lOMoARcPSD| 58707906
Khái niệm
FDI (Foreign Direct Invesment) nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây nguồn
vốn quan trọng cho đầu phát triển không chỉ đối với các nước nghèo kể cả các nước
công nghiệp phát triển. Hiện nay có nhiều khái niệm về FDI như sau:
Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi
một nhà đầutừ một nước (nước chủ đầu tư) sở hữu một tài sản ở một nước khác (nước thu
hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Khía cạnh quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tài chính khác. Trong hầu hết các trường hợp, cả nhà đầu lẫn tài sản người đó
quản ớc ngoài đều các doanh nghiệp kinh doanh. Trong những trường hợp như vậy,
nhà đầu tư thường được gọi là “công ty m” và tài sản được gọi là “công ty liên kết” hoặc “công
ty con”.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): FDI một hoạt động đầu nhằm đạt được những lợi
ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế
ớc chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2005): FDI là hình thức đầu tư do đầu tư nước ngoài bỏ vốn
đầu tư Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầuvà tham gia quản lý hoạt động đầu
tư ở ớc ngoài.
Như vậy FDI (Foreign Direct Investment) di chuyển vốn quốc tế ới hình thức vốn sản
xuất thông qua việc nhà đầu một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời
trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, t chức sản xuất,…nhằm mục đích thu lợi nhuận.
1. Đặc điểm
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI có những đặc điểm cơ bản sau:
Thnht, FDI ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước đầu tư và nước nhận đầu
tư mà phụ thuộc nhiều vào môi trường đầu tư: Quốc gia nào có môi trường đầu tư tốt thì sẽ tăng
cường thu hút đầu tư vốn FDI.
Thhai, FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao bởi vì nhà đầu tư tự
quyết định đầu tư, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanhtự chịu trách nhiệm về
lỗ lãi. Nhà đầu nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu có tỉ suất lợi nhuận cao
nhất, tự quản sử dụng tiền vốn, sử dụng lao động cũng như công nghệ để đem lại hiệu quả
cao nhất.
Thứ ba, đối vi nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ mà được chia sẻ lợi ích theo mức
đóng góp. Điều này có nghĩa là FDI không phải là một khoản vay hay trợ cấp tớc đầu tư, mà
là một hình thức hợp tác cùng có lợi cho cả hai bên. Nhà đầu tư sẽ góp vốn, công nghệ, quản lý
và kinh doanh cho doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư, và sẽ thu lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp. Nước
lOMoARcPSD| 58707906
nhận đầu tư sẽ không phải trả lại vốn hay lãi cho nhà đầu tư, mà sẽ được hưởng các lợi ích khác
như: tăng cường nguồn vốn, nâng cao năng lực sản xuất, tạo việc m, chuyển giao công nghệ,
mở rộng thị trường, tăng thu ngân ch. Do đó, FDI một nguồn vốn hiệu quả an toàn cho
ớc nhận đầu tư.
Thtư, Giảm rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp trong nước. Khi hợp tác với các nhà
đầu nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ không phải chịu mt mình rủi ro tài chính,
mà sẽ được phân chia theo tỷ lệ vốn góp nếu có thất bi.
2. Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư
Thnht, FDI bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. FDI một trong những
nguồn bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nưc nhận đầu tư, đặc biệt đối với các nước
đang và kém phát triển.
Thứ hai, ớc nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệ, k thuật hiện đại, trình độ quản lý
tiên tiến của nước ngoài. Khi đầu vào một quốc gia, nhà đầu không ch đem theo tiền mà
còn mang theo các thiết bị, nguyên liệu và kiến thức, từ đó các nước nhận đầu tư có thể học hỏi
kinh nghiệm, công nghệ, thuật từ các nước phát triển. Đây lợi ích bản nhất cho nước
nhận đầu tư trong dài hạn.
Thba, c nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới. FDI giúp nước nhận đầu
tư phát triển quan hệ ngoại giao, liên kết với các công ty quốc tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn
cầu, tích cực hội nhập kinh tế với khu vực thế giới. Bên cạnh đó, cũng giúp các doanh
nghiệp trong nước tiếp thu thị trường quốc tế, khai thác các cơ hội xuất nhập khẩu, thu hút nhà
đầu tư nước ngoài.
Thtư, Tác động đến tăng trưởng chuyển dịch cấu kinh tế. Các nước đang phát
triển khi muốn thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh kinh tế cần tranh thủ vốn và
kỹ thuật của nước ngoài. Đây cũng điểm nút để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các
vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc
gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ phát huy tác dụng
của các nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo được tốc
độ tăng cao. Không chỉ vậy, việc tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ không chỉ là nỗ
lực nội tại của quốc gia còn đến từ xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. FDI s đẩy nhanh quá
trình chuyển dịch cấu kinh tế thông qua việc làm đa dạng hóa các lĩnh vực ngành nghề
kinh tế.
Thứ năm, FDI giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư, tạo ra nhiều việc làm
mới, thu hút một lượng lớn người lao động ớc nhận đầu tư làm việc cho các doanh nghiệp
ớc ngoài. Điều này góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, một vấn
đề khó khăn của nhiều quốc gia. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, nơi có nguồn lao
lOMoARcPSD| 58707906
động rất dồi dào nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Đồng thi, FDI cũng
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ sáu, nâng cao trình độ kỹ thuật, năng suất lao động. Các doanh nghiệp nước ngoài
sẽ xây dựng dây chuyền sản xuất tại nước nhận đầu tư điều này cho phép các nước kém phát
triển hơn tiếp cận công nghệ tiên tiến, kĩ năng quản lý hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn,
cũng như nâng cao ý thức lao động công nghiệp của đội ngũ nhân công trong nước.
Thbảy, FDI được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tế còn mức phát triển
thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển.
I. Xu hướng dịch chuyển FDI trên thế gii
1. Sự thay đổi trong nhu cầu của nhà đầu tư FDI.
1.1. Lao động
Trong quá khứ, các nhà đầu tư FDI có xu hướng tìm kiếm các thị trường có lao đng giá
rẻ và chất lượng lao động thấp để tiết kiệm chi phí. Các nước lao động giá rẻ và chất lượng
lao động thấp thường các nước đang phát triển, có nhu cầu thu hút vốn ớc ngoài cao và có
nhiều chính sách ưu đãi, điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI đến đầu tư. Tuy nhiên,
hiện nay các nhà đầu tư FDI ngày càng quan tâm đến chất lượng lao động, đặc biệt là lao động
kỹ năng cao, sáng tạo và thích ứng với công nghệ mới. Theo một báo cáo của Tổ chức Hợp
tác Phát triển Kinh tế (OECD), các ớc lao động kỹ năng cao như Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore Ireland đã thu hút được nhiều FDI hơn so với các nước chi phí lao động thấp
như Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia trong giai đoạn 2015-2019. Các nước này đã tạo ra một
lợi thế cạnh tranh bằng cách đầu vào giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và phát triển, cũng như
hợp tác với các doanh nghiệp và viện nghiên cứu quốc tế.
Xu hướng thay đổi từ lao động giá rẻ sang lao động có trình độ, tay nghề cao có thể đưc
giải bởi sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Với CMCN 4.0, sự phát
triển của các hệ thống tự động hóa robot thông minh đã dần thay thế các lao động làm các
công việc đơn giản, không đòi hỏi trình độ cao. Sự thay thế hàng loạt này không chỉ khiến khiến
cho các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí nhân công,còn làm tăng năng suất lao động, cải thiện
chất lượng độ chính xác cho toàn bộ quy trình. thể thấy rằng, hiện nay lao động giá rẻ
không còn lợi thế cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới, thay vào đó nhu cầu về ngun
nhân lực chất lượng cao ngày càng cấp thiết.
1.2. Hạ tầng
Hạ tầng là một yếu tố quan trọng ảnh hưng đến quyết định đầu của các nhà đầu tư
ớc ngoài (FDI). Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhu cầu về hạ tầng của
nhà đầu tư FDI trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể theo các khía cạnh sau:
lOMoARcPSD| 58707906
Thnht, Nhà đầu tư FDI mong muốn hạ tầng vật chất và kỹ thuật phải phù hợp với nhu
cầu của sản xuất, vận tải và tiêu thụ hàng hoá, đồng thời phải bảo đảm tính hiệu quả, tiết kiệm
thời gian và giảm chi phí cho các hoạt động của họ. Để thỏa mãn được yêu cầu này, các htầng
giao thông, điện, nước, xử chất thải môi trường cần được đầu phát triển một cách
toàn diện, liên kết và hiện đại hóa. Một số hoạt động cải thiện hạ tầng vật chất kỹ thuật bao
gồm:
Nâng cấp xây dựng các loại hạ tầng giao thông khác nhau, bao gồm đường bộ,
đường sắt, đường hàng không và đường thủy lợi. Khi đó tốc độ và chất lượng vận chuyển hàng
hoá được nâng cao, các htầng giao thông phát triển một cách toàn diện, liên kết hiện đại,
phù hợp với nhu cầu của các nhà đầu tư FDI trong sản xuất, vn tải tiêu thụ hàng hóa, đồng
thời đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí cho các hoạt động kinh doanh, sản
xuất.
Cung cấp nguồn điện ổn định, chất lượng và tin cậy, phát triển và xây dựng các cơ sở
hạ tầng sản xuất, truyền tải phân phối nguồn năng lượng điện. Đây một yếu t then chốt để
hút nhà đầu FDI đến các quốc gia vùng lãnh thổ. Điều này rất quan trọng cho các doanh
nghiệp trong các ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng nhiều như sản xuất kim loại, chế tạo,
hóa chất, điện tử và các ngành sản xuất khác. Một hạ tng ng lượng tốt sẽ giúp giảm chi phí
sản xuất, tăng tính cạnh tranh và bảo đảm nguồn cung cấp năng lượng liên tục và ổn định.
