














Preview text:
lOMoARcPSD|60328054
NGÔN NGỮ LÀ MỘT HỆ THỐNG TÍN HIỆU
Giáo dục học (Hanoi National University of Education) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
NGÔN NGỮ LÀ MỘT HỆ THỐNG TÍN HIỆU I, Tín hiệu 1, Khái niệm
- KN: Tín hiệu là một yếu tố vật chất kích thích vào giác quan của con người, làm cho
người ta tri giác được và thông qua đó biết về một điều gì khác ở ngoài vật đó.
- Tín hiệu cần thoả mãn điều kiện:
+ Phải là dạng vật chất
+ Dùng để biểu đạt một cái gì khác gồm 2 mặt: cái biểu đạt (yếu tố vật chất); cái được
biểu đạt (phạm trù tinh thần)
+ Mối quan hệ trên đây phải được con người nhận thức như là 2 mặt của tín hiệu, tức là
phải liên hội được “cái biểu đạt” với một cái gì đó.
+ Một vật chỉ trở thành tín hiệu khi nó nằm trong một hệ thống.
Các tiêu chí để phân loại các dạng tín hiệu
- Các tín hiệu rất đa dạng và thuộc về nhiều loại khác nhau theo những tiêu chí sau:
a, Căn cứ vào đặc điểm vật lí của cái biểu đạt trong tín hiệu: các tín hiệu thị giác, tín hiệu
thính giác, tín hiệu xúc giác, vị giác,…
b, Căn cứ vào nguồn gốc: tín hiệu tự nhiên (2 mặt của chúng của một mối quan hệ tự nhiên,
tất yếu); tín hiệu nhân tạo (cái biểu đạt do con người tạo ra và quy ước dùng để biểu đạt cho một cái gì đó)
c, Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa 2 mặt của tín hiệu để phân biệt (quan trọng nhất)
- Các dấu hiệu: là tín hiệu mà cái biểu đạt chính là một bộ phận hoặc thuộc tính cấu
thành của cái được biểu đạt
- Các hình hiệu: là tín hiệu mà thuộc tính vật chất của cái biểu đạt và cái được biểu đạt
về cơ bản là khác nhau, nhưng vẫn có 1 hay vài thuộc tính trùng nhau nhờ đó mà có
thể lấy cái nọ biểu đạt cho cái kia theo lối mô phỏng.
- Các ước hiệu: là tín hiệu mà mối quan hệ giữa 2 mặt (cái biểu đạt – cái được biểu
đạt) là do con người quy ước hoặc thoả thuận (công khai hoặc ngầm ẩn) chứ không
phải là có mối quan hệ tất nhiên.
Tuyệt đại đa số tín hiệu ngôn ngữ là các ước hiệu, có tính quy ước cao trong mối
quan hệ giữa cái biểu đạt – cái được biểu đạt.
2, Đặc trưng cơ bản của tín hiệu ngôn ngữ
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Tín hiệu ngôn ngữ vừa mang đặc điểm bản chất của tín hiệu nói chung vừa có những đặc trưng khác biệt.
a, Tín hiệu ngôn ngữ có tính 2 mặt
- Cái biểu đạt: các âm thanh mà con người có thể nghe được
- Cái được biểu đạt: nội dung nhận thức, tư tưởng tình cảm của con người
- Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ là các tín hiệu.
2 mặt này luôn gắn bó khăng khít với nhau, không thể có mặt này mà không có mặt
kia nhờ thế tín hiệu ngôn ngữ là một chỉnh thể thống nhất, có thể thay thế cho đối
tượng được gọi tên. Đồng thời nhờ thế mà tín hiệu ngôn ngữ được con người sử dụng
thuận tiện trong chức năng giao tiếp và tư duy ở tất cả các lĩnh vực cuộc sống.
b, Tín hiệu ngôn ngữ mang đặc trưng cơ bản để khác biệt so với các tín hiệu khác.
Tín hiệu ngôn ngữ mang tính quy ước, võ đoán cao.
- Mối quan hệ giữa 2 mặt của tín hiệu ngôn ngữ có tính quy ước, võ đoán cao. Đó
không phải mối quan hệ có lí do, có tính tất nhiên mà là mối quan hệ do con người
thoả thuận, quy ước (ngầm). Nó được hình thành trong lịch sử giao tiếp.
Mối quan hệ mang tính võ đoán này khiến ta không thể lí giải được vì sao một âm
thanh này lại được dùng để biểu hiện một ý nghĩa, gọi tên một đối tượng nào đó.
Với mối quan hệ mang tính võ đoán như thế, tín hiệu ngôn ngữ thuộc loại các ước hiệu, vì:
- Do con người quy ước, cái biểu đạt cái và được biểu đạt không có mối liên hệ với nhau
- Mối liên hệ cái biểu đạt và cái được biểu đạt không phải mối liên hệ tự nhiên, bất biến
Tuy nhiên trong ngôn ngữ có một số tín hiệu mang tính võ đoán thấp, nghĩa là một
phần âm thanh và ý nghĩa của tín hiệu có một phần lí do nào đó, cụ thể: - Từ tượng thanh - Thán từ
- Các từ được cấu tạo phái sinh: cấu tạo trên cơ sở những từ đã có sẵn.
