










Preview text:
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
KHỐI KIẾN THỨC 1 (5,0 điểm)
1. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau:
a. Nội dung định nghĩa
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
b. Phân tích định nghĩa
- Về mặt phương pháp, Lênin không sử dụng phương pháp thông thường để định nghĩa khái niệm vật chất. Về mặt nhận thức luận, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với phạm trù đối lập của nó, đó là phạm trù ý thức. Nói cách khác, đây là phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với cái cần định nghĩa.
- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
+ “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức.
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày.
- Vật chất là “thực tại khách quan”
Định nghĩa đã chỉ ra đặc tính quan trọng nhất của vật chất là tính khách quan, tức là thuộc tính tồn tại không lệ thuộc vào ý thức con người, dù con người có nhận thức được nó hay không. Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.
- Vật chất là tất cả những gì “được đem lại cho con người trong cảm giác”
Điều này khẳng định rằng, vật chất là cái có trước, cảm giác (ý thức) là cái có sau, vật chất là cái đóng vai trò quyết định đến nguồn gốc và nội dung khách quan của ý thức. Bởi thực tại khách quan đưa lại cảm giác cho con người chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan. Như vậy, định nghĩa đã giải quyết được mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Vật chất là những gì “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Nghĩa là thế giới vật chất không phải tồn tại thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện cụ thể dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể mà các giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp. Qua đó, khẳng định rõ, con người có thể nhận thức được thế giới khách quan. Ở điểm này, định nghĩa đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bản triết học trên lập trường của khả tri luận.
c. Ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa
- Định nghĩa đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Định nghĩa đã cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống lại những khuynh hướng nhận thức sai lầm về vật chất; bảo vệ, phát triển lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Định nghĩa đòi hỏi phải quán triệt nguyên tắc khách quan trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng.
- Định nghĩa là cơ sở khoa học để xác định sự tồn tại đa dạng, phong phú của vật chất trong lĩnh vực xã hội.
2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm:
- Quan điểm siêu hình không thừa nhận mối liên hệ của sự vật, hiện tượng. Theo quan điểm này, sự vật hiện tượng trong thế giới về cơ bản không có sự liên hệ, ràng buộc, quy định lẫn nhau. Thế giới chỉ là một tập hợp rời rạc các sự vật cô lập nhau.
- Quan điểm duy tâm lý giải cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng từ cảm giác chủ quan hoặc từ một thực thể tinh thần huyền bí nào đó (Thượng đế, Ý niệm, Tinh thần thế giới…)
- Phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ hữu cơ của các sự vật, hiện tượng và coi đó là nguyên lý tồn tại của thế giới. Cơ sở của mối liên hệ phổ biến đó là tính thống nhất vật chất của thế giới.
Vậy mối liên hệ là gì? - là sự quy định, ảnh hưởng, ràng buộc, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng.
b. Tính chất cơ bản của mối liên hệ
- Tính khách quan: Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nó có tính khách quan, xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới.
- Tính phổ biến: Phép biện chứng duy vật thừa nhận liên hệ giữa các sự vật hiện tượng diễn ra trong mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội và tư duy).
- Tính đa dạng phong phú: Phép biện chứng duy vật cũng chỉ ra rằng, liên hệ của thế giới rất đa dạng, bởi thế giới bao gồm vô số sự vật hiện tượng muôn vẻ khác nhau. Căn cứ vào tính chất, vai trò, phạm vi của mối liên hệ, chúng ta có thể phân biêt thành nhiều loại khác nhau (cho thấy sự đa dạng và phong phú):
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp…
Lưu ý: Sự phân chia thành các loại mối liên hệ như trên chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì mỗi loại liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến của thế giới xét như một chỉnh thể. Tuy nhiên, sự phân loại các liên hệ là cần thiết, vì rằng vị trí của từng mối liên hệ trong việc quy định sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng không như nhau.
c. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Yêu cầu của quan điểm toàn diện: xem giáo trình
- Khi xem xét sự vật, hiện tượng từ quan điểm toàn diện, phải quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể nhằm có được cái nhìn linh hoạt, tránh giáo điều, rập khuôn.
3. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật về sự chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức chung nhất của mọi sự phát triển.
a. Khái niệm
- Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác.
