lOMoARcPSD| 61716317
7. Sự kế thừa và phát triển của các bản hiến pháp Việt Nam
Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, Việt Nam đã
5 bản Hiến pháp. Mỗi bản hiến pháp đều đánh dấu một bước phát triển mới
của đất nước.
a. Hiến pháp năm 1946
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng a. Trong phiên họp đầu tiên của
Chính phủ vào ngày 03/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm
vụ cấp bách của Chính phủ; một trong những nhiệm vụ cấp bách
đó là xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam.
Sự ra đời của hiến pháp năm 1946 là khẳng định mạnh mẽ về mặt
pháp chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập
và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Tuy
nhiên, do nhoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội
thông qua hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ), bản
Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố nhưng tinh
thần và nội dung bản Hiến pháp năm 1946 luôn được Chính phủ
dưới slãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với ban thường
vụ Quốc hội dựa vào để điều hành mọi hoạt động của nhà nước.
Tư tưởng lập hiến của Hiến pháp năm 1946 luôn được kế thừa và
phát triển trong các bản hiến pháp sau này.
b. Hiến pháp năm 1959:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đi lên xây
dựng chủ nghĩa hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh đhoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành smạng lịch sử của nhưng
so với tình nh nhiệm vụ cách mạng mới cần được bổ sung
thay đổi. vậy, trong họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa khóa I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp
năm 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
Tháng 12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã nhất trí thông
qua bản Hiến pháp sửa đổi ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã kí sắc lệnh công bố Hiến pháp.
lOMoARcPSD| 61716317
Với 10 chương, 112 điều, Hiến pháp năm 1959 đã phát huy tinh
thần của Hiến pháp năm 1946, đồng thời phản ánh đầy đủ tình
hình thực tế của chế độ ta, phản ánh đúng đắn con đường đang
tiến lên của dân tộc.
bản Hiến pháp của một nước dân chủ nhân dân tiên tiến dần lên
chủ nghĩa hội, Hiến pháp năm 1959 khảng định nước Việt
Nam một nước thống nhất, tổ chức theo chỉnh thể Nhà nước
dân chủ cộng hòa, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, các quyền
tự do dân chủ được đảm bảo. Nhân dân sử dụng quyền lực của
mình thông qua Quốc hội Hội đồng nhân dân các cấp do nhân
dân bầu ra.
c. Hiến pháp năm 1980
Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975
đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc ta. Miền Nam
được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
đã được hoàn thành trên phạm vi cả nước. Nước ta đã được hoàn
toàn độc lập, tự do, điều kiện thuận lợi thống nhất hai miền
Nam-Bắc, đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa hội. Hiến pháp
năm 1959 đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đất nước Việt Nam
lại cần một bản hiến pháp mới để phù hợp với hòa cảnh lúc này.
Tháng 9/1980, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam đã họp kỳ đặc biệt để xem xétcho ý kiến bổ sung, chỉnh
trước khi trình Quốc hội thảo luận, thông qua. Ngày
18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông
qua Hiến pháp.
Với 12 chương, 147 điều, Hiến pháp năm 1980 đã xác định bản
chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản,
sứ mệnh lịch sử thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân xây dựng thắng lợi
chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Cũng tại bản Hiến pháp này, bên cạnh việc xác định vị trí, vai trò
của các tổ chức chính trị - hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Tổng công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản HC
Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử
lOMoARcPSD| 61716317
lập hiến Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
đối với Nhà nước hội đã được thể chế thành một điều của
Hiến pháp (Điều 4)…
d. Hiến pháp năm 1992:
Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp
năm 1980 tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội
của đất nước. Tình hình thực tiễn đòi hỏi phải một bản hiến
pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ của hội, xây
dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
Tiếp thu tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986), thần Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(12/1986), tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết
sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980.
Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những bổ sung, chỉnh lý nhất
định, ngày 15/4/1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp.
Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 là sản phẩm trí tuệ của toàn dân,
thể hiện ý chí nguyện vọng của đồng bào cả nước, bản Hiến
pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới.