- Các nghĩa phái sinh: nghĩa rộng, nghĩa chuyển đổi của từ cũng có thể giải thích được
lí do trên cơ sở dựa vào nghĩa gốc.
Nhưng nguyên lí về tính quy ước, tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ vẫn không bị
phá vỡ. Các từ tượng thanh, cảm thán, cấu tạo phái sinh, nghĩa phái sinh không phải
có lí do một cách tuyệt đối mà chỉ nằm ở mức độ nhất định
- Trong ngôn ngữ lại cũng có một số hiện tượng mang tính võ đoán một cách rõ rệt: từ
đồng âm, từ nhiều nghĩa
- Ngoài ra còn hiện tượng tồn tại nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới: cùng một cái
biểu đạt được gọi tên bằng nhiều cách khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau.
Vì 2 hiện tượng trên nên: Mối quan hệ giữa âm thanh – ý nghĩa của từ không thể có tính lí do tuyệt đối.
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
c, Tín hiệu ngôn ngữ là tính hình tuyến của cái biểu đạt.
- Thể hiện ở chỗ chúng phải lần lượt kế tiếp nhau mà không xuất hiện đồng thời. Tính
hình tuyến biểu hiện trong chữ viết; hệ thống tín hiệu ghi lại ngôn ngữ âm thanh.
- Vì phải kế tiếp nhau theo tuyến tính nên trong ngôn ngữ trật tự sắp xếp các tín hiệu
đóng vai trò quan trọng và chính trật tự đó cũng tham gia vào việc biểu hiện ý nghĩa.
- Trong nhiều trường hợp cùng tín hiệu nhưng sắp xếp khác nhau thì biểu hiện ý nghĩa khác nhau.
- Đặc biệt, trong Tiếng Việt thứ tự sắp xếp các từ trong câu là một phương thức ngữ
pháp quan trọng có tác dụng biểu hiện ý nghĩa
Tín hiệu ngôn ngữ được tổ chức theo nguyên tắc tín hiệu: dùng âm thanh (chữ viết)
để biểu đạt nội dung nhận thức về thế giới khách quan, biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người
- Ngày nay con người sử dụng nhiều loại tín hiệu khác nhau => Hình thành ngành
khoa học nghiên cứu về các tín hiệu
- Trong các loại tín hiệu mà con người sử dụng thì ngôn ngữ vẫn là loại phổ biến và điển hình nhất. II, Hệ thống
1, Khái niệm về hệ thống a, KN
- Hệ thống là một tổng thể bao gồm các yếu tố có quan hệ qua lại với nhau và quy định lẫn nhau.
b, 2 phương diện cần chú ý trong khái niệm hệ thống
- Hệ thống phải được tạo thành từ ít nhất 2 yếu tố
- Các yếu tố có liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau và tổ chức thành một chỉnh thể.
c, Ngôn ngữ là một hệ thống có nhiều cấp độ
- Trong một hệ thống lớn có thể có nhiều cấp độ tổ chức. Một phần tử nào đó vừa có thể
là yếu tố tạo nên hệ thống lớn hơn, vừa có thể là một hệ thống nhỏ bao gồm các yếu tố nhỏ hơn.
- Ở những hệ thống nhiều cấp độ, khái niệm yếu tố và khái niệm hệ thống cũng có nhiều cấp độ khác nhau.
d, Quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống
Quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống tạo thành cấu trúc của hệ thống
- Cấu trúc này luôn tồn tại trong hệ thống, là cấu trúc của một hệ thống nhất định.
- Bên cạnh đó con người cũng có thể qua trừu tượng hoá, khái quát hoá mà tách cấu trúc
khỏi hệ thống để khảo sát và nghiên cứu riêng.
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Cấu trúc của một hệ thống thường được biểu hiện bằng các sơ đồ, bảng biểu, mô hình
=> Phản ánh mối tương quan của các yếu tố, bộ phận tạo thành hệ thống.
Các quan hệ trong một hệ thống có nhiều loại khác nhau
- Số lượng và độ phức tạp của các quan hệ phụ thuộc vào số lượng, sự đa dạng các yếu
tố của hệ thống, vào mối quan hệ với các hệ thống khác.
e, Các yếu tố luôn có giá trị nhất định
- Giá trị của mỗi yếu tố được xác định trong một hệ thống nhất định và là giá trị trong hệ
thống ấy, nếu cũng yếu tố ấy nhưng nằm trong hệ thống khác sẽ có giá trị khác.
