam quy
định cho người dân rất nhiều quyền và nghĩa vụ pháp trong các lĩnh vực
khác nhau. Quyền và nghĩa vụ bản của người dân những quyền và
nghĩa vụ nền tảng, bản quan trọng nhất của từng lĩnh vực. Những
quyền bản này nền tảng hình thành các quyền cụ thể của người dân
trong từng lĩnh vực. Tập hợp các quyền nghĩa vụ cơ bản của người dân
tạo thành địa vị pháp lí của người dân đối với nhà nước.
lOMoARcPSD| 61716317
Nhóm 3: Các QHXH nền tảng, cơ bản quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Đây các QHXH liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của
bộ máy nhà nước Việt Nam, các nguyên tắc tổ chức hoạt động, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cấu tổ chức hoạt động của các quan
trong bộ máy nhà nước Việt Nam từ trung ương tới địa phương. Đây là
nhóm đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành LHP
Đặc điểm riêng của đối tượng điều chỉnh ngành LHP khẳng định tính độc
lập của ngành LHP trong hệ thống pháp luật Việt Nam:
Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP hiện diện hầu khắp các lĩnh vực của
đời sống hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng,
đối ngoại, tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước tới các lĩnh vực dân
sự, hình sự, tố tụng. Trong khi đó đối tượng điều chỉnh của hầu hết các
ngành luật khác thường nằm trong một lĩnh vực cụ thể. (VD: Luật thương
mại, luật môi trường)
Mặc trải rộng trên nhiều lĩnh vực song đối tượng điều chỉnh của ngành
LHP chỉ bao gồm các QHXH nền tảng, bản quan trọng nhất trong
từng lĩnh vực. Các QHXH cụ thể hơn của từng lĩnh vực thường là đối tượng
điều chỉnh của các ngành luật khác. Thuộc tính nền tảng, bản quan
trọng nhất của đối tượng điều chỉnh của ngành LHP mang tính trừu tượng
cao, có các tiêu chí để xác định
Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP thể được liệt thành các nhóm
QHXH nền tảng, bản và quan trọng nhất trong từng lĩnh vực song sự liệt
đó không mang tính tuyệt đối. Thuộc tính nền tảng, bản quan trọng
nhất yếu tố xác định phạm vi các QHXH đối tượng điều chỉnh của
ngành LHP việc xác định QHXH nào thuộc tính này ít nhiều mang
tính chủ quan. Chính vậy phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành
LHP thể thay đổi trong từng thời tùy thuộc vào nhận thức của giới
khoa học pháp lí và các cơ quan thẩm quyền trong từng giai đoạn cụ thể.
2. Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
a. Định nghĩa:
Hiến pháp là tập hợp các quy phạm có giá trị pháp lí cao nhất, quy định những vấn
đề mang tính cốt lõi của một nước (chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách
kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lí của con người
và công dân), thường được ghi nhận thành văn bản và được tuyên bố là đạo luật
bản của một quốc gia
b. Đặc điểm:
Hiến pháp là luật bản (basic law), còn được gọi luật nhà nước, luật
mẹ, luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ
thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật văn bản QPPL khác dù trực tiếp
hay gián tiếp đều phải căn cứo hiến pháp để ban hành vì Hiến pháp là sự
thỏa thuận giữa chính quyền người dân, xác lập những nguyên tắc bản
để giới hạn quyền lực nhà nước, thiết lập địa vị pháp lý của con người, của
công dân làm sở để xác định trách nhiệm của nhà nước với người dân
của mình…
lOMoARcPSD| 61716317
Ở Việt Nam, có thời kỳ hiến pháp được quan niệm là “luật cơ bản của Nhà
nước”, tuy nhiên, để phản ánh đúng vai trò của hiến pháp đối với Nhà nước
và xã hội, hiến pháp hiện hành đã sửa quy định này thành “luật cơ bản của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Từ “Nhà nước” thành “nước”,
hiến pháp thực chất luật bản của một đất ớc, đó, Nhân dân mới
thực sự là chủ nhân của bản hiến pháp.
Hiến pháp luật tổ chức (organic law), luật quy định các nguyên tắc tổ
chức bộ máy nhà nước, là luật xác định cách thức tổ chức c lập các
mối quan hệ giữa các quan lập pháp, hành pháp, pháp; quy định cấu
trúc c đơn vị hành chính lãnh thổ cách thức tổ chức chính quyền địa
phương. Đây nội dung mang nh kinh điển, cơ bản không thể thiếu của
hiến pháp những bản hiến pháp đầu tiên trên thế giới ra đời nội dung
xoay quanh vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, thể hiện chủ yếu qua cách
thức tổ chức bộ máy nhà nước.
Hiến pháp luật bảo vệ (protective law). Các quyền con người công dân
bao giờ cũng một phần quan trọng của hiến pháp. Do hiến pháp luật
bản của nhà nước nên các quy định về quyền con người và công dân trong
hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước xã hội tôn trọng bảo
đảm thực hiện các quyền con người và công dân
Hiến pháp luật hiệu lực pháp tối cao (highest law), tất cả các văn
bản pháp luật khác không được trái với hiến pháp. Bất kì văn bản pháp luật
nào trái với hiến pháp đều phải bị hủy bỏ
3. Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
“Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người,
mà phải trói anh ta lại bằng sợi dây xích hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác”
- Thomas Jefferson, 1798
Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ được đặt ra một cách đầy đủ và cấp bách từ cách
mạng tư sản, với sự ra đời của hiến pháp thành văn của các nước trên thế giới
Hiến pháp ra đời nhằm ngăn chặn sự vi phạm từ phía nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà
nước, bảo vệ nhân quyền, quyền cá nhân. Đó chính là bản chất của Hiến pháp
Hiến pháp có đối tượng điều chỉnh ở nghĩa hẹp là việc quy định chế độ chính trị nhà nước
trong thời dân chủ. vậy, hiến pháp trách nhiệm phải quy định về tổ chức hoạt
động của bộ máy nhà nước. Đối tượng điều chỉnh của luật hiến pháp những mối quan
hệ về tổ chức bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy đó luôn thuộc về nhân dân
Hiến pháp phân chia quyền lực
Hiến pháp bảo vệ nhân quyền. Hiến pháp quy định chặt chẽ cách tổ chức và hoạt động của
nhà nước. Nhân dân phế truất những người không còn phẩm chất xứng đáng căn cứ theo
quy định của hiến pháp. Sự ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền con người từ phía nhà
nước là một nhiệm vụ quan trọng của Hiến pháp
4. Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ?
Hiến pháp luật bảo vệ hiến pháp ghi nhận các quyền con người, quyền cơ bản của công dân
làm sở để các đạo luật thông thường quy định chi tiết việc thực hiện quyền con người, quyền
công dân trong từng lĩnh vực cụ thể. Việc hiến định nội dung này khẳng định rõ hơn bản chất dân
chủ của nhà nước. Với vai trò là luật cơ bản của một nước, các quyền con người, quyền công dân
lOMoARcPSD| 61716317
một khi được hiến định có giá trị bắt buộc tôn trọng bởi Nhà nước toàn xã hội, đồng thời đây
căn cứ pháp lý quan trọng để xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ, bảo đảm các
quyền con người, quyền bản của công dân, qua đó người dân thể đánh giá được tính hiệu
quả hoạt động của Nhà nước.
Với hiến pháp hiện đại thì bên cạnh nội dung vtổ chức quyền lực nhà nước, việc ghi nhận các
quyền con người, quyền bản của công dân cũng được coi nội dung không thể thiếu để cấu
thành nên một bản hiến pháp. Một số quốc gia ngày càng đề cao nội dung này trong hiến pháp của
nước mình (Quy định quyền con người ở chương đầu tiên)
5. Tại sao nói hiến pháp là luật tổ chức?
Hiến pháp là luật tổ chức vì hiến pháp của quốc gia nào cũng quy định nguyên tắc tổ chức bộ máy
nhà nước, quy định vị trí, tính chất, chức năng và một số nội dung bản về nguyên tắc hoạt động,
nhiệm vụ, quyền hạn, cấu, tổ chức của những quan quan nhà nước nắm giữ các nhánh
quyền lực quan trọng trong bộ máy nhà nước. Đây là nội dung mang tính kinh điển của hiến pháp
vì những bản hiến pháp đầu tiên trên thế giới ra đời thì nội dung chỉ xoay quanh về vấn đề tổ chức
quyền lực nhà nước, thể hiện qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước. Hiến pháp nay đã mở rộng
phạm vi nội dung hiến định, tuy nhiên, vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước vẫn được xem là một nội
dung cơ bản không thể thiếu để cấu thành nên một bản hiến pháp
6. Tại sao nói hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao?
Hiến pháp luật bản của một nước, chứa đựng những nội dung quan trọng, mang tính nền
tảng, định hướng cho sự phát triển của một nước, chứa đựng những nội dung quan trọng, mang
tính nền tảng, định hướng cho sự phát triển của một quốc gia, dân tộc, do đó hiến pháp được xác
định là đạo luật có đạo luật hiệu lực pháp lý cao nhất. Tính cao nhất đây thể hiện trong mối
quan hệ với các đạo luật thông thường. Các văn bản pháp luật khi ban hành phải đảm bảo có nội
dung không được trái với hiến pháp, nếu văn bản pháp luật đã thông qua những phát hiện nội
dung trái hiến pháp thì sẽ bị bãi bỏ hoặc phải sửa đổi cho phù hợp. Để đảm bảo tính hiệu lực cao
nhất của hiến pháp vấn đề này thường được quy định thành điều khoản ngay trong chính bản hiến
pháp đó.
Quy trình ban hành, sửa đổi thông qua hiến pháp các nước cũng khác so với các đạo luật
thông thường. Cụ thể là quy trình làm hiến pháp sẽ chặt chẽ hơn, khắt khe hơn, đồng thời mức độ
tham gia của người dân cũng rộng rãi sâu sắc hơn so với các đạo luật thông thường. Chẳng hạn,
mức độ biểu quyết thông qua hiến pháp của các đại biểu Quốc hội phải có tỉ lệ cao hơn so với việc
thông qua luật hay việc làm hiến pháp hay thông qua hiến pháp thường có thủ tục trưng cầu ý dân
trong khi các luật chỉ có thể lấy ý kiến nhân dân.
7. Phân tích quy trình lập hiến theo Hiến pháp năm 2013.
Quy trình lập hiến là trình tự, thủ tục mà các chủ thể có thẩm quyền phải tuân theo trong
quá trình ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp
Quy trình lập hiến khác với quy trình lập pháp ở điểm:
Quy trình làm Hiến pháp phải do Hiến pháp quy định
Quy trình làm Hiến pháp gồm các bước, các thủ tục chặt chẽ, khó khăn hơn so với quy
trình lập pháp
Quy trình làm Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động lập hiến. Một bản
Hiến pháp được xây dựng theo một quy trình, công nghệ dân chủ, khoa học, hoàn hảo các
lOMoARcPSD| 61716317
bước, các thủ tục quy định chặt chẽ, logic thì chắc chắn sẽ cho ra đổi một bản Hiến pháp
có chất lượng tốt
Quy trình lập hiến điểm khởi đầu, đảm bảo cho tất cả quyền lực nhà nước thuộc về tay
nhân dân
Có hai quyền lập hiến là:
Quyền lập hiến nguyên thủy: quyền xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên hoặc làm một Hiến
pháp mới. Đây không phải là một quyền luật định, mà xác lập một hệ thống pháp luật mới.
Quyền này không có giới hạn, các chủ thể có quyền lập hiến không bị ràng buộc bởi một
thủ tục pháp lý nào mà không hạn chế về nội dung của Hiến pháp.
Quyền lập hiến phái sinh: quyền sửa đổi bản Hiến pháp hiện hành, bị hạn chế cả về hình
thức và nội dung bởi nó phải tuân theo Hiến pháp. Vì quyền sửa đổi hiến pháp là quyền do
hiến định
HP 2013 không quy định giới hạn đối với việc sửa đổi Hiến pháp trong quy tình sửa đổi
Hiến pháp (những vấn đề như toàn vẹn lãnh thổ, chính thể dân chủ cộng hòa điều đương
nhiên, bất di bất dịch)
Điều 120 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 , quy trình làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp
Việt Nam như sau:
1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba
tổng số đại biểu Quốc hội quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.
Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần
ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên,
nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo
đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân trình Quốc
hội dự thảo Hiến pháp.
4. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu
quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
5. Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
Thứ nhất, Hiến pháp 2013 khẳng định Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến.
Nếu HP được quan niệm là một văn bản của NN, tổ chức BMNN, củng cố sức mạnh
của NN thì Hiến pháp do NN ban hành
Nếu HP được quan niệm là một văn bản của Nhân dân thì không được sửa đổi
bởi quan nhà nước thẩm quyền, trước hết quyền lập hiến phải thuộc về
Nhân dân
Lời nói đầu HP 2013 khẳng định: Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành bảo
vệ Hiến pháp này…
Thứ hai. Hiến pháp 2013 thiết lập quy trình làm và sửa đổi Hiến pháp
Điều 120 HP 2013 đã kế thừa quy trình lập hiến sửa đổi Hiến pháp của nhân loại và của
nước ta và xác định các bước sau đây:
1. Đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp
lOMoARcPSD| 61716317
Quyền này được trao cho CTN, UBTVQH, CP hoặc ít nhất ⅓ tổng số
ĐBQH
HP 2013 quy định việc đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp rất rộng, thể hiện tính chất
dân chủ rộng rãi của nhà nước ta
2. Thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp
Quốc hội được giao quyền thành lập Ủy ban này
Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ, quyền hạn của UBDTHP do
Quốc hội quyết định theo đề nghị của UBTVQH
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy trong UBDTHP, ngoài các Đại biểu QH còn
các chuyên gia giỏi của đất nước trên các lĩnh vực, đặc biệt lĩnh vực
pháp lí, sẽ góp phần tích cực vào việc soạn thảo ra một bản Hiến pháp
chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước trong thời gian
dài.