Chất của sự vật, hiện tượng được xác định bởi bởi cấu trúc của sự vật hoặc mối quan hệ của sự vật đó với những sự vật khác.
Các đặc điểm của chất: tồn tại khách quan, tương đối ổn định.
- Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật.
Các đặc điểm của lượng: tồn tại khách quan, thường xuyên biến đổi
b. Nội dung quy luật
- Chất và lượng của sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau. Trong đó, lượng là yếu tố thường xuyên biến đổi hơn, chất là yếu tố tương đối ổn định.
- “Độ” là khoảng giới hạn trong đó chất và lượng tạm thời thống nhất (lượng thay đổi nhưng chất chưa thay đổi về căn bản).
- “Điểm nút” là giới hạn của độ mà tại đó lượng đã tích luỹ đủ và bắt đầu diễn ra quá trình chuyển hoá căn bản về chất của sự vật, hiện tượng.
- “Bước nhảy” là sự chuyển hoá căn bản về chất của sự vật, hiện tượng diễn ra tại điểm nút. Có thể phân chia các hình thức bước nhảy như sau:
+ Căn cứu vào phạm vi bước nhảy có thể phân chia thành: bước nhảy trong tự nhiên (mang tính tự phát) và bước nhảy trong xã hội (có tính tự giác thông qua hoạt động có ý thức và mục đích của con người).
+ Căn cứ vào quy mô bước nhảy, có thể phân chia thành: bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ. Về nguyên tắc, bước nhảy toàn bộ bao giờ cũng bắt đầu từ và trên cơ sở những bước nhảy cục bộ.
+ Căn cứ vào tốc độ, nhịp điệu của bước nhảy, có thể phân chia thành: bước nhảy dần dần và bước nhảy đột biến.
- Chất thay đổi tác động trở lại làm thay đổi cấu trúc, tính chất, quy mô về lượng của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tránh hai khuynh hướng sai lầm:
+ tả khuynh (tuyệt đối hoá mặt chất): Biểu hiện của khuynh hướng này là sự chủ quan, nóng vội, duy ý chí trong việc tạo ra những thay đổi về chất nhưng không tích lũy về lượng.
+ hữu khuynh (tuyệt đối hoá mặt lượng): Biểu hiện của khuynh hướng này là sự bảo thủ, trì trệ, ngại thay đổi khi điều kiện đã chín muồi (lượng đã đạt đến điểm nút).
5. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
a. Khái niệm thực tiễn
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất của con người nhằm cải biến thế giới.
- Tính chất cơ bản của thực tiễn:
+ Tính có mục đích
+ Tính lịch sử - xã hội.
- Hoạt động thực tiễn gồm 3 hình thức cơ bản:
+ Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức cơ bản và đầu tiên của thực tiễn, là cơ sở cho các hoạt động thực tiễn khác.
+ Hoạt động chính trị - xã hội: là hình thức có trình độ cao nhất của thực tiễn.
+ Hoạt động yhực nghiệm khoa học: là hình thức đặc thù của thực tiễn
Nhận thức là một quá trình phản ánh thế giới khách quan một cách năng động, sáng tạo trên cơ sở thực tiễn nhằm mang lại cho con người tri thức về thế giới khách quan đó.
b. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức.
Trong hoạt động thực tiễn làm xuất hiện những nhu cầu buộc con người phải nhận thức thế giới. Vì vậy mà con người nhận thức thế giới thông qua thực tiễn.
Thực tiễn cung cấp những tài liệu cho quá trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được bản chất, các quy luật của thế giới.
Thực tiễn còn làm hoàn thiện giác quan của con người, tạo ra những phương tiện làm tăng khả năng nhận biết của các giác quan nhờ đó nó thúc đẩy nhận thức phát triển.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức.
Tri thức do nhận thức đem lại chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi áp dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn. Như vậy, nhận thức không phải là để nhận thức mà có mục đích cuối cùng, đó là giúp cho con người trong hoạt động biến đổi thế giới.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức.
Nhận thức phải thông qua thực tiễn mới kiểm tra được tính chân lý của nó. Chỉ trong thực tiễn, con người mới xác định được cái đúng đắn, cái sai lầm và giới hạn của tính đúng đắn của mọi tri thức do nhận thức đem lại.
- Ý nghĩa phương pháp luận: Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, triết học Mác-Lênin yêu cầu cần phải luôn quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm thực tiễn yêu cầu:
+ Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn.
+ Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn; khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa.
KHỐI KIẾN THỨC 2 (5,0 điểm):
5. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
a. Khái niệm “lực lượng sản xuất”, “quan hệ sản xuất”
- Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất, tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra năng lực sản xuất của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Khái niệm này biểu thị mối quan hệ giữa người và tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất;
- Về kết cấu, lực lượng sản xuất được tạo thành từ nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có ba yếu tố cơ bản sau: Người lao động; tư liệu sản xuất (mà nhân tố hàng đầu là công cụ lao động), và khoa học công nghệ.
- Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kỹ thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của người lao động, qui mô sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội…
- Quan hệ sản xuất là khái niệm biểu thị mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Nói cách khác, quan hệ sản xuất chính là quan hệ kinh tế giữa người và người.
- Quan hệ sản xuất bao gồm 3 phương diện cơ bản:
+ Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất;
+ Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất;
+ Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động.
Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất giữa vai trò quyết định.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng phản ánh hai mối quan hệ khác nhau, đặc trưng phát triển không giống nhau, nhưng chúng có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời và tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.
- Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện ở chỗ:
+ Lực lượng sản xuất thế nào thì quan hệ sản xuất phải thế ấy tức là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Khi lực lượng sản xuất biến đổi quan hệ sản xuất sớm muộn cũng phải biến đổi theo.
+ Lực lượng sản xuất quyết định cả ba mặt của quan hệ sản xuất tức là quyết định cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phân phối sản phẩm.
- Tuy nhiên, quan hệ sản xuất với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất luôn có tác động trở lại lực lượng sản xuất. Sự tác động này diễn ra theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng của lực lượng sản xuất.
+ Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo ra tác động tích cực, thúc đẩy và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
+ Nếu không phù hợp sẽ tạo ra tác động tiêu cực, tức là kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn. Chính sự giải quyết mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất. Nó là cơ sở để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ hiện tượng xã hội và sự biến động trong đời sống chính trị, văn hóa của xã hội.
- Từ nội dung quy luật này cho thấy sự đúng đắn trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và nhà nước ta khi đổi mới kịp thời (Đại hội VI), chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy mọi nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nói cách khác, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tạo lập sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất nhằm tạo tiền đề cần thiết cho con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
6. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
a. Khái niệm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó.
Cơ sở hạ tầng có các tính chất sau:
+ Tính không thuần nhất
+ Tính giai cấp
+ Tính lịch sử
- Kiến trúc thượng tầng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị-xã hội tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Kiến trúc thượng tầng có các tính chất sau:
+ Tính không thuần nhất
+ Tính giai cấp
+ Tính lịch sử
Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
+ Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung và tính chất của kiến trúc thượng tầng. Theo đó, nội dung và tính chất của kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh đối với cơ sở hạ tầng.
+ Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng.
- Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng có thể thông qua nhiều phương thức, hình thức tùy thuộc vào bản chất của mỗi nhân tố trong kiến trúc thượng tầng, phụ thuộc vào vai trò, vị trí của nó và những điều kiện cụ thể.
Trong điều kiện kiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phương thức và hình thức tác động của các yếu tố khác tới cơ sở kinh tế phải thông qua nhân tố nhà nước và pháp luật mới thực sự phát huy vai trò thực tế của nó. Nhà nước là nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất tới cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễn ra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực. Khi các yếu tố của kiến trúc thượng tầng phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế nó sẽ tạo ra tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, ngược lại nếu các yếu tố của kiến trúc thượng tầng không phù hợp nó sẽ kìm hãm, phá hoại sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, dù kiến trúc thượng tầng có tác động như thế nào tới cơ sở hạ tầng thì nó cũng không thể giữ vai trò quyết định cơ sở hạ tầng của xã hội.
7. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về cách mạng xã hội
a. Khái niệm “cách mạng xã hội”
- Cách mạng xã hội là sự biến đổi có tính chất bước ngoặt và căn bản về chất trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là bước nhảy vọt trong sự phát triển xã hội mà kết quả là sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn.
- Đặc trưng của cách mạng xã hội là sự thay đổi chính quyền nhà nước từ tay giai cấp thống trị lỗi thời sang tay giai cấp cách mạng.
- Phân biệt cách mạng xã hội và cải cách xã hội.
