Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ BÀI THẢO LUẬN Tư tưởng Hồ Chí Minh LHP: 2353HCMI0111
Giảng viên hướng dẫn: Ths Ngô Thị Minh Nguyệt Nhóm thực hiện: Nhóm 7
ĐỀ TÀI: Trong một lời tự bạch, Hồ Chí Minh từng nhận định về
các bậc tiền bối: “Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người,
mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu
họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất
hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò
nhỏ của các vị ấy”. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tư tưởng của “họ” như thế nào?
Hà Nội, ngày tháng năm 2023 MỤC LỤC
A. LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................2 B.
NỘI DUNG..............................................................................................................4
I. CÁC BẬC TIỀN BỐI TRONG CÂU NÓI CỦA HỒ CHÍ MINH...........................4
II. HỒ CHÍ MINH ĐÃ NHÌN NHẬN NHỮNG ƯU ĐIỂM TRONG HỌC THUYẾT
CỦA “HỌ”.....................................................................................................................6
1. Học thuyết Khổng Tử...........................................................................................6
2. Tôn giáo Giêsu.....................................................................................................7
3. Chủ nghĩa Mác - Lênin............................................................................................8
4. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên........................................................................................11
III. HỒ CHÍ MINH ĐÃ TIẾP THU VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CỦA “HỌ”.. 13
1. Đối với học thuyết Nho giáo của Khổng Tử.......................................................13
2. Đối với Thiên Chúa giáo.....................................................................................15
3. Đối với học thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên..................................................17
4. Đối với chủ nghĩa Mác - Lênin...........................................................................20
IV. CÁCH THỨC HỒ CHÍ MINH TIẾP THU TINH HOA VĂN HÓA NHÂN
LOẠI............................................................................................................................23
1. Tiếp thu một cách chọn lọc.................................................................................23
2. Vận dụng trên hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của dân tộc......................................24
3. Luôn cải biến, sáng tạo.......................................................................................24
4. Phải biết đem giá trị, bản sắc của mình đóng góp vào kho tàng văn hóa nhân
loại…………………………………………………………………………………...24 C.
KẾT LUẬN............................................................................................................26
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................27
BIÊN BẢN HỌP NHÓM.................................................................................................28
BẢN ĐÁNH GIÁ THẢO LUẬN.....................................................................................29 1 A. LỜI NÓI ĐẦU
Lê-nin đã từng nói: “Chỉ những người cách mạng chân chính, mới thu hái được
những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Đây cũng là một câu nói đúng với Hồ
chủ tịch, trên hành trình tìm đường cứu nước của Người, chúng ta có thể thấy được bóng
dáng của những bậc tiền bối đi trước. Các vị ấy đều là người đặt nền móng cho tư tưởng
của những thời đại khác nhau, không gian khác nhau, nhưng những tinh hoa từ những
học thuyết ấy, đã được Hồ Chí minh tiếp thu một cách chọn lọc, và vận dụng sát hợp vào
những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc Việt Nam ta.
Qua môn “Tư tưởng Hồ Chí Minh” ta lại thấy luận điểm trên càng xác thực, xét từ
cuộc đời và cuộc đời cách mạng của người, ta thấy được từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh
đã được làm quen với văn hóa Trung hoa, qua cốt cách, phẩm giá của những nhà nho xứ
nghệ, đặc biệt là từ người cha thân yêu. Trong 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, Hồ
Chí Minh lại được tiếp xúc với nhiều văn hóa lớn trên thế giới. Chính những kinh nghiệm
và trải nghiệm đó, mà trong một lời tự bạch, Hồ Chí Minh đã từng nhắc về những bậc vĩ
nhân đi trước như sau: “Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi
cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng
họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố
gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”.
Để hiểu được câu nói này, đầu tiên chúng ta phải biết được “các vị ấy” mà Hồ Chí
Minh nói ở đây là ai, họ đã ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào, bằng cách
gợi lại toàn cảnh câu nói của người.
Bài thảo luận gồm 4 nội dung chính:
Phần I: Các bậc tiền bối trong câu nói của Hồ Chí Minh.
Phần II: Hồ Chí Minh đã nhìn nhận những ưu điểm trong học thuyết của “Họ”.
Phần III: Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển tư tưởng của “Họ”.
Phần IV: Cách thức Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa nhân loại.
Nhóm 7 chúng em xin chân thành cảm ơn cô Ngô Thị Minh Nguyệt – Giảng viên
học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình
học tập, tìm hiểu và xây dựng bài thảo luận. Chúng em mong rằng có thể nhận được
những nhận xét, đánh giá của cô sau khi trình bày đề tài thảo luận để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn. 2 B. NỘI DUNG I.
CÁC BẬC TIỀN BỐI TRONG CÂU NÓI CỦA HỒ CHÍ MINH.
“ Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn
giáo Giê Su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó
là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính
sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê Su, Mác, Tôn Dật Tiên
chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người,
mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ,
tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân
thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy.”
Lời tự bạch này của Hồ Chí Minh được nói khi Bác đang thực hiện cuộc đấu tranh
giành độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước Việt Nam, và đang đối mặt với nhiều
khó khăn, thử thách và áp lực từ các thế lực thù địch. Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh
rằng dù cho các nhà lãnh đạo, nhà cách mạng có khác nhau về tư tưởng, phương pháp và
hướng đi, thì tất cả đều có chung mục đích cao cả là mưu cầu hạnh phúc cho loài người,
mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Những nhà lãnh đạo mà Hồ Chí Minh đề cập tới, họ chính
là: Khổng Tử, Giê Su, Mác, Tôn Dật Tiên .