- Giá trị của mỗi yếu tố trong hệ thống vừa được xác định bởi thuộc tính của bản thân
yếu tố đó, vừa được quy định bởi mối tương quan với các yếu tố khác trong cùng hệ thống. 2, Tính chất
a, Hệ thống ngôn ngữ: các yếu tố (đơn vị) ngôn ngữ
- Có thể nói ngôn ngữ là 1 hệ thống vì nó thoả mãn những yêu cầu sau:
+ Nó là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ qua lại với nhau
+ Các yếu tố ngôn ngữ thuộc nhiều loại khác nhau, thuộc nhiều cấp độ khác nhau
+ Mỗi loại yếu tố đảm nhận những chức năng khác nhau và mỗi loại yếu tố thường được
coi là một đơn vị ngôn ngữ
Yếu tố âm vị và hệ thống âm vị Yếu tố âm vị
- Âm vị là yếu tố nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ
- Âm vị là đơn vị âm thanh nhỏ nhất có giá trị phân biệt nghĩa, cấu tạo nên mặt biểu
đạt cho các đơn vị ngôn ngữ khác
- Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo nên hệ thống âm vị Hệ thống âm vị
- Hệ thống này là một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ - cấp độ âm vị
- Hệ thống âm vị tuy có số lượng không nhiều các yếu tố nhưng vẫn gồm nhiều hệ
thống bộ phận, trước hết có thể phân tách thành 2: Hệ thống âm vị Hệ thống âm vị đoạn tính siêu đoạn tính Hệ thống âm vị nguyên âm Hệ thống âm vị phụ âm
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
Yếu tố hình vị và hệ thống hình vị Yếu tố hình vị
- Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có ý nghĩa, dùng để cấu tạo và biến đổi từ
- Toàn bộ các hình vị tạo nên một hệ thống và một cấp độ - cấp độ hình vị. Hệ thống hình vị
- Hệ thống hình vị có số lượng lớn hơn hệ thống âm vị
- Hệ thống hình vị gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn
- Những tiêu chí để phân chia hệ thống hình vị:
+ Căn cứ vào chức năng: Hệ thống hình vị cấu tạo từ; Hệ thống hình vị cấu tạo hình thái của từ
+ Căn cứ vào vai trò cấu tạo từ: Hệ thống hình vị căn tố; Hệ thống hình vị phụ tố
+ Căn cứ vào tính độc lập khi sử dụng với tư cách từ đơn: Hệ thống hình vị độc lập; Hệ
thống hình vị không độc lập
+ Ngoài ra còn có: Hệ thống hình vị từ vựng; Hệ thống hình vị ngữ pháp
Yếu tố từ và hệ thống từ vựng Yếu tố từ
- Từ là loại yếu tố có số lượng rất lớn
- Từ là loại đơn vị có ý nghĩa và có thể dùng độc lập để cấu tạo cụm từ và câu
- Toàn bộ các từ của một ngôn ngữ tạo thành hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó và tạo nên cấp độ từ
- Cấp độ hình vị < Cấp độ từ < Cấp độ câu (hình vị tạo nên từ, từ tạo nên câu)
Hệ thống từ vựng: bao gồm nhiều hệ thống nhỏ vì mỗi từ có nhiều bình diện
- Xét về mặt cấu tạo, mỗi từ nằm trong một hệ thống cấu tạo từ: hệ thống từ đơn, hệ thống từ phức
- Xét về mặt đặc điểm ngữ pháp, mỗi từ thuộc một hệ thống từ loại: mỗi từ loại là một
hệ thống bao gồm các từ có những đặc điểm ngữ pháp giống nhau
- Xét về mặt ngữ nghĩa, mỗi từ thuộc về một hệ thống ngữ nghĩa hay một trường ngữ
nghĩa. Hệ thống ngữ nghĩa của từ bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn
- Xét theo phạm vi và phong cách sử dụng, toàn bộ các từ của một ngôn ngữ còn hình
thành các hệ thống phong cách chức năng
- Ngoài ra còn hệ thống từ ngữ xét theo nguồn gốc, phương ngữ địa lý, xã hội.
Yếu tố cụm từ và câu Cụm từ
- Không có chức năng riêng
- Như sự phát triển về số lượng của một từ
- Chức năng về cơ bản giống chức năng của từ: chức năng định danh và chức năng cấu tạo câu Câu
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Là đơn vị có chức năng thực hiện hành động ngôn ngữ (hành động nói, hành vi ngôn
ngữ) và là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ thực hiện được chức năng này
- Khác với âm vị, hình vị và từ câu không phải là yếu tố có sẵn của ngôn ngữ mà được
tạo ra trong từng hoạt động giao tiếp cụ thể => Câu có số lượng vô hạn
- Tuy số lượng câu vô hạn nhưng chúng vẫn nằm trong hệ thống nhất định
- Những câu có cùng kiểu cấu tạo tạo thành hệ thống cấu tạo ngữ pháp của câu: hệ
thống câu đơn; hệ thống câu ghép; hệ thống câu phức,…
- Theo mục đích phát ngôn câu thường được phân biệt theo các hệ thống câu trần
thuật, nghi vấn, cảm thán, mệnh lệnh. Mỗi hệ thống như vậy cần có đặc trưng chung
về mục đích phát ngôn và đặc điểm cấu tạo
- Theo bình diện nghĩa các câu có thể được phân biệt theo các hệ thống,
- Ngoài ra còn có thể phân biệt các câu theo hệ thống khi căn cứ vào cấu trúc tin, cấu
trúc đề thuyết trong câu
Đoạn văn và văn bản
- Được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ nên số lượng vô hạn
- Văn bản là đơn vị (yếu tố) ngôn ngữ thực hiện chức năng thông báo trọn vẹn
- Đoạn văn là đơn vị thể hiện trọn vẹn một tiểu chủ đề của văn bản
Các đoạn văn và văn bản tạo nên hệ thống dựa trên những mối quan hệ về cấu trúc, phong cách chức năng
- Phân biệt các hệ thống đoạn văn và văn bản
+ Đoạn văn nếu xét theo cấu trúc: các hệ thống đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song,
móc xích, tổng – phân – hợp. Căn cứ vào chức năng: hệ thống đoạn văn mở đầu, khai
triển, kết thúc, chuyển tiếp.