Thhai, nhà đầu tư FDI cũng quan m đến các hạ tầng viễn thông, các hạ tầng số a
và kết nối, như mạng internet băng rộng, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và blockchain. Các
hạ tầng này cho phép các doanh nghiệp FDI tiếp cận với các nguồn dữ liu lớn, phân tích và d
báo xu hướng thị trường, cải tiến quy trình quản lý và sản xuất, bảo mật thông tin và giao dịch.
sở hạ tầng viễn thông tập hợp thiết bị viễn thông, đường truyền dẫn, mạng viễn
thông công trình viễn thông. Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin
truyền thông, hạ tầng viễn thông một trong các yếu t bản trong việc thu hút các nhà đầu
FDI. Các hạ tầng internet, mạng lưới liên lạc tốc độ cao, mạng điện thoại, dịch vụ truyền d
liệu, số liệu, dịch vụ telex, fax,.. phát triển với tốc độ cao, đảm bảo đường truyền ổn định giúp cho
hoạt động kinh doanh, sản xuất của các nhà đầu tư FDI tiết kiệm thời gian, chi phí và tạo cơ hội
cho các dự án tiềm năng trong tương lai.
Thba, nhà đầu FDI cũng xu hướng tham gia vào việc xây dựng cải thiện hạ
tầng của các nước chủ nhà, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến môi trưng năng
ợng sạch. Theo báo cáo của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD),
hiện nay năng lượng tái tạo chiếm tỷ lệ cao trong FDI của nhiều quốc gia đang phát triển, từ 10%
đến 30%. Cho tới năm 2022, tuy đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) toàn cầu giảm 12%, song các
dự án vào năng lượng i tạo vẫn tiếp tục tăng trưởng 16% so với năm 2021.
lOMoARcPSD| 58707906
thể thấy rằng, các dự án xanh đang ngày càng được các nhà đầu FDI quan tâm,
tập trung đầu tư phát triển trên toàn thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia thu hút được
nhiều FDI vào các dự án hạ tầng xanh nhất trong khu vực Đông Nam Á. Các dự án này không
chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp FDI, mà còn góp phần giải quyết các vấn đề
môi trường và biến đổi khí hậu của các nưc chủ nhà.
1.3. Chính sách
Trong bối cảnh hiện nay, một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan m của cả
cộng đồng các nhà đầu c ngoài các quốc gia nhận đầu việc áp dụng thuế tối thiểu
toàn cầu cho c doanh nghiệp đa quốc gia. Đây là một sáng kiến do Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) khởi ng được hơn 140 quốc gia đồng thuận, nhằm đảm bảo rằng
các tập đoàn đa quốc gia phải đóng thuế mt cách công bằng minh bạch, tránh hiện tượng
xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận sang các quốc gia có thuế thấp hơn. Theo đó, mức
thuế tối thiểu toàn cầu là 15%, áp dụng đối với các công ty đa quốc gia có tổng doanh thu t 750
triệu EUR (hay 800 triệu USD) trở lên trong 2 năm của 4 năm liền kề gần nhất. OECD dự tính với
việc áp dụng trụ cột 2, tổng nguồn thu thuế toàn cầu từ các công ty đa quốc gia sẽ tăng lên 220
tỷ USD.
Điều này đồng nghĩa với việc phân phối lại nguồn vốn FDI từ các nước đang phát triển
sang các nước phát triển, cũng như giảm mức độ đầu trực tiếp ra nước ngoài. Chính sách này
cũng thể ảnh hưởng đến chất lượng thành phần của vốn FDI, các nhà đầu thể
chuyển từ đầu tư hiệu quả sang đầu tư thụ động, hoặc từ vốn chủ sở hữu sang tài trợ bằng nợ.
.
Trước những tác động của thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng vào năm 2024, chiến
ợc về địa điểm đầu tư, cách thức hoạt động của các công ty đa quốc gia sẽ có những xáo trộn,
điều này đặt ra thách thức, cạnh tranh cho các nước cóc chính sách ưu đãi thuế như Việt Nam
bởi khi thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, các công ty đa quốc gia lớn đầu vào Việt Nam
sẽ phải nộp bổ sung phần chênh lệch so với mức thuế 15% cho quốc gia nơi đặt trụ sở chính, do
đó, lợi ích từ ưu đãi thuế trước đây họ được hưởng/có thể được hưởng Việt Nam sẽ không
còn hoặc bị giảm đi đáng kể. ràng, điều này khiến sự hấp dẫn về thuế khi đầu vào Việt
Nam vi những “ông lớn” FDI không còn nữa, vậy thể ảnh ng đáng kể đến quyết
định đầu tư của họ tại Việt Nam trong thời gian sắp tới.
Tuy nhiên, các nước nhận đầu tư, trong đó Việt Nam, vẫn thể duy trì sức hút FDI
của mình bằng cách thực hiện các chính sách và cải cách khác có thể cải thiện môi trường đầu
từ đó, bù đắp những tác động tiêu cực của chính sách thuế tối thiểu toàn cầu. dụ, Việt
Nam có thể cải thiện các dịch vụ công, nâng cao chất lượng quản lý và hệ thống pháp luật nhng
yếu tquan trọng đối với các quyết định đầu tư của dòng vốn FDI. Việt Nam cũng có thể đa dạng
hóa các nguồn lĩnh vực thu hút FDI, đồng thời thúc đẩy nhiều hơn các mối liên kết tác động
lOMoARcPSD| 58707906
lan tỏa với các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam cũng thể đàm phán lại các hiệp định
thương mại tự do của mình để bổ sung các điều khoản về bảo hộ, khuyến khích tạo thuận lợi
cho đầu tư. Cuối cùng, Việt Nam ththam gia đối thoại hợp tác toàn cầu vcác vấn đề
thuế, đồng thời ủng hộ một hệ thống thuế quốc tế công bằng và toàn diện, có tính đến lợi ích và
nhu cầu của các nước đang phát triển.
2. Xu thế đầu tư toàn cầu hiện tại và tầm nhìn tương lai
2.1. Tình hình FDI trên thế giới hiện nay
Dòng vốn đầu trực tiếp ớc ngoài (FDI) toàn cầu trong hơn 30 năm qua cho thy
chúng đã tăng gấp hơn mười lần kể từ năm 1990, đạt đỉnh điểm 2.056 nghìn tỷ USD vào năm
2015. Tuy nhiên, chúng đã giảm từ đó đến nay do nhiều yếu tố khác nhau như chiến tranh thương
mại, cải cách thuế, số hóa và đại dịch COVID-19. Tỷ lệ của các nền kinh tế đang phát triển trong
dòng FDI toàn cầu cũng đã tăng từ 17% vào năm 1990 lên 54% vào năm 2020.
Đầu trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2022 1.294,738 tỷ USD, giảm 12,41% so với
năm 2021.Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2021 là 1.478,137 tỷ USD, tăng 53,66% so
với năm 2020.
Đầu tư trực tiếp nưc ngoài tn cầu năm 2020 là 961,983 tỷ USD, giảm 43,67% so với
năm 2019.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2019 là 1.707,83 t USD, tăng 24,17% so với
năm 2018.
Dòng vốn trực tiếp nước ngoài được đổ vào năng lượng tái tạo đã vượt qua khủng hoảng
thị trường năng lượng toàn cầu phải đối mặt sau cuộc chiến tranh Ukraine, duy trì quá trình
chuyển đổi nền kinh tế toàn cầu sang mức thải khí nhà kính bằng không.
FDI vào năng lượng tái tạo vẫn duy trì mạnh mẽ trong quý đầu tiên của năm 2022 khi sự
biến động bất ngờ của nguồn cung khí đốt Nga đã khiến các ngành công nghiệp châu Âu
các khu vực khác phải tìm kiếm các phương án thay thế có sẵn, có thể tái tạo hay không. Con số
này đạt 24,9 tUSD trong giai đoạn này, quý đầu tiên tốt thứ hai trong các k lục sau quý 1
năm 2009, đặc biệt nhờ vào các thông báo đầu lớn trong các dự án điện gió ngoài khơi
hydro có mức đầu tư vốn cao, theo báo cáo Switch 2022. Nhìn lại năm 2005, năng lượng tái tạo
chỉ chiếm một phần nhỏ của FDI tn cầu, nhiên liệu hóa thạch chiếm hơn 20%. Tua nhanh đến
năm 2021, bảng xếp hạng đã bị thay đổi, nhiên liệu hóa thạch chỉ chiếm một phần nhỉ của FDI
toàn cầu, còn năng lượng tái to chiếm khoảng 15%. Đáng chú ý, năng lượng tái tạo đã soán
ngôi nhiên liệu hóa thạch, trở thành nam châm lớn nhất của FDI toàn cầu trong tất cả các ngành
kể từ năm 2019.
lOMoARcPSD| 58707906
Môi trường toàn cầu cho kinh doanh quốc tế đầu xuyên biên giới vẫn gặp nhiều
thách thức vào năm 2023. Mặc dù nhng khó khăn kinh tế ảnh hưởng đến xu hướng đầu tư vào
năm 2022 đã giảm bớt, nhưng chúng vẫn chưa biến mất. Căng thẳng địa chính trị vẫn cao. Sự
rối loạn gần đây trong ngành tài chính đã làm tăng thêm sự bất ổn của nhà đầu tư. UNCTAD dự
báo áp lực giảm trên FDI tn cầu sẽ tiếp tục vào năm 2023. Các chỉ số sớm cho quý 1 năm
2023 cho thấy xu hướng yếu trong tài trợ dự án quốc tế và M&A.
Xu ng đầu xanh một yếu tố tích cực để cân bằng. Số ợng thông báo dự án
tăng 15% vào năm 2022, dữ liệu quý 1 năm 2023 cũng cho thấy sự kiên cường. Xu hướng
đầu tư quốc tế vào các tài sản sản xuất thực sự do đó tích cực hơn so với dữ liệu FDI tiêu đề.