Khổng Tử: Khổng Phu Tử hay Khổng Tử (28 tháng 9 năm 551 TCN – 11 tháng 4
năm 479 TCN) là một triết gia và chính trị gia người Trung Quốc, sinh sống vào thời
Xuân Thu. Theo truyền thống, ông được xem là nhà hiền triết Trung Quốc mẫu mực nhất.
Cống hiến chính của Khổng Tử là trên lĩnh vực giáo dục và đạo đức, tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử là tổng hợp các nội dung: tư tưởng về vai trò của đạo đức; tư tưởng về
các quan hệ đạo đức và các chuẩn mực đạo đức cơ bản. Những lời dạy và triết lý của
Khổng Tử đã hình thành nền tảng văn hóa Á Đông, và ngày nay vẫn tiếp tục duy trì ảnh
hướng khắp Trung Quốc cũng như các quốc gia Đông Á khác. Ông là một trong Mười vị
thánh trong lịch sử Trung Quốc.
Giêsu: (4 TCN – 3 tháng 4, 33 SCN), còn được gọi là Giêsu Kitô, Jesus Christ, hay
Gia-tô Cơ-đốc là một nhân vật lịch sử người Do Thái, nhà giảng thuyết, người sáng lập ra
Kitô giáo vào thế kỉ thứ 1. Theo hầu hết các giả thích Kinh thánh của Kitô giáo, các chủ 3
đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải, tình yêu vô điều kiện, tha thứ tội
lỗi và khoan dung và về Thiên đường.
Mác: (5 tháng 5 năm 1818 – 14 tháng 3 năm 1883) là một nhà triết học, kinh tế học,
sử học, xã hội học, lý luận chính trị, kiêm nhà báo và nhà cách mạng người Đức gốc Do
Thái. Tên tuổi của Marx gắn liền với hai danh tác nổi bật, đó là cuốn pamfơlê Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản (1848) và bốn tập sách Das Kapital. Trọn đời vì lý tưởng giải
phóng gia cấp, giải phóng loài người thoát khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công
và mọi sự tha hóa, C.Mác đã để lại cho nhận loại một di sản tư tưởng đồ sộ, sâu sắc.
Trong những thành tựu của C.Mác có ba thành tựu có thể coi là ba phát minh vĩ đại
mà ông để lại cho thế hệ mai sau: Tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người; tìm ra
quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại và của xã gội
tư sản do phương thức đó đẻ ra - quy luật giá trị thặng dư; tìm ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.
Tôn Dật Tiên: Tôn Trung Sơn (12 tháng 11 năm 1866 – 12 tháng 3 năm 1925),
nguyên danh là Tôn Văn , tự Tải Chi , hiệu Nhật Tân , Dật Tiên. Năm 1894, ông thành
lập Hưng Trung Hội, là Hội cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản Trung Quốc để chuẩn
bị các cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (1895), Huệ Châu (1898) nhưng không thành công.
Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức trong nước lập
thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lý. Trên tờ Dân báo, cơ quan ngôn
luận của Hội, ông đã công bố chủ nghĩa Tam Dân: "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc".
Cùng với nền tảng lý luận của mình, ông đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng
Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại nhà Thanh của người Mãn Châu và khai sinh ra Trung
Hoa Dân Quốc. Cuộc cách mạng đã chấm dứt chế độ chuyên chế phong kiến hơn 2000
năm, lập nên nước Trung Hoa dân quốc và có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào đấu
tranh của các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á. 4 II.
HỒ CHÍ MINH ĐÃ NHÌN NHẬN NHỮNG ƯU ĐIỂM TRONG HỌC
THUYẾT CỦA “HỌ”.
1. Học thuyết Nho giáo của Khổng Tử.
Nho giáo hay còn được gọi là đạo Nho hoặc đạo Khổng, là một hệ thống đạo đức, triết
học xã hội, giáo dục, chính trị do Khổng Tử thành lập và được các đệ tử của ông trên
khắp nơi phát triển với mục đích tạo dựng một xã hội tốt đẹp với những con người có đạo
đức và lễ nghi chuẩn mực từ đó tạo thành nền móng vững chắc để phát triển đất nước.
Những người sống và làm việc theo các tư tưởng được đề cập đến trong Nho giáo thì
được gọi là các “Nho sĩ” trong đó chữ “Nho” là để chỉ nhưng người có học thức, biết
phép cư xử và lễ nghĩa đúng.
Tôn chỉ chính của Nho giáo bao gồm 3 điều đó chính là:
Con người và vạn vật trời đất đều có tương thông với nhau.
Mọi việc đều phải lấy thực nghiệm để chứng minh.
Và lấy trực giác và năng khiếu để tìm hiểu làm rõ vạn vật.
Ưu điểm của học thuyết Nho giáo Khổng Tử
Học thuyết Khổng Tử hướng đến sự tu dưỡng đạo đức cá nhân
Hồ Chí Minh đã từng khai thác di sản tư tưởng Nho giáo của các thế hệ đi trước
nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Năm 1923, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo
Nga Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí Minh nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An
Nam… Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo. Đồng chí chắc biết
Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và
phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng”.