+ Hệ thống văn được phân biệt theo phong cách chức năng: nghệ thuật, hành chính,
chính luận, báo chí, khoa học
Trong hệ thống ngôn ngữ số lượng đơn vị là rất lớn lại thuộc nhiều loại, chức năng
khác nhau, tạo nên nhiều tầng bậc khác nhau. Hơn nữa cùng một đơn vị ngôn ngữ có
thể tham gia vào nhiều hệ thống bộ phận khác nhau trong lòng hệ thống ngôn ngữ =>
Ngôn ngữ là hệ thống của các hệ thống
b, Hệ thống ngôn ngữ: các quan hệ chủ yếu
- Các quan hệ của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ có số lượng lớn và đa dạng
- Mỗi bình diện ngôn ngữ có những quan hệ riêng, giữa các yếu tố trong hệ thống ngôn
ngữ có một số quan hệ chung, chủ yếu nhất gồm có:
Quan hệ cấp độ (cấp bậc, tầng bậc)
- Quan hệ cấp độ thể hiện ở chỗ: yếu tố (đơn vị) cấp độ cao hơn luôn bao hàm trong nó các
yếu tố thuộc cấp độ thấp hơn; các yếu tố cấp thấp hơn nằm trong cấp cao hơn và là thành tố
cấu tạo nên yếu tố ở cấp độ cao hơn
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Quan hệ cấp độ bao gồm quan hệ giữa các yếu tố nằm ở các cấp độ khác nhau và quan hệ giữa các cấp độ + Từ thấp đến cao: Âm vị Hình vị Từ Cụm từ và Đoạn văn câu và văn bản
+ Một số trường hợp đặc biệt: một đơn vị cấp trên chỉ bao gồm một đơn vị cấp dưới => đơn
vị ở cấp độ dưới tạo nên một đơn vị ở cấp độ cao hơn và thực hiện chức năng của đơn vị ở cấp trên.
Quan hệ ngữ đoạn (ngang hàng, tuyến tính) và quan hệ liên tưởng (hàng dọc, hệ hình) Quan hệ ngữ đoạn Quan hệ liên tưởng
- Là quan hệ giữa các yếu tố kế cận
- Là quan hệ giữa các yếu tố không
cùng hiện diện trong một đơn vị
cùng hiện diện với nhau nhưng có
ngôn ngữ, hay trong một chuỗi lời
những thuộc tính nào đó giống nói
nhau, dễ gợi ra liên tưởng đối với
- Các yếu tố có quan hệ ngữ đoạn với nhau
nhau luôn thuộc cùng một cấp độ
- Về nguyên tắc chúng có thể thay
và trực tiếp kết hợp với nhau để tạo
thế cho nhau được ở cùng một vị trí
nên những đơn vị ở cấp độ cao hơn
trong chuỗi hình tuyến của ngôn
- Có những yếu tố đi liền nhau nhưng ngữ
không trực tiếp tạo ra các đơn vị ở
- Các yếu tố có quan hệ liên tưởng
cấp độ cao hơn thì không có quan nằm trên trục dọc hệ ngữ đoạn với nhau
- Các yếu tố có thể thay thế cho nhau
- Các yếu tố có quan hệ ngữ đoạn
và thuộc về cùng một loại, một hệ nằm trên trục ngang thống nhỏ
Quan hệ liên tưởng là cơ sở cho sự
lựa chọn yếu tố khi sử dụng, là cơ
sở cho sự phân loại yếu tố trong nghiên cứu
Quan hệ đồng nhất và quan hệ đối lập Quan hệ đồng nhất Quan hệ đối lập
- Là quan hệ giống nhau giữa các yếu
- Là quan hệ giữa các yếu tố khác biệt
tố (đơn vị) ngôn ngữ về một phương
nhau về một phương diện nào đó diện nào đó
- Sự khác biệt trên cùng một phương
- Sự giống nhau đó tạo cơ sở để tập
diện, một tiêu chí tạo nên sự đối lập
hợp các yếu tố vào cùng một loại, một hệ thống nhỏ
- Sự đối lập và sự đồng nhất luôn tồn tại song song giữa các yếu tố ngôn ngữ
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
+ Chỉ có đồng nhất không đối lập: tình trạng khủng hoảng thừa, một hoặc một vài yếu tố sẽ bị đào thải
+ Chỉ có các yếu tố hoàn toàn khác biệt: tình trạng rời rạc, biệt lập, không có quan hệ
với nhau, không tạo nên hệ thống
Khi lĩnh hội, phân tích, sử dụng cần căn cứ trên quan hệ đồng nhất và khác biệt của chúng
- Ngoài 3 loại quan hệ phổ biến trên thì mỗi loại đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau
còn có nhiều loại quan hệ khác: quan hệ ngữ âm của các âm vị; quan hệ ngữ nghĩa
của các hình vị và các từ; quan hệ ngữ pháp của các đơn vị ngữ pháp
Mạng lưới các quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ rất dày đặc, đa dạng. Cả về mặt yếu
tố, quan hệ, hệ thống ngôn ngữ đều bộc lộ tính chất rất phức tạp, đa diện, nhiều dạng vẻ
- Trên đây mới chỉ trình bày những nét đại cương nhất về hệ thống tín hiệu ngôn ngữ.