Sự giảm FDI vào năm 2022 chủ yếu được thúc đẩy bởi các giao dịch tài chính của các
doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) ở các nền kinh tế phát triển, nơi FDI giảm 37% xuống còn 378
tỷ USD. Số ợng thông báo thực sự về đầu tư xanh và tài trợ dự án tăng 5%.
các nước đang phát triển, FDI tăng 4% lên 916 tUSD, chiếm hơn 70% lưu chuyển
toàn cầu, một tỷ lệ kỷ lục. Số ợng dự án đầu tư xanh được thông báo các nước đang phát
triển tăng 37%, và các giao dch tài trợ dự án quốc tế tăng 5%. Đây là một dấu hiệu tích cực cho
triển vọng đầu tư trong công nghiệp và hạ tầng.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng FDI trong thời gian vừa qua
3.1. Đại dịch Covid-19
Do tác động tiêu cc của đại dịch Covid-19, ng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) toàn cầu
chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn 2020 - 2021. Tuy nhiên, các nhà đầu
quốc tế đã sự thích nghi với những bất ổn do Covid-19 gây ra xu thế FDI thế giới sự
phục hồi đáng kể.
Theo báo cáo của Tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại, Đầu t phát triển
(UNCTAC), các biện phát phong tỏa chống dịch và viễn cảnh suy thoái toàn cầu đã thu hẹp đáng
kể nguồn FDI.
Sự bùng phát lây lan của Corona Virus (Covid-19) đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng
vốn FDI toàn cầu. tác động lên FDI nhng quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch
bệnh, mặcsốc cầuvà gián đoạn chuỗi cung ứng cũng đã ảnh hưởng đến triển vọng đầu tư
ở các quốc gia khác.n 2/3 các doanh nghiệp đa quốc gia trong Top 100 của UNCTAD đã đưa
ra các báo cáo về tác động của Covid-19đối với hoạt động kinh doanh của họ. Nhiều doanh
nghiệp còn giảm tốc độ chi tiêu vốn các khu vực bịảnh hưởng. Trung bình, 5000 Công ty đa
quốc gia (MNE) hàng đầu (chiếm t trọng đáng kể trong FDI toàn cầu) đã chứng kiến sự điu
chỉnh giảm của ưc tính thu nhập m 2020 là 9% do Covid-19. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là
ngành công nghiệp ô (-44%), hàng không (-42%) ngành năng ợng vậtliệu bản (-
lOMoARcPSD| 58707906
13%). Tuy nhiên, vào năm 2021, lợi nhuận của MNE đã được phục hồi đáng kể, thậm chí ởmức
kỉ lục như đã được nêu phía trên, góp phần thúc đẩy sự phục hồi của nguồn vốn FDI
Sự sụt giảm về số ợng các dự án FDI vào năm 2020 do đại dịch Covid-19 đã nhanh
chóng được phục hồi vào năm 2021. Mặc dù vậy, cuộc chiến tranh Ukraine - Nga có th cản trở
xu hướng phục hồi nhanh chóng và bền vững hậu Covid-19. Những lo ngại về địa chính trị khác
như Brexit và nhiệm kỳ tổng thống Mvẫn còn kéo dài, trong khi các vấn đề của chuỗi cung ứng,
áp lực lạm phát và các quy định khắt khe hơn về FDI sẽ làm tăng thêm triển vọng đáng lo ngại
cho FDI trong tương lai gần.
3.2. Chiến sự Nga – Ukraine
Chiến tranh xâm lược của Nga vào Ukraine không chỉ làm suy tàn nền kinh tế của Ukraine
còn gây sóng gió trên toàn cầu. Thương mại giữa Nga Ukraine đã giảm, dẫn đến tăng mức
giá. Mặc tác động ban đầu xuất phát tdầu, khí, ngũ cốc thép, nhưng nhanh chóng lan
rộng sang nhiều ngành công nghiệp khác. Cuộc xung đột Nga - Ukraine và phản ứng quốc tế sau
đó đã gây thêm một sốc và gián đoạn tiêu cực cho nền kinh tế thế giới, với hậu quả tức thì đối
với FDI các dòng vốn khác. Tuy nhiên, tác động trực tiếp lên dòng vốn FDI của Nga hạn
chế, vai trò của Nga với cách nước tiếp nhận và chủ đầu tư FDI là không quá lớn (theo
số liệu thống kê về FDI của OECD). Trước tháng 2/2022, nguồn vốn FDI hướng vào và ra nưc
ngoài tNga chỉ chiếm khoảng 1-1,5% tổng nguồn vốn FDI toàn cầu; tuy nhiên sự kiện này dự
kiến sẽ có tác động ngay lập tức đến dòng vốn FDI vào Nga. Các chủ đầu tư FDI tcác quốc gia
OECD vẫn chiếm một phần đáng kể trong khoản đầu vào Nga. Tác động của cuộc xung đột
giữa Nga - Ukraine đã vượt ra ngoài phạm vi khu vực, y ra cuc khủng hoảng trên cả ba lĩnh
vực: lương thc, nhiên liệu và tài chính, đẩy giá năng lượng và hàng hóa tăng cao dẫn đến lạm
phát vòng xoáy nợ ngày càng trầm trọng. Điều này đang làm gia tăng tình trạng rủi ro, làm suy
giảm niềm tin kinh doanh và đầu tư, ảnh hưởng đáng kể tới đà phục hồi FDI toàn cầu
Dù sao đi nữa, sự kéo dài của cuộc chiến sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, do đó
cũng ảnh hưởng đến FDI trong năm 2023
3.3. Lạm phát có dấu hiệu giảm xuống nhưng vẫn gây ảnh hưởng tới môi trường đầu
QuTiền tệ Quốc tế (IMF) dự kiến lạm phát thế giới sẽ giảm từ 8,8% trong năm 2022
xuống còn 6,5% trong năm 2023. Điều này cho thấy sự tăng giá cao nhất đã kết tc đối với
nhiều quốc gia. Tuy nhiên, những thiệt hại gây ra thể còn được cảm nhận thêm vào năm 2023.
Một cuộc khảo sát của Ipsos cho biết lạm phát là vấn đề hàng đầu mà người dân trên toàn thế
giới quan tâm.
lOMoARcPSD| 58707906
Trung Quốc và các quốc gia châu Âu được dự báo sẽ có một sự hạ cánh khó khăn n.
Những cường quốc châu Âu như Anh Đức được dự báo sẽ rơi vào suy thoái vào đầu năm
2023, sau khi chứng kiến một smức lạm phát cao nhất trong nhiều thập kỷ.
Tâm lý của nhà đầucũng đã nguội lạnh đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đưc
dự báo sẽ có một sự hạ cánh nhẹ nhàng hơn do khả năng kiểm soát lạm phát một giai đoạn
sớm (mùa hè năm 2022) so với các đối tác châu Âu của mình. Điều này có thể rất quan trọng khi
xét đến vai trò nổi bật của Hoa Kỳ là một điểm đến hàng đầu cho FDI vào và ra.
3.1. Sự chuyển dịch xu hướng đầu tư vào các quốc gia phát triển
Khi dịch COVID-19 bùng phát, các nền kinh tế phát triển đã áp dụng các chính
sách nới lỏng định lượng truyền thống để ổn định thị trường tài chính. Nhưng họ cũng nhận thấy
rằng các biện pháp hướng đến người dân và doanh nghiệp là cần thiết đgiảm thiểu tác hại của
các điều lệnh đã ban hành về cách ly xã hội và phong tỏa.
Tuy nhiên, kinh tế vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề trong nửa đầu năm 2020 và sự phc hồi
sau đó là không đồng nhất theo các ngành, nhóm thu nhập và khu vực. Sự bất bình đẳng về thu
nhập và tài sản cũng tiếp tục gia tăng, vi những người có tài sản tài chính và kỹ thuật sđưc
ởng lợi nhiều nhất.
EU, thặng tài khon vãng lai đã giảm trong một thời gian để giúp cân bằng toàn cầu,
dự kiến sẽ quay lại mức 3,2% GDP vào năm 2023. Sự phục hồi của du lịch và lợi tức đầu tư ra
ớc ngoài sẽ là những yếu tố chính góp vào thặng dư này.
3.2. Hot động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Năm 2022, các doanh nghiệp đa quốc gia từ các nước phát triển đã giảm đầu tư
ra nước ngoài 17% xuống còn 1 nghìn tỷ USD. Nếu không kể việc rút vốn của một công ty viễn
thông ở Luxembourg, thì vốn FDI ra nước ngoài stăng 9%. Tỷ lệ các quốc gia phát triển chiếm
trong tổng dòng vốn FDI ra nước ngoài vẫn ổn định, duy trì ở mức hai phần ba.
Các doanh nghiệp đa quốc gia châu Âu cắt giảm 61% tổng dòng vốn FDI ra nước ngoài
trong năm 2022, chỉ còn 224 tỷ USD. Đức vẫn là nhà đầu tư lớn nhất châu Âu với dòng vốn FDI
ra từ các doanh nghiệp lên tới 143 tỷ USD, đã giảm 13%. Thụy Điển tăng ba lần lên 62 tỷ
USD, do các thương vụ mua bán và sáp nhập xuyên biên giới tăng mạnh. Các doanh nghiệp
Tây Ban Nha và Pháp cũng tăng đầu tư lần lượt lên 39 và 48 tỷ USD. Vương quốc Anh tăng FDI
ra nước ngoài lên 130 tỷ USD, chủ yếu là dưới hình thức tái đầu tư lợi nhuận và tăng khoản vay
trong công ty. Dòng vốn FDI ra nước ngoài từ Thụy Sĩ vẫn âm (-23 tỷ USD).
Hoa Kỳ tăng 7% vốn FDI ra nước ngoài, lên 373 tỷ USD. Mua bán sáp nhập xuyên
biên giới từ Hoa Kỳ tăng k lục 21% lên 273 tỷ USD, chủ yếu trong thông tin và truyền thông và
lOMoARcPSD| 58707906
dịch vụ hỗ trhành chính. Trong hơn 40 thương vụ toàn cầu trị giá trên 5 tỷ USD, có 15 thương
vụ của Hoa Kỳ.
Nhật Bản Úc cũng tăng vốn FDI ra nước ngoài. Nhật Bản tăng 10% lên 161 tỷ USD
xếp thứ hai toàn cầu. Hàn Quốc duy trì mức đầu ra nước ngoài như năm 2021, với 66 tỷ USD,
và tăng giá trị dự án đầu tư xanh từ 34 tỷ USD lên 76 tỷ USD.