3. Soạn thảo dự thảo Hiến pháp
Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình
Quốc hội dự thảo Hiến pháp
Thời gian soạn thảo, lấy ý kiến Nhân dân ngắn dài tùy thuộc từng điều kiện,
hoàn cảnh chính trị lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia
Mục đích của việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân là nhằm phát huy quyền làm
chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của Nhân dân, tạo sự đồng thuận của Nhân
dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong việc sửa đổi Hiến
pháp, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi công
dân, quan, tổ chức trong việc sửa đổi Hiến pháp thi hành Hiến pháp
sau khi Hiến pháp được ban hành
4. Thông qua Hiến pháp
Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất tổng số đại biểu Quốc hội biểu
quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân do Quốc hội quyết định.
Trưng cầu ý dân trong quy trình lập hiến là một xu hướng phổ biến của chủ
nghĩa hợp hiến hiện đại.
Trưng cầu ý dân đối với Hiến pháp không những thể hiện lòng tin vào Nhân
dân còn xác lập chủ quyền Nhân dân đối với quyền lực - nhân tố góp
phần giữ vững sự ổn định và bền vững của chính quyền khi có sự biến động
trong/ngoài nước
8. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bảo vệ hiến pháp.
a. Định nghĩa:
Có ba quan điểm chính về bảo vệ hiến pháp:
1. Hiểu bảo vệ Hiến pháp theo nghĩa hẹp nhất - hoạt động pháp (tài phán)
Hiến pháp
Tiếp cận về bảo vệ Hiến pháp từ góc độ coi bảo vệ Hiến pháp là một
vấn đề của tổ chức quyền lực nhà nước
Quyền lập hiến thuộc về Nhân dân nên đứng trên quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp
2. Coi bảo vệ Hiến pháp là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm
bảo vệ Hiến pháp
lOMoARcPSD| 61716317
Không còn hoạt động pháp còn giao quyền bảo hiến cho
các quan khác như Hội đồng bảo hiến, Tòa đặc biệt thuộc Tòa án
tối cao, Nghị viện,..
Tổng hợp c hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể Hiến
pháp xác định thẩm quyền nhằm đảm bảo sự tôn trọng, giữ gìn Hiến
pháp, ngăn ngừa, chống lại và triệt tiêu hành vi vi hiến
3. Coi bảo vệ Hiến pháp là một vấn đề giữa Nhà nước, pháp luật và xã hội
Bảo vệ Hiến pháp được hiểu tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các
nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp b. Nội dung của bảo vệ Hiến pháp
Có bảo vệ về hình thức và bảo vệ về nội dung:
Bảo vệ Hiến pháp bảo vệ các quy định của Hiến pháp về chủ quyền nhân dân điều chỉnh
mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước
1. Xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử
2. Xem xét tính hợp hiến của việc trưng cầu ý dân
3. Giải quyết khiếu kiện của công dân đối với quan nhà nước cá nhân
thẩm quyền về các quyết định, hành vi có biểu hiện vi hiến
Bảo vệ Hiến pháp bảo vệ các quy định của Hiến pháp về tổ chức, vận hành quyền
lực nhà nước thông qua tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước thông qua tổ chức
và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước - điều chỉnh mối quan hệ nội
tại của nhà nước
1. Giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật điều ước
quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc gia nhập
2. Giải quyết tranh chấp vthẩm quyền giữa các quan nhà nước thuộc
nhánh quyền lực hoặc giữa quan trung ương với chính quyền địa phương
3. Xử các hành vi vi phạm Hiến pháp của các nhân nắm giữ vị trí lãnh
đạo cao cấp của nhà nước.
Bảo vệ Hiến pháp bảo vệ các quy định của Hiến pháp về tổ chức của các thiết
chế chính trị - xã hội, tức là điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với các bộ phận
hợp thành hệ thống chính trị và kết cấu xã hội
1. Phán quyết về tính hợp hiến, không hợp hiến trong việc thành lập, mục đích
và hoạt động của các đảng phái chính trị
2. Phán quyết tính hợp hiến hoặc không hợp hiến về vị trí , cách lãnh đạo
nhà nước, lãnh đạo các hội của các đảng phái chính trị (thường dựa trên
kết quả bầu cử của các đảng phái chính trị để đề cử người tham gia bộ máy
nhà nước hoặc trở thành đảng đa số cầm quyền)
Bảo vệ Hiến pháp bảo vệ tính đúng đắn, thống nhất và “nguyên vẹn” của tất cả
các nội dung của Hiến pháp thông qua hoạt động giải thích Hiến pháp
c. Vai trò, ý nghĩa của bảo vệ Hiến pháp:
Hoạt động của các chủ thể thẩm quyền theo quy định của Hiến
pháp nhằm bảo đảm sự tôn trọng, giữ gìn, chấp hành Hiến pháp và
phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết mọi sự xâm phạm đến Hiến
pháp
lOMoARcPSD| 61716317
Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo vệ chế độ chính trị, cấu trúc nhà nước, bảo đảm sự
ổn định của tương quan lực lượng trong xã hội mà Hiến pháp đã ghi nhận
Hiến pháp quy định tổ chức và hoạt động của những thiết chế chính trị quan trọng
nhất trong xã hội của một quốc gia
Bảo vệ HP bảo vệ thành quả giai cấp thống trị đã giành được tuyên bố
trong HP.
Giải quyết những lệch lạc hoặc nguy đe dọa đối với sự ổn định chế độ, đường
lối phát triển hoặc phá vỡ tương quan giữa các lực lượng hội, giai tầng hội
Hiến pháp đã xác định nhằm làm ổn định chế độ chính trị, ổn định xã hội, giữ
vững bản chất nhà nước, bảo vệ chủ quyền, cấu trúc nhà nước của quốc gia, bảo
đảm tương quan chính trị xã hội có lợi cho giai cấp thống trị
Đảm bảo toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị theo đúng mục tiêu của đường
lối kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng thời kì đã được xác định trong HP
Bảo vệ những giá trị nhân văn của quốc gia và góp phần đảm bảo thực hiện những
mục tiêu cao quy nhất mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đã và đang hướng tới
Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Bảo đảm việc ban hành quy phạm pháp luật của nhà nước luôn tuân thủ nghiêm
chỉnh trật tự thứ bậc của hệ thống pháp luật và do đó bảo đảm tính thống nhất của
toàn bộ hệ thống pháp luật
ý nghĩa quan trọng với nhà nước pháp quyền - nơi nguyên tắc tôn trọng,
thượng tôn Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc quan trọng hàng đầu
Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm quyền con người, quyền, tự do của công dân
Hiến pháp ghi nhận các quyền con người, quyền, tự do của công dân, tạo sở
pháp lý đầy đủ và vững chắc hơn để công dân thực hiện các quyền tự do bản của
mình
Thông qua hoạt động giải quyết những khiếu kiện về văn bản hành vi vi phạm
quyền tự do của công dân đã được quy định trong HP thì bảo vệ các quyền tự do
của công dân
Quản lí việc ban hành văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật theo những
nguyên tắc, quy phạm của Hiến pháp liên quan đến việc thực hiện, bảo vệ quyền
con người, công dân
Sự bảo vệ từ hoạt động bảo vệ Hiến pháp đối với quyền con người không phải khi
nào cũng được thực hiện đối với một nhân công dân cụ thể nhưng lại mang
tính toàn diện, bao quát vững chắc hơn so với chế bảo vệ pháp luật thông
thường
Sự vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm chế thực hiện
kiểm soát quyền lực nhà nước
Bảo vệ Hiến pháp giám sát tính hợp hiến của VBQPPL ngăn ngừa mâu thuẫn, tranh
chấp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Thiết chế bảo vệ HP thực hiện hoạt động giải thích nguyên tắc các quy phạm
hiến định về sự phân định thẩm quyền giữa các cơ quan trong thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp pháp, bảo đảm sao cho các quan thực hiện đúng, đủ
nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
lOMoARcPSD| 61716317
Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các nhánh quyền
lực, cơ chế bảo vệ HP giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm các nguyên tắc
tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm sự kiểm soát quyền lực nhà nước:
Với NN phân chia quyền lực: đảm bảo mqh kiềm chế, đối trọng, cân bằng quyền
lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp
Với NN quyền lực thống nhất: đảm bảo chế phân công, phối hợp , hỗ trợ
kiểm soát lẫn nhau giữa các quan nhà nước trong việc thực hiện quyền
lập/hành/tư
Khi giải quyết các tranh chấp theo chiều dọc, hoạt động bảo vệ Hiến pháp góp phần
bảo đảm sự độc lập tương đối của chính quyền địa phương, đồng thời giữ được sự
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
------------------------------------------------------
9. Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013.
Theo Hiến pháp 2013, vấn đề bảo vệ Hiến pháp được quy định tại Khoản 2 Điều
119 theo đó, việc bảo vệ Hiến pháp trách nhiệm của toàn bộ các quan nhà
nước toàn thể Nhân dân. Còn chế bảo vệ Hiến pháp sẽ do luật định. Như vậy,
cơ chế bảo vệ Hiến pháp cụ thể như thế nào sẽ phải có luật quy định chi tiết. Hiện
nay, Quốc hội vẫn chưa ban hành một đạo luật quy định cơ chế bảo hiến cụ thể mà
việc bảo vệ Hiến pháp mới chỉ được thể hiện thông qua những quy định về nhiệm
vụ, quyền hạn của quan nhà nước trong đó có đề cập đến trách nhiệm của các
quan nhà nước khi ban hành hay phát hiện văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp
cách thức xử lý các văn bản pháp luật đó. Theo các quy định này thì nguyên tắc bảo
vệ hiến pháp nước ta chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát việc ban hành văn
bản pháp luật của quan nhà nước cấp trên đối với quan nhà nước cấp dưới,
giữa quan quyền lực nhà nước với quan chấp hành cùng cấp (Chính phủ,
UBND). Ví dụ: Quốc hội có quyền xem xét văn bản pháp luật của Chính phủ, nếu
phát hiện Chính phủ ban hành văn bản pháp luật vi hiến thì quyền bãi bỏ văn
bản đó hay Chính phủ có quyền bãi bỏ văn bản pháp luật trái với hiến pháp của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh…
Dưới góc độ Hiến định chúng ta đề cao tinh thần bảo vệ Hiến pháp khi xác định đó
là trách nhiệm của cả Nhà nước và Nhân dân. Nhưng muốn bảo vệ Hiến pháp hiệu
quả thì cần phải sớm cơ chế bảo hiến cthể. Việc lựa chọn mô hình phi tập trung
như hiện nay (không quan chuyên trách bảo vệ hiến pháp) sẽ khó đáp ứng
các tiêu chí về một mô hình bảo hiến có hiệu quả như đã đề cập ở trên
Hiến pháp 2013 không thành lập một quan chuyên trách để bảo vệ Hiến pháp
tiếp tục hoàn thiện chế bảo vệ Hiến pháp như HP 1992. Tăng cường trách
nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, nhất là Ủy ban pháp luật và các
quan khác của nhà nước trong việc bảo vệ HP
10.Tại sao nói Hiến pháp năm 2013 là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam?
Hiến pháp văn bản duy nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, là hình
thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng
giai đoạn phát triển. Hiến pháp còn phương diện pháp thể hiện ởng của
Đảng Cộng sản dưới hình thức những quy phạm pháp lý.
lOMoARcPSD| 61716317
Xét về mặt nội dung, trong khi các đạo luật khác chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội
thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội, thì Hiến pháp có đối tượng điều
chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực của hội. Đối tượng điều chỉnh của
Hiến pháp những quan hệ xã hội chủ nền tảng nhất liên quan đến lợi ích cơ bản
của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quyền
nghĩa vụ bản của ng dân, đường lối phát triển khoa học – kỹ thuật, văn hóa,
giáo dục, đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cơ cấu
tổ chức bộ máy nhà nước.
Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc
gia. Mọi đạo luật và văn bản QPPL khác dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải căn cứ
vào hiến pháp để ban hành Hiến pháp sự thỏa thuận giữa chính quyền người
dân, xác lập những nguyên tắc cơ bản để giới hạn quyền lực nhà nước, thiết lập địa
vị pháp lý của con người, của công dân làm cơ sở để xác định trách nhiệm của nhà
nước với người dân của mình
11.Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người.
a. Khái niệm:
Quan điểm quyền tự nhiên: Quyền con người (Human rights, Droits de
L’Homme) là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành
cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người
chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành. Đây những quyền
tự nhiên, thiêng liêng bất khả xâm phạm do đấng tạo hóa ban cho con
người như quyền sống, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, những quyền
tối thiểu của con người mà bất kì chính phủ nào cũng phải bảo vệ.