Các yếu tố ngôn ngữ có nhiều loại giá trị xét ở các bình diện khác nhau, các tiểu hệ thống khác nhau
- Điều phức tạp hơn là hệ thống ngôn ngữ khi hoạt động để thực hiện chức năng thì
còn diễn ra những sự biến đổi và chuyển hoá và luôn chịu sự chi phối của các quy tắc
điều khiển => Ngôn ngữ trong hoạt động vẫn đảm bảo nguyên tắc về tính hệ thống,
điều này giúp nó thực hiện các chức năng trọng đại trên quy mô và phạm vi rộng lớn của xã hội
III, Hệ thống ngôn ngữ trong hoạt động hành chức
- Các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ khi được sử dụng trong hoạt động giao tiếp, hoạt
động hành chức vẫn nằm trong các quan hệ hệ thống với nhau tuy rằng chúng có thể
có sự biến đổi hoặc chuyển hoá để thích nghi với nhiệm vụ và mục đích giao tiếp trong hoàn cảnh cụ thể.
- Sự biến đổi và chuyển hoá ấy vẫn phải theo quy luật, nếu không ngôn ngữ sẽ không
thực hiện được chức năng xã hội của nó
- Trong những phần sau chúng ta sẽ xem xét lần lượt sự biến đổi và chuyển hoá ở 2
loại yếu tố phổ biến và có số lượng lớn trong ngôn ngữ: từ và câu => nhận định
chung về các loại yếu tố khác của hệ thống ngôn ngữ trong trạng thái hoạt động giao tiếp
1, Từ trong hoạt động giao tiếp (hành chức)
- Từ là yếu tố cơ bản của hệ thống ngôn ngữ có số lượng lớn và hệ thống mở
- Từ là loại yếu tố có nhiều bình diện: ngữ âm, cấu tạo, ngữ nghĩa, kết hợp ngữ pháp, phong cách chức năng
- Ở trạng thái tĩnh, căn cứ vào mỗi bình diện như vậy, ta đã có thể tập hợp các từ theo các
hệ thống bộ phận (tiểu hệ thống) trong lòng hệ thống từ vựng chung.
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Khi hoạt động giao tiếp, các bình diện của các từ đều có thể diễn ra những biến đổi. Ban
đầu có thể ở phạm vi hẹp, mức độ thấp rồi dần dần mức độ cao hơn và những thay đổi về
lượng có thể làm thay đổi về chất, làm nảy sinh hiện tượng mới, yếu tố mới, từ mới.
a, Bình diện hình thức ngữ âm và cấu tạo Hình thức ngữ âm Hình thức cấu tạo Tính
- Từ là loại tín hiệu có 2 mặt: âm
- Cần cấu tạo ổn định để thực hiện định thanh và ý nghĩa
chức năng định danh, tạo câu hình
- Muốn thực hiện chức năng giao tiếp
- Là cơ sở để cho từ thuộc về một chặt
âm thanh phải ổn định, có tính xác
hệ thống cấu tạo nhất định => đó chẽ
định và thống nhất chung của toàn
cũng là các hệ thống bộ phận của
thể các thành viên xã hội
hệ thống từ vựng, hệ thống ngôn
- Âm thanh và ý nghĩa tuy có quan hệ ngữ nói chung
võ đoán và tính quy ước nhưng
không ai có thể tuỳ tiện thay đổi theo ý kiến cá nhân. Biến
- Biến thể cá nhân trong giọng nói
- Biến đổi ở một mức độ nhất định đổi
- Biến thể ngữ âm địa phương
nhưng không làm thay đổi nghĩa,
Biểu hiện của sự biến đổi ngữ âm
bản chất ngữ pháp của từ và có tác
của từ khi từ được sử dụng trong lời
dụng làm cho từ thích hợp với
nói cá nhân hoặc phương ngữ hoạt
nhân tố của hoàn cảnh giao tiếp động giao tiếp
- Các thành tố của từ phức tách ra
- Cũng trong hoạt động giao tiếp bộ
để xen kẽ những thành tố của từ
mặt ngữ âm của từ có thể có những
phức khác (hoặc từ đơn) vào => biến thể kết hợp
BPTT, phục vụ việc biểu đạt được
Sự biến đổi ngữ âm như vậy được hiệu quả
gọi là sự biến âm diễn ra theo quy
- Hình thức cấu tạo đa tiết của từ
luật và có tính đồng loạt ở nhiều từ,
được cắt ngắn đi nhưng nghĩa và
các bộ phận âm thanh khác nhau
ngữ pháp không đổi => giúp phù trong từ
hợp hơn với phong cách khẩu ngữ, ngôn ngữ linh hoạt
- Dạng lâm thời của từ trong lời
nói: từ được gộp vào thành một
hình thức cấu tạo được dùng trong câu như một từ
- Dạng viết tắt ngày càng phổ biến trong văn bản TV
Từ của TV dù vẫn cần tính định hình chặt chẽ về cấu tạo nhưng trong hoạt động giao
tiếp vẫn có thể biến đổi linh hoạt để tạo nên các dạng lâm thời thích hợp với hoàn