II. Điều kiện của Việt Nam và những yếu tố cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng
dịch chuyển FDI
1. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài trước năm 2023 tại Việt Nam
1.1. Tổng quan quy mô vốn đầu tư FDI của Việt Nam năm 2022
Tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỷ USD, mức vốn FDI thực hiện đạt kỷ
lục 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2021. Đây s vốn FDI thực hiện cao nhất
trong 5 năm (2017 - 2022).
Tính lũy kế trong giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỷ USD vốn
FDI; trong đó, 274 tỷ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu đăng còn hiệu
lực.
1.2. Cơ cấu đầu tư FDI theo đối tác đầu
Năm 2022, Việt Nam tiếp nhận đầu FDI từ 108 quốc gia vùng lãnh thổ. Trong đó,
Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 6,46 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 4,88
tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,78 tỷ USD. Tiếp theo là Trung
Quốc, Hồng Kông, Đài Loan.
1.3. Cơ cấu đầu tư FDI theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quc
dân. Trong đó, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 16,8 tỷ USD. Kinh doanh bất động
sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư hơn 4,45 t USD. Tiếp theo lần lượt là các ngành sản xuất,
phân phối điện; hoạt động chuyên môn khoa hc công nghệ với vốn đăng đạt lần lượt hơn
2,26 tỷ USD và gần 1,29 tỷ USD.
1.4. Cơ cấu đầu tư FDI theo số ợng dự án mới
Ba ngành thu hút được nhiều dự án mới nhất là: các ngành bán buôn, bán lẻ (30%), công
nghiệp chế biến chế tạo (25.1%), hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ (16.3%).
Còn lại là các dự án khác
1.5. Cơ cấu đầu tư FDI theo khu vực địa lý
lOMoARcPSD| 58707906
Trong năm 2022, các nhà đầu nước ngoài đã đầu vào 54 tỉnh, thành phố trên cả
ớc.
Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với tổng vốn đầu đăng hơn 3,94 tUSD. Bình
Dương đứng thhai với hơn 3,14 tỷ USD. Quảng Ninh xếp th ba với gần 2,37 t USD. Tiếp
theo lần lượt là Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội.
Các dự án mới được các nhà đầu tư nước ngoài tập trung đầu tư trong năm chủ yếu tại
các thành phố lớn,cơ sở hạ tầng thuận lợi như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trong đó, thành phố
Hồ Chí Minh dẫn đầu về số dự án mới (43,9%), số ợt GVMCP (67,6%)đứng thứ hai về số
t dự án điều chỉnh vốn (17,3% sau Hà Nội là 18,6%).
2. Những điều kiện Việt Nam còn thiếu để thu hút vốn đầu tư FDI.
2.1. Môi trường đầu tư còn thiếu tính ổn định.
Môi trưng đầu tư, kinh doanh vẫn còn nhiều điểm bất cập, thiếu bền vững, sức cạnh
tranh với c nước trong cùng khu vực còn thấp. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài mới vào đầu
tại Việt Nam đang gặp khó khăn liên quan đến chế cấp giấy phép lao động cho lao động c
ngoài và phê duyệt h tầng phòng cháy chữa cháy… Việc chưa đáp ứng được nhu cầu về công
nghệ cao, năng lượng, tài chính đã khiến một s dự án đầu tư phải tạm ngưng mở rộng.
2.2. Nguồn nhân lực còn hạn chế về chất lượng.
ớc ta tuy lợi thế về số ợng lớn nhưng trình độ học vấn còn chưa cao, trình đ
chuyên môn còn chưa cao.
Đây là một vấn đề đã tồn tại từ nhiều năm trước và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn
trong thời gian gần đây khi Việt Nam cố gắng thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án sử dụng
công nghệ cao hiện đại. Theo một nghiên cứu gần đây do Cục Đầu tư nước ngoài phối hợp
với Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thực hiện, 32% các nhà đầu nước
ngoài cho rằng thiếu công nhân lành nghề là nguyên nhân chính khiến họ không thể sử dụng hết
công suất. Do đó, lợi thế của Việt Nam về nguồn nhân lực phong phú với chi phí thấp đang dần
gim.
Nguyên nhân của hn chế này là do hệ thống giáo dục đào tạo còn bất cập: chương trình,
kiến thức, phương pháp đào tạo các cấp, kiểm tra, đánh giá, sàng lọc chất lưng, cơ cấu đào
tạo chưa hợp lý, chưa quan tâm đến nhiều đào tạo nghề ở ng thôn,...
2.3. Chính sách ưu đãi còn chưa phong phú, hấp dẫn.
Mặc chính sách ưu đãi của chúng ta thường xuyên được kiểm tra điều chỉnh, nhưng
chúng vẫn chưa được tp trung đúng mức vào các ngành, lĩnh vực địa bàn cần thu hút đầu
lOMoARcPSD| 58707906
tư. Chính sách ưu đãi đầu tư cũng còn nhiều bất cập, vẫn chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế, giá thuê
đất, chi phí nguyên liệu trong khi chưa tương xứng với hiệu quả các dự án FDI mang lại.
2.4. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, chưa đ điều kiện để sử dụng nguồn vốn FDI
hiệu quả.
Hệ thống sở hạ tầng của Việt Nam, mặc đã được đầu nhiều trong những m
gần đây, nhưng nhìn chung vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, trong
đó, hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển, hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng
rào khu công nghiệp. Đặc biệt, còn nhiều khó khăn, bất cập trong quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
số và cơ sở hạ tầng ở vùng sâu vùng xa.
2.5. Công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi
trườngcủa các doanh nghiệp còn nhiều yếu m.
Trong thời gian gần đây, việc bảo vệ môi trường đã nhận được nhiều sự quan tâm hơn,
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Mặc dù có nhiều doanh nghiệp tuân thủ tốt các
quy định về bảo vệ môi trường, nhưng vẫn còn không ít doanh nghiệp và dự án FDI chưa tuân
thtốt các quy định này, gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái, ảnh hưởng lâu dài đến cuộc
sống của người dân và làm mất đi hình ảnh tốt của nguồn vốn FDI.
3. Các chính sách, hướng đi, hành động cần có để thích ứng với xu hướng thế
giivề FDI.
3.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách liên quan đến FDI
Cần hoàn thiện các chính sách liên quan đến nhập khẩu công nghệ, chuyển giao công
nghệ và môi trường.
Xây dựng ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong thu hút và sử dụng FDI; không thu hút FDI bất chấp nguy
cơ hủy hoại môi trường.
Rà soát, sửa đổi pháp luật về đăng ký chuyển giao công nghệ; nhập khẩu máy móc, thiết
bị của doanh nghiệp FDI, tránh tình trạng gian lận trong tiếp nhận các ng nghệ kém hiện đại,
công nghệ tim ẩn rủi ro cao.
Xây dựng thể chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, tạo điều kiện kinh doanh thuận
lợi thu hút các dự án lớn.
Xây dựng chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết giữa FDI đầu
trong nước.
3.2. Kiện toàn t chức bộ máy nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản nhà nước về
FDI
lOMoARcPSD| 58707906
Kiện toàn bộ máy quản nhà nước về FDI theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả
thống nhất một đầu mối tại các bộ, ngành, địa phương.
chính sách hỗ trđào tạo, tuyển dụng, tiền lương, thu nhập hợp để khuyến khích
lựa chọn, đào tạo được đội ngũ cán bộ có tính sáng tạo.
Cần tăng cường việc kiểm tra, giám sát thanh tra, đồng thời nâng cao trách nhiệm của
chính quyền địa phương và người đứng đầu trong việc tuân thủ các chủ trương, chính sách của
Đảng pháp luật của Nhà nước liên quan đến đầu nước ngoài. Việc phát hiện, ngăn chặn
xử các vi phạm cần được thực hiện kịp thời nghiêm minh. Hơn nữa, cần biện pháp
phòng ngừa, cảnh báo và giải quyết các tranh chấp một cách hiệu quả.
3.3. Thực hiện sàng lọc các dự án FDI.
Khi xem xét các đề xuất của nhà đầu nước ngoài theo hình thc mua bán sáp nhập,
góp vốn, mua cổ phần, cần phải thận trọng, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp trọng yếu,
lĩnh vực an ninh - quốc phòng, và các d án có công nghệ, chuỗi giá trị hoặc thương quyền cao.
Việc xây dựng và ban hành các tiêu chí sàng lọc đầu tư (như suất đầu tư, lao động, công
nghệ…) là cần thiết để làm cơ sở thu hút các dự án có hiệu quả.
Nâng cấp tiêu chuẩn về môi trường một bước quan trọng để không tiếp nhận các dự
án không khuyến khích đầu tư. Ví d, các dự án trong ngành dệt nhuộm sử dụng công nghệ cũ
không nên được chấp nhận. Các dự án không đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường hoặc công nghệ
cũng nên bị cấm.
Cuối cùng, không nên gia hạn hoặc mở rộng hoạt động cho các dự án sử dụng công nghệ
thấp hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn công nghệ và môi trường.
3.4. Chuẩn bị yếu tố đầu vào đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài tại các dự án
FDI.
Thnht, chuẩn bị đội ngũ lao động có tay nghề phù hợp.
Cải thiện chất lượng giáo dục tại các trường học bằng cách kết hợp giữa việc học thuyết
và thực hành tại các doanh nghiệp. Đánh giá và hoàn thiện chương trình đào tạo để phù hợp với
yêu cầu của doanh nghiệp.
Chú trọng vào việc đào tạo các ngành chất lượng cao như: kỹ thuật số, công nghệ
thông tin, ứng dụng tin học, điện tử viễn thông, công nghệ sinh học… Cập nhật kiến thức mới,
tiêu chuẩn và kỹ năng mới phù hợp với tình hình quốc gia và xu hướng phát triển toàn cầu.