Quan điểm quyền pháp : Quyền con người được hiểu những đảm bảo
pháp toàn cầu tác dụng bảo vệ các nhân các nhóm chống lại
những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự
được phép và sự tự do cơ bản của con người
Quyền con người mang tính toàn cầu và địa phương; tùy thuộc vào sự phát
triển kinh tế, tình hình chính trị, hội, đặc tính dân tộc, văn hóa, truyền
thống, tôn giáo… của mỗi quốc gia
Quyền con người phản ánh những giá trị nhân văn nh tự nhiên
khái niệm quyền công dân không phản ánh như quyền sống (mức độ trừu
tượng) những quyền con người không được cụ thể hóa thành quyền công
dân những mang giá trị bắt buộc tôn trọng như quyền ăn, uống, thở
(mức độ cụ thể)
b. Đặc trưng:
Tính phổ biến của quyền con người (universal rights):
Tính phổ biến thể hiện chỗ quyền con người những quyền thiên bẩm,
vốn có của con người được thừa nhận cho tất cả mọi người trên trái đất
một cách như nhau, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc
tịch, địa vị xã hội. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng giữa tất cả cá nhân
trong khi có những nhóm người về bản chất đã không được hưởng trọn vẹn
các quyền mình; có một số quyền được phổ quát dành cho họ.
Tính không thể chuyển nhượng (inalienable rights):
lOMoARcPSD| 61716317
Các quyền con người được quan niệm các quyền tự nhiên, thiêng liêng
và bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Các quyền này gắn liền với nhân mỗi một con người không thể chuyển
nhượng cho bất người nào khác. Các quyền gắn chặt với phẩm giá con
người, Nhà nước cũng như các chủ thể khác không thể được tùy tiện tước
bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quyền
con người có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế để khắc phục tình trạng đó
Tính không thể phân chia (indivisible rights):
Các quyền con người gắn kết chặt chẽ với nhau, tương hỗ lẫn nhau, việc
tách biệt, tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến
giá trị nhân phẩm và sự phát triển của con người. Các quyền không có thứ
tự ưu tiên mà cần phải được tôn trọng ngang bằng nhau. Tuy nhiên, với một
số trường hợp nguy cấp, một số quyền phải chấp nhận đứng dưới các quyền
khác bởi nếu các quyền đó không được bảo đảm thì các quyền còn lại cũng
không được duy trì.
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interdependent rights)
12.Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam trách nhiệm gì đối
với quyền con người?
a. Khái niệm:
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người: “Quyền con người là những
bảo đảm pháp toàn cầu tác dụng bảo vệ các nhân các nhóm chống lại
những hành động hoặc sbỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sđược
phép và tự do cơ bản của con người”
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 khẳng định: “Quyền con người các
quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng của các cá nhân
b. Trách nhiệm của nhà nước Việt Nam với quyền con người:
Đối với nhà nước pháp quyền, việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người
vừa là phương tiện, vừa là cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước
Hiến pháp là đạo luật gốc quốc gia, là văn bản giới hạn chính quyền để bảo vnhân
quyền do đó, cần phải tuyên bố một cách công khai, minh bạch và thiện chí trách
nhiệm của chính quyền đối với giá trị quyền con người như những giá trị trân quý
nhất. Trách nhiệm chính trị - pháp lý của nhà nước đối với quyền con người là cao
nhất và thứ nhất
Nhà nước cần tham gia, nội luật hóa và thực hiện nghiêm chỉnh các điều ước quốc
tế về quyền con người, điển hình luật nhân quyền quốc tế (bao gồm Tuyên
ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóam 1966;
và các văn kiện khác)
Theo HP 2013, Nhà nước nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm việc thực hiện
quyền con người. Điều này không chỉ đảm bảo sự tương thích với các quy định về
nghĩa vụ quốc gia trong pháp luật nhân quyền quốc tế còn tạo cơ sở hiến định
ràng buộc trách nhiệm cụ thể các cơ quan nhà nước đối với quyền con người.
Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào việc thụ
hưởng quyền con người. VD: Nhà nước không thu giữa trái pháp luật thư tín
lOMoARcPSD| 61716317
Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi Nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống hành vi xâm
phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba. VD: Nhà nước quy định
tội phạm với hành vi giết người trong BLHS và áp dụng hình phạt thích đáng
Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cá nhân
trong việc thực hiện quyền. VD: Xây hệ thống trường học ở vùng xa
Nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động (negative obligation), bảo vệ bảo đảm
mang tính chủ động (positive obligation)
Nghĩa vụ công nhận quyền con người nghĩa “ghi nhận quyền trong Hiến pháp có
ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức” cũng khả năng giảm nguy
cơ vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận trong Hiến pháp trong
một thời gian và với những điều kiện nhất định”
Nhà nước không thực hiện trách nhiệm luật hóa quyền “cũng thể coi trái
nguyên tắc pháp quyền. vậy, quyền con người không thể được hiến định theo
kiểu nhà nước ban phát: Mọi người/Công dân quyền…theo quy định của luật/
pháp luật mà chuyển sang việc nhà nước thừa nhận: Mọi người/ Công dân
quyền…. Việc thực hiện các quyền này theo quy định của luật/pháp luật. Thông qua
hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều
kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền.
Công nhận được hiểusự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền bản
những bảo đảm liên quan. Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm này là sự gián
tiếp thừa nhận từ phía Nnước hiệu lực hay chế thực thi trực tiếp đối với các
quyền hiến định. Nếu hiến pháp đã ghi nhận quyền thì nhân đương nhiên được
hưởng. Việc nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban hành c văn bản pháp luật có liên
quan không là lý do xác đáng ngăn cản cá nhân thực hiện quyền
Nhà nước có trách nhiệm tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho cá nhân thực hiện
các quyền.
Trách nhiệm công nhận của nhà nước không chỉ hẹp những quyền bản trong
hiến pháp mà còn thừa nhận chung những quyền chính đáng khác của mỗi cá nhân
Nhà nước không thể ban hành pháp luật nhằm tước bỏ một cách bất hợp lý, vô căn
cứ.
13.Nêu khái niệm quyền bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền bản
của công dân với quyền cụ thể của công dân?
a. Khái niệm:
các quyền được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh
tế, hội, văn hóa, sở để xác định thực hiện các quyền cụ thể khác của
công dân
b. Phân tích khái niệm quyền cơ bản của công dân
1. Phân loại:
Các quyền bản của công dân có thể được phân thành hai nhóm: các quyền dân
sự (tự do cá nhân), chính trị; các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Xuất phát từ nhận thứcsự khác nhau về đặc điểm và những yêu cầu đảm
bảo thực hiện hai nhóm quyền này:
Yêu cầu đảm bảo:
lOMoARcPSD| 61716317
Hiện thực hóa quyền dân sự, chính trị mang tính tức thời không đòi hỏi
phải tiêu tốn nhiều nguồn lực vật chất nên mọi quốc gia thể tiến hành
được ngay.
Hiện thực hóa quyền kinh tế, hội, văn hóa có thể dần dần, từng bước
(progressive realization) tương ứng với nguồn lực sẵn của quốc gia
đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều nhân lực
Đặc điểm:
Các quyền dân sự, chính trị của công dân thường được xác lập khi thành lập
nhà nước dân chủ
Phần lớn các quyền kinh tế, văn hóa, hội được thiết lập muộn hơn phụ
thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị chủ yếu phụ thuộc vào ý thức
chính trị, ý thức dân chủ của nhân dân
Việc thực hiện các quyền kinh tế, hội, văn hóa lại phụ thuộc phần lớn
vào điều kiện vật chất, điều kiện kinh tế, xã hội của nhà nước
Các quyền tự do nhân các quyền dân sự, chính trị thuộc thế hệ thứ
nhất của các quyền con người công dân. Các quyền kinh tế, xã hội, văn
hóa thuộc thế hệ thứ hai. Hai nhóm quyền này phụ thuộc lẫn nhau, tác động
lẫn nhau, sự phát triển nhóm quyền này thúc đẩy sự phát triển của nhóm
quyền khác
Các quyền thế hệ một có mục đích nhằm hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền
sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống tự do nhân của con người đến từ
các cơ quan nhà nước
Các quyền thế hệ hai hướng tới việc tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình
đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội
2. Đặc trưng quyền cơ bản của công dân:
Quyền bản của công dân thường được xuất phát từ các quyền tự nhiên
thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người như quyền sống
Quyền bản của công dân được ghi nhận trong văn bản pháp hiệu
lực cao nhất - Hiến pháp
Các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp là cơ sở để
cho mọi quyền và nghĩa vụ khác của công dân được các ngành luật trong h
thống pháp luật ghi nhận
Các quyền bản của công dân nguồn gốc phát sinh ra các quyền
nghĩa vụ khác của công dân. sở phát sinh duy nhất của các quyền
nghĩa vụ bản của công dân quyền công dân - nghĩa là người có quốc
tịch Việt Nam. Cơ sở phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác của công dân
sự tham gia của họ vào các QHPL, các sự kiện pháp lí,...
Các quyền nghĩa vụ bản của công dân thể hiện nh chất dân chủ, nhân
văn và tiến bộ của nhà nước
Dựa vào quyền nghĩa vụ bản đánh giá được mức độ dân chủ, nhân đạo,
tiến bộ và mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội, cá nhân
14.Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong khoản
1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
lOMoARcPSD| 61716317
Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào
việc thụ hưởng quyền con người. VD: Nhà nước không thu giữa trái pháp
luật thư tín
Nguyên tắc này đã xuất hiện trong Hiến pháp 1992 nhưng được khẳng định,
củng cố lại trong Hiến pháp 2013. Nguyên tắc này tương ứng với các quy
định về nghĩa vụ quốc gia trong Bộ luật nhân quyền quốc tế
ý nghĩa quan trọng, không chỉ bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật VN
với luật nhân quyền quốc tế còn tạo sở hiến định ràng buộc các
quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ nghiêm túc những nghĩa vụ trách
nhiệm của nhà nước về quyền con người trong thực tế.
Nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động (negative obligation)
15. Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản
1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Nghĩa vụ công nhận quyền con người nghĩa “ghi nhận quyền trong Hiến pháp có
ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức” cũng khả năng giảm nguy
cơ vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận trong Hiến pháp trong
một thời gian và với những điều kiện nhất định”
Nhà nước không thực hiện trách nhiệm luật hóa quyền “cũng thể coi trái
nguyên tắc pháp quyền. vậy, quyền con người không thể được hiến định theo
kiểu nhà nước ban phát: Mọi người/Công dân quyền…theo quy định của luật/
pháp luật mà chuyển sang việc nhà nước thừa nhận: Mọi người/ Công dân
quyền…. Việc thực hiện các quyền này theo quy định của luật/pháp luật. Thông qua
hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều
kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền.
Công nhận được hiểusự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền bản
những bảo đảm liên quan. Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm này là sự gián
tiếp thừa nhận từ phía Nnước hiệu lực hay chế thực thi trực tiếp đối với các
quyền hiến định. Nếu hiến pháp đã ghi nhận quyền thì nhân đương nhiên được
hưởng. Việc nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban hành c văn bản pháp luật có liên
quan không do xác đáng ngăn cản nhân thực hiện quyền 16. Phân tích
nguyên tắc bảo đảm quyền con người được quy định trong khoản 1,
Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cá nhân
trong việc thực hiện quyền. VD: Xây hệ thống trường học ở vùng xa
Nghĩa vụ bảo đảm mang tính chủ động (positive obligation)
17. Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền con người được quy định trong khoản 1,
Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi Nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống hành vi xâm
phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba. VD: Nhà nước quy định
tội phạm với hành vi giết người trong BLHS và áp dụng hình phạt thích đáng
Nghĩa vụ bảo vệ mang tính chủ động (positive obligation)
18.Phân tích nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được quy
định tại khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013
lOMoARcPSD| 61716317
Đây một trong những nguyên tắc bản của chế định quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Chủ nghĩa Marx Lenin quan niệm rằng bản chất
của bình đẳng thể hiện ở sự công nhận giá trị bình đẳng của tất cả mọi người trong
các lĩnh vực đời sống, kinh tế, hội, chính trị, pháp luật. Đây sự bình đẳng mang
tính chất xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội chứ không phải bình đẳng về khả năng
thể chất và tinh thần của các cá nhân. Bình đẳng về cả quyền và nghĩa vụ
HP 2013 Điều 16
HP 2013 Điều 26 về quyền bình đẳng giới
HP 2013 Điều 5 Khoản 2, 3, 4 về quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật một nguyên tắc cực
quan trọng. Nguyên tắc này được đảm bảo thì hội mới công bằng, pháp luật
mới được thực hành nghiêm chỉnh. Những hiện tượng đặc quyền , đặc lợi sự
tham nhũng của một số cán bộ chức, quyền sự xử không nghiêm minh
những cán bộ đó vi phạm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật, gây ra những bất bình trong xã hội. Ngày nay, chúng ta đang đấu tranh với các
hiện tượng tiêu cực trong hội để trước pháp luật mọi người đều thực sự bình
đẳng, ai công đều được thưởng, kẻ tội phải bị trừng trị cho đó những
cán bộ cấp cao của Nhà nước. Chừng nào còn hiện tượng bất bình đẳng trước
pháp luật thì chừng đó chúng ta chưa thể xây dựng một trật thội, trật tpháp
luật
19.Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước đối
với quyền con người, quyền công dân được thể hiện như thế nào?
a. Nội dung
Đối với nhà nước pháp quyền, việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con
người vừa phương tiện, vừa sở, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển
của nhà nước
Hiến pháp là đạo luật gốc quốc gia, là văn bản giới hạn chính quyền để bảo
vệ nhân quyền do đó, cần phải tuyên bố một cách công khai, minh bạch và
thiện chí trách nhiệm của chính quyền đối với giá trị quyền con người
như những giá trị trân quý nhất. Trách nhiệm chính trị - pháp của nhà
nước đối với quyền con người là cao nhất và thứ nhất
Nhà nước cần tham gia, nội luật hóa thực hiện nghiêm chỉnh các điều
ước quốc tế về quyền con người, điển hình luật nhân quyền quốc tế
(bao gồm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về
các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa năm 1966; và các văn kiện khác)
Theo HP 2013, Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm việc thực
hiện quyền con người. Điều này không chỉ đảm bảo sự tương thích với các
quy định về nghĩa vụ quốc gia trong pháp luật nhân quyền quốc tế còn
tạo cơ sở hiến định ràng buộc trách nhiệm cụ thể các cơ quan nhà nước đối
với quyền con người.
Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào
việc thụ hưởng quyền con người. VD: Nhà nước không thu giữa trái pháp
luật thư tín
lOMoARcPSD| 61716317
Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi Nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống hành
vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba. VD: Nhà
nước quy định tội phạm với hành vi giết người trong BLHS áp dụng hình
phạt thích đáng
Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ
nhân trong việc thực hiện quyền. VD: Xây hthống trường học vùng
xa
Nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động (negative obligation), bảo vệ và bảo
đảm mang tính chủ động (positive obligation)
Nghĩa vụ công nhận quyền con người nghĩa là “ghi nhận quyền trong Hiến
pháp ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức” và cũng có khả
năng giảm nguy vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận
trong Hiến pháp trong một thời gian và với những điều kiện nhất định”
Nhà nước không thực hiện trách nhiệm luật hóa quyền “cũng thể coi
trái nguyên tắc pháp quyền. Vì vậy, quyền con người không thể được hiến
định theo kiểu nhà nước ban phát: Mọi người/Công dân quyền…theo
quy định của luật/ pháp luật mà chuyển sang việc nhà nước thừa nhận: Mọi
người/ Công dân quyền…. Việc thực hiện các quyền này theo quy định
của luật/pháp luật. Thông qua hoạt động lập pháp thực tiễn áp dụng pháp
luật, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền
chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền.
Công nhận được hiểu là sự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền
bản và những bảo đảm liên quan. Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm
này là sự gián tiếp thừa nhận từ phía Nhà nước hiệu lực hay cơ chế thực thi
trực tiếp đối với các quyền hiến định. Nếu hiến pháp đã ghi nhận quyền thì
nhân đương nhiên được hưởng. Việc nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban
hành các văn bản pháp luật có liên quan không do xác đáng ngăn cản
cá nhân thực hiện quyền
Nhà nước trách nhiệm tạo ra hành lang pháp thuận lợi cho nhân
thực hiện các quyền.
Trách nhiệm công nhận của nhà nước không chỉ hẹp những quyền
bản trong hiến pháp mà còn thừa nhận chung những quyền chính đáng khác
của mỗi cá nhân
Nhà nước không thể ban hành pháp luật nhằm tước bỏ một cách bất hợp lý,
vô căn cứ.
b. Ý nghĩa:
Đảm bảo sự hài hòa với luật nhân quyền quốc tế
Tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đ
nghiêm túc những nghĩa vụ về quyền con người, quyền công dân trong
thực tế
20.Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền công
dân chthể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013).
lOMoARcPSD| 61716317
a. Định nghĩa:
Hạn chế quyền việc Hiến pháp hoặc một văn bản pháp luật khác của quốc
gia điều khoản hạn chế (limitation clause) cho phép giới hạn áp dụng
một quyền, tự do cá nhân trong một mức độ nhất định, nhằm cân bằng giữa
quyền, tự do nhân đó với lợi ích chính đáng, hợp của cộng đồng
quyền, tự do của cá nhân khác.
b. Nội dung:
Quyền con người, quyền công dân chỉ thể bị hạn chế theo quy định của
luật. Như vậy, Hiến pháp 2013 đã c định chỉ Quốc hội mới có quyền
hạn chế quyền thông qua “luật”. Quy định này không quá cứng nhắc việc
ủy quyền lập pháp là hoàn toàn có thể xảy ra
Chỉ được hạn chế trong trường hợp cần thiết. Yếu tố này rất quan trọng bởi
việc hạn chế quyền phải là phương án cuối cùng khi không thể có phương
án nào khác thay thế. Theo đó, phải hạn chế, kiểm soát việc hạn chế quyền
và chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết
6 lý do để hạn chế quyền. thể thấy các do để hạn chế quyền theo
Hiến pháp 2013 khá phong phú, đa dạng
Quyền con người trong Chương II cụ thể khoản 2, Điều 14 của Hiến
pháp năm 2013 là quyền dành cho mọi người theo quy định của Hiến pháp,
pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, bản chất của cũng chính những quyền
đã được ghi nhận trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt
Nam đã thành viên thực hiện nội luật hóa vào Hiến pháp, pháp luật
Việt Nam
Nguyên tắc hạn chế quyền này không chỉ áp dụng cho các quyền bản
được Hiến pháp ghi nhận mà còn có thể áp dụng cho các quyền khác được
ghi nhận trong các luật chuyên ngành. Điều này xuất phát từ việc khoản 2
Điều 14 Hiến pháp năm 2013 chỉ sử dụng cụm từ quyền con người, quyền
công dân không sử dụng cụm từ “quyền con người, quyền (và nghĩa vụ)
bản của công dân” như tiêu đề Chương II của Hiến phápm 2013. Đây
là điều rất hợp lí vì việc quy định các quyền cơ bản trong Hiến pháp không
có nghĩa là phủ nhận các quyền khác. Và do đó, các quyền khác đều có thể
bị hạn chế theo nguyên tắc được nêu trong Hiến pháp
c. Ý nghĩa:
Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc về giới hạn quyền. Đây nguyên
tắc đã được nêu trong luật nhân quyền quốc tế và trong Hiến pháp của một số quốc
gia. Việc hiến định nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng vì
làm rõ tinh thần của luật nhân quyền quốc tế là các nhà nước phải tôn trọng, bảo
vệ bảo đảm các quyền con người những cũng được đặt ra áp dụng những giới
hạn cho một số quyền, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước là quản hội,
bảo đảm các quyền, lợi ích chung của cộng đồng các quyền, lợi ích hợp pháp
của các cá nhân khác
ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực nhà nước đvi phạm nhân quyền,
thông qua việc ấn định những điều kiện chặt chẽ với việc giới hạn quyền
phòng ngừa những suy nghĩ hành động cực đoan trong việc hưởng thụ các
quyền
lOMoARcPSD| 61716317
bổ sung cho hệ thống chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam d. Những
vấn đề pháp lý đặt ra từ nguyên tắc hạn chế quyền con người
Chưa quy định nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật không cấm. Nếu
có những quyền không quy định, không cấm thì thực hiện như thế nào
Chưa rõ bất cứ quyền nào cũng có thể bị hạn chế hay chỉ một số quyền mới bị hạn
chế. Nếu theo quan điểm việc hạn chế quyền thể áp dụng cho mọi quyền thì quan
niệm này rộng hơn so với quan niệm của thế giới. Theo pháp luật nhân quyền quốc
tế (VD ICCPR, và ICESCR năm 1966 là hai Công ước mà Việt Nam đã tham gia),
có những quyền con người không thể bị hạn chế thực hiện bất kì do gì, trong
bất hoàn cảnh nào, kể cả trong những trường hợp cần thiết như quy định của
Hiến pháp năm 2013. Chính vì vậy, việc thi hành khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm
2013 cần xem xét tới quy định tại Khoản 1 Điều 5 ICCPR năm 1966: “Không một
quy định nào trong Công ước này có thể được giải thích với hàm ý cho phép bất kỳ
quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia hay tiến hành bất kỳ
hành động nào nhằm phá hoại bất quyền tự do nào được Công ước này thừa
nhận hoặc nhằm hạn chế các quyền và tự do đó quá mức Công ước này quy định
Việc quy định các do để hạn chế quyền đúng đắn. Tuy vậy, theo pháp luật nhân
quyền quốc tế thì một số quyền cần phải được hạn chế trong mọi thời điểm
không cần xuất hiện các trường hợp cần thiết do an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn hội,... VD: quyền tự do hội họp luôn kèm theo điều kiện hòa bình, quyền tự
do lập hội có thể bị hạn chế đối với những người làm việc trong lực lượng vũ trang
(Khoản 2 Điều 22 ICCPR 1966)
Quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 vẫn chưa được giải thích cụ thể:
Chưa thống nhất quan điểm về quy định quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo
quy định của luật. Luật được phân biệt với văn bản dưới luật (pháp lệnh, nghị định,
thông tư,...). Tuy nhiên, hoàn toàn có thể có trường hợp ủy quyền lập pháp. Trong
khi đó một số ý kiến cho rằng chỉ nên quy định trong luật (không có ủy quyền)
21. Trước tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng nghiêm trọng, đặc
biệt ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và tắc đường, thành phố H ban
hành quy định cấm xe máy lưu thông ở các quận nội thành. Dựa trên nguyên
tắc hạn chế quyền, hãy bình luận về quy định trên.
22.Trình bày vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính
trị theo pháp luật hiện hành.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của
tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tchức xã hội các nhân tiêu
biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài
Vị trí: MTTQVN là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân
Vai trò: MTTQVN là đại diện; bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, dân tộc, thực hiện
dân chủ, tăng cường đồng thuận hội; giám sát, phản biện hội; tham gia xây
dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần bảo vệ Tổ quốc
lOMoARcPSD| 61716317
23.Phân tích chức năng giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam theo pháp luật hiện hành.
a. Khái niệm:
b. Phân tích:
Giám sát xã hội:
Là sự thể hiện kiểm tra, kiểm soát của toàn thể xã hội đối với thiết chế của
hệ thống chính trị.
Đặc trưng của hoạt động giám sát của MTTQ:
Chủ thể thực hiện quyền giám sát o MTTQVN các tổ chức thành viên
có quyền và trách nhiệm giám sát
o Tuân theo nguyên tắc “hiệp thương dân chủ, phối hợp
thống nhất hành động để thực hiện chương trình hành động
và nhiệm vụ chung đã được bàn bạc thỏa thuận trong đó có
nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước đại
biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước Điều
4 Luật MTTQVN
Tính chất:
Giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm
tra, thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước
Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước, không có quyền xử
lý đối với các cơ quan nhà nước hay người chịu trách nhiệm Đối tượng
giám sát:
Hoạt động của quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức
theo quy định của pháp luật Hình thức thực hiện:
Dưới các hình thức đặc thù như:
o Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát o Tham gia
giám sát cùng với các cơ quan quyền lực nhà nước
o Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân
dân các tổ chức thành viên kiến nghị với quan nhà
nước thẩm quyền biểu dương, khen thưởng những
quan, cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình,
xem xét. giải quyết, xử lý những trường hợp vi phạm pháp
luật
o Hậu quả của hoạt động giám sát kiến nghị sức nặng của
các tầng lớp nhân dân yêu cầu xem xét, giải quyết, xử lý
Nội dung giám sát:
MTTQVN thực hiện hoạt động giám sát đối với các cơ quan nhà nước trên
các lĩnh vực sau:
Giám sát hoạt động xây dựng pháp luật o Góp ý kiến, tham gia các ban
soạn thảo
o Xem xét kiến nghị sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật cần
thiết
=> Góp phần làm giảm sai sót, sở hở trong xây dựng và ban
hành pháp luật, tăng tính khả thi
lOMoARcPSD| 61716317
Giám sát hoạt động tư pháp o Giám sát quá trình thực hiện pháp luật về tố
tụng o Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện những hành
vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng
o Lựa chọn, xem xét kiến nghị nhiều vụ án tòa án cấp
thẩm đã xử nhưng bị cáo, đương sự ý kiến của đông
đảo nhân dân vẫn kiến nghị kêu oan được Tòa án, VKS
cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết
o Lựa chọn giới thiệu hội thẩm
Giám sát việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo o Tiếp dân và tham gia
giải quyết đối với những đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những
đối tượng do MTTQVN trực tiếp vận động, đến cán bộ của MTTQVN
những trường hợp vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ bản của
công dân
Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử o Đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền
lực nhân dân đã ủy quyền
o Tổ chức tiếp xúc trước sau mỗi kỳ họp đại biểu quốc hội
và hội đồng nhân dân để đại biểu tiếp xúc với cử tri, trên cơ
sở đó kiến nghị với quan nhà nước thẩm quyền để xem
xét, giải quyết
Giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật o Vận động nhân dân thi hành
chính sách
Phản biện xã hội
Phản biện hội hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh
giá về một vấn đề nào đó nhằm đánh giá, chứng minh nh hợp hay không
hợp lý, từ đó thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần
hoặc cả một phương án, dự án, kế hoạch
Phản biện xã hội phản biện mang tính xã hội. (phản biện ngoài nhà nước)
Mục đích, ý nghĩa:
Phát huy dân chủ, dung hòa lợi ích của nhiều nhóm người trong xã hội
Đồng thuận xã hội
Giám sát lực lượng cầm quyền
Trao đổi thông tin giữa các thiết chế quyền lực với nhân dân tạo ra sức mạnh
dân tộc
24.Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật
hiện hành.
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nguyên tắc này thiết lập nền tảng để
hình thành toàn bộ bộ máy nhà nước
Nội dung:
Nước CHXHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61716317
HỆ THỐNG CÂU HỎI TỰ LUẬN THI VẤN ĐÁP
MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM
(NGÀNH LUẬT KINH TẾ, NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ,
LUẬT KINH TẾ CHẤT LƯỢNG CAO - 03 TÍN CHỈ)
NĂM HỌC 2023 - 2024
1. Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam. Lấyví dụ minh họa.
Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP là các QHXH nền tảng, cơ bản nhất
và quan trọng nhất trong xã hội. Trong quá trình tham gia vào đời sống xã
hội, con người thiết lập nhiều QHXH khác nhau, tuy nhiên các QHXH đó
không ngang hàng với nhau mà giữa chúng có thứ bậc nhất định. Có những
QHXH làm nền tảng cho sự hình thành các QHXH khác. Đây là các QHXH
cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình quản lí xã hội bằng pháp luật. Mỗi
khi nội dung điều chỉnh các QHXH nền tảng có sự thay đổi thì nội dung
điều chỉnh các QHXH khác trong cùng lĩnh vực cũng có sự thay đổi theo •
Đối tượng điều chỉnh của LHP chia thành 3 nhóm: •
Nhóm 1: Các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc
phòng, chính sách đối ngoại

Trong lĩnh vực chính trị, ngành LHP điều chỉnh các mối quan hệ nền tảng,
cơ bản và quan trọng nhất liên quan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà
nước và tổ chức quyền lực nhà nước, hệ thống chính trị,... Khi điều chỉnh
các QHXH nền tảng của lĩnh vực chính trị, ngành LHP đồng thời thiết lập
nền tảng của chế độ chính trị. Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục,
khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính sách đối ngoại, những
QHXH nền tảng mà ngành LHP điều chỉnh là những QHXH liên quan tới
định hướng phát triển lớn của từng lĩnh vực, ví dụ mô hình phát triển kinh
tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hóa, … Qua việc điều chỉnh các
QHXH đó, ngành LHP hình thành các chính sách cơ bản nhất, quan trọng
nhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực •
Nhóm 2: Các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực
quan hệ giữa nhà nước và người dân, hay có thể gọi là các QHXH xác định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân

Trong đời sống xã hội, các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam quy
định cho người dân rất nhiều quyền và nghĩa vụ pháp lí trong các lĩnh vực
khác nhau. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân là những quyền và
nghĩa vụ nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất của từng lĩnh vực. Những
quyền cơ bản này là nền tảng hình thành các quyền cụ thể của người dân
trong từng lĩnh vực. Tập hợp các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân
tạo thành địa vị pháp lí của người dân đối với nhà nước. lOMoAR cPSD| 61716317 •
Nhóm 3: Các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Đây là các QHXH liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của
bộ máy nhà nước Việt Nam, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước Việt Nam từ trung ương tới địa phương. Đây là
nhóm đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành LHP •
Đặc điểm riêng của đối tượng điều chỉnh ngành LHP khẳng định tính độc
lập của ngành LHP trong hệ thống pháp luật Việt Nam: •
Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực của
đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng,
đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tới các lĩnh vực dân
sự, hình sự, tố tụng. Trong khi đó đối tượng điều chỉnh của hầu hết các
ngành luật khác thường nằm trong một lĩnh vực cụ thể. (VD: Luật thương mại, luật môi trường) •
Mặc dù trải rộng trên nhiều lĩnh vực song đối tượng điều chỉnh của ngành
LHP chỉ bao gồm các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong
từng lĩnh vực. Các QHXH cụ thể hơn của từng lĩnh vực thường là đối tượng
điều chỉnh của các ngành luật khác. Thuộc tính nền tảng, cơ bản và quan
trọng nhất của đối tượng điều chỉnh của ngành LHP mang tính trừu tượng
cao, có các tiêu chí để xác định •
Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP có thể được liệt kê thành các nhóm
QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong từng lĩnh vực song sự liệt
kê đó không mang tính tuyệt đối. Thuộc tính nền tảng, cơ bản và quan trọng
nhất là yếu tố xác định phạm vi các QHXH là đối tượng điều chỉnh của
ngành LHP và việc xác định QHXH nào có thuộc tính này ít nhiều mang
tính chủ quan. Chính vì vậy mà phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành
LHP có thể thay đổi trong từng thời kì tùy thuộc vào nhận thức của giới
khoa học pháp lí và các cơ quan có thẩm quyền trong từng giai đoạn cụ thể.
2. Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp. a. Định nghĩa:
Hiến pháp là tập hợp các quy phạm có giá trị pháp lí cao nhất, quy định những vấn
đề mang tính cốt lõi của một nước (chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách
kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lí của con người
và công dân), thường được ghi nhận thành văn bản và được tuyên bố là đạo luật cơ bản của một quốc gia b. Đặc điểm: •
Hiến pháp là luật cơ bản (basic law), còn được gọi là luật nhà nước, luật
mẹ, luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ
thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật và văn bản QPPL khác dù trực tiếp
hay gián tiếp đều phải căn cứ vào hiến pháp để ban hành vì Hiến pháp là sự
thỏa thuận giữa chính quyền và người dân, xác lập những nguyên tắc cơ bản
để giới hạn quyền lực nhà nước, thiết lập địa vị pháp lý của con người, của
công dân làm cơ sở để xác định trách nhiệm của nhà nước với người dân của mình… lOMoAR cPSD| 61716317
Ở Việt Nam, có thời kỳ hiến pháp được quan niệm là “luật cơ bản của Nhà
nước”, tuy nhiên, để phản ánh đúng vai trò của hiến pháp đối với Nhà nước
và xã hội, hiến pháp hiện hành đã sửa quy định này thành “luật cơ bản của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Từ “Nhà nước” thành “nước”,
hiến pháp thực chất là luật cơ bản của một đất nước, ở đó, Nhân dân mới
thực sự là chủ nhân của bản hiến pháp. •
Hiến pháp là luật tổ chức (organic law), là luật quy định các nguyên tắc tổ
chức bộ máy nhà nước, là luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các
mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; quy định cấu
trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa
phương. Đây là nội dung mang tính kinh điển, cơ bản không thể thiếu của
hiến pháp vì những bản hiến pháp đầu tiên trên thế giới ra đời có nội dung
xoay quanh vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, thể hiện chủ yếu qua cách
thức tổ chức bộ máy nhà nước. •
Hiến pháp là luật bảo vệ (protective law). Các quyền con người và công dân
bao giờ cũng là một phần quan trọng của hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ
bản của nhà nước nên các quy định về quyền con người và công dân trong
hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo
đảm thực hiện các quyền con người và công dân •
Hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lí tối cao (highest law), tất cả các văn
bản pháp luật khác không được trái với hiến pháp. Bất kì văn bản pháp luật
nào trái với hiến pháp đều phải bị hủy bỏ
3. Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
“Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người,
mà phải trói anh ta lại bằng sợi dây xích hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác” - Thomas Jefferson, 1798 •
Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ được đặt ra một cách đầy đủ và cấp bách từ cách
mạng tư sản, với sự ra đời của hiến pháp thành văn của các nước trên thế giới •
Hiến pháp ra đời nhằm ngăn chặn sự vi phạm từ phía nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà
nước, bảo vệ nhân quyền, quyền cá nhân. Đó chính là bản chất của Hiến pháp •
Hiến pháp có đối tượng điều chỉnh ở nghĩa hẹp là việc quy định chế độ chính trị nhà nước
trong thời kì dân chủ. Vì vậy, hiến pháp có trách nhiệm phải quy định về tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Đối tượng điều chỉnh của luật hiến pháp là những mối quan
hệ về tổ chức bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy đó luôn thuộc về nhân dân •
Hiến pháp phân chia quyền lực •
Hiến pháp bảo vệ nhân quyền. Hiến pháp quy định chặt chẽ cách tổ chức và hoạt động của
nhà nước. Nhân dân phế truất những người không còn phẩm chất xứng đáng căn cứ theo
quy định của hiến pháp. Sự ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền con người từ phía nhà
nước là một nhiệm vụ quan trọng của Hiến pháp
4. Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ?
Hiến pháp là luật bảo vệ vì hiến pháp ghi nhận các quyền con người, quyền cơ bản của công dân
làm cơ sở để các đạo luật thông thường quy định chi tiết việc thực hiện quyền con người, quyền
công dân trong từng lĩnh vực cụ thể. Việc hiến định nội dung này khẳng định rõ hơn bản chất dân
chủ của nhà nước. Với vai trò là luật cơ bản của một nước, các quyền con người, quyền công dân lOMoAR cPSD| 61716317
một khi được hiến định có giá trị bắt buộc tôn trọng bởi Nhà nước và toàn xã hội, đồng thời đây
là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ, bảo đảm các
quyền con người, quyền cơ bản của công dân, qua đó người dân có thể đánh giá được tính hiệu
quả hoạt động của Nhà nước.
Với hiến pháp hiện đại thì bên cạnh nội dung về tổ chức quyền lực nhà nước, việc ghi nhận các
quyền con người, quyền cơ bản của công dân cũng được coi là nội dung không thể thiếu để cấu
thành nên một bản hiến pháp. Một số quốc gia ngày càng đề cao nội dung này trong hiến pháp của
nước mình (Quy định quyền con người ở chương đầu tiên)
5. Tại sao nói hiến pháp là luật tổ chức?
Hiến pháp là luật tổ chức vì hiến pháp của quốc gia nào cũng quy định nguyên tắc tổ chức bộ máy
nhà nước, quy định vị trí, tính chất, chức năng và một số nội dung cơ bản về nguyên tắc hoạt động,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của những cơ quan cơ quan nhà nước nắm giữ các nhánh
quyền lực quan trọng trong bộ máy nhà nước. Đây là nội dung mang tính kinh điển của hiến pháp
vì những bản hiến pháp đầu tiên trên thế giới ra đời thì nội dung chỉ xoay quanh về vấn đề tổ chức
quyền lực nhà nước, thể hiện qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước. Hiến pháp nay đã mở rộng
phạm vi nội dung hiến định, tuy nhiên, vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước vẫn được xem là một nội
dung cơ bản không thể thiếu để cấu thành nên một bản hiến pháp
6. Tại sao nói hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao?
Hiến pháp là luật cơ bản của một nước, chứa đựng những nội dung quan trọng, mang tính nền
tảng, định hướng cho sự phát triển của một nước, chứa đựng những nội dung quan trọng, mang
tính nền tảng, định hướng cho sự phát triển của một quốc gia, dân tộc, do đó hiến pháp được xác
định là đạo luật có đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tính cao nhất ở đây thể hiện trong mối
quan hệ với các đạo luật thông thường. Các văn bản pháp luật khi ban hành phải đảm bảo có nội
dung không được trái với hiến pháp, nếu văn bản pháp luật đã thông qua những phát hiện có nội
dung trái hiến pháp thì sẽ bị bãi bỏ hoặc phải sửa đổi cho phù hợp. Để đảm bảo tính hiệu lực cao
nhất của hiến pháp vấn đề này thường được quy định thành điều khoản ngay trong chính bản hiến pháp đó.
Quy trình ban hành, sửa đổi và thông qua hiến pháp ở các nước cũng khác so với các đạo luật
thông thường. Cụ thể là quy trình làm hiến pháp sẽ chặt chẽ hơn, khắt khe hơn, đồng thời mức độ
tham gia của người dân cũng rộng rãi và sâu sắc hơn so với các đạo luật thông thường. Chẳng hạn,
mức độ biểu quyết thông qua hiến pháp của các đại biểu Quốc hội phải có tỉ lệ cao hơn so với việc
thông qua luật hay việc làm hiến pháp hay thông qua hiến pháp thường có thủ tục trưng cầu ý dân
trong khi các luật chỉ có thể lấy ý kiến nhân dân.
7. Phân tích quy trình lập hiến theo Hiến pháp năm 2013. •
Quy trình lập hiến là trình tự, thủ tục mà các chủ thể có thẩm quyền phải tuân theo trong
quá trình ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp •
Quy trình lập hiến khác với quy trình lập pháp ở điểm: •
Quy trình làm Hiến pháp phải do Hiến pháp quy định •
Quy trình làm Hiến pháp gồm các bước, các thủ tục chặt chẽ, khó khăn hơn so với quy trình lập pháp •
Quy trình làm Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động lập hiến. Một bản
Hiến pháp được xây dựng theo một quy trình, công nghệ dân chủ, khoa học, hoàn hảo các lOMoAR cPSD| 61716317
bước, các thủ tục quy định chặt chẽ, logic thì chắc chắn sẽ cho ra đổi một bản Hiến pháp có chất lượng tốt •
Quy trình lập hiến là điểm khởi đầu, đảm bảo cho tất cả quyền lực nhà nước thuộc về tay nhân dân •
Có hai quyền lập hiến là: •
Quyền lập hiến nguyên thủy: là quyền xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên hoặc làm một Hiến
pháp mới. Đây không phải là một quyền luật định, mà xác lập một hệ thống pháp luật mới.
Quyền này không có giới hạn, các chủ thể có quyền lập hiến không bị ràng buộc bởi một
thủ tục pháp lý nào mà không hạn chế về nội dung của Hiến pháp. •
Quyền lập hiến phái sinh: là quyền sửa đổi bản Hiến pháp hiện hành, bị hạn chế cả về hình
thức và nội dung bởi nó phải tuân theo Hiến pháp. Vì quyền sửa đổi hiến pháp là quyền do hiến định •
HP 2013 không quy định giới hạn đối với việc sửa đổi Hiến pháp trong quy tình sửa đổi
Hiến pháp (những vấn đề như toàn vẹn lãnh thổ, chính thể dân chủ cộng hòa là điều đương
nhiên, bất di bất dịch)
Điều 120 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 , quy trình làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Việt Nam như sau:
1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba
tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.
Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần
ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên,
nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo
đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc
hội dự thảo Hiến pháp.
4. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu
quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
5. Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
Thứ nhất, Hiến pháp 2013 khẳng định Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến.