cảnh giao tiếp và mang sắc thái tu từ - phong cách học nhất định
- Cần phân biệt dạng thức linh hoạt uyển chuyển với việc dùng từ sai do không nắm
vững đặc điểm cấu tạo của từ
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054 b, Bình diện nghĩa
Tính định hình chặt chẽ
- Nghĩa của từ trong hệ thống là nghĩa khái quát
Sự biến đổi, chuyển hoá
- Khi dùng trong lời nói nghĩa của từ được hiện thực hoá, được quy chiếu vào một đối
tượng cá thể xác định hoặc loại sự vật nhất định
- Sự chuyển nghĩa lâm thời trong lời nói (từ chuyển sang chỉ các đối tượng khác). Sự
chuyển nghĩa này làm từ có thêm nghĩa mới (tuy chưa có tính phổ biến và được coi như
nghĩa của một từ hay được ghi vào từ điển thành nghĩa ngôn ngữ). Sự chuyển nghĩa như
thế vẫn theo các phương thức chung: ẩn dụ hoặc hoán dụ
Các nghĩa mới thường được nảy sinh khi từ được dùng trong giao tiếp do cá nhân tạo
ra theo quy luật chuyển nghĩa chung. Chỉ khi nào được nhiều người thừa nhận và sử
dụng thì nghĩa đó mới dần đi vào lĩnh vực hệ thống ngôn ngữ và trở thành nghĩa ngôn
ngữ còn không thì vẫn chỉ là một dạng nghĩa lâm thời.
c, Ở bình diện ngữ pháp
Tính định hình chặt chẽ
- Là bình diện các đặc điểm, bản chất ngữ pháp của từ được bộc lộ ở khả năng của từ
trong việc tạo cụm từ, câu, đảm nhiệm các chức năng của các thành phần trong cụm từ và câu
- Ở TV, đặc điểm ngữ pháp của từ không được bộc lộ trong hình thức ngữ âm, sự biến
hoá hình thái của từ mà là ở sự kết hợp từ trong câu
- Đặc điểm ngữ pháp của từ TV cũng có tính ổn định ở mức độ rõ => Các từ thuộc về
các từ loại nhất định và có chức năng nhất định tạo nên các đơn vị lớn hơn
Sự biến đổi, chuyển hoá
- Nhiều sự biến đổi được lặp đi lặp lại trong hoạt động giao tiếp được gọi là sự chuyển loại của từ
- Sự chuyển loại có tính chất lâm thời nhưng theo quy tắc chung: chuyển nghĩa khái
quát, nghĩa ngữ pháp đồng thời với sự thay đổi về hoạt động ngữ pháp của từ
- Sự chuyển đổi các đặc điểm ngữ pháp của từ có thể diễn ra giữa các tiểu loại trong
một từ loại. Tuy vẫn nằm trong loại lớn nhưng khi chuyển đổi tiểu loại từ vẫn có sự
chuyển đổi ở cả nghĩa ngữ pháp khái quát và hình thức kết hợp của từ.
Ở bình diện ngữ pháp, từ của TV không biến đổi hình thức, không tạo nên các phạm
trù hình thái để thể hiện phạm trù hay quan hệ ngữ pháp như từ trong các ngôn ngữ
biến hoá tổng hợp tính. Song trong hoạt động giao tiếp từ của TV vẫn có sự biến đổi
và chuyển hoá linh hoạt về đặc điểm ngữ pháp (biến đổi các ý nghĩa ngữ pháp khái
quát; thay đổi khả năng kết hợp câu).
d, Bình diện phong cách chức năng
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Việc sử dụng ngôn ngữ trong các lĩnh vực và phạm vi xã hội để thực hiện mục tiêu
giao tiếp khác nhau đã làm hình thành các phong cách chức năng ngôn ngữ
- Các phong cách này biểu hiện đặc điểm của mình ở nhiều cấp độ khác nhau của hệ thống ngôn ngữ:
Ở cấp độ từ có sự phân biệt các từ đơn phong cách và các từ đa phong cách
- Các từ đơn phong cách có thể có từ thiên về phong cách khẩu ngữ sinh hoạt, có từ
thiên về phong cách khoa học hoặc phong cách hành chính, hoặc phong cách văn chương nghệ thuật
- Tuy có sự phân biệt nhưng trong hoạt động giao tiếp thường gặp cách dùng linh hoạt:
thâm nhập phong cách này sang phong cách khác; chuyển đổi màu sắc phong cách
=> dụng ý của người nói (viết) phục vụ cho mục đích tu từ - phong cách học.
Tóm lại xét ở tất cả các bình diện của từ đều có sự biến đổi và chuyển hoá linh hoạt.
Sự biến đổi đó không làm cho hoạt động giao tiếp ngôn ngữ lâm vào trạng thái hỗn
loạn tuỳ tiện mà vẫn giữ được thế cân bằng và diễn ra theo quy luật trong hệ thống
đồng thời làm cho giao tiếp ngôn ngữ trở nên sống động, tươi mới.