Thực hiện nghiên cứu về nhu cầu tiêu chuẩn lao động trình độ cao của các tập đoàn
và doanh nghiệp lớn để tìm ra giải pháp cải thiện chất lượng đào tạo lao động trong nước.
lOMoARcPSD| 58707906
Thứ hai, chuẩn bị các điều kiện về mặt bằng sản xuất.
Các địa phương cần kiểm tra lại các dự án đang triển khai chậm hoặc không hiệu quả để
thu hồi, tạo ra quỹ đất nhằm thu hút các dự án đầu tư mi, những dự án có nhu cầu di dời sản
xuất.
Kiểm tra và lập danh sách một số địa phương, khu công nghiệp, khu kinh tế đã chuẩn bị
sẵn sàng về hạ tầng, nhân lực, năng lượng… để cung cấp cho các nhà đầu tư lựa chọn.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58707906 Khái niệm
FDI (Foreign Direct Invesment) là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là nguồn
vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước
công nghiệp phát triển. Hiện nay có nhiều khái niệm về FDI như sau:
Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi
một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) sở hữu một tài sản ở một nước khác (nước thu
hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Khía cạnh quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tài chính khác. Trong hầu hết các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó
quản lý ở nước ngoài đều là các doanh nghiệp kinh doanh. Trong những trường hợp như vậy,
nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và tài sản được gọi là “công ty liên kết” hoặc “công ty con”.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): FDI là một hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi
ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế
nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2005): FDI là hình thức đầu tư do đầu tư nước ngoài bỏ vốn
đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài.
Như vậy FDI (Foreign Direct Investment) là di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản
xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời
trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất,…nhằm mục đích thu lợi nhuận. 1. Đặc điểm
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, FDI ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước đầu tư và nước nhận đầu
tư mà phụ thuộc nhiều vào môi trường đầu tư: Quốc gia nào có môi trường đầu tư tốt thì sẽ tăng
cường thu hút đầu tư vốn FDI.
Thứ hai, FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao bởi vì nhà đầu tư tự
quyết định đầu tư, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về
lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư có tỉ suất lợi nhuận cao
nhất, tự quản lý sử dụng tiền vốn, sử dụng lao động cũng như công nghệ để đem lại hiệu quả cao nhất.
Thứ ba, đối với nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ mà được chia sẻ lợi ích theo mức
đóng góp. Điều này có nghĩa là FDI không phải là một khoản vay hay trợ cấp từ nước đầu tư, mà
là một hình thức hợp tác cùng có lợi cho cả hai bên. Nhà đầu tư sẽ góp vốn, công nghệ, quản lý
và kinh doanh cho doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư, và sẽ thu lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp. Nước lOMoAR cPSD| 58707906
nhận đầu tư sẽ không phải trả lại vốn hay lãi cho nhà đầu tư, mà sẽ được hưởng các lợi ích khác
như: tăng cường nguồn vốn, nâng cao năng lực sản xuất, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ,
mở rộng thị trường, tăng thu ngân sách. Do đó, FDI là một nguồn vốn hiệu quả và an toàn cho nước nhận đầu tư.
Thứ tư, Giảm rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp trong nước. Khi hợp tác với các nhà
đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ không phải chịu một mình rủi ro tài chính,
mà sẽ được phân chia theo tỷ lệ vốn góp nếu có thất bại.
2. Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. FDI là một trong những
nguồn bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt đối với các nước đang và kém phát triển.
Thứ hai, nước nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý
tiên tiến của nước ngoài. Khi đầu tư vào một quốc gia, nhà đầu tư không chỉ đem theo tiền mà
còn mang theo các thiết bị, nguyên liệu và kiến thức, từ đó các nước nhận đầu tư có thể học hỏi
kinh nghiệm, công nghệ, kĩ thuật từ các nước phát triển. Đây là lợi ích cơ bản nhất cho nước
nhận đầu tư trong dài hạn.
Thứ ba, nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới. FDI giúp nước nhận đầu
tư phát triển quan hệ ngoại giao, liên kết với các công ty quốc tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn
cầu, tích cực hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, nó cũng giúp các doanh
nghiệp trong nước tiếp thu thị trường quốc tế, khai thác các cơ hội xuất nhập khẩu, thu hút nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ tư, Tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các nước đang phát
triển khi muốn thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh kinh tế cần tranh thủ vốn và
kỹ thuật của nước ngoài. Đây cũng là điểm nút để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các
vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc
gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng
của các nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo được tốc
độ tăng cao. Không chỉ vậy, việc tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ không chỉ là nỗ
lực nội tại của quốc gia mà còn đến từ xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. FDI sẽ đẩy nhanh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua việc làm đa dạng hóa các lĩnh vực và ngành nghề kinh tế.
Thứ năm, FDI giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư, tạo ra nhiều việc làm
mới, thu hút một lượng lớn người lao động ở nước nhận đầu tư làm việc cho các doanh nghiệp
nước ngoài. Điều này góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, một vấn
đề khó khăn của nhiều quốc gia. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, nơi có nguồn lao lOMoAR cPSD| 58707906
động rất dồi dào nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Đồng thời, FDI cũng
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ sáu, nâng cao trình độ kỹ thuật, năng suất lao động. Các doanh nghiệp nước ngoài
sẽ xây dựng dây chuyền sản xuất tại nước nhận đầu tư điều này cho phép các nước kém phát
triển hơn tiếp cận công nghệ tiên tiến, kĩ năng quản lý hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn,
cũng như nâng cao ý thức lao động công nghiệp của đội ngũ nhân công trong nước.
Thứ bảy, FDI được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tế còn ở mức phát triển
thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển. I.
Xu hướng dịch chuyển FDI trên thế giới 1.
Sự thay đổi trong nhu cầu của nhà đầu tư FDI. 1.1. Lao động
Trong quá khứ, các nhà đầu tư FDI có xu hướng tìm kiếm các thị trường có lao động giá
rẻ và chất lượng lao động thấp để tiết kiệm chi phí. Các nước có lao động giá rẻ và chất lượng
lao động thấp thường là các nước đang phát triển, có nhu cầu thu hút vốn nước ngoài cao và có
nhiều chính sách ưu đãi, điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI đến đầu tư. Tuy nhiên,
hiện nay các nhà đầu tư FDI ngày càng quan tâm đến chất lượng lao động, đặc biệt là lao động
có kỹ năng cao, sáng tạo và thích ứng với công nghệ mới. Theo một báo cáo của Tổ chức Hợp
tác và Phát triển Kinh tế (OECD), các nước có lao động có kỹ năng cao như Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore và Ireland đã thu hút được nhiều FDI hơn so với các nước có chi phí lao động thấp
như Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia trong giai đoạn 2015-2019. Các nước này đã tạo ra một
lợi thế cạnh tranh bằng cách đầu tư vào giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và phát triển, cũng như
hợp tác với các doanh nghiệp và viện nghiên cứu quốc tế.
Xu hướng thay đổi từ lao động giá rẻ sang lao động có trình độ, tay nghề cao có thể được
lý giải bởi sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Với CMCN 4.0, sự phát
triển của các hệ thống tự động hóa và robot thông minh đã dần thay thế các lao động làm các
công việc đơn giản, không đòi hỏi trình độ cao. Sự thay thế hàng loạt này không chỉ khiến khiến
cho các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí nhân công, mà còn làm tăng năng suất lao động, cải thiện
chất lượng và độ chính xác cho toàn bộ quy trình. Có thể thấy rằng, hiện nay lao động giá rẻ
không còn là lợi thế cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới, thay vào đó nhu cầu về nguồn
nhân lực chất lượng cao ngày càng cấp thiết. 1.2. Hạ tầng
Hạ tầng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư
nước ngoài (FDI). Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhu cầu về hạ tầng của
nhà đầu tư FDI trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể theo các khía cạnh sau: lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ nhất, Nhà đầu tư FDI mong muốn hạ tầng vật chất và kỹ thuật phải phù hợp với nhu
cầu của sản xuất, vận tải và tiêu thụ hàng hoá, đồng thời phải bảo đảm tính hiệu quả, tiết kiệm
thời gian và giảm chi phí cho các hoạt động của họ. Để thỏa mãn được yêu cầu này, các hạ tầng
giao thông, điện, nước, xử lý chất thải và môi trường cần được đầu tư và phát triển một cách
toàn diện, liên kết và hiện đại hóa. Một số hoạt động cải thiện hạ tầng vật chất và kỹ thuật bao gồm:
Nâng cấp và xây dựng các loại hạ tầng giao thông khác nhau, bao gồm đường bộ,
đường sắt, đường hàng không và đường thủy lợi. Khi đó tốc độ và chất lượng vận chuyển hàng
hoá được nâng cao, các hạ tầng giao thông phát triển một cách toàn diện, liên kết và hiện đại,
phù hợp với nhu cầu của các nhà đầu tư FDI trong sản xuất, vận tải và tiêu thụ hàng hóa, đồng
thời đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất.
Cung cấp nguồn điện ổn định, chất lượng và tin cậy, phát triển và xây dựng các cơ sở
hạ tầng sản xuất, truyền tải và phân phối nguồn năng lượng điện. Đây một yếu tố then chốt để
hút nhà đầu tư FDI đến các quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này rất quan trọng cho các doanh
nghiệp trong các ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng nhiều như sản xuất kim loại, chế tạo,
hóa chất, điện tử và các ngành sản xuất khác. Một hạ tầng năng lượng tốt sẽ giúp giảm chi phí
sản xuất, tăng tính cạnh tranh và bảo đảm nguồn cung cấp năng lượng liên tục và ổn định.
Thứ hai, nhà đầu tư FDI cũng quan tâm đến các hạ tầng viễn thông, các hạ tầng số hóa
và kết nối, như mạng internet băng rộng, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và blockchain. Các
hạ tầng này cho phép các doanh nghiệp FDI tiếp cận với các nguồn dữ liệu lớn, phân tích và dự
báo xu hướng thị trường, cải tiến quy trình quản lý và sản xuất, bảo mật thông tin và giao dịch.