Với 12 chương, 147 điều, Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa toàn
diện đường lối đổi mới của Đảng, đẩy mạnh đổi mới kinh tế, đổi
mới vững chắc về chính trị, khẳng định mục tiêu xây dựng chủ
nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã
lựa chọn; tiếp tục khẳng định tính chất của Nhà nước ta là Nhà
nước chuyên chính sản, mọi quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân.
Nhân dân sử dụng quyền lực nnước thông qua Quốc hội Hội
đồng nhân dân do Nhân dân bầu ra chịu trách nhiệm trước
Nhân dân. Tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước tập trung,
thống nhất, không phân chia các quyền lập pháp, hành pháp
tư pháp theo thuyết “Tam quyền phân lập”, chỉ có sự phân công,
phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao để mỗi quan thi hành có hiệu
lOMoARcPSD| 61716317
lực chức năng, quyền hạn của mình, với sự phối hợp hiệp đồng
chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà nước
thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
Nhân dân làm chủ đất nước, các quyền, nghĩa vụ của công dân,
quyền bản của con người được tôn trọng bảo vệ bằng pháp
luật, đồng thời cũng tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo nhà
nước, hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi tổ chức của
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật…
e. Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001:
Sau gần 10 năm có hiệu lực, Hiến pháp năm 1992 đã phát huy
được hiệu quả của một đạo luật cơ bản của nhà nước. Hiến pháp
năm 1992 thực sự tạo ra một sở pháp vững chắc để y
dựng nền kinh tế thị trường, định hướng hội chủ nghĩa, bảo vệ
các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng bộ máy nhà
nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, thực hiện chính
sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu hợp tác với tất cả
các nước trên thế giới phù hợp với xu thế hội nhập toàn cầu
hóa của thế giới hiện đại.
Tuy nhiên, sau một thập kỷ, tình hình kinh tế, chính trị, hội
nước ta đã những thay đổi nhất định, đòi hỏi Hiến pháp cần
phải được bổ sung, sửa đổi nhằm phát huy hơn nữa hiệu lực
hiệu quả của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban chấp nh Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội khóa X, họp thứ 9 đã ra
Nghị quyết số 43/2001/QH10 ngày 29/6/2001 về việc thành lập
Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
1992.
Sau một thời gian làm việc khẩn trương, với sự bàn bạc, thảo luận
dân chủ, công khai, ngày 25/12/2001, Quốc hội khóa X, kỳ họp
thứ 10 với đa số tuyệt đối đã nhất trí thông qua Nghị quyết số
51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bsung một sđiều của Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
lOMoARcPSD| 61716317
Với 24 vấn đề được sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi) đã đánh dấu một bước hoàn thiện chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, chế
định quyền nghĩa vụ bản của công dân, củng cố việc tổ
chức, phân công và phối hợp các nhánh quyền lực trong tổ chức
bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, Nhân dân một
mục tiêu dân giàu, ớc mạnh, hội công bằng, dân chủ, văn
minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
trên sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế;
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện nhất
quán chính sách phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể là nền tảng…
f. Hiến pháp 2013:
Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp m 1992, đất nước ta đã đạt
được những thành tự to lớn, ý nghĩa lịch sử. Đến nay, tình hình
trong nước, khu vực quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc
phức tạp hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời k
quá độ lên chủ nghĩa hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền
vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.
Vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII đã quyết định sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế
chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chnghĩa
của Nhân dân, do Nhân dân Nhân dân, hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn
lOMoARcPSD| 61716317
quyền con người, quyền nghĩa vụ bản của công dân; xây
dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chđộng hội nhập quốc tế.
Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, tại Kỳ
họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII. Đây bản Hiến pháp được chuẩn
bị công phu, chắt lọc, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp xây
dựng của nhân dân, của các vị đại biểu Quốc hội, các chuyên gia,
nhà khoa học, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân,
đảm bảo chính trị, pháp lý vững chắc cho dân tộc ta, nhân dân ta
Nhà nước ta vượt qua những thách thức, khó khăn, vững bước
tiến lên trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới đất nước, xây dựng bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế.
Đây là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam,
cụm từ “Nhân dân” được viết hoa để khẳng định đề cao vai
trò tính quyết định của nhân dân trong lịch sử dựng ớc
giữ nước.
Đây cũng là bản Hiến pháp vừa kế thừa được các giá trị to lớn của
các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 năm 1992,
vừa thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát
triển đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kquá độ lên chủ nghĩa hội (bổ sung, phát triển
năm 2011).