Theo Hồ Chí Minh: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá
nhân.” Khổng tử nói: Cầm quyền phải có đức, giống như sao Bắc đẩu ở nơi cố định cho
các ngôi sao khác trên bầu trời vây quanh nó. “Dùng chính lệnh để dắt dẫn dân, dùng
hình phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn. Lãnh
đạo dân bằng đức độ và lễ khiến người ta biết xấu hổ mà tự cảm hóa.” Đây cũng chính là
những tư tưởng rất đúng đắn với vai trò của người lãnh đạo.
Đề cao tình cảm gia đình
Chuyện không học hành, tâm chính, không tu thân, không tề gia, không trị quốc mà
muốn thiên hạ thái bình đúng là đi ngược với đạo lý. Nếu gia đình mà dạy con cháu Đạo 5
lý Khổng Tử thì con cháu sẽ hiếu thảo với Ông Bà, biết thờ cúng Tổ tiên, tự học mà
không cần ai ép, biết chọn người có tài đức mà kết giao bạn bè, lớn lên làm người có ích
cho xã hội, cho đất nước. Nếu thanh niên mà rèn luyện Tứ Thư của Khổng Tử kết hợp
với kiến thức phương Tây thì địa vị, tiền tài, đức độ sớm muộn gì cũng có. Không lãnh
đạo doanh nghiệp thì cũng lãnh đạo địa phương. Sẽ lấy được chồng Quân Tử hoặc Vợ
hiền đức. Không còn phải nhìn lầm người nữa.
Học thuyết Khổng Tử hướng đến việc hoàn thiện cả trí và đức
Người phương Đông mạnh về đạo đức và lễ giáo. Người phương Tây mạnh về khoa
học và công nghệ. Sống trong thời đại ngày nay một người lãnh đạo cần cả hai kiến thức
phương đông và phương tây, kiến thức cổ xưa và hiện đại. Là người Việt Nam thì nên
học đạo lý của Khổng Tử trước. Học văn hóa lịch sử, lễ nghĩa của người Việt sau. Sau đó
mới đến nghiên cứu chuyên môn. Thiếu khoa học phương Tây thì trở nên lạc hậu. Thiếu
khoa học phương Đông thì không thể thành người. 2. Tôn giáo Giêsu
Trong một ngày sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945). Vị lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ ra một trong
những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của chính phủ cách mạng còn non trẻ. Đó là giai
cấp thực dân phong kiến chia rẽ nhân dân ta thành đồng bào giáo và đồng bào lương để
dễ bề cai trị. Trong tuyên cáo mới nhất, Ngài đề nghị chính phủ hãy tuyên bố dân tộc ta
sẽ thi hành chính sách: “Tôn giáo tự do và lương giáo đoàn kết.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rất nhân văn và tiến bộ về dân tộc và tôn giáo.
Ngài luôn ủng hộ những giá trị tích cực của tôn giáo đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Trong khi học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá
nhân. Ưu điểm lớn nhất của Tôn giáo Giêsu là dạy con người từ bi, nhân ái. Hồ Chí Minh
đã ca ngợi lòng nhân ái cao cả của Thiên Chúa giáo. Chúa Giêsu đã kêu gọi con chiên
của Chúa “Hãy yêu kẻ thù của mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, cho phước cho kẻ rủa
mình và cầu nguyện cho kẻ sĩ phục mình”. Chúa Giêsu dạy con người không tham lam,
trộm cắp, hãy sống trong sạch, hãy cho khi người ta xin. Hồ Chí Minh đã đọc rất kỹ Tân 6
ước và Cựu ước, hiểu thấu đáo sách Mathiơ và Luca. Người thấy nhân tố thương yêu con
người thì Thiên Chúa giáo với Khổng giáo cũng cùng chung một ưu điểm.
Trong một bức thư phúc đáp ngài G.Bidon, Thủ tướng của Chính phủ Pháp - nước
đang xâm lăng Việt Nam lúc đó, Người đã viết: “Chúng ta đều được kích thích bởi một
tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo
đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Nhấn mạnh lòng thương người của một số học
thuyết tôn giáo một lần nữa, Người đã viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật
Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Tiếp thu tư
tưởng nhân ái bao la của Đức Chúa Giêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, “Cách đây
2000 năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây
giờ vẫn chưa thực hiện được”.
Trong tuyên ngôn này ta có thể thấy rõ ràng theo Hồ Chí Minh ưu điểm lớn nhất của
tôn giáo Giêsu chính là lòng nhân ái và từ bi với con người. Nếu bỏ qua những rào cản cơ
bản về ngôn ngữ và cách biệt trong điều giáo răn dạy tín đồ thì Thiên Chúa giáo cũng là
một tôn giáo cao quý có ảnh hưởng tốt đến đời sống tinh thần của người Việt Nam như
nhiều đạo giáo phổ biến khác.
3. Chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học về sự nghiệp giải
phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột, tiến tới
thực hiện sự nghiệp giải phóng con người; học thuyết này được sáng lập bởi C. Mác, Ph.