2, Câu trong hoạt động giao tiếp
a, Về mặt cấu tạo
- Sự biến đổi của câu trong hoạt động giao tiếp phụ thuộc bởi:
Nhân tố giao tiếp: làm biến đổi, tạo ra sự thay đổi của mô hình cấu trúc câu
Hoàn cảnh giao tiếp: làm biến đổi ngữ nghĩa của câu
b, Về mặt nội dung ý nghĩa
- Các câu có sự biến hoá rất nhiều tuỳ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp
Biến hoá ở ý nghĩa hàm ẩn
- Ngoài hoạt động giao tiếp khi đứng cô lập một mình thì câu không thể phát sinh được nghĩa hàm ẩn
- Khi đặt trong hoàn cảnh giao tiếp, phụ thuộc vào hoàn cảnh, câu mới có thể hàm
chứa ý nghĩa hàm ẩn, và dựa vào hoàn cảnh giao tiếp con người cũng có thể suy ra và
lĩnh hội được nghĩa hàm ẩn
Hành động ngôn ngữ gián tiếp
- Tách rời hoàn cảnh giao tiếp một câu có hình thức câu hỏi chỉ được cảm nhận như là câu hỏi thông thường
- Nhưng khi đặt trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định nào đó câu hỏi đó lại có thể
được cảm nhận như câu thúc giục, đả kích, châm biếm hay bộc lộ cảm xúc
- Ta cũng có thể thấy được hành động gián tiếp này ở các loại câu khác (trần thuật,
cảm thán, cầu khiến,…)
Các đơn vị (yếu tố) của hệ thống ngôn ngữ khi tham gia trong hoạt động giao tiếp
ngôn ngữ đều luôn diễn ra những sự biến đổi và chuyển hoá linh hoạt có thể xảy ra ở
cả bình diện hình thức và bình diện ý nghĩa
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
3, Vai trò của các quan hệ hệ thống trong hoạt động giao tiếp
a, Ở quá trình tạo lập ngôn bản
• Biến đổi về hình thức
- Diễn ra sự chuyển hoá và biến đổi của các yếu tố ngôn ngữ
- VD: nhê nha = ê a + nhễ nhãi => trạng thái khóc kéo dài
Biến đổi về ý nghĩa
- Có trường hợp sự biến đổi và nảy sinh cái mới chỉ diễn ra ở bình diện ý nghĩa của từ.
Âm thanh, hình thức cấu tạo vẫn giữ nguyên chỉ có ý nghĩa là biến đổi
- Sự biến đổi này cũng phải dựa trên mối quan hệ với các nghĩa vốn có của từ trong hệ
thống ngôn ngữ thì mới được thừa nhận và có hiệu quả đối với hoạt động giao tiếp
+ Sự biến đổi về nghĩa nhưng vẫn dựa trên nghĩa gốc
+ Mối quan hệ hệ thống của các từ cùng trường nghĩa khi chuyển nghĩa
Như thế khi dùng từ với những sự biến đổi về cấu tạo hoặc về nghĩa, hay khi tạo ra 1
từ mới hay nghĩa mới cho từ người tạo lập ngôn bản luôn cần dựa trên cơ sở kiểu cấu
tạo, ý nghĩa vốn có và mối quan hệ với chúng trong hệ thống ngôn ngữ để thực hiện
sự chuyển hoá hoặc sáng tạo. Nếu mất cơ sở này thì sự chuyển hoá, sáng tạo chỉ là
tuỳ tiện và không thể đạt được mục đích giao tiếp.
b, Quá trình lĩnh hội ngôn bản
Biến đổi ở hình thức cấu tạo
- Trong hoạt động giao tiếp nhiều từ có cấu tạo mới. Trong trường hợp này người nghe
(đọc) dựa vào mối quan hệ với các từ sẵn có trong hệ thống ngôn ngữ mà chiếm lĩnh
để hiểu được đặc điểm cấu tạo và nghĩa của từ đó.
Trong quá trình lĩnh hội ngôn bản khi gặp từ mới về nghĩa hay hình thức cấu tạo thì
người nghe (đọc) dựa vào những mối quan hệ với hình thức cấu tạo hoặc nghĩa vốn
có của từ để lí giải. Những biến thể và cái mới trong lĩnh vực ngữ pháp, trong phạm
vi câu hay văn bản cũng đều được lĩnh hội theo nguyên tắc dựa vào những mối quan hệ hệ thống.
Biến đổi ở bình diện ý nghĩa
- Một từ quen biết có thể được dùng trong ngôn bản với một nghĩa ít nhiều biến đổi so với nghĩa vốn có
- Sự biến đổi này vẫn có cơ sở trong mối quan hệ hệ thống và người nghe (đọc) khi
tiếp nhận cũng dựa vào cơ sở đó để lĩnh hội
IV, Nguyên tắc hệ thống trong dạy – học ngôn ngữ (TV)
1, Trong quá trình dạy học ngôn ngữ (TV cũng như các ngoại ngữ khác) có thể và cần
phải chú trọng nguyên tắc hệ thống
- Trong quá trình dạy học ngôn ngữ (TV) trước hết cần nhận thức, quan niệm rằng:
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
+ Mỗi ngôn ngữ luôn là 1 hệ thống, trong đó các yếu tố của nó thường xuyên nằm trong
mối quan hệ qua lại, chế định lẫn nhau
+ Không có một yếu tố nào có thể tồn tại một cách biệt lập, đơn lẻ, không có quan hệ gì với hệ thống
- Khi một yếu tố mới nảy sinh hay yếu tố ngoại sinh được du nhập vào một ngôn ngữ
thì những yếu tố đó phải tồn tại trong mối quan hệ hệ thống với yếu tố khác.