Với bố cục 11 chương, 120 điều, giảm 1 chương 27 điều so với
Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 nhiều điểm mới cả
về nội dung kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc, toàn diện sự
đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, thể hiện rõ và đầy đủ
hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước chế độ ta trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo.
Qua phần phân tích trên thể khẳng định rằng, Hiến pháp
2013 cột mốc mới đánh dấu sự phát triển, tiến bộ của nền
lập hiến Việt Nam về tư tưởng dân chủ, về tổ chức, kiểm soát
lOMoARcPSD| 61716317
quyền lực nhà nước, về bảo vệ các quyền con người, quyền
công dân và về kĩ thuật lập hiến.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61716317
7. Sự kế thừa và phát triển của các bản hiến pháp Việt Nam
Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, Việt Nam đã
có 5 bản Hiến pháp. Mỗi bản hiến pháp đều đánh dấu một bước phát triển mới của đất nước.
a. Hiến pháp năm 1946
 Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong phiên họp đầu tiên của
Chính phủ vào ngày 03/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm
vụ cấp bách của Chính phủ; một trong những nhiệm vụ cấp bách
đó là xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam.
 Sự ra đời của hiến pháp năm 1946 là khẳng định mạnh mẽ về mặt
pháp lý chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập
và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Tuy
nhiên, do nhoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội
thông qua hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ), bản
Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố nhưng tinh
thần và nội dung bản Hiến pháp năm 1946 luôn được Chính phủ
dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với ban thường
vụ Quốc hội dựa vào để điều hành mọi hoạt động của nhà nước.
 Tư tưởng lập hiến của Hiến pháp năm 1946 luôn được kế thừa và
phát triển trong các bản hiến pháp sau này.
b. Hiến pháp năm 1959:
 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đi lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh để hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
 Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó nhưng
so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung
và thay đổi. Vì vậy, trong kì họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa khóa I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp
năm 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
 Tháng 12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã nhất trí thông
qua bản Hiến pháp sửa đổi và ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã kí sắc lệnh công bố Hiến pháp. lOMoAR cPSD| 61716317
 Với 10 chương, 112 điều, Hiến pháp năm 1959 đã phát huy tinh
thần của Hiến pháp năm 1946, đồng thời phản ánh đầy đủ tình
hình thực tế của chế độ ta, phản ánh đúng đắn con đường đang tiến lên của dân tộc.
 Là bản Hiến pháp của một nước dân chủ nhân dân tiên tiến dần lên
chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 1959 khảng định nước Việt
Nam là một nước thống nhất, tổ chức theo chỉnh thể Nhà nước
dân chủ cộng hòa, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, các quyền
tự do dân chủ được đảm bảo. Nhân dân sử dụng quyền lực của
mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra.
c. Hiến pháp năm 1980
 Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975
đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc ta. Miền Nam
được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
đã được hoàn thành trên phạm vi cả nước. Nước ta đã được hoàn
toàn độc lập, tự do, là điều kiện thuận lợi thống nhất hai miền
Nam-Bắc, đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp
năm 1959 đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đất nước Việt Nam
lại cần một bản hiến pháp mới để phù hợp với hòa cảnh lúc này.
 Tháng 9/1980, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam đã họp kỳ đặc biệt để xem xét và cho ý kiến bổ sung, chỉnh
lý trước khi trình Quốc hội thảo luận, thông qua. Ngày
18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp.
 Với 12 chương, 147 điều, Hiến pháp năm 1980 đã xác định bản
chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản,
có sứ mệnh lịch sử là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân xây dựng thắng lợi
chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
 Cũng tại bản Hiến pháp này, bên cạnh việc xác định vị trí, vai trò
của các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Tổng công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử lOMoAR cPSD| 61716317
lập hiến Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
đối với Nhà nước và xã hội đã được thể chế thành một điều của Hiến pháp (Điều 4)…
d. Hiến pháp năm 1992:
 Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp
năm 1980 tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội
của đất nước. Tình hình thực tiễn đòi hỏi phải có một bản hiến
pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, xây
dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
 Tiếp thu tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986), thần Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(12/1986), tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết
sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980.
 Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những bổ sung, chỉnh lý nhất
định, ngày 15/4/1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp.
 Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 là sản phẩm trí tuệ của toàn dân,
thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước, là bản Hiến
pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới.
 Với 12 chương, 147 điều, Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa toàn
diện đường lối đổi mới của Đảng, đẩy mạnh đổi mới kinh tế, đổi
mới vững chắc về chính trị, khẳng định mục tiêu xây dựng chủ
nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã
lựa chọn; tiếp tục khẳng định tính chất của Nhà nước ta là Nhà
nước chuyên chính vô sản, mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.
 Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
Nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là tập trung,
thống nhất, không phân chia các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp theo thuyết “Tam quyền phân lập”, chỉ có sự phân công,
phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao để mỗi cơ quan thi hành có hiệu lOMoAR cPSD| 61716317
lực chức năng, quyền hạn của mình, với sự phối hợp và hiệp đồng
chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà nước
thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
 Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
Nhân dân làm chủ đất nước, các quyền, nghĩa vụ của công dân,
quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ bằng pháp
luật, đồng thời cũng tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo nhà
nước, xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi tổ chức của
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật…
e. Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001:
 Sau gần 10 năm có hiệu lực, Hiến pháp năm 1992 đã phát huy
được hiệu quả của một đạo luật cơ bản của nhà nước. Hiến pháp
năm 1992 thực sự tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc để xây
dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng bộ máy nhà
nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, thực hiện chính
sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả
các nước trên thế giới phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu
hóa của thế giới hiện đại.
 Tuy nhiên, sau một thập kỷ, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở
nước ta đã có những thay đổi nhất định, đòi hỏi Hiến pháp cần
phải được bổ sung, sửa đổi nhằm phát huy hơn nữa hiệu lực và
hiệu quả của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
 Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội khóa X, kì họp thứ 9 đã ra
Nghị quyết số 43/2001/QH10 ngày 29/6/2001 về việc thành lập
Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992.
 Sau một thời gian làm việc khẩn trương, với sự bàn bạc, thảo luận
dân chủ, công khai, ngày 25/12/2001, Quốc hội khóa X, kỳ họp
thứ 10 với đa số tuyệt đối đã nhất trí thông qua Nghị quyết số
51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. lOMoAR cPSD| 61716317
 Với 24 vấn đề được sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi) đã đánh dấu một bước hoàn thiện chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, chế
định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, củng cố việc tổ
chức, phân công và phối hợp các nhánh quyền lực trong tổ chức
bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân vì một
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế;
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện nhất
quán chính sách phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể là nền tảng… f. Hiến pháp 2013:
 Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt
được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đến nay, tình hình
trong nước, khu vực và quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc
và phức tạp hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và
các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền
vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
 Vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII đã quyết định sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế
và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn lOMoAR cPSD| 61716317
quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây
dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
 Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, tại Kỳ
họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII. Đây là bản Hiến pháp được chuẩn
bị công phu, chắt lọc, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp xây
dựng của nhân dân, của các vị đại biểu Quốc hội, các chuyên gia,
nhà khoa học, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân,
đảm bảo chính trị, pháp lý vững chắc cho dân tộc ta, nhân dân ta
và Nhà nước ta vượt qua những thách thức, khó khăn, vững bước
tiến lên trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế.
 Đây là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam,
cụm từ “Nhân dân” được viết hoa để khẳng định và đề cao vai
trò có tính quyết định của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
 Đây cũng là bản Hiến pháp vừa kế thừa được các giá trị to lớn của
các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992,
vừa thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát
triển đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
 Với bố cục 11 chương, 120 điều, giảm 1 chương và 27 điều so với
Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới cả
về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc, toàn diện sự
đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, thể hiện rõ và đầy đủ
hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
 Qua phần phân tích trên có thể khẳng định rằng, Hiến pháp
2013 là cột mốc mới đánh dấu sự phát triển, tiến bộ của nền
lập hiến Việt Nam về tư tưởng dân chủ, về tổ chức, kiểm soát lOMoAR cPSD| 61716317
quyền lực nhà nước, về bảo vệ các quyền con người, quyền
công dân và về kĩ thuật lập hiến.