Cơ sở hạ tầng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông, đường truyền dẫn, mạng viễn
thông và công trình viễn thông. Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin và
truyền thông, hạ tầng viễn thông là một trong các yếu tố cơ bản trong việc thu hút các nhà đầu
tư FDI. Các hạ tầng internet, mạng lưới liên lạc tốc độ cao, mạng điện thoại, dịch vụ truyền dữ
liệu, số liệu, dịch vụ telex, fax,.. phát triển với tốc độ cao, đảm bảo đường truyền ổn định giúp cho
hoạt động kinh doanh, sản xuất của các nhà đầu tư FDI tiết kiệm thời gian, chi phí và tạo cơ hội
cho các dự án tiềm năng trong tương lai.
Thứ ba, nhà đầu tư FDI cũng có xu hướng tham gia vào việc xây dựng và cải thiện hạ
tầng của các nước chủ nhà, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến môi trường và năng
lượng sạch. Theo báo cáo của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD),
hiện nay năng lượng tái tạo chiếm tỷ lệ cao trong FDI của nhiều quốc gia đang phát triển, từ 10%
đến 30%. Cho tới năm 2022, tuy đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) toàn cầu giảm 12%, song các
dự án vào năng lượng tái tạo vẫn tiếp tục tăng trưởng 16% so với năm 2021. lOMoAR cPSD| 58707906
Có thể thấy rằng, các dự án xanh đang ngày càng được các nhà đầu tư FDI quan tâm,
tập trung đầu tư phát triển trên toàn thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia thu hút được
nhiều FDI vào các dự án hạ tầng xanh nhất trong khu vực Đông Nam Á. Các dự án này không
chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp FDI, mà còn góp phần giải quyết các vấn đề
môi trường và biến đổi khí hậu của các nước chủ nhà. 1.3. Chính sách
Trong bối cảnh hiện nay, một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của cả
cộng đồng các nhà đầu tư nước ngoài và các quốc gia nhận đầu là việc áp dụng thuế tối thiểu
toàn cầu cho các doanh nghiệp đa quốc gia. Đây là một sáng kiến do Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) khởi xướng và được hơn 140 quốc gia đồng thuận, nhằm đảm bảo rằng
các tập đoàn đa quốc gia phải đóng thuế một cách công bằng và minh bạch, tránh hiện tượng
xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận sang các quốc gia có thuế thấp hơn. Theo đó, mức
thuế tối thiểu toàn cầu là 15%, áp dụng đối với các công ty đa quốc gia có tổng doanh thu từ 750
triệu EUR (hay 800 triệu USD) trở lên trong 2 năm của 4 năm liền kề gần nhất. OECD dự tính với
việc áp dụng trụ cột 2, tổng nguồn thu thuế toàn cầu từ các công ty đa quốc gia sẽ tăng lên 220 tỷ USD.
Điều này đồng nghĩa với việc phân phối lại nguồn vốn FDI từ các nước đang phát triển
sang các nước phát triển, cũng như giảm mức độ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Chính sách này
cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng và thành phần của vốn FDI, vì các nhà đầu tư có thể
chuyển từ đầu tư hiệu quả sang đầu tư thụ động, hoặc từ vốn chủ sở hữu sang tài trợ bằng nợ. .
Trước những tác động của thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng vào năm 2024, chiến
lược về địa điểm đầu tư, cách thức hoạt động của các công ty đa quốc gia sẽ có những xáo trộn,
điều này đặt ra thách thức, cạnh tranh cho các nước có các chính sách ưu đãi thuế như Việt Nam
bởi khi thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, các công ty đa quốc gia lớn đầu tư vào Việt Nam
sẽ phải nộp bổ sung phần chênh lệch so với mức thuế 15% cho quốc gia nơi đặt trụ sở chính, do
đó, lợi ích từ ưu đãi thuế trước đây mà họ được hưởng/có thể được hưởng ở Việt Nam sẽ không
còn hoặc bị giảm đi đáng kể. Rõ ràng, điều này khiến sự hấp dẫn về thuế khi đầu tư vào Việt
Nam với những “ông lớn” FDI không còn nữa, và vì vậy có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết
định đầu tư của họ tại Việt Nam trong thời gian sắp tới.
Tuy nhiên, các nước nhận đầu tư, trong đó có Việt Nam, vẫn có thể duy trì sức hút FDI
của mình bằng cách thực hiện các chính sách và cải cách khác có thể cải thiện môi trường đầu
tư và từ đó, bù đắp những tác động tiêu cực của chính sách thuế tối thiểu toàn cầu. Ví dụ, Việt
Nam có thể cải thiện các dịch vụ công, nâng cao chất lượng quản lý và hệ thống pháp luật những
yếu tố quan trọng đối với các quyết định đầu tư của dòng vốn FDI. Việt Nam cũng có thể đa dạng
hóa các nguồn và lĩnh vực thu hút FDI, đồng thời thúc đẩy nhiều hơn các mối liên kết và tác động lOMoAR cPSD| 58707906
lan tỏa với các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam cũng có thể đàm phán lại các hiệp định
thương mại tự do của mình để bổ sung các điều khoản về bảo hộ, khuyến khích và tạo thuận lợi
cho đầu tư. Cuối cùng, Việt Nam có thể tham gia đối thoại và hợp tác toàn cầu về các vấn đề
thuế, đồng thời ủng hộ một hệ thống thuế quốc tế công bằng và toàn diện, có tính đến lợi ích và
nhu cầu của các nước đang phát triển. 2.
Xu thế đầu tư toàn cầu hiện tại và tầm nhìn tương lai 2.1.
Tình hình FDI trên thế giới hiện nay
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu trong hơn 30 năm qua cho thấy
chúng đã tăng gấp hơn mười lần kể từ năm 1990, đạt đỉnh điểm 2.056 nghìn tỷ USD vào năm
2015. Tuy nhiên, chúng đã giảm từ đó đến nay do nhiều yếu tố khác nhau như chiến tranh thương
mại, cải cách thuế, số hóa và đại dịch COVID-19. Tỷ lệ của các nền kinh tế đang phát triển trong
dòng FDI toàn cầu cũng đã tăng từ 17% vào năm 1990 lên 54% vào năm 2020.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2022 là 1.294,738 tỷ USD, giảm 12,41% so với
năm 2021.Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2021 là 1.478,137 tỷ USD, tăng 53,66% so với năm 2020.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2020 là 961,983 tỷ USD, giảm 43,67% so với năm 2019.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2019 là 1.707,83 tỷ USD, tăng 24,17% so với năm 2018.
Dòng vốn trực tiếp nước ngoài được đổ vào năng lượng tái tạo đã vượt qua khủng hoảng
mà thị trường năng lượng toàn cầu phải đối mặt sau cuộc chiến tranh Ukraine, duy trì quá trình
chuyển đổi nền kinh tế toàn cầu sang mức thải khí nhà kính bằng không.
FDI vào năng lượng tái tạo vẫn duy trì mạnh mẽ trong quý đầu tiên của năm 2022 khi sự
biến động bất ngờ của nguồn cung khí đốt Nga đã khiến các ngành công nghiệp ở châu Âu và
các khu vực khác phải tìm kiếm các phương án thay thế có sẵn, có thể tái tạo hay không. Con số
này đạt 24,9 tỷ USD trong giai đoạn này, là quý đầu tiên tốt thứ hai trong các kỷ lục sau quý 1
năm 2009, đặc biệt nhờ vào các thông báo đầu tư lớn trong các dự án điện gió ngoài khơi và
hydro có mức đầu tư vốn cao, theo báo cáo Switch 2022. Nhìn lại năm 2005, năng lượng tái tạo
chỉ chiếm một phần nhỏ của FDI toàn cầu, nhiên liệu hóa thạch chiếm hơn 20%. Tua nhanh đến
năm 2021, bảng xếp hạng đã bị thay đổi, nhiên liệu hóa thạch chỉ chiếm một phần nhỉ của FDI
toàn cầu, còn năng lượng tái tạo chiếm khoảng 15%. Đáng chú ý, năng lượng tái tạo đã soán
ngôi nhiên liệu hóa thạch, trở thành nam châm lớn nhất của FDI toàn cầu trong tất cả các ngành kể từ năm 2019. lOMoAR cPSD| 58707906
Môi trường toàn cầu cho kinh doanh quốc tế và đầu tư xuyên biên giới vẫn gặp nhiều
thách thức vào năm 2023. Mặc dù những khó khăn kinh tế ảnh hưởng đến xu hướng đầu tư vào
năm 2022 đã giảm bớt, nhưng chúng vẫn chưa biến mất. Căng thẳng địa chính trị vẫn cao. Sự
rối loạn gần đây trong ngành tài chính đã làm tăng thêm sự bất ổn của nhà đầu tư. UNCTAD dự
báo áp lực giảm trên FDI toàn cầu sẽ tiếp tục vào năm 2023. Các chỉ số sớm cho quý 1 năm
2023 cho thấy xu hướng yếu trong tài trợ dự án quốc tế và M&A.
Xu hướng đầu tư xanh là một yếu tố tích cực để cân bằng. Số lượng thông báo dự án
tăng 15% vào năm 2022, và dữ liệu quý 1 năm 2023 cũng cho thấy sự kiên cường. Xu hướng
đầu tư quốc tế vào các tài sản sản xuất thực sự do đó tích cực hơn so với dữ liệu FDI tiêu đề.
Sự giảm FDI vào năm 2022 chủ yếu được thúc đẩy bởi các giao dịch tài chính của các
doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) ở các nền kinh tế phát triển, nơi FDI giảm 37% xuống còn 378
tỷ USD. Số lượng thông báo thực sự về đầu tư xanh và tài trợ dự án tăng 5%.
Ở các nước đang phát triển, FDI tăng 4% lên 916 tỷ USD, chiếm hơn 70% lưu chuyển
toàn cầu, một tỷ lệ kỷ lục. Số lượng dự án đầu tư xanh được thông báo ở các nước đang phát
triển tăng 37%, và các giao dịch tài trợ dự án quốc tế tăng 5%. Đây là một dấu hiệu tích cực cho
triển vọng đầu tư trong công nghiệp và hạ tầng. 3.
Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng FDI trong thời gian vừa qua 3.1. Đại dịch Covid-19
Do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) toàn cầu
chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn 2020 - 2021. Tuy nhiên, các nhà đầu tư
quốc tế đã có sự thích nghi với những bất ổn do Covid-19 gây ra và xu thế FDI thế giới có sự phục hồi đáng kể.
Theo báo cáo của Tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại, Đầu từ và phát triển
(UNCTAC), các biện phát phong tỏa chống dịch và viễn cảnh suy thoái toàn cầu đã thu hẹp đáng kể nguồn FDI.
Sự bùng phát và lây lan của Corona Virus (Covid-19) đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng
vốn FDI toàn cầu. Nó tác động lên FDI ở những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch
bệnh, mặc dù cú sốc cầuvà gián đoạn chuỗi cung ứng cũng đã ảnh hưởng đến triển vọng đầu tư
ở các quốc gia khác. Hơn 2/3 các doanh nghiệp đa quốc gia trong Top 100 của UNCTAD đã đưa
ra các báo cáo về tác động của Covid-19đối với hoạt động kinh doanh của họ. Nhiều doanh
nghiệp còn giảm tốc độ chi tiêu vốn ở các khu vực bịảnh hưởng. Trung bình, 5000 Công ty đa
quốc gia (MNE) hàng đầu (chiếm tỷ trọng đáng kể trong FDI toàn cầu) đã chứng kiến sự điều
chỉnh giảm của ước tính thu nhập năm 2020 là 9% do Covid-19. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là
ngành công nghiệp ô tô (-44%), hàng không (-42%) và ngành năng lượng và vậtliệu cơ bản (- lOMoAR cPSD| 58707906
13%). Tuy nhiên, vào năm 2021, lợi nhuận của MNE đã được phục hồi đáng kể, thậm chí ởmức
kỉ lục như đã được nêu phía trên, góp phần thúc đẩy sự phục hồi của nguồn vốn FDI
Sự sụt giảm về số lượng các dự án FDI vào năm 2020 do đại dịch Covid-19 đã nhanh
chóng được phục hồi vào năm 2021. Mặc dù vậy, cuộc chiến tranh Ukraine - Nga có thể cản trở
xu hướng phục hồi nhanh chóng và bền vững hậu Covid-19. Những lo ngại về địa chính trị khác
như Brexit và nhiệm kỳ tổng thống Mỹ vẫn còn kéo dài, trong khi các vấn đề của chuỗi cung ứng,
áp lực lạm phát và các quy định khắt khe hơn về FDI sẽ làm tăng thêm triển vọng đáng lo ngại
cho FDI trong tương lai gần. 3.2. Chiến sự Nga – Ukraine
Chiến tranh xâm lược của Nga vào Ukraine không chỉ làm suy tàn nền kinh tế của Ukraine
mà còn gây sóng gió trên toàn cầu. Thương mại giữa Nga và Ukraine đã giảm, dẫn đến tăng mức
giá. Mặc dù tác động ban đầu xuất phát từ dầu, khí, ngũ cốc và thép, nhưng nhanh chóng lan
rộng sang nhiều ngành công nghiệp khác. Cuộc xung đột Nga - Ukraine và phản ứng quốc tế sau
đó đã gây thêm một cú sốc và gián đoạn tiêu cực cho nền kinh tế thế giới, với hậu quả tức thì đối
với FDI và các dòng vốn khác. Tuy nhiên, tác động trực tiếp lên dòng vốn FDI của Nga là hạn
chế, vì vai trò của Nga với tư cách là nước tiếp nhận và chủ đầu tư FDI là không quá lớn (theo
số liệu thống kê về FDI của OECD). Trước tháng 2/2022, nguồn vốn FDI hướng vào và ra nước
ngoài từ Nga chỉ chiếm khoảng 1-1,5% tổng nguồn vốn FDI toàn cầu; tuy nhiên sự kiện này dự
kiến sẽ có tác động ngay lập tức đến dòng vốn FDI vào Nga. Các chủ đầu tư FDI từ các quốc gia
OECD vẫn chiếm một phần đáng kể trong khoản đầu tư vào Nga. Tác động của cuộc xung đột
giữa Nga - Ukraine đã vượt ra ngoài phạm vi khu vực, gây ra cuộc khủng hoảng trên cả ba lĩnh
vực: lương thực, nhiên liệu và tài chính, đẩy giá năng lượng và hàng hóa tăng cao dẫn đến lạm
phát và vòng xoáy nợ ngày càng trầm trọng. Điều này đang làm gia tăng tình trạng rủi ro, làm suy
giảm niềm tin kinh doanh và đầu tư, ảnh hưởng đáng kể tới đà phục hồi FDI toàn cầu
Dù sao đi nữa, sự kéo dài của cuộc chiến sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, do đó
cũng ảnh hưởng đến FDI trong năm 2023
3.3. Lạm phát có dấu hiệu giảm xuống nhưng vẫn gây ảnh hưởng tới môi trường đầu tư
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự kiến lạm phát thế giới sẽ giảm từ 8,8% trong năm 2022
xuống còn 6,5% trong năm 2023. Điều này cho thấy sự tăng giá cao nhất đã kết thúc đối với
nhiều quốc gia. Tuy nhiên, những thiệt hại gây ra có thể còn được cảm nhận thêm vào năm 2023.
Một cuộc khảo sát của Ipsos cho biết lạm phát là vấn đề hàng đầu mà người dân trên toàn thế giới quan tâm. lOMoAR cPSD| 58707906
Trung Quốc và các quốc gia châu Âu được dự báo sẽ có một sự hạ cánh khó khăn hơn.
Những cường quốc châu Âu như Anh và Đức được dự báo sẽ rơi vào suy thoái vào đầu năm
2023, sau khi chứng kiến một số mức lạm phát cao nhất trong nhiều thập kỷ.
Tâm lý của nhà đầu tư cũng đã nguội lạnh đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Hoa Kỳ được
dự báo sẽ có một sự hạ cánh nhẹ nhàng hơn do khả năng kiểm soát lạm phát ở một giai đoạn
sớm (mùa hè năm 2022) so với các đối tác châu Âu của mình. Điều này có thể rất quan trọng khi
xét đến vai trò nổi bật của Hoa Kỳ là một điểm đến hàng đầu cho FDI vào và ra. 3.1.
Sự chuyển dịch xu hướng đầu tư vào các quốc gia phát triển
Khi dịch COVID-19 bùng phát, các nền kinh tế phát triển đã áp dụng các chính
sách nới lỏng định lượng truyền thống để ổn định thị trường tài chính. Nhưng họ cũng nhận thấy
rằng các biện pháp hướng đến người dân và doanh nghiệp là cần thiết để giảm thiểu tác hại của
các điều lệnh đã ban hành về cách ly xã hội và phong tỏa.
Tuy nhiên, kinh tế vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề trong nửa đầu năm 2020 và sự phục hồi
sau đó là không đồng nhất theo các ngành, nhóm thu nhập và khu vực. Sự bất bình đẳng về thu
nhập và tài sản cũng tiếp tục gia tăng, với những người có tài sản tài chính và kỹ thuật số được
hưởng lợi nhiều nhất.
Ở EU, thặng dư tài khoản vãng lai đã giảm trong một thời gian để giúp cân bằng toàn cầu,
dự kiến sẽ quay lại mức 3,2% GDP vào năm 2023. Sự phục hồi của du lịch và lợi tức đầu tư ra
nước ngoài sẽ là những yếu tố chính góp vào thặng dư này. 3.2.
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Năm 2022, các doanh nghiệp đa quốc gia từ các nước phát triển đã giảm đầu tư
ra nước ngoài 17% xuống còn 1 nghìn tỷ USD. Nếu không kể việc rút vốn của một công ty viễn
thông ở Luxembourg, thì vốn FDI ra nước ngoài sẽ tăng 9%. Tỷ lệ các quốc gia phát triển chiếm
trong tổng dòng vốn FDI ra nước ngoài vẫn ổn định, duy trì ở mức hai phần ba.
Các doanh nghiệp đa quốc gia châu Âu cắt giảm 61% tổng dòng vốn FDI ra nước ngoài
trong năm 2022, chỉ còn 224 tỷ USD. Đức vẫn là nhà đầu tư lớn nhất châu Âu với dòng vốn FDI
ra từ các doanh nghiệp lên tới 143 tỷ USD, dù đã giảm 13%. Thụy Điển tăng ba lần lên 62 tỷ
USD, do các thương vụ mua bán và sáp nhập xuyên biên giới tăng mạnh. Các doanh nghiệp ở
Tây Ban Nha và Pháp cũng tăng đầu tư lần lượt lên 39 và 48 tỷ USD. Vương quốc Anh tăng FDI
ra nước ngoài lên 130 tỷ USD, chủ yếu là dưới hình thức tái đầu tư lợi nhuận và tăng khoản vay
trong công ty. Dòng vốn FDI ra nước ngoài từ Thụy Sĩ vẫn âm (-23 tỷ USD).
Hoa Kỳ tăng 7% vốn FDI ra nước ngoài, lên 373 tỷ USD. Mua bán và sáp nhập xuyên
biên giới từ Hoa Kỳ tăng kỷ lục 21% lên 273 tỷ USD, chủ yếu trong thông tin và truyền thông và lOMoAR cPSD| 58707906
dịch vụ hỗ trợ hành chính. Trong hơn 40 thương vụ toàn cầu trị giá trên 5 tỷ USD, có 15 thương vụ của Hoa Kỳ.
Nhật Bản và Úc cũng tăng vốn FDI ra nước ngoài. Nhật Bản tăng 10% lên 161 tỷ USD
xếp thứ hai toàn cầu. Hàn Quốc duy trì mức đầu tư ra nước ngoài như năm 2021, với 66 tỷ USD,
và tăng giá trị dự án đầu tư xanh từ 34 tỷ USD lên 76 tỷ USD.