Ăngghen và được V.I. Lênin vận dụng và phát triển trong thực tiễn và chính Chủ nghĩa
Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh. Những ưu điểm trong Chủ nghĩa Mác – Lênin phải kể đến như sau:
Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu trí tuệ của nhân loại
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên cơ sở những tri thức tiên tiến nhất của thời đại về
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và những thành tựu về lý luận trong triết học, kinh tế
chính trị và tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Kế thừa, tiếp thu và phát triển những thành tựu trí
tuệ của nhân loại, C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đã sáng tạo ra học thuyết khoa học và
cách mạng cho giai cấp vô sản, đó là chủ nghĩa xã hội khoa học. Do vậy, chủ nghĩa Mác -
Lênin là thành tựu trí tuệ chung của nhân loại. 7
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu chung là giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ ra lực lượng, con
đường, phương thức đạt mục tiêu đó
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch
sử; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Điều đó đã chỉ ra cho xã hội, đặc biệt là giai
cấp công nhân, nhân dân lao động, phương pháp luận đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích điều kiện kinh tế - xã hội và khẳng định giai
cấp công nhân là giai cấp cách mạng triệt để nhất trong cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất
công và tình trạng người bóc lột người. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân, là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải
phóng giai cấp mình, qua đó giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ giải thích mà còn vạch ra con đường, những
phương tiện cải tạo thế giới. Đó là mối liên hệ hữu cơ, biện chứng giữa lý luận cách
mạng và thực tiễn cách mạng. C. Mác viết: “… lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật
chất, một khi nó thâm nhập vào chúng” .
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận toàn diện, học thuyết khoa học, cách
mạng hoàn chỉnh
Một là, sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học
mácxít làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận
khoa học. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ rõ sự chuyển biến từ một hình thái kinh tế - xã
hội này sáng một hình thái kinh tế - xã hội khác như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Hai là, quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất thể hiện sự vận động, thay thế các phương thức sản xuất trong xã hội. Đó là cơ
sở khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
Ba là, học thuyết giá trị thặng dư đã chỉ rõ mục đích và quy luật vận động của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ đó vạch ra bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. 8
Bốn là, học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản đã chỉ rõ giai cấp công
nhân là người lãnh đạo cuộc đấu tranh để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng chế
độ xã hội chủ nghĩa, giải phóng giai cấp, đồng thời giải phóng xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và học thuyết mở, không ngừng đổi mới, phát triển cùng
với sự phát triển của tri thức nhân loại
C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã nhiều lần khẳng định học thuyết của các ông
không phải là cái đã xong xuôi hẳn, còn nhiều điều các ông chưa có điều kiện, thời gian,
cơ hội nghiên cứu. Theo các ông, phát triển lý luận Mác - Lênin là trách nhiệm của các
thế hệ kế tiếp sau, của những người mácxít chân chính, nếu họ không muốn trở nên lạc
hậu với thời đại của họ. Trên thực tế, ngay trong quá trình hình thành và phát triển hệ
thống quan điểm lý luận của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã
điều chỉnh một số luận điểm đã trở nên lạc hậu, phát triển, bổ sung những quan điểm lý luận mới.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, không cứng nhắc và giáo điều, đồng
thời, có giá trị bền vững, xét trong tinh thần biện chứng, nhân đạo và hệ thống tư tưởng
cốt lõi của nó. Kiên định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là trung
thành với bản chất khoa học và cách mạng của nó để không ngừng phát triển, làm cho
chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng hoàn thiện và gắn liền với thực tiễn.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ
tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá
tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi
việc. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và
phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống hiến đó
có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng
của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.
Theo Hồ Chí Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để phụng sự lợi ích
chung, chứ không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu,
tự đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Nếu 9
thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”
4. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên
Chủ nghĩa Tam Dân hay còn gọi là học thuyết Tam Dân là một cương lĩnh chính trị do
Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) đề xuất, với tinh thần biến đất nước Trung Hoa thành một
quốc gia tự do, phồn Vinh và hùng mạnh.Chủ nghĩa tam dân phản ánh những mâu thuẫn
cơ bản của xã hội Trung Quốc thời kỳ cách mạng dân chủ cũ, khái quát nên ba nhiệm vụ
đấu tranh quan trọng mà tiến trình lịch sử khách quan mang lại đó là: “Đánh đuổi giặc
thát, khôi phục Trung Quốc, xây dựng chính phủ hợp chúng”. Thông qua thực tiễn đấu
tranh cách mạng sau này, chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn ngày càng có nhiều nội
dung phong phú hơn, hoàn thiện hơn và phát triển hơn.
Chủ nghĩa Tam dân bao gồm: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và chủ nghĩa dân
sinh. Ông đã trình bày bài phát biểu đầu tiên của chủ nghĩa tam dân tại Bỉ. Đây cũng là
lần đầu tiên các ý tưởng về chủ nghĩa tam dân của ông được thể hiện bằng văn bản. Sau
này trong ấn bản kỷ niệm của Dân Báo, bài phát biểu giải của ông về Tam Dân đã được
in và các biên tập viên của tờ báo đã thảo luận về vấn đề sinh kế của người dân.
Chủ nghĩa dân tộc
Ông cho rằng người Trung Quốc chỉ có chủ nghĩa gia tộc, tông tộc, không có chủ
nghĩa dân tộc. Sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ mới đạt tới tông tộc chứ chưa đạt
tới dân tộc. Để bảo vệ tông tộc, người Trung Quốc sẵn sàng hy tinh cả tính mạng. Ở
Trung Quốc chủ nghĩa dân tộc chính là chủ nghĩa quốc tộc.