+ Giống nhau: Cả hai đều dùng để chỉ sự thay đổi mang tính bước ngoặt, thúc đẩy xã hội phát triển cao hơn.
- Khác nhau:
+ Cách mạng xã hội tạo ra sự chuyển hóa từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn, trong đó quan trọng nhất là sự thay đổi về bản chất của chế độ chính trị theo hướng tiến bộ.
+ Cải cách xã hội có thể diễn ra trên một hay một số lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi một hình thái kinh tế - xã hội, nhằm hoàn thiện hình thái kinh tế - xã hội đó. Cải cách xã hội không tạo ra sự thay đổi về bản chất của chế độ chính trị.
- Cách mạng xã hội cũng khác với đảo chính. Đảo chính là khái niệm dùng để chỉ những sự biến tranh giành địa vị quyền lực nhà nước giữa các lực lượng chính trị (thường trong cùng một giai cấp) nhưng chủ trương không thay đổi bản chất chế độ hiện thời.
b. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội
- Điều kiện khách quan:
Là điều kiện khủng hoảng về kinh tế, chính trị - xã hội dẫn đến xuất hiện tình thế cách mạng (một trạng thái đặc biệt của điều kiện khách quan) với ba dấu hiệu cơ bản:
+ Giai cấp thống trị không thể duy trì được nền thống trị dưới hình thức bất di bất dịch. Sự khủng hoảng của giai cấp thống trị đã trở nên trầm trọng.
+ Nỗi cùng khổ, quẫn bách của giai cấp bị áp bức trở nên nặng nề hơn mức bình thường.
+ Tính tích cực của quần chúng nhân dân được nâng lên rất nhiều, và họ sẵn sàng hành động vì cuộc đổi thay lịch sử.
- Nhân tố chủ quan:
+ Năng lực lãnh đạo của giai cấp cách mạng mà đại biểu là chính đảng của nó, đặc biệt là năng lực nhận thức quy luật về cách mạng xã hội.
+ Giai cấp cách mạng có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn.
+ Giai cấp cách mạng có năng lực tổ chức, tập hợp lực lượng quần chúng.
+ Biết nắm vững tình thế và thời cơ cách mạng, và khi hội đủ điều kiện, đảng cách mạng chủ động thúc đẩy tình thế cách mạng phát triển để đạt được mục tiêu cách mạng
Tóm lại, trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, muốn cách mạng nổ ra và thắng lợi, phải là sự kết hợp giữa các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, kết hợp giữa tình thế, thời cơ cách mạng và khả năng lãnh đạo của các chính đảng cách mạng.
8. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân
a. Khái niệm quần chúng nhân dân
- Quần chúng nhân dân là bộ phận dân cư đông đảo trong xã hội có cùng chung lợi ích căn bản được tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của một cá nhân kiệt xuất hoặc một tổ chức chính trị nhằm giải quyết những nhiệm vụ do lịch sử đặt ra.
- Quần chúng nhân dân không phải là một khái niệm vĩnh viễn, bất biến mà biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử. Nói cách khác, quần chúng nhân dân là một khái niệm có tính lịch sử.
- Lực lượng cơ bản của quần chúng nhân dân
+ Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất - hạt nhân của quần chúng nhân dân.
+ Bộ phận dân cư có lợi ích cơ bản đối lập với giai cấp thống trị.
+ Những giai cấp, những tầng lớp tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trong xã hội.
c. Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử:
+ Quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội.
+ Quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo chân chính các giá trị tinh thần của xã hội.
+ Quần chúng nhân dân là chủ thể của mọi bước ngoặt trong lịch sử, là nhân tố quyết định đến sự thắng lợi của mọi cuộc cách mạng xã hội. “Cách mạng là ngày hội của quần chúng” (C.Mác); rằng “Viết về cách mạng mà không nói gì đến quần chúng nhân dân thì cũng chẳng khác nào dựng vở kịch Hamlet của Shakespeare mà không có chính bản thân Hamlet”.
Lưu ý: Vai trò quyết định của quần chúng nhân dân phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với vai trò của vĩ nhân - lãnh tụ.
Ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân có ý nghĩa phương pháp luận khoa học quan trọng định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, cung cấp phương pháp luận khoa học để Đảng ta huy động, tổ chức xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, tập hợp đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Điều này càng trở nên có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.