






Preview text:
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ QUỲNH VĂN
TRƯỜNG THCS QUỲNH VĂN
Ghim theo hình trên
SBD: ….………….
(Do Ban tổ chức ghi)
(d
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
Tên biện pháp:
Sử dụng trò chơi trong dạy học, góp phần nâng cao hứng thú học tập bộ môn KHTN 7 (Phân môn Hóa học) ở trường THCS Quỳnh Thạch
Họ tên: Phan Thị Xuân Lý
Đơn vị công tác: Trường THCS Quỳnh Thạch
Môn dự thi: KHTN
NĂM HỌC 2025 – 2026
UBND XÃ QUỲNH VĂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
…………….., ngày tháng 02 năm 2026 |
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
(Hội thi GVDG cấp xã chu kỳ 2026-2028)
SBD: ….………….
(Do Ban tổ chức ghi)
(d
Họ và tên giáo viên dự thi: Phan Thị Xuân Lý
Nhiệm vụ được phân công trong 2 năm học:
- Năm học 2024-2025: Giảng dạy môn KHTN (phân môn Hóa học) khối 7, 8, 9
- Năm học 2025-2026: Giảng dạy môn KHTN (phân môn Hóa học) khối 7, 8, 9
1. Tên biện pháp: “Sử dụng trò chơi trong dạy học, góp phần nâng cao hứng thú học tập bộ môn KHTN 7 (Phân môn Hóa học) ở trường THCS Quỳnh Thạch”.
2. Mục tiêu, yêu cầu của biện pháp
2.1. Mục tiêu:
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại trà bộ môn Khoa học tự nhiên (cụ thể phân môn Hóa học).
- Tăng sự hứng thú của HS đối với môn học.
- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí có nội dung gắn liền với bài học, giúp thay đổi không khí lớp học, giảm căng thẳng, chống mệt mỏi, đồng thời khơi gợi sự hứng thú, phát triển tính chủ động, sáng tạo và khả năng làm việc độc lập.
- Hỗ trợ học sinh củng cố và ghi nhớ kiến thức sâu hơn hoặc rút ra những nội dung quan trọng của bài học thông qua những trải nghiệm ấn tượng với màu sắc, hình ảnh và âm thanh sống động của trò chơi.
2.2. Yêu cầu:
- Giúp HS phát triển 5 phẩm chất, 10 năng lực; HS học mà chơi, chơi mà học.
- GV bộ môn giảm áp lực trong giảng dạy, tạo không khí sôi nổi mới lạ, tinh thần học tập hứng khởi trong tiết học. Trạng thái học tập giữa thầy – trò luôn vui vẻ, háo hức.
3. Nội dung và cách thức tiến hành của biện pháp
3.1. Thực trạng trước khi tiến hành áp dụng biện pháp:
- Do thời gian tiết học chỉ có 45 phút, giáo viên thường tập trung truyền đạt kiến thức nhiều hơn là lồng ghép trò chơi vào bài giảng.
- Sĩ số lớp học đông khiến việc tổ chức trò chơi chưa đạt hiệu quả cao..
- Một số thầy cô ngại "vỡ trận" vì khi chơi, học sinh thường ồn ào, khó kiểm soát trật tự, gây ảnh hưởng đến các lớp xung quanh.
- Không phải giáo viên nào cũng thành thạo việc ứng dụng công nghệ thông tin hoặc có đủ kinh phí để chuẩn bị đạo cụ trò chơi thủ công.
- Học sinh thường cảm thấy phân môn Hóa học khó nhớ, trừu tượng (đặc biệt là phần nguyên tử, phân tử).
- Trong giờ học, nhiều em còn thụ động, chưa tích cực tham gia vào hoạt động học tập và vẫn có xu hướng dựa dẫm vào bạn bè.