Vậy Trung quốc phải làm gì để khôi phục Chủ nghĩa Dân tộc? Ông đưa ra hai giải
pháp. Thứ nhất, phải làm cho 400 triệu người dân Trung Quốc biết mình đang đứng ở
đâu. Ông cho rằng vị thế của Trung Quốc lúc bấy giờ không bằng một nước thuộc địa
nên gọi là “thứ thuộc địa”. Từ một nước Trung Quốc có địa vị cao mà bây giờ lại rơi
xuống vực thẳm như vậy là do chúng ta đã đánh mất tinh thần dân tộc. Thứ hai, người
Trung quốc phải biết tu thân, biết học tập cái hay, cái tốt của người nước ngoài. Vì người
Trung Quốc không chịu tu thân nên không tề gia, trị quốc được. Do đó người nước ngoài
liền đòi tới chia nhau cai trị chúng ta. Có tu thân mới có thể tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được . 10
Chủ nghĩa dân quyền
Theo ông , dân quyền là sức mạnh chính trị của nhân dân. Vậy chính trị là gì?
“Chính” là việc của dân chúng, “trị” là quản lý. Suy ra, quản lý việc của dân chúng thì
gọi là chính trị. Lực lượng quản lý việc của dân chúng thì gọi là chính quyền. Nay nhân
dân quản lý công việc chính trị nên gọi là dân quyền. Lịch sử thế giới từng có thần quyền,
quân quyền và dân quyền. Ông đã đưa Trung Quốc thực hiện theo dân quyền. Nếu thực
hiện theo quân quyền , tức là một người đứng lên làm vua thì chiến tranh giành địa vị làm
vua sẽ xảy ra liên miên, thiên hạ sẽ đại loạn, ông quyết tâm xây dựng một nước cộng hào.
Thực hiện được điều đó, 400 triệu dân sẽ đứng lên làm vua, tức là làm chủ đất nước.
Để thực hiện dân quyền, phải thực hiện các quyền của dân và của chính phủ. Ông
cho rằng dân có 4 quyền :quyền tuyển cử, quyền bãi miễn, quyền sáng chế, quyền phúc
quyết. Chính phủ có 5 quyền: quyền hành chính, quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền
khảo thí, quyền giám sát. Dùng 4 chính quyền của nhân dân để để quản lý 5 trị quyền của
chính phủ, như vậy mới được xem là một cơ quan chính trị dân quyền hoàn hảo.
Chủ nghĩa dân sinh
Bàn về chủ nghĩa dân sinh, ông đưa ra định nghĩa: Có thể nói chủ nghĩa dân sinh là
đời sống của nhân dân, sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh của quần
chúng. Ông quan niệm chủ nghĩa dân sinh là chủ nghĩa xã hội, còn gọi là chủ nghĩa cộng
sản, tức là chủ nghĩa đại đồng. Ông đặt vấn đề: Chủ nghĩa dân sinh suy cho cùng có gì
khác biệt với chủ nghĩa xã hội? Vấn đề lớn nhất của chủ nghĩa dân sinh là vấn đề kinh tế-
xã hội. Vấn đề này là vấn đề đời sống dân thường. Có thể nói chủ nghĩa dân sinh là vấn
đề bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Để thực hiện chủ nghĩa dân sinh, ông chủ trương thực hiện hai biện pháp là bình
quân địa quyền và tiết chế tư bản. Hai vấn đề quan trọng nhất mà ông lưu ý khi thực hiện
chủ nghĩa dân sinh là ăn và mặc. Nói đến chủ nghĩa dân sinh tức là phải chú trọng nâng
cao đời sống nhân dân, phải làm cho 400 triệu người dân Trung Quốc có cơm ăn với giá
rẻ. Vì chủ nghĩa dân sinh của ông mưu cầu cho 400 triệu người đều hạnh phúc.
Chủ nghĩa Tam Dân có những tác động tích cực đến phong trào cách mạng Việt
Nam ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thời điểm đang khủng hoảng về đường lối cứu
nước, một số sỹ phu yêu nước đã coi đây là nền tảng lý luận quan trọng cho việc hình 11
thành tư tưởng cứu nước. Trong đó, Hồ Chí Minh là người chịu ảnh hưởng lớn đến sự
hình thành tư tưởng của mình. III.
HỒ CHÍ MINH ĐÃ TIẾP THU VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CỦA “HỌ”.
1. Đối với học thuyết Nho giáo của Khổng Tử
Sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học, Hồ Chí Minh có một quá trình tiếp
biến Nho giáo rất căn bản và có hệ thống: Từ tiếp thu di sản Nho học từ người cha, đến
học tập các thầy đồ nổi tiếng một thời như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần
Nhân, v.v..; từ việc học tập qua trao đổi với các nhà nho thế hệ cha chú như Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, đến quá trình tự học lâu dài, bền bỉ...
Năm 1923, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Nga Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí Minh
nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam... Thanh niên trong những gia đình
ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là
một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta đưa
ra khái niệm về “thế giới đại đồng”” . Năm 1924, trong một tác phẩm viết chung, Hồ Chí
Minh đã đề cập đến “tinh thần triết học và giáo lý của Khổng Tử”, và gọi Khổng Tử là
“vĩ nhân”. Qua đó cho ta thấy, Nho giáo được nhận diện trong quan niệm của Hồ Chí
Minh: Là Nho giáo thời Tiên Tần, hay là học thuyết Khổng Mạnh; là một hệ thống tư
tưởng, chứ không phải là một tôn giáo; cốt lõi của Nho giáo là học thuyết về đạo đức, học
thuyết về xử lý các mối quan hệ đạo đức cơ bản của xã hội.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển tư tưởng Nho giáo:
Thứ nhất, khai thác di sản tư tưởng Nho giáo phải trên cơ sở quán triệt quan điểm
duy vật biện chứng về lịch sử.
Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, Hồ Chí Minh quan niệm, bất cứ
một hệ thống tư tưởng nào cũng ra đời trong những điều kiện lịch sử cụ thể, chịu sự chi
phối, quy định của những điều kiện ấy. Vì thế, để lý giải, đánh giá nội dung, giá trị của
bất cứ hệ thống tư tưởng nào, cũng cần phải đặt nó vào trong những điều kiện ra đời của
nó. Mọi thiên kiến, áp đặt bằng con mắt phi lịch sử với các di sản quá khứ đều là điều
không thể chấp nhận được, đều có nguy cơ dẫn đến sai lầm, hoặc tuyệt đối hoá hoặc phủ
nhận sạch trơn giá trị của các di sản quá khứ. 12
Nói về học thuyết Mác, Hồ Chí Minh viết: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình
trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu
là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”, và vì thế, “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ
sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà
Mác ở thời mình không thể có được”.
Đối với Nho giáo, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên
bộ óc Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng”, và “nếu
Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm ấy thì
ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Cũng có khả năng là siêu nhân này chịu thích
ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin”. Vận
dụng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, Người cũng xem xét các di sản tư tưởng
quá khứ trước những yêu cầu mới của thời đại mới, để từ đó kế thừa một cách biện chứng các di sản này.
Thứ hai, khai thác di sản tư tưởng Nho giáo phải trên quan điểm với thái độ trân
trọng, kế thừa, phát triển có chọn lọc.
Hồ Chí Minh đã nêu ra một quan điểm mang tính chỉ dẫn rất toàn diện: “Không phải
cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Cái
gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt,
thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm”.
Quan điểm của người vừa chống thái độ tuyệt đối hoá cái “cổ” coi thường cái “kim”,
vừa chống thái độ tuyệt đối hoá cái “kim” coi thường cái “cổ”, vì thế có tính khoa học sâu sắc.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của
Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì ta nên học”.
Có thể nêu ra một số phạm trù của Nho giáo được Hồ Chí Minh sử dụng như Nhân,
Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Trung, Hiếu, .. Việc Hồ Chí Minh cải tạo các phạm trù của Nho
giáo thể hiện rõ nhất ở hai phạm trù Trung và Hiếu. Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức, ngày
trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải
mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”. 13
Những mệnh đề tư tưởng của Nho giáo được Hồ Chí Minh sử dụng nhiều lần như:
“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”; “Phú quý bất năng dâm; Bần tiện bất năng
di; Uy vũ bất năng khuất”, “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”,….
Những mệnh đề trên được Hồ Chí Minh tiếp thu, và trong nhiều trường hợp, được Hồ
Chí Minh khẳng định chính là những phẩm chất của những người cách mạng, những
người cộng sản trong thời đại mới. Điều đó cho thấy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh,
mặt giá trị, tính thời đại của Nho giáo là rất lớn.
Thứ ba, khai thác di sản tư tưởng Nho giáo với thái độ khoan dung trong xem xét,
đánh giá, ứng xử với các hệ thống tư tưởng khác nhau.
Không tuyệt đối hoá, không “độc quyền tư tưởng”, thì mới có thể chấp nhận những
cái khác khác biệt để trân trọng và tiếp biến. Hồ Chí Minh không chỉ thừa nhận chủ nghĩa
Mác có ưu điểm, mà khẳng định học thuyết Khổng Tử, tôn giáo Giêsu, đạo Phật, chủ
nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, ... đều có ưu điểm, thậm chí là những ưu điểm chung
với ưu điểm của chủ nghĩa Mác.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, không phải chỉ có chủ nghĩa Mác, mà các học thuyết, hệ thống
tư tưởng - văn hoá nói trên cũng hướng đến mục tiêu “mưu hạnh phúc cho loài người,
mưu hạnh phúc cho xã hội”. Hồ Chí Minh là người mà ngay từ rất sớm, đã khẳng định
tôn giáo chứa đựng những hạt nhân văn hoá - đạo đức có giá trị,...
Có thể thấy rõ, quan điểm khoan dung, bản lĩnh văn hoá kết hợp với tinh thần khoa
học của quan điểm duy vật biện chứng, của thái độ trân trọng các di sản quá khứ đã giúp
Hồ Chí Minh có khả năng khai thác di sản tư tưởng Nho giáo một cách rất thành công.
2. Đối với Thiên Chúa giáo
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian nan và thử thách, Bác Hồ đã có dịp đi
nhiều nơi, tiếp xúc với nền văn hoá phương Đông và phương Tây, và trong quá trình
thâm nhập đời sống thực tế, nghiên cứu các học thuyết chính trị, các giáo lý tôn giáo tại
chính quê hương của nó, Người đã tiếp thu, kế thừa, đã chắt lọc những giọt tinh tuý của
từng học thuyết tôn giáo. Người nhận thức rằng, Thiên chúa giáo cũng như các giáo lý
tôn giáo khác đều hướng đến việc mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho
xã hội. Vì vậy, Thiên chúa giáo bên cạnh ý nghĩa chính trị còn mang đậm yếu tố văn hoá,
đạo đức. Với ý nghĩa đó, Thiên chúa giáo đã trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận
quần chúng nhân dân lao động. 14
Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã chắt lọc những yếu tố hợp lý, có giá trị lâu dài trong
những tư tưởng của Thiên chúa giáo để làm phong phú thêm tư tưởng của Người trên
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần lãnh đạo cách mạng Việt Nam tới thành công.