II. Điều kiện của Việt Nam và những yếu tố cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng dịch chuyển FDI
1. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài trước năm 2023 tại Việt Nam
1.1. Tổng quan quy mô vốn đầu tư FDI của Việt Nam năm 2022
Tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỷ USD, mức vốn FDI thực hiện đạt kỷ
lục 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2021. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm (2017 - 2022).
Tính lũy kế trong giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỷ USD vốn
FDI; trong đó, 274 tỷ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
1.2. Cơ cấu đầu tư FDI theo đối tác đầu tư
Năm 2022, Việt Nam tiếp nhận đầu tư FDI từ 108 quốc gia vùng lãnh thổ. Trong đó,
Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 6,46 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 4,88
tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,78 tỷ USD. Tiếp theo là Trung
Quốc, Hồng Kông, Đài Loan.
1.3. Cơ cấu đầu tư FDI theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc
dân. Trong đó, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 16,8 tỷ USD. Kinh doanh bất động
sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư hơn 4,45 tỷ USD. Tiếp theo lần lượt là các ngành sản xuất,
phân phối điện; hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với vốn đăng ký đạt lần lượt hơn
2,26 tỷ USD và gần 1,29 tỷ USD.
1.4. Cơ cấu đầu tư FDI theo số lượng dự án mới
Ba ngành thu hút được nhiều dự án mới nhất là: các ngành bán buôn, bán lẻ (30%), công
nghiệp chế biến chế tạo (25.1%), hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ (16.3%).
Còn lại là các dự án khác
1.5. Cơ cấu đầu tư FDI theo khu vực địa lý lOMoAR cPSD| 58707906
Trong năm 2022, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 54 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 3,94 tỷ USD. Bình
Dương đứng thứ hai với hơn 3,14 tỷ USD. Quảng Ninh xếp thứ ba với gần 2,37 tỷ USD. Tiếp
theo lần lượt là Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội.
Các dự án mới được các nhà đầu tư nước ngoài tập trung đầu tư trong năm chủ yếu tại
các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trong đó, thành phố
Hồ Chí Minh dẫn đầu về số dự án mới (43,9%), số lượt GVMCP (67,6%) và đứng thứ hai về số
lượt dự án điều chỉnh vốn (17,3% sau Hà Nội là 18,6%).
2. Những điều kiện Việt Nam còn thiếu để thu hút vốn đầu tư FDI.
2.1. Môi trường đầu tư còn thiếu tính ổn định.
Môi trường đầu tư, kinh doanh vẫn còn nhiều điểm bất cập, thiếu bền vững, sức cạnh
tranh với các nước trong cùng khu vực còn thấp. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài mới vào đầu tư
tại Việt Nam đang gặp khó khăn liên quan đến cơ chế cấp giấy phép lao động cho lao động nước
ngoài và phê duyệt hạ tầng phòng cháy chữa cháy… Việc chưa đáp ứng được nhu cầu về công
nghệ cao, năng lượng, tài chính đã khiến một số dự án đầu tư phải tạm ngưng mở rộng.
2.2. Nguồn nhân lực còn hạn chế về chất lượng.
Nước ta tuy có lợi thế về số lượng lớn nhưng trình độ học vấn còn chưa cao, trình độ chuyên môn còn chưa cao.
Đây là một vấn đề đã tồn tại từ nhiều năm trước và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn
trong thời gian gần đây khi Việt Nam cố gắng thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án sử dụng
công nghệ cao và hiện đại. Theo một nghiên cứu gần đây do Cục Đầu tư nước ngoài phối hợp
với Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thực hiện, 32% các nhà đầu tư nước
ngoài cho rằng thiếu công nhân lành nghề là nguyên nhân chính khiến họ không thể sử dụng hết
công suất. Do đó, lợi thế của Việt Nam về nguồn nhân lực phong phú với chi phí thấp đang dần giảm.
Nguyên nhân của hạn chế này là do hệ thống giáo dục đào tạo còn bất cập: chương trình,
kiến thức, phương pháp đào tạo ở các cấp, kiểm tra, đánh giá, sàng lọc chất lượng, cơ cấu đào
tạo chưa hợp lý, chưa quan tâm đến nhiều đào tạo nghề ở nông thôn,...
2.3. Chính sách ưu đãi còn chưa phong phú, hấp dẫn.
Mặc dù chính sách ưu đãi của chúng ta thường xuyên được kiểm tra và điều chỉnh, nhưng
chúng vẫn chưa được tập trung đúng mức vào các ngành, lĩnh vực và địa bàn cần thu hút đầu lOMoAR cPSD| 58707906
tư. Chính sách ưu đãi đầu tư cũng còn nhiều bất cập, vẫn chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế, giá thuê
đất, chi phí nguyên liệu trong khi chưa tương xứng với hiệu quả mà các dự án FDI mang lại.
2.4. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, chưa đủ điều kiện để sử dụng nguồn vốn FDI hiệu quả.
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam, mặc dù đã được đầu tư nhiều trong những năm
gần đây, nhưng nhìn chung vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, trong
đó, hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển, hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng
rào khu công nghiệp. Đặc biệt, còn nhiều khó khăn, bất cập trong quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
số và cơ sở hạ tầng ở vùng sâu vùng xa.
2.5. Công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi
trườngcủa các doanh nghiệp còn nhiều yếu kém.
Trong thời gian gần đây, việc bảo vệ môi trường đã nhận được nhiều sự quan tâm hơn,
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Mặc dù có nhiều doanh nghiệp tuân thủ tốt các
quy định về bảo vệ môi trường, nhưng vẫn còn không ít doanh nghiệp và dự án FDI chưa tuân
thủ tốt các quy định này, gây ra ô nhiễm môi trường và sinh thái, ảnh hưởng lâu dài đến cuộc
sống của người dân và làm mất đi hình ảnh tốt của nguồn vốn FDI.
3. Các chính sách, hướng đi, hành động cần có để thích ứng với xu hướng thế giớivề FDI.
3.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách liên quan đến FDI
Cần hoàn thiện các chính sách liên quan đến nhập khẩu công nghệ, chuyển giao công nghệ và môi trường.
Xây dựng và ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong thu hút và sử dụng FDI; không thu hút FDI bất chấp nguy
cơ hủy hoại môi trường.
Rà soát, sửa đổi pháp luật về đăng ký chuyển giao công nghệ; nhập khẩu máy móc, thiết
bị của doanh nghiệp FDI, tránh tình trạng gian lận trong tiếp nhận các công nghệ kém hiện đại,
công nghệ tiềm ẩn rủi ro cao.
Xây dựng thể chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, tạo điều kiện kinh doanh thuận
lợi thu hút các dự án lớn.
Xây dựng cơ chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết giữa FDI và đầu tư trong nước.
3.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về FDI lOMoAR cPSD| 58707906
Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về FDI theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và
thống nhất một đầu mối tại các bộ, ngành, địa phương.
Có chính sách hỗ trợ đào tạo, tuyển dụng, tiền lương, thu nhập hợp lý để khuyến khích
lựa chọn, đào tạo được đội ngũ cán bộ có tính sáng tạo.
Cần tăng cường việc kiểm tra, giám sát và thanh tra, đồng thời nâng cao trách nhiệm của
chính quyền địa phương và người đứng đầu trong việc tuân thủ các chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến đầu tư nước ngoài. Việc phát hiện, ngăn chặn
và xử lý các vi phạm cần được thực hiện kịp thời và nghiêm minh. Hơn nữa, cần có biện pháp
phòng ngừa, cảnh báo và giải quyết các tranh chấp một cách hiệu quả. 3.3.
Thực hiện sàng lọc các dự án FDI.
Khi xem xét các đề xuất của nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức mua bán và sáp nhập,
góp vốn, mua cổ phần, cần phải thận trọng, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp trọng yếu,
lĩnh vực an ninh - quốc phòng, và các dự án có công nghệ, chuỗi giá trị hoặc thương quyền cao.
Việc xây dựng và ban hành các tiêu chí sàng lọc đầu tư (như suất đầu tư, lao động, công
nghệ…) là cần thiết để làm cơ sở thu hút các dự án có hiệu quả.
Nâng cấp tiêu chuẩn về môi trường là một bước quan trọng để không tiếp nhận các dự
án không khuyến khích đầu tư. Ví dụ, các dự án trong ngành dệt nhuộm sử dụng công nghệ cũ
không nên được chấp nhận. Các dự án không đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường hoặc công nghệ cũng nên bị cấm.
Cuối cùng, không nên gia hạn hoặc mở rộng hoạt động cho các dự án sử dụng công nghệ
thấp hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn công nghệ và môi trường.
3.4. Chuẩn bị yếu tố đầu vào đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài tại các dự án FDI.
Thứ nhất, chuẩn bị đội ngũ lao động có tay nghề phù hợp.
Cải thiện chất lượng giáo dục tại các trường học bằng cách kết hợp giữa việc học lý thuyết
và thực hành tại các doanh nghiệp. Đánh giá và hoàn thiện chương trình đào tạo để phù hợp với
yêu cầu của doanh nghiệp.
Chú trọng vào việc đào tạo các ngành có chất lượng cao như: kỹ thuật số, công nghệ
thông tin, ứng dụng tin học, điện tử viễn thông, công nghệ sinh học… Cập nhật kiến thức mới,
tiêu chuẩn và kỹ năng mới phù hợp với tình hình quốc gia và xu hướng phát triển toàn cầu.
Thực hiện nghiên cứu về nhu cầu và tiêu chuẩn lao động có trình độ cao của các tập đoàn
và doanh nghiệp lớn để tìm ra giải pháp cải thiện chất lượng đào tạo lao động trong nước. lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ hai, chuẩn bị các điều kiện về mặt bằng sản xuất.
Các địa phương cần kiểm tra lại các dự án đang triển khai chậm hoặc không hiệu quả để
thu hồi, tạo ra quỹ đất nhằm thu hút các dự án đầu tư mới, những dự án có nhu cầu di dời sản xuất.
Kiểm tra và lập danh sách một số địa phương, khu công nghiệp, khu kinh tế đã chuẩn bị
sẵn sàng về hạ tầng, nhân lực, năng lượng… để cung cấp cho các nhà đầu tư lựa chọn.