3.2. Cách thức tiến trình thực hiện biện pháp: Để thực hiện đề tài, bản thân đã thực hiện các bước như sau:
3.2.1. Quy trình thực hiện khi tổ chức trò chơi dạy học
- Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không chỉ đơn thuần là "chơi cho vui", mà là một phương pháp sư phạm giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và hào hứng.
- Để việc sử dụng trò chơi đạt hiệu quả cao, tôi thực hiện theo quy trình 5 bước cụ thể như sau:
Bước 1: Lựa chọn và thiết kế trò chơi phù hợp với nội dung bài học
- Để tiến hành tổ chức một trò chơi học tập cho HS trong quá trình dạy học môn KHTN 7, GV cần lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp với nội dung của bài học. Để lựa chọn trò chơi, cần căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Mục tiêu của bài học;
+ Nội dung kiến thức cần thực hiện;
+ Những hoạt động tương ứng với nội dung nêu trong bài học.
Bước 2: Chuẩn bị phương tiện và phổ biến luật chơi
Sau khi đã chọn được trò chơi phù hợp, để quá trình tổ chức trò chơi học tập được diễn ra thuận lợi, GV cần chuẩn bị các yếu tố sau:
+ Nghiên cứu kĩ luật chơi: Xác định rõ các quy định với những người tham gia chơi, vai trò của các thành viên tham gia được xác định cụ thể;
+ Nghiên cứu kĩ cách chơi, cách thức tổ chức trò chơi, xác định tiến trình của trò chơi và những điều kiện, phương tiện cần thiết để trò chơi học tập có thể thực hiện được.
+ Soạn giáo án, chuẩn bị địa điểm, điều kiện và phương tiện chơi. Giáo án do giáo viên thiết kế để sử dụng trò chơi phải được thể hiện bằng chuỗi các hoạt động tương ứng với tiến trình của hoạt động chơi của học sinh được chia thành những hành động cụ thể và xác định mục tiêu tương ứng.
- Lồng ghép trò chơi vào các hoạt động: Khởi động (để tạo hứng thú), Hình thành kiến thức (thông qua trò chơi khám phá) hoặc Luyện tập (để khắc sâu kiến thức).
- Giáo viên đóng vai trò là Trọng tài và Người truyền lửa: Giáo viên quan sát sát sao để đảm bảo tất cả học sinh đều tham gia, tránh tình trạng chỉ một vài em tích cực. Theo dõi sát sao các nhóm để hỗ trợ kịp thời nếu các em lúng túng. Cổ vũ, khích lệ để duy trì không khí sôi nổi nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát (tránh quá ồn ào ảnh hưởng lớp bên cạnh).
Có thể nói việc thiết kế trò chơi phải mất nhiều thời gian và công sức nhưng việc điều khiển trò chơi còn là cả một nghệ thuật, vì trò chơi có sôi nổi và hấp dẫn người chơi hay không, có phát huy được tính tích cực học tập của học sinh hay không, không chỉ phụ thuộc vào nội dung của trò chơi mà phụ thuộc vào cả cách điều khiển trò chơi và độ hấp dẫn của người điều khiển trò chơi.
Bước 4: Đánh giá kết quả chơi, trao giải cho người chơi.
- Xác định đội thắng cuộc dựa trên luật chơi đã đề ra.
- Phần thưởng có thể là vật chất (kẹo, nhãn dán) hoặc tinh thần (điểm cộng, tràng pháo tay).
- Khen ngợi tinh thần đồng đội, sự sáng tạo hoặc nỗ lực của các cá nhân tiêu biểu.
- GV cần giúp các em rút ra được những kiến thức, kĩ năng, phương pháp giải quyết vấn đề thông qua trò chơi. GV cần thực hiện đánh giá và có thưởng, phạt rõ ràng, đảm bảo tính công bằng. Sau khi tổng kết, rút kinh nghiệm cho các nhiệm vụ đã thực hiện, GV sẽ có sự điều chỉnh những nội dung còn chưa đạt như kì vọng để lần sau đạt kết quả tốt hơn.