Nếu HP được quan niệm là một văn bản của NN, tổ chức BMNN, củng cố sức mạnh
của NN thì Hiến pháp do NN ban hành •
Nếu HP được quan niệm là một văn bản của Nhân dân thì nó không được sửa đổi
bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà trước hết quyền lập hiến phải thuộc về Nhân dân •
Lời nói đầu HP 2013 khẳng định: Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này… •
Thứ hai. Hiến pháp 2013 thiết lập quy trình làm và sửa đổi Hiến pháp
Điều 120 HP 2013 đã kế thừa quy trình lập hiến và sửa đổi Hiến pháp của nhân loại và của
nước ta và xác định các bước sau đây:
1. Đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp lOMoAR cPSD| 61716317 •
Quyền này được trao cho CTN, UBTVQH, CP hoặc ít nhất ⅓ tổng số ĐBQH •
HP 2013 quy định việc đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp rất rộng, thể hiện tính chất
dân chủ rộng rãi của nhà nước ta
2. Thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp •
Quốc hội được giao quyền thành lập Ủy ban này •
Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ, quyền hạn của UBDTHP do
Quốc hội quyết định theo đề nghị của UBTVQH •
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy trong UBDTHP, ngoài các Đại biểu QH còn
có các chuyên gia giỏi của đất nước trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực
pháp lí, sẽ góp phần tích cực vào việc soạn thảo ra một bản Hiến pháp có
chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước trong thời gian dài.
3. Soạn thảo dự thảo Hiến pháp •
Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình
Quốc hội dự thảo Hiến pháp •
Thời gian soạn thảo, lấy ý kiến Nhân dân ngắn dài tùy thuộc từng điều kiện,
hoàn cảnh chính trị lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia •
Mục đích của việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân là nhằm phát huy quyền làm
chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của Nhân dân, tạo sự đồng thuận của Nhân
dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong việc sửa đổi Hiến
pháp, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi công
dân, cơ quan, tổ chức trong việc sửa đổi Hiến pháp và thi hành Hiến pháp
sau khi Hiến pháp được ban hành 4. Thông qua Hiến pháp •
Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất ⅔ tổng số đại biểu Quốc hội biểu
quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân do Quốc hội quyết định. •
Trưng cầu ý dân trong quy trình lập hiến là một xu hướng phổ biến của chủ
nghĩa hợp hiến hiện đại. •
Trưng cầu ý dân đối với Hiến pháp không những thể hiện lòng tin vào Nhân
dân mà còn xác lập chủ quyền Nhân dân đối với quyền lực - nhân tố góp
phần giữ vững sự ổn định và bền vững của chính quyền khi có sự biến động trong/ngoài nước
8. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bảo vệ hiến pháp. a. Định nghĩa:
 Có ba quan điểm chính về bảo vệ hiến pháp:
1. Hiểu bảo vệ Hiến pháp theo nghĩa hẹp nhất - hoạt động tư pháp (tài phán) Hiến pháp •
Tiếp cận về bảo vệ Hiến pháp từ góc độ coi bảo vệ Hiến pháp là một
vấn đề của tổ chức quyền lực nhà nước •
Quyền lập hiến thuộc về Nhân dân nên đứng trên quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
2. Coi bảo vệ Hiến pháp là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm bảo vệ Hiến pháp lOMoAR cPSD| 61716317 •
Không còn là hoạt động tư pháp mà còn giao quyền bảo hiến cho
các cơ quan khác như Hội đồng bảo hiến, Tòa đặc biệt thuộc Tòa án tối cao, Nghị viện,.. •
Tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể mà Hiến
pháp xác định thẩm quyền nhằm đảm bảo sự tôn trọng, giữ gìn Hiến
Hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của Hiến
pháp nhằm bảo đảm sự tôn trọng, giữ gìn, chấp hành Hiến pháp và
phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết mọi sự xâm phạm đến Hiến pháp
pháp, ngăn ngừa, chống lại và triệt tiêu hành vi vi hiến 
3. Coi bảo vệ Hiến pháp là một vấn đề giữa Nhà nước, pháp luật và xã hội •
Bảo vệ Hiến pháp được hiểu là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các
nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp b. Nội dung của bảo vệ Hiến pháp •
Có bảo vệ về hình thức và bảo vệ về nội dung: •
Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ các quy định của Hiến pháp về chủ quyền nhân dân điều chỉnh
mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước
1. Xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử
2. Xem xét tính hợp hiến của việc trưng cầu ý dân
3. Giải quyết khiếu kiện của công dân đối với cơ quan nhà nước và cá nhân có
thẩm quyền về các quyết định, hành vi có biểu hiện vi hiến •
Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ các quy định của Hiến pháp về tổ chức, vận hành quyền
lực nhà nước thông qua tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước thông qua tổ chức
và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước - điều chỉnh mối quan hệ nội tại của nhà nước
1. Giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước
quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc gia nhập
2. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước thuộc
nhánh quyền lực hoặc giữa cơ quan trung ương với chính quyền địa phương
3. Xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp của các cá nhân nắm giữ vị trí lãnh
đạo cao cấp của nhà nước. •
Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ các quy định của Hiến pháp về tổ chức của các thiết
chế chính trị - xã hội, tức là điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với các bộ phận
hợp thành hệ thống chính trị và kết cấu xã hội
1. Phán quyết về tính hợp hiến, không hợp hiến trong việc thành lập, mục đích
và hoạt động của các đảng phái chính trị
2. Phán quyết tính hợp hiến hoặc không hợp hiến về vị trí , tư cách lãnh đạo
nhà nước, lãnh đạo các hội của các đảng phái chính trị (thường là dựa trên
kết quả bầu cử của các đảng phái chính trị để đề cử người tham gia bộ máy
nhà nước hoặc trở thành đảng đa số cầm quyền) •
Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ tính đúng đắn, thống nhất và “nguyên vẹn” của tất cả
các nội dung của Hiến pháp thông qua hoạt động giải thích Hiến pháp
c. Vai trò, ý nghĩa của bảo vệ Hiến pháp: lOMoAR cPSD| 61716317 •
Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo vệ chế độ chính trị, cấu trúc nhà nước, bảo đảm sự
ổn định của tương quan lực lượng trong xã hội mà Hiến pháp đã ghi nhận •
Hiến pháp quy định tổ chức và hoạt động của những thiết chế chính trị quan trọng
nhất trong xã hội của một quốc gia •
Bảo vệ HP là bảo vệ thành quả mà giai cấp thống trị đã giành được và tuyên bố trong HP. •
Giải quyết những lệch lạc hoặc nguy cơ đe dọa đối với sự ổn định chế độ, đường
lối phát triển hoặc phá vỡ tương quan giữa các lực lượng xã hội, giai tầng xã hội
mà Hiến pháp đã xác định nhằm làm ổn định chế độ chính trị, ổn định xã hội, giữ
vững bản chất nhà nước, bảo vệ chủ quyền, cấu trúc nhà nước của quốc gia, bảo
đảm tương quan chính trị xã hội có lợi cho giai cấp thống trị •
Đảm bảo toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị theo đúng mục tiêu của đường
lối kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng thời kì đã được xác định trong HP •
Bảo vệ những giá trị nhân văn của quốc gia và góp phần đảm bảo thực hiện những
mục tiêu cao quy nhất mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đã và đang hướng tới •
Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật •
Bảo đảm việc ban hành quy phạm pháp luật của nhà nước luôn tuân thủ nghiêm
chỉnh trật tự thứ bậc của hệ thống pháp luật và do đó bảo đảm tính thống nhất của
toàn bộ hệ thống pháp luật •
Có ý nghĩa quan trọng với nhà nước pháp quyền - nơi mà nguyên tắc tôn trọng,
thượng tôn Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc quan trọng hàng đầu •
Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm quyền con người, quyền, tự do của công dân •
Hiến pháp ghi nhận các quyền con người, quyền, tự do của công dân, tạo cơ sở
pháp lý đầy đủ và vững chắc hơn để công dân thực hiện các quyền tự do cơ bản của mình •
Thông qua hoạt động giải quyết những khiếu kiện về văn bản và hành vi vi phạm
quyền tự do của công dân đã được quy định trong HP thì bảo vệ các quyền tự do của công dân •
Quản lí việc ban hành văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật theo những
nguyên tắc, quy phạm của Hiến pháp liên quan đến việc thực hiện, bảo vệ quyền con người, công dân •
Sự bảo vệ từ hoạt động bảo vệ Hiến pháp đối với quyền con người không phải khi
nào cũng được thực hiện đối với một cá nhân công dân cụ thể nhưng nó lại mang
tính toàn diện, bao quát và vững chắc hơn so với cơ chế bảo vệ pháp luật thông thường •
Sự vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm cơ chế thực hiện và
kiểm soát quyền lực nhà nước •
Bảo vệ Hiến pháp giám sát tính hợp hiến của VBQPPL ngăn ngừa mâu thuẫn, tranh
chấp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp •
Thiết chế bảo vệ HP thực hiện hoạt động giải thích nguyên tắc và các quy phạm
hiến định về sự phân định thẩm quyền giữa các cơ quan trong thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm sao cho các cơ quan thực hiện đúng, đủ
nhiệm vụ và quyền hạn của mình. lOMoAR cPSD| 61716317 •
Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các nhánh quyền
lực, cơ chế bảo vệ HP giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm các nguyên tắc
tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm sự kiểm soát quyền lực nhà nước: •
Với NN phân chia quyền lực: đảm bảo mqh kiềm chế, đối trọng, cân bằng quyền
lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp •
Với NN quyền lực thống nhất: đảm bảo cơ chế phân công, phối hợp , hỗ trợ và
kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập/hành/tư •
Khi giải quyết các tranh chấp theo chiều dọc, hoạt động bảo vệ Hiến pháp góp phần
bảo đảm sự độc lập tương đối của chính quyền địa phương, đồng thời giữ được sự
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
—------------------------------------------------------
9. Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013. •
Theo Hiến pháp 2013, vấn đề bảo vệ Hiến pháp được quy định tại Khoản 2 Điều
119 theo đó, việc bảo vệ Hiến pháp là trách nhiệm của toàn bộ các cơ quan nhà
nước và toàn thể Nhân dân. Còn cơ chế bảo vệ Hiến pháp sẽ do luật định. Như vậy,
cơ chế bảo vệ Hiến pháp cụ thể như thế nào sẽ phải có luật quy định chi tiết. Hiện
nay, Quốc hội vẫn chưa ban hành một đạo luật quy định cơ chế bảo hiến cụ thể mà
việc bảo vệ Hiến pháp mới chỉ được thể hiện thông qua những quy định về nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước trong đó có đề cập đến trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước khi ban hành hay phát hiện văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp và
cách thức xử lý các văn bản pháp luật đó. Theo các quy định này thì nguyên tắc bảo
vệ hiến pháp nước ta chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát việc ban hành văn
bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới,
giữa cơ quan quyền lực nhà nước với cơ quan chấp hành cùng cấp (Chính phủ,
UBND). Ví dụ: Quốc hội có quyền xem xét văn bản pháp luật của Chính phủ, nếu
phát hiện Chính phủ ban hành văn bản pháp luật vi hiến thì có quyền bãi bỏ văn
bản đó hay Chính phủ có quyền bãi bỏ văn bản pháp luật trái với hiến pháp của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh… •
Dưới góc độ Hiến định chúng ta đề cao tinh thần bảo vệ Hiến pháp khi xác định đó
là trách nhiệm của cả Nhà nước và Nhân dân. Nhưng muốn bảo vệ Hiến pháp hiệu
quả thì cần phải sớm có cơ chế bảo hiến cụ thể. Việc lựa chọn mô hình phi tập trung
như hiện nay (không có cơ quan chuyên trách bảo vệ hiến pháp) sẽ khó đáp ứng
các tiêu chí về một mô hình bảo hiến có hiệu quả như đã đề cập ở trên •
Hiến pháp 2013 không thành lập một cơ quan chuyên trách để bảo vệ Hiến pháp
mà tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp như HP 1992. Tăng cường trách
nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, nhất là Ủy ban pháp luật và các cơ
quan khác của nhà nước trong việc bảo vệ HP
10.Tại sao nói Hiến pháp năm 2013 là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? •
Hiến pháp là văn bản duy nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, là hình
thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng
giai đoạn phát triển. Hiến pháp còn là phương diện pháp lý thể hiện tư tưởng của
Đảng Cộng sản dưới hình thức những quy phạm pháp lý. lOMoAR cPSD| 61716317 •
Xét về mặt nội dung, trong khi các đạo luật khác chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội
thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội, thì Hiến pháp có đối tượng điều
chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực của xã hội. Đối tượng điều chỉnh của
Hiến pháp là những quan hệ xã hội chủ nền tảng nhất liên quan đến lợi ích cơ bản
của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đường lối phát triển khoa học – kỹ thuật, văn hóa,
giáo dục, đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cơ cấu
tổ chức bộ máy nhà nước. •
Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc
gia. Mọi đạo luật và văn bản QPPL khác dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải căn cứ
vào hiến pháp để ban hành vì Hiến pháp là sự thỏa thuận giữa chính quyền và người
dân, xác lập những nguyên tắc cơ bản để giới hạn quyền lực nhà nước, thiết lập địa
vị pháp lý của con người, của công dân làm cơ sở để xác định trách nhiệm của nhà
nước với người dân của mình
11.Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người. a. Khái niệm: •
Quan điểm quyền tự nhiên: Quyền con người (Human rights, Droits de
L’Homme) là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành
cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người
chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành. Đây là những quyền
tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm do đấng tạo hóa ban cho con
người như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc, những quyền
tối thiểu của con người mà bất kì chính phủ nào cũng phải bảo vệ. •
Quan điểm quyền pháp lí: Quyền con người được hiểu là những đảm bảo
pháp lí toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại
những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự
được phép và sự tự do cơ bản của con người •
Quyền con người mang tính toàn cầu và địa phương; tùy thuộc vào sự phát