Trong đó nổi bật là quan điểm “Đạo thiên chúa nói riêng và tôn giáo nói chung cùng
đồng hành với dân tộc, với cách mạng nước ta”. Quan điểm này của Hồ Chí Minh được
thể hiện rõ ở bài “Ai phá đạo” của Người được đăng trên báo Nhân dân ngày 6/7/1955.
Bài báo phê phán ý kiến cho rằng Đảng và Nhà nước ta tôn trọng tự do tín ngưỡng của
đồng bào có đạo chỉ là sách lược, nhất thời, còn về lâu dài tôn giáo không thể đồng hành
với những người cộng sản.
Hồ Chí Minh đánh giá cao tư tưởng đại đồng, tư tưởng nhân văn, ca ngợi lòng nhân
ái cao cả của Thiên Chúa giáo. Trong bức thư gửi cho đồng bào công giáo nhân dịp Noel
năm 1945, năm độc lập đầu tiên của nước nhà Người đã viết: “Đức Thiên Chúa đã giáng
sinh để cứu vớt nhân loại. Đức Thiên Chúa là một tấm gương hy sinh triệt để vì những
người bị bóc lột, vì những dân tộc bị áp bức, vì hòa bình, vì công lý”.
Người từng viết: "Chúa Suê dạy: Đạo đức là bác ái”. Tiếp thu tư tưởng nhân ái bao
la của Đức Chúa Giêsu, song Hồ Chí Minh cũng thấy rằng, "cách đây 2000 năm, Đức
Chúa Suê đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được”.
Thứ hai, kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo
Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể
không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên
chúa giáo. Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy
sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người,
thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những
giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy.
Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”:
dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ
em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và
phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu 15
cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây
thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ
trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”.
Thứ ba, vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thương người, mà
còn phải hành động như thế nào để giải thoát cảnh cực khổ của những người bất hạnh.
Khi tiếp thu triết lý thương người của mọi tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tìm cách giải
thoát những con người đang bị áp bức, bóc lột ra khỏi lầm than, cơ cực. Khi đồng cảm
với triết lý thương người của Đức Chúa Giêsu, Người không dừng lại ở triết lý ấy trong
suy nghĩ mà luôn hành động, luôn thực hiện cái triết lý ấy trong hoạt động thực tiễn. Giáo
sư Trần Văn Giàu, khi nghiên cứu tình thương yêu bao la của Hồ Chí Minh, đã viết rằng:
"Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của những lớp người
hèn yếu, lao khổ của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý thức, lực lượng của mình”
3. Đối với học thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên
Thứ nhất, tư tưởng của Tôn Dật Tiên in đậm dấu ấn trong tư tưởng của Người, Hồ
Chí Minh đã kế thừa, phát triển nhiều nội dung tư tưởng của Tôn Dật Tiên.
Sinh thời, Hồ Chí Minh cũng đã từng được nghe những từ “dân sinh”, “dân quyền”,
“dân quốc” do các nhà Nho yêu nước nói đến trong khi đàm luận với cụ Nguyễn Sinh
Sắc… với lòng tôn kính, khâm phục và trân trọng. Trong Tạp chí Thư tín quốc tế số 57
(năm 1924), Nguyễn Ái Quốc đã viết: Tôn Dật Tiên - người cha của cách mạng Trung
Quốc, người đã một đời đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thế giới để giải phóng quần
chúng nhân dân. Nhưng phải sau khi về tới Quảng Châu (1924), Nguyễn Ái Quốc mới có
điều kiện tiếp xúc trực tiếp với chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn qua sách vở và
học trò của Tôn Văn, nghiên cứu và đánh giá rất cao chủ nghĩa ấy và thấy có những tư
tưởng tiến bộ, tích cực có nhiều điểm thích hợp với điều kiện nước ta. Hồ chí Minh đã
từng khẳng định: "Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với
điều kiện nước ta".
Cách lãnh đạo cách mạng của Tôn Trung Sơn cũng được Người quan tâm và học
tập, đặc biệt là vận dụng đạo đức Nho giáo để tuyên truyền và giáo dục tinh thần cách
mạng cho quần chúng. Coi những người lãnh đạo, nhân viên phải trung với nước, là đầy
tớ của quần chúng nhân dân. Chính tư tưởng trên đã được Hồ Chí Minh vận dụng thành 16
những lời nhắc nhở, giáo dục cho cán bộ, đảng viên chúng ta: “cán bộ là đầy tớ của nhân
dân”, cán bộ phải “trung với nước, hiếu với dân”, phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư”, “phải khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” ...
Người chủ trương xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có độc lập, tự do,
hạnh phúc. Mong ước duy nhất của Người là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, cũng
được học hành, ai cũng được hạnh phúc. Người mong mỏi độc lập cho nhân dân, tự do
cho đồng bào. Người khẳng định nếu dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu thì quyền lợi của
bộ phận, giai cấp ngàn năm cũng không đòi lại được. Có tự do cho dân tộc thì mới có tự
do cho mỗi người. Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc là niềm mong
mỏi khôn nguôi của Người.
Thứ hai, Người thận trọng lọc ra, bảo tồn và phát triển hạt nhân dân chủ cách
mạng của Tôn Dật Tiên nhào nặn với thực tiễn Việt Nam, dưới ánh sáng tư tưởng Chủ
nghĩa Mác- Lênin, hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh mang bản chất dân tộc, phản ánh
quy luật phát triển của lịch sử.