Đặt câu hỏi để học sinh rút ra kiến thức thông qua trò chơi vừa rồi.
Giáo viên tóm tắt lại các nội dung trọng tâm mà trò chơi hướng tới.
3.2.2. Một số trò chơi được tổ chức trong các tiết minh họa khi lập kế hoạch dạy học:
- Phân môn Hóa học ở lớp 7 tập trung vào các chủ đề cốt lõi: Nguyên tử, Nguyên tố hóa học, Sơ lược về bảng tuần hoàn, Liên kết hóa học, ….
- Đây là những kiến thức khá trừu tượng, nên việc dùng trò chơi là "vũ khí" cực kỳ lợi hại để học sinh không thấy sợ các ký hiệu hóa học khô khan. Dưới đây là 5 loại trò chơi được thiết kế riêng cho các chủ đề này:
1. Trò chơi: "Bingo Nguyên Tố"
Áp dụng cho: Bài Nguyên tố hóa học hoặc Bảng tuần hoàn.
Mục tiêu: Giúp học sinh ghi nhớ ký hiệu hóa học và tên gọi của 20 nguyên tố đầu tiên.
Chuẩn bị: Mỗi học sinh một lưới 3x3 hoặc 4x4 ô vuông. Giáo viên chuẩn bị danh sách tên gọi các nguyên tố.
Cách chơi:
- Học sinh tự chọn ký hiệu hóa học (ví dụ: $H, He, Li, Be...$) điền ngẫu nhiên vào các ô trong lưới của mình.
- Giáo viên đọc to Tên gọi của nguyên tố (ví dụ: "Hydrogen", "Oxygen").
- Học sinh tìm Ký hiệu tương ứng trên phiếu của mình và gạch chéo.
- Ai hoàn thành một hàng ngang, dọc hoặc chéo trước thì hô "BINGO" để giành phần thắng.
2. Trò chơi: "Tiếp sức: Xây dựng Nguyên tử"
Áp dụng cho: Bài Sơ lược về cấu tạo nguyên tử.
Mục tiêu: Củng cố kiến thức về số proton, neutron, electron và cách sắp xếp lớp electron.
Chuẩn bị: Các vòng tròn nhựa (lớp vỏ), các hạt nhựa/giấy màu khác nhau (đại diện cho $p, n, e$). Các tấm thẻ ghi tên nguyên tử (ví dụ: Carbon, Sodium).
Cách chơi:
- Chia lớp thành 2-3 đội thi đấu tiếp sức.
- Giáo viên đưa ra một tấm thẻ: "Magnesium ($Z=12$)".
- Từng thành viên chạy lên thực hiện một nhiệm vụ: người 1 lấy số Proton bỏ vào nhân, người 2 lấy số Electron, người 3 sắp xếp electron vào lớp thứ nhất, người 4 sắp xếp vào lớp thứ hai...
- Đội nào hoàn thành mô hình nguyên tử đúng và nhanh nhất sẽ thắng.
3. Trò chơi: "Ghép đôi hoàn hảo"
Áp dụng cho: Bài Sự hình thành liên kết ion hoặc Liên kết cộng hóa trị.
Mục tiêu: Hiểu quy tắc "cho - nhận" electron hoặc "dùng chung" electron để đạt cấu hình bền vững.
Chuẩn bị: Thẻ đeo cổ cho học sinh.
- Thẻ Kim loại (cho e): Ví dụ $Na$ (có 1e lớp ngoài cùng), $Mg$ (có 2e lớp ngoài cùng).
- Thẻ Phi kim (nhận e): Ví dụ $Cl$ (thiếu 1e), $O$ (thiếu 2e).
Cách chơi:
- Học sinh đeo thẻ và di chuyển trong lớp trên nền nhạc. Khi nhạc dừng, các em phải tìm "đối tác" để ghép thành một phân tử sao cho tổng số electron cho và nhận bằng nhau (đạt quy tắc octet).