triển kinh tế, tình hình chính trị, xã hội, đặc tính dân tộc, văn hóa, truyền
thống, tôn giáo… của mỗi quốc gia •
Quyền con người phản ánh những giá trị nhân văn và có tính tự nhiên mà
khái niệm quyền công dân không phản ánh như quyền sống (mức độ trừu
tượng) và những quyền con người không được cụ thể hóa thành quyền công
dân những mang giá trị bắt buộc tôn trọng như quyền ăn, uống, thở (mức độ cụ thể) b. Đặc trưng: •
Tính phổ biến của quyền con người (universal rights):
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người là những quyền thiên bẩm,
vốn có của con người và được thừa nhận cho tất cả mọi người trên trái đất
một cách như nhau, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc
tịch, địa vị xã hội. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng giữa tất cả cá nhân
trong khi có những nhóm người về bản chất đã không được hưởng trọn vẹn
các quyền mình; có một số quyền được phổ quát dành cho họ. •
Tính không thể chuyển nhượng (inalienable rights): lOMoAR cPSD| 61716317
Các quyền con người được quan niệm là các quyền tự nhiên, thiêng liêng
và bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Các quyền này gắn liền với cá nhân mỗi một con người và không thể chuyển
nhượng cho bất kì người nào khác. Các quyền gắn chặt với phẩm giá con
người, Nhà nước cũng như các chủ thể khác không thể được tùy tiện tước
bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quyền
con người có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế để khắc phục tình trạng đó •
Tính không thể phân chia (indivisible rights):
Các quyền con người gắn kết chặt chẽ với nhau, tương hỗ lẫn nhau, việc
tách biệt, tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến
giá trị nhân phẩm và sự phát triển của con người. Các quyền không có thứ
tự ưu tiên mà cần phải được tôn trọng ngang bằng nhau. Tuy nhiên, với một
số trường hợp nguy cấp, một số quyền phải chấp nhận đứng dưới các quyền
khác bởi nếu các quyền đó không được bảo đảm thì các quyền còn lại cũng không được duy trì. •
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interdependent rights)
12.Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì đối với quyền con người? a. Khái niệm: •
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người: “Quyền con người là những
bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại
những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được
phép và tự do cơ bản của con người” •
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 khẳng định: “Quyền con người là các
quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng của các cá nhân
b. Trách nhiệm của nhà nước Việt Nam với quyền con người: •
Đối với nhà nước pháp quyền, việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người
vừa là phương tiện, vừa là cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước •
Hiến pháp là đạo luật gốc quốc gia, là văn bản giới hạn chính quyền để bảo vệ nhân
quyền do đó, cần phải tuyên bố một cách công khai, minh bạch và có thiện chí trách
nhiệm của chính quyền đối với giá trị quyền con người như những giá trị trân quý
nhất. Trách nhiệm chính trị - pháp lý của nhà nước đối với quyền con người là cao nhất và thứ nhất •
Nhà nước cần tham gia, nội luật hóa và thực hiện nghiêm chỉnh các điều ước quốc
tế về quyền con người, mà điển hình là luật nhân quyền quốc tế (bao gồm Tuyên
ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; và các văn kiện khác) •
Theo HP 2013, Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm việc thực hiện
quyền con người. Điều này không chỉ đảm bảo sự tương thích với các quy định về
nghĩa vụ quốc gia trong pháp luật nhân quyền quốc tế mà còn tạo cơ sở hiến định
ràng buộc trách nhiệm cụ thể các cơ quan nhà nước đối với quyền con người. •
Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào việc thụ
hưởng quyền con người. VD: Nhà nước không thu giữa trái pháp luật thư tín lOMoAR cPSD| 61716317 •
Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi Nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống hành vi xâm
phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba. VD: Nhà nước quy định
tội phạm với hành vi giết người trong BLHS và áp dụng hình phạt thích đáng •
Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cá nhân
trong việc thực hiện quyền. VD: Xây hệ thống trường học ở vùng xa •
Nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động (negative obligation), bảo vệ và bảo đảm
mang tính chủ động (positive obligation) •
Nghĩa vụ công nhận quyền con người nghĩa là “ghi nhận quyền trong Hiến pháp có
ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức” và “ nó cũng có khả năng giảm nguy
cơ vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận trong Hiến pháp trong
một thời gian và với những điều kiện nhất định” •
Nhà nước không thực hiện trách nhiệm luật hóa quyền “cũng có thể coi là trái
nguyên tắc pháp quyền. Vì vậy, quyền con người không thể được hiến định theo
kiểu nhà nước ban phát: Mọi người/Công dân có quyền…theo quy định của luật/
pháp luật mà chuyển sang việc nhà nước thừa nhận: Mọi người/ Công dân có
quyền…. Việc thực hiện các quyền này theo quy định của luật/pháp luật. Thông qua
hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều
kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền. •
Công nhận được hiểu là sự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền cơ bản
và những bảo đảm liên quan. Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm này là sự gián
tiếp thừa nhận từ phía Nhà nước hiệu lực hay cơ chế thực thi trực tiếp đối với các
quyền hiến định. Nếu hiến pháp đã ghi nhận quyền thì cá nhân đương nhiên được
hưởng. Việc nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban hành các văn bản pháp luật có liên
quan không là lý do xác đáng ngăn cản cá nhân thực hiện quyền •
Nhà nước có trách nhiệm tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho cá nhân thực hiện các quyền. •
Trách nhiệm công nhận của nhà nước không chỉ bó hẹp ở những quyền cơ bản trong
hiến pháp mà còn thừa nhận chung những quyền chính đáng khác của mỗi cá nhân •
Nhà nước không thể ban hành pháp luật nhằm tước bỏ một cách bất hợp lý, vô căn cứ.
13.Nêu khái niệm quyền cơ bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền cơ bản
của công dân với quyền cụ thể của công dân? a. Khái niệm:
 Là các quyền được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh
tế, xã hội, văn hóa, là cơ sở để xác định và thực hiện các quyền cụ thể khác của công dân
b. Phân tích khái niệm quyền cơ bản của công dân 1. Phân loại:
Các quyền cơ bản của công dân có thể được phân thành hai nhóm: các quyền dân
sự (tự do cá nhân), chính trị; các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa •
Xuất phát từ nhận thức có sự khác nhau về đặc điểm và những yêu cầu đảm
bảo thực hiện hai nhóm quyền này: • Yêu cầu đảm bảo: lOMoAR cPSD| 61716317 •
Hiện thực hóa quyền dân sự, chính trị mang tính tức thời vì không đòi hỏi
phải tiêu tốn nhiều nguồn lực vật chất nên mọi quốc gia có thể tiến hành được ngay. •
Hiện thực hóa quyền kinh tế, xã hội, văn hóa có thể dần dần, từng bước
(progressive realization) tương ứng với nguồn lực sẵn có của quốc gia vì
đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều nhân lực • Đặc điểm: •
Các quyền dân sự, chính trị của công dân thường được xác lập khi thành lập nhà nước dân chủ •
Phần lớn các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được thiết lập muộn hơn phụ
thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước •
Việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị chủ yếu phụ thuộc vào ý thức
chính trị, ý thức dân chủ của nhân dân •
Việc thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa lại phụ thuộc phần lớn
vào điều kiện vật chất, điều kiện kinh tế, xã hội của nhà nước •
Các quyền tự do cá nhân và các quyền dân sự, chính trị thuộc thế hệ thứ
nhất của các quyền con người và công dân. Các quyền kinh tế, xã hội, văn
hóa thuộc thế hệ thứ hai. Hai nhóm quyền này phụ thuộc lẫn nhau, tác động
lẫn nhau, sự phát triển nhóm quyền này thúc đẩy sự phát triển của nhóm quyền khác •
Các quyền thế hệ một có mục đích nhằm hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền
và sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống tự do cá nhân của con người đến từ các cơ quan nhà nước •
Các quyền thế hệ hai hướng tới việc tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình
đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội
2. Đặc trưng quyền cơ bản của công dân: •
Quyền cơ bản của công dân thường được xuất phát từ các quyền tự nhiên
thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người như quyền sống •
Quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong văn bản pháp lí có hiệu
lực cao nhất - Hiến pháp •
Các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp là cơ sở để
cho mọi quyền và nghĩa vụ khác của công dân được các ngành luật trong hệ
thống pháp luật ghi nhận •
Các quyền cơ bản của công dân là nguồn gốc phát sinh ra các quyền và
nghĩa vụ khác của công dân. Cơ sở phát sinh duy nhất của các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân là quyền công dân - nghĩa là người có quốc
tịch Việt Nam. Cơ sở phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác của công dân là
sự tham gia của họ vào các QHPL, các sự kiện pháp lí,... •
Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện tính chất dân chủ, nhân
văn và tiến bộ của nhà nước •
Dựa vào quyền nghĩa vụ cơ bản đánh giá được mức độ dân chủ, nhân đạo,
tiến bộ và mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội, cá nhân
14.Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong khoản
1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013. lOMoAR cPSD| 61716317 •
Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào
việc thụ hưởng quyền con người. VD: Nhà nước không thu giữa trái pháp luật thư tín •
Nguyên tắc này đã xuất hiện trong Hiến pháp 1992 nhưng được khẳng định,
củng cố lại trong Hiến pháp 2013. Nguyên tắc này tương ứng với các quy
định về nghĩa vụ quốc gia trong Bộ luật nhân quyền quốc tế •
Có ý nghĩa quan trọng, không chỉ bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật VN
với luật nhân quyền quốc tế mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ
quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ và trách
nhiệm của nhà nước về quyền con người trong thực tế. •
Nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động (negative obligation)
15. Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản
1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013. •
Nghĩa vụ công nhận quyền con người nghĩa là “ghi nhận quyền trong Hiến pháp có
ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức” và “ nó cũng có khả năng giảm nguy
cơ vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận trong Hiến pháp trong
một thời gian và với những điều kiện nhất định” •
Nhà nước không thực hiện trách nhiệm luật hóa quyền “cũng có thể coi là trái
nguyên tắc pháp quyền. Vì vậy, quyền con người không thể được hiến định theo
kiểu nhà nước ban phát: Mọi người/Công dân có quyền…theo quy định của luật/
pháp luật mà chuyển sang việc nhà nước thừa nhận: Mọi người/ Công dân có
quyền…. Việc thực hiện các quyền này theo quy định của luật/pháp luật. Thông qua
hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều
kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền. •
Công nhận được hiểu là sự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền cơ bản
và những bảo đảm liên quan. Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm này là sự gián
tiếp thừa nhận từ phía Nhà nước hiệu lực hay cơ chế thực thi trực tiếp đối với các
quyền hiến định. Nếu hiến pháp đã ghi nhận quyền thì cá nhân đương nhiên được
hưởng. Việc nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban hành các văn bản pháp luật có liên
quan không là lý do xác đáng ngăn cản cá nhân thực hiện quyền 16. Phân tích
nguyên tắc bảo đảm quyền con người được quy định trong khoản 1,
Điều 14 Hiến pháp năm 2013. •
Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cá nhân
trong việc thực hiện quyền. VD: Xây hệ thống trường học ở vùng xa •
Nghĩa vụ bảo đảm mang tính chủ động (positive obligation)
17. Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền con người được quy định trong khoản 1,
Điều 14 Hiến pháp năm 2013. •
Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi Nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống hành vi xâm
phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba. VD: Nhà nước quy định
tội phạm với hành vi giết người trong BLHS và áp dụng hình phạt thích đáng •
Nghĩa vụ bảo vệ mang tính chủ động (positive obligation)
18.Phân tích nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được quy
định tại khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013 lOMoAR cPSD| 61716317 •
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế định quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Chủ nghĩa Marx Lenin quan niệm rằng bản chất
của bình đẳng thể hiện ở sự công nhận giá trị bình đẳng của tất cả mọi người trong
các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật. Đây là sự bình đẳng mang
tính chất xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội chứ không phải bình đẳng về khả năng
thể chất và tinh thần của các cá nhân. Bình đẳng về cả quyền và nghĩa vụ • HP 2013 Điều 16 •
HP 2013 Điều 26 về quyền bình đẳng giới •
HP 2013 Điều 5 Khoản 2, 3, 4 về quyền bình đẳng giữa các dân tộc •
Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc cực kì
quan trọng. Nguyên tắc này được đảm bảo thì xã hội mới có công bằng, pháp luật
mới được thực hành nghiêm chỉnh. Những hiện tượng đặc quyền , đặc lợi và sự
tham nhũng của một số cán bộ có chức, có quyền và sự xử lí không nghiêm minh
những cán bộ đó là vi phạm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật, gây ra những bất bình trong xã hội. Ngày nay, chúng ta đang đấu tranh với các
hiện tượng tiêu cực trong xã hội để trước pháp luật mọi người đều thực sự bình
đẳng, ai có công đều được thưởng, kẻ có tội phải bị trừng trị cho dù đó là những
cán bộ cấp cao của Nhà nước. Chừng nào còn có hiện tượng bất bình đẳng trước
pháp luật thì chừng đó chúng ta chưa thể xây dựng một trật tự xã hội, trật tự pháp luật
19.Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước đối