Con đường sau giành độc lập dân tộc đã được Hồ Chí Minh định hướng rõ là độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, có như thế thì dân quyền mới tự do, dân sinh
mới hạnh phúc. Nếu như Tôn Dật Tiên với nguyên tắc “dân quyền tự do” thì Hồ Chí
Minh của chúng ta lại phấn đấu xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi
quyền lợi hạnh phúc đều thuộc về nhân dân. Người quan niệm nhà nước ấy mới thực hiện
được sự phát triển hài hoà giữa cá nhân và xã hội, giữa độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người.
Hồ Chí Minh nói: “Độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập
cũng không có nghĩa lý gì”. Do đó, giành độc lập rồi phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã
hội vì chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, là mọi người được ăn no,
mặc ấm, sung sướng tự do. Sự phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là
một đảm bảo vững chắc cho nền độc lập của dân tộc. Dẫn chứng là trong “Lời kêu gọi thi
đua ái quốc” viết ngày 11/6/1948, Hồ Chí Minh đã coi sự nghiệp cách mạng của Việt
Nam là quyết tâm hoàn thành ba mục tiêu tương tự ba chủ nghĩa mà Tôn Trung Sơn đã
đề ra: “…Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả
đầu tiên của thi đua ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn, đủ mặc; Toàn dân biết đọc, biết viết;
Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để giết giặc ngoại xâm; Toàn quốc sẽ thống nhất 17
độc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh
hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra”. Ở đây cũng cần lưu
ý rằng, Hồ Chí Minh thực hiện vấn đề đó là để làm cơ sở vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã
hội, chứ không như Tôn Trung Sơn thực hiện tam dân chủ nghĩa để thiết lập một xã hội
có bản chất tư bản. Cho nên ở đây có sự kết hợp hữu cơ giữa việc khái quát của Hồ Chí
Minh về những nguyên tắc của chủ nghĩa tam dân với phương hướng, mục tiêu đi lên chủ
nghĩa xã hội của Việt Nam.
Qua đó, cho ta thấy tư tưởng của Bác đã toát lên ảnh hưởng của tư tưởng Tôn Dật
Tiên, về sau ta còn thấy "tứ dân" của Bác đó là: dân tộc, dân quyền, dân sinh, dân trí;
nghĩa là phát triển từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên. Hơn nữa, chính sách của
Tôn Trung Sơn: thân Nga, liên Cộng, phù trợ Công nông cũng phù hợp với đường lối
cách mạng Việt Nam và chính sách ấy đã được Hồ Chí Minh kết hợp một cách thật tài
tình để giải phóng dân tộc Việt Nam, tạo ra một Việt Nam trong nhân loại, một tình hữu
ái vô sản toàn thế giới như Ăngghen đã nói: Những tư tưởng dân tộc chân chính trong
phong trào công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư
sản, nằm trong hệ tư tưởng tư sản nên có nhiều hạn chế. Hồ Chí Minh đã nhận thấy
những hạn chế ấy, cho nên khi cụ Phan Bội Châu định chuyển Việt Nam Quang Phục hội
thành Việt Nam Quốc dân Đảng, theo cương lĩnh của Tôn Dật Tiên thì Nguyễn Ái Quốc
đã có những lời khuyên chân tình là không thể dừng lại ở những chủ trương của Quốc dân đảng.
Hơn nữa, khi vận dụng “chính sách” mà Người cho là thích hợp với điều kiện cụ thể
của Việt Nam như khẩu hiệu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” rút ra từ chủ nghĩa Tam Dân
và tư tưởng “Tự do - bình đẳng - bác ái” của cách mạng tư sản Pháp thành tiêu ngữ của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thì Người đã phát triển khái niệm “Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc” lên một tầm cao mới, mang tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính
cách mạng triệt để của cách mạng dân tộc dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai
cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng.
4. Đối với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của
học thuyết Mác về con người và phát triển con người toàn diện. 18
Học thuyết Mác đã được cả cộng đồng nhân loại tiến bộ thừa nhận là học thuyết về
con người, về sự nghiệp giải phóng con người, trong đó sự phát triển con người toàn diện
là một nội dung cốt lõi. Chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã thức tỉnh và làm hoàn thiện chủ
nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với thời đại mới. Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin
đã cung cấp cách nhìn mới về thế giới cho mình, Người viết: “Luận cương của Lênin làm
cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc
lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông
đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con
đường giải phóng chúng ta”. Vận dụng và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh
đã giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và người lãnh đạo cách mạng ở
Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỉ XX.
Người thấy rõ nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng mácxít là thống nhất
giữa lý luận với thực tiễn. Người viết: “Trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận,
đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo
điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì
cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết
luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động… Phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác - Lênin cho
thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”. Do vậy, theo Người, “học tập
chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối
với bản thân mình… Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”, chứ không phải “học
thuộc lòng”, “học để trang sức” .
Người nhận thức được mối quan hệ tương hỗ giữa cái riêng và cái chung, giữa dân
tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, dân tộc và tộc người, cá nhân và xã hội, lý
luận và thực tiễn trong quá trình phát triển. Trên cơ sở lập trường ấy, Hồ Chí Minh đã
triệt để kế thừa, đổi mới, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại kết hợp thực tiễn cách mạng trong nước và thế giới để
hình thành nên một hệ thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác vào hoàn
cảnh lịch sử và cụ thể của Việt Nam.
Qua luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt
Nam – con đường giải phóng dân tộc. Từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam và 19