Ví dụ: Một bạn $Mg$ (cho 2e) có thể ghép với một bạn $O$ (nhận 2e) thành $MgO$. Hoặc một bạn $Mg$ phải tìm được hai bạn $Cl$ để thành $MgCl_2$.
- Các nhóm ghép đúng và nhanh nhất sẽ được điểm cộng.
4. Trò chơi: "Xây dựng mô hình siêu tốc"
Áp dụng cho: Bài “ Phân tử - Đơn chất – Hợp chất”
Mục tiêu: Trò chơi này giúp học sinh phân biệt rõ ràng giữa đơn chất (cùng loại nguyên tử) và hợp chất (khác loại nguyên tử) thông qua việc lắp ghép. Giúp học sinh khắc sâu cấu tạo của phân tử một cách trực quan.
Chuẩn bị: Bộ kit mô hình phân tử (hoặc đất nặn nhiều màu và tăm tre). Mỗi màu đại diện cho một nguyên tố (ví dụ: Đỏ là Oxygen, Trắng là Hydrogen, Đen là Carbon).
Cách chơi: 1. Chia lớp thành các đội. 2. Giáo viên hô tên một chất (ví dụ: "Nước" hoặc "Khí Nitrogen"). 3. Các đội phải nhanh chóng lắp ghép mô hình và giơ bảng phân loại đó là Đơn chất hay Hợp chất.
5. Trò chơi: "Mảnh ghép Hóa trị"
Áp dụng cho: Bài “Hóa trị và công thức hóa học”
Mục tiêu: Trò chơi này giúp học sinh hình tượng hóa hóa trị như là "cánh tay" hoặc "mấu nối" để tạo thành hợp chất.
Chuẩn bị: Cắt các miếng bìa hình chữ nhật đại diện cho các nguyên tố/nhóm nguyên tử.
- Nguyên tố hóa trị I: Có 1 mấu lồi ra (hoặc 1 khía lõm vào).
- Nguyên tố hóa trị II: Có 2 mấu lồi/khía lõm.
- Tương tự cho hóa trị III.
Cách chơi: - Chia nhóm và phát cho mỗi nhóm một bộ mảnh ghép (ví dụ: Na, Ca, Al, O, Cl, nhóm $SO_4$).
- Yêu cầu học sinh: "Hãy kết hợp Na và O sao cho các mấu nối vừa khít nhau".
- Học sinh sẽ thấy cần 2 mảnh Na (mỗi mảnh 1 mấu) để lắp đầy 2 khía của 1 mảnh O. Từ đó suy ra CTHH là Na2O.
3.3. Đánh giá cách thức tiến trình thực hiện biện pháp:
- Biện pháp giúp thay đổi hình thức dạy học từ truyền thống sang tương tác tích cực, giúp học sinh "học mà chơi, chơi mà học" hiệu quả.
3.4. Minh chứng: ………………… Video, hình ảnh, sản phẩm,…. / Kết quả học tập của HS, GV,….
4. Kết quả, hiệu quả của biện pháp
Hiệu quả: Học sinh hào hứng, tích cực phát biểu xây dựng bài. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi trong các bài kiểm tra định kỳ tăng rõ rệt.
Thống kê, báo cáo,…… bảng biểu. So sánh trước/sau.
Thống kê: So sánh kết quả khảo sát hứng thú học tập trước và sau khi áp dụng:
Giai đoạn | Rất hứng thú | Bình thường | Không hứng thú |
Trước áp dụng | 20% | 50% | 30% |
Sau áp dụng | 75% | 20% | 5% |
5. Khả năng áp dụng, phát triển biện pháp
Biện pháp có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các phân môn trong KHTN (Lý, Sinh) và các khối lớp 6, 8, 9 và có thể phát triển thành các câu lạc bộ "Em yêu khoa học" tại trường THCS Quỳnh Thạch.
GIÁO VIÊN DỰ THI
Phan Thị Xuân Lý