với quyền con người, quyền công dân được thể hiện như thế nào? a. Nội dung •
Đối với nhà nước pháp quyền, việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con
người vừa là phương tiện, vừa là cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước •
Hiến pháp là đạo luật gốc quốc gia, là văn bản giới hạn chính quyền để bảo
vệ nhân quyền do đó, cần phải tuyên bố một cách công khai, minh bạch và
có thiện chí trách nhiệm của chính quyền đối với giá trị quyền con người
như những giá trị trân quý nhất. Trách nhiệm chính trị - pháp lý của nhà
nước đối với quyền con người là cao nhất và thứ nhất •
Nhà nước cần tham gia, nội luật hóa và thực hiện nghiêm chỉnh các điều
ước quốc tế về quyền con người, mà điển hình là luật nhân quyền quốc tế
(bao gồm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về
các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa năm 1966; và các văn kiện khác) •
Theo HP 2013, Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm việc thực
hiện quyền con người. Điều này không chỉ đảm bảo sự tương thích với các
quy định về nghĩa vụ quốc gia trong pháp luật nhân quyền quốc tế mà còn
tạo cơ sở hiến định ràng buộc trách nhiệm cụ thể các cơ quan nhà nước đối với quyền con người. •
Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào
việc thụ hưởng quyền con người. VD: Nhà nước không thu giữa trái pháp luật thư tín lOMoAR cPSD| 61716317 •
Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi Nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống hành
vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba. VD: Nhà
nước quy định tội phạm với hành vi giết người trong BLHS và áp dụng hình phạt thích đáng •
Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ
cá nhân trong việc thực hiện quyền. VD: Xây hệ thống trường học ở vùng xa •
Nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động (negative obligation), bảo vệ và bảo
đảm mang tính chủ động (positive obligation) •
Nghĩa vụ công nhận quyền con người nghĩa là “ghi nhận quyền trong Hiến
pháp có ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức” và “ nó cũng có khả
năng giảm nguy cơ vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận
trong Hiến pháp trong một thời gian và với những điều kiện nhất định” •
Nhà nước không thực hiện trách nhiệm luật hóa quyền “cũng có thể coi là
trái nguyên tắc pháp quyền. Vì vậy, quyền con người không thể được hiến
định theo kiểu nhà nước ban phát: Mọi người/Công dân có quyền…theo
quy định của luật/ pháp luật mà chuyển sang việc nhà nước thừa nhận: Mọi
người/ Công dân có quyền…. Việc thực hiện các quyền này theo quy định
của luật/pháp luật. Thông qua hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp
luật, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền
chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền. •
Công nhận được hiểu là sự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền
cơ bản và những bảo đảm liên quan. Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm
này là sự gián tiếp thừa nhận từ phía Nhà nước hiệu lực hay cơ chế thực thi
trực tiếp đối với các quyền hiến định. Nếu hiến pháp đã ghi nhận quyền thì
cá nhân đương nhiên được hưởng. Việc nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban
hành các văn bản pháp luật có liên quan không là lý do xác đáng ngăn cản
cá nhân thực hiện quyền •
Nhà nước có trách nhiệm tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho cá nhân thực hiện các quyền. •
Trách nhiệm công nhận của nhà nước không chỉ bó hẹp ở những quyền cơ
bản trong hiến pháp mà còn thừa nhận chung những quyền chính đáng khác của mỗi cá nhân •
Nhà nước không thể ban hành pháp luật nhằm tước bỏ một cách bất hợp lý, vô căn cứ. b. Ý nghĩa: •
Đảm bảo sự hài hòa với luật nhân quyền quốc tế •
Tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ
và nghiêm túc những nghĩa vụ về quyền con người, quyền công dân trong thực tế
20.Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền công
dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết
vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng”
(Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013). lOMoAR cPSD| 61716317 a. Định nghĩa: •
Hạn chế quyền là việc Hiến pháp hoặc một văn bản pháp luật khác của quốc
gia có điều khoản hạn chế (limitation clause) cho phép giới hạn áp dụng
một quyền, tự do cá nhân trong một mức độ nhất định, nhằm cân bằng giữa
quyền, tự do cá nhân đó với lợi ích chính đáng, hợp lý của cộng đồng và
quyền, tự do của cá nhân khác. b. Nội dung: •
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
luật. Như vậy, Hiến pháp 2013 đã xác định chỉ có Quốc hội mới có quyền
hạn chế quyền thông qua “luật”. Quy định này không quá cứng nhắc và việc
ủy quyền lập pháp là hoàn toàn có thể xảy ra •
Chỉ được hạn chế trong trường hợp cần thiết. Yếu tố này rất quan trọng bởi
việc hạn chế quyền phải là phương án cuối cùng khi không thể có phương
án nào khác thay thế. Theo đó, phải hạn chế, kiểm soát việc hạn chế quyền
và chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết •
Có 6 lý do để hạn chế quyền. Có thể thấy các lý do để hạn chế quyền theo
Hiến pháp 2013 khá phong phú, đa dạng •
Quyền con người trong Chương II và cụ thể ở khoản 2, Điều 14 của Hiến
pháp năm 2013 là quyền dành cho mọi người theo quy định của Hiến pháp,
pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, bản chất của nó cũng chính là những quyền
đã được ghi nhận trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt
Nam đã là thành viên và thực hiện nội luật hóa vào Hiến pháp, pháp luật Việt Nam •
Nguyên tắc hạn chế quyền này không chỉ áp dụng cho các quyền cơ bản
được Hiến pháp ghi nhận mà còn có thể áp dụng cho các quyền khác được
ghi nhận trong các luật chuyên ngành. Điều này xuất phát từ việc khoản 2
Điều 14 Hiến pháp năm 2013 chỉ sử dụng cụm từ quyền con người, quyền
công dân mà không sử dụng cụm từ “quyền con người, quyền (và nghĩa vụ)
cơ bản của công dân” như tiêu đề Chương II của Hiến pháp năm 2013. Đây
là điều rất hợp lí vì việc quy định các quyền cơ bản trong Hiến pháp không
có nghĩa là phủ nhận các quyền khác. Và do đó, các quyền khác đều có thể
bị hạn chế theo nguyên tắc được nêu trong Hiến pháp c. Ý nghĩa: •
Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc về giới hạn quyền. Đây là nguyên
tắc đã được nêu trong luật nhân quyền quốc tế và trong Hiến pháp của một số quốc
gia. Việc hiến định nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng vì •
Nó làm rõ tinh thần của luật nhân quyền quốc tế là các nhà nước phải tôn trọng, bảo
vệ và bảo đảm các quyền con người những cũng được đặt ra và áp dụng những giới
hạn cho một số quyền, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước là quản lí xã hội,
bảo đảm các quyền, lợi ích chung của cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác •
Nó ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực nhà nước để vi phạm nhân quyền,
thông qua việc ấn định những điều kiện chặt chẽ với việc giới hạn quyền •
Nó phòng ngừa những suy nghĩ và hành động cực đoan trong việc hưởng thụ các quyền lOMoAR cPSD| 61716317 •
Nó bổ sung cho hệ thống cơ chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam d. Những
vấn đề pháp lý đặt ra từ nguyên tắc hạn chế quyền con người •
Chưa quy định nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật không cấm. Nếu
có những quyền không quy định, không cấm thì thực hiện như thế nào •
Chưa rõ bất cứ quyền nào cũng có thể bị hạn chế hay chỉ một số quyền mới bị hạn
chế. Nếu theo quan điểm việc hạn chế quyền có thể áp dụng cho mọi quyền thì quan
niệm này rộng hơn so với quan niệm của thế giới. Theo pháp luật nhân quyền quốc
tế (VD ICCPR, và ICESCR năm 1966 là hai Công ước mà Việt Nam đã tham gia),
có những quyền con người không thể bị hạn chế thực hiện vì bất kì lý do gì, trong
bất kì hoàn cảnh nào, kể cả trong những trường hợp cần thiết như quy định của
Hiến pháp năm 2013. Chính vì vậy, việc thi hành khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm
2013 cần xem xét tới quy định tại Khoản 1 Điều 5 ICCPR năm 1966: “Không một
quy định nào trong Công ước này có thể được giải thích với hàm ý cho phép bất kỳ
quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia hay tiến hành bất kỳ
hành động nào nhằm phá hoại bất kì quyền và tự do nào được Công ước này thừa
nhận hoặc nhằm hạn chế các quyền và tự do đó quá mức Công ước này quy định •
Việc quy định các lý do để hạn chế quyền là đúng đắn. Tuy vậy, theo pháp luật nhân
quyền quốc tế thì một số quyền cần phải được hạn chế trong mọi thời điểm mà
không cần xuất hiện các trường hợp cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội,... VD: quyền tự do hội họp luôn kèm theo điều kiện hòa bình, quyền tự
do lập hội có thể bị hạn chế đối với những người làm việc trong lực lượng vũ trang
(Khoản 2 Điều 22 ICCPR 1966) •
Quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 vẫn chưa được giải thích cụ thể: •
Chưa thống nhất quan điểm về quy định quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo
quy định của luật. Luật được phân biệt với văn bản dưới luật (pháp lệnh, nghị định,
thông tư,...). Tuy nhiên, hoàn toàn có thể có trường hợp ủy quyền lập pháp. Trong
khi đó một số ý kiến cho rằng chỉ nên quy định trong luật (không có ủy quyền)
21. Trước tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và nghiêm trọng, đặc
biệt là ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và tắc đường, thành phố H ban
hành quy định cấm xe máy lưu thông ở các quận nội thành. Dựa trên nguyên
tắc hạn chế quyền, hãy bình luận về quy định trên.
22.Trình bày vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính
trị theo pháp luật hiện hành. •
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của
tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu
biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài •
Vị trí: MTTQVN là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân •
Vai trò: MTTQVN là đại diện; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, dân tộc, thực hiện
dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây
dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần bảo vệ Tổ quốc lOMoAR cPSD| 61716317
23.Phân tích chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam theo pháp luật hiện hành. a. Khái niệm: b. Phân tích: • Giám sát xã hội: •
Là sự thể hiện kiểm tra, kiểm soát của toàn thể xã hội đối với thiết chế của hệ thống chính trị. •
Đặc trưng của hoạt động giám sát của MTTQ: •
Chủ thể thực hiện quyền giám sát o MTTQVN và các tổ chức thành viên
có quyền và trách nhiệm giám sát
o Tuân theo nguyên tắc “hiệp thương dân chủ, phối hợp và
thống nhất hành động để thực hiện chương trình hành động
và nhiệm vụ chung đã được bàn bạc thỏa thuận trong đó có
nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước đại
biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước Điều 4 Luật MTTQVN • Tính chất: •
Giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm
tra, thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước •
Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước, không có quyền xử
lý đối với các cơ quan nhà nước hay người chịu trách nhiệm  Đối tượng giám sát: •
Hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức
theo quy định của pháp luật  Hình thức thực hiện: •
Dưới các hình thức đặc thù như:
o Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát o Tham gia
giám sát cùng với các cơ quan quyền lực nhà nước
o Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân
dân và các tổ chức thành viên kiến nghị với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng những cơ
quan, cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình,
xem xét. giải quyết, xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật
o Hậu quả của hoạt động giám sát là kiến nghị có sức nặng của
các tầng lớp nhân dân yêu cầu xem xét, giải quyết, xử lý • Nội dung giám sát:
MTTQVN thực hiện hoạt động giám sát đối với các cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực sau: •
Giám sát hoạt động xây dựng pháp luật o Góp ý kiến, tham gia các ban soạn thảo
o Xem xét kiến nghị sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật cần thiết
=> Góp phần làm giảm sai sót, sở hở trong xây dựng và ban
hành pháp luật, tăng tính khả thi lOMoAR cPSD| 61716317 •
Giám sát hoạt động tư pháp o Giám sát quá trình thực hiện pháp luật về tố
tụng o Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện những hành
vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng
o Lựa chọn, xem xét và kiến nghị nhiều vụ án mà tòa án cấp
sơ thẩm đã xử nhưng bị cáo, đương sự và ý kiến của đông
đảo nhân dân vẫn kiến nghị kêu oan và được Tòa án, VKS
cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết
o Lựa chọn giới thiệu hội thẩm •
Giám sát việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo o Tiếp dân và tham gia
giải quyết đối với những đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những
đối tượng do MTTQVN trực tiếp vận động, đến cán bộ của MTTQVN và
những trường hợp vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân •
Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử o Đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền
lực nhân dân đã ủy quyền
o Tổ chức tiếp xúc trước và sau mỗi kỳ họp đại biểu quốc hội
và hội đồng nhân dân để đại biểu tiếp xúc với cử tri, trên cơ
sở đó kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, giải quyết •
Giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật o Vận động nhân dân thi hành chính sách • Phản biện xã hội •
Phản biện xã hội là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh
giá về một vấn đề nào đó nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không
hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần
hoặc cả một phương án, dự án, kế hoạch •
Phản biện xã hội là phản biện mang tính xã hội. (phản biện ngoài nhà nước) • Mục đích, ý nghĩa: •
Phát huy dân chủ, dung hòa lợi ích của nhiều nhóm người trong xã hội • Đồng thuận xã hội •
Giám sát lực lượng cầm quyền •
Trao đổi thông tin giữa các thiết chế quyền lực với nhân dân tạo ra sức mạnh dân tộc
24.Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành. •
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nguyên tắc này thiết lập nền tảng để
hình thành toàn bộ bộ máy nhà nước • Nội dung: •
Nước CHXHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với