2, Nguyên tắc hệ thống được bộc lộ và thực hiện trong nhiều hoạt động dạy – học tiếng Việt
a, Cấp độ ngữ âm
- Có hoạt động chính âm và chính tả
- Có thể dựa vào những mối quan hệ hệ thống và các quy luật âm thanh để đúc rút
thành các quy tắc chính tả. Các quy tắc này bao trùm một phạm vi khá rộng do có hiệu quả khá lớn
b, Trong việc dạy từ ngữ có hàng loạt hoạt động cần dựa vào nguyên tắc hệ thống
Hoạt động mở rộng vốn từ (phát triển số lượng từ ngữ)
- Từ ngữ có số lượng rất lớn không thể dạy và học từng từ một mà phải mở rộng vốn
từ theo mối quan hệ hệ thống và tạo ra năng lực phát triển vốn từ theo những mối quan hệ hệ thống
- Có thể mở rộng vốn từ theo nguyên tắc quan hệ hệ thống căn cứ vào các mối quan hệ sau:
+ Theo chủ điểm: mở rộng vốn từ theo hệ thống trường nghĩa
+ Theo các quan hệ gần nghĩa, đồng nghĩa: từ một số từ quen biết phát triển thêm các từ khác
+ Theo quan hệ trái nghĩa: dựa vào từ đã biết để thêm từ trái nghĩa với nó
+ Theo quan hệ đồng âm: mở rộng vốn từ theo quan hệ đồng âm khác nghĩa
+ Theo kiểu cấu tạo: nắm được nghĩa khái quát của từ
Cũng chính dựa vào hệ thống cấu tạo mà ta có thể lĩnh hội được những từ gặp lần đầu
hoặc cấu tạo ra những từ mới đáp ứng nhu cầu biểu đạt
c, Trong hoạt động dạy – học từ ngữ, thường xuyên cần tiến hành giải nghĩa từ (xác
định nghĩa của từ)
- Trong việc xác định nghĩa gốc, nghĩa đen của một từ nào đó cần đặt từ đó trong quan
hệ với các từ gần nghĩa, đồng nghĩa hoặc trường nghĩa rồi đối chiếu, so sánh các nét
nghĩa của chúng để rút ra nét nghĩa đồng nhất và đối lập => Việc xác định nghĩa mới
đạt được sự chính xác.
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com) lOMoARcPSD|60328054
- Khi xác định nghĩa phái sinh, nghĩa chuyển đổi (nghĩa bóng) của từ cần dựa vào mối
quan hệ với nghĩa gốc để phát hiện ra nét nghĩa cốt lõi mà từ đã duy trì khi phát triển
nghĩa. Đó là việc làm căn cứ vào quan hệ hệ thống giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa.
Sự giải thích nghĩa như thế có cơ sở và có sức thuyết phục.
d, Lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong dạy – học ngôn ngữ
Lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ để tạo lập ngôn bản
- Sự lựa chọn chỉ có thể diễn ra khi có nhiều yếu tố cùng một loại, một hệ thống.
- Trong sự lựa chọn người nói (viết) phải thực hiện các thao tác đối chiếu so sánh các
yếu tố cùng một nhóm, một hệ thống để rút ra điểm đồng nhất và khác biệt. Chính
trong sự đối chiếu so sánh đó người nói người viết đã đặt các yếu tố và hệ thống của
chúng và căn cứ vào các quan hệ hệ thống
Rèn luyện năng lực lựa chọn các yếu tố khi sử dụng
- Rèn năng lực đối chiếu, so sánh các yếu tố trong hệ thống để thấy điểm đồng nhất và
khác biệt, từ đó lựa chọn lấy yếu tố thích hợp nhất cho hoạt động giao tiếp
e, Năng lực hoạt động của ngôn ngữ: năng lực nhận xét, đánh giá các yếu tố được sử
dụng trong ngôn bản
- Muốn nhận xét đánh giá việc dùng một yếu tố nào đó cũng phải đặt nó vào trong mối
quan hệ hệ thống với các từ cùng nhóm, cùng hệ thống với nó. Từ đó nhận xét ra nét
khác biệt của yếu tố được sử dụng và khẳng định giá trị và hiệu quả sử dụng của nó
Nguyên tắc hệ thống trong dạy học ngôn ngữ đòi hỏi cần đặt các yếu tố ngôn ngữ,
hiện tượng ngôn ngữ vào trong hệ thống của chúng khi phân tích, lý giải, nhận xét,
đánh giá và cả khi lựa chọn để sử dụng
Cũng nhờ các mối quan hệ hệ thống đó người học tập, nghiên cứu có cơ sở để phân
loại hệ thống hóa; còn người sử dụng có cơ sở để lựa chọn, thay thế, bình giá và cả
lĩnh hội chính xác các yếu tố, các hiện tượng ngôn ngữ
Downloaded by Thu Anh Nguy?n (nguyenthuanh0305@gmail.com)