Làng (Kim Lân) - Ngữ Văn 9

1. Con người, cuộc đời Kim Lân sinh 1 tháng 8 năm 1920, mất 20 tháng 7 năm 2007, tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. 2. Sự nghiệp sáng tác a. Đóng góp chủ yếu - Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện (“Vợ nhặt”, “Đứa con người vợ lẽ”, “Đứa con người cô đầu”, “Cô Vịa”,...) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó. Tài liệu được sưu tầm giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới. Mời bạn đọc đón xem !

Chủ đề:
Môn:

Ngữ Văn 9 0.9 K tài liệu

Thông tin:
9 trang 3 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Làng (Kim Lân) - Ngữ Văn 9

1. Con người, cuộc đời Kim Lân sinh 1 tháng 8 năm 1920, mất 20 tháng 7 năm 2007, tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. 2. Sự nghiệp sáng tác a. Đóng góp chủ yếu - Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện (“Vợ nhặt”, “Đứa con người vợ lẽ”, “Đứa con người cô đầu”, “Cô Vịa”,...) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó. Tài liệu được sưu tầm giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới. Mời bạn đọc đón xem !

104 52 lượt tải Tải xuống
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
“LÀNG” CA KIM LÂN
I. TRNG TÂM KIN THC
1. Tình hung truyn và din biến tâm trng ca ông Hai
2. Tình yêu làng quê, lòng yêu nước và tinh thn kháng chiến ca người nông dân.
3. Đc sc ngh thut ca tác phm.
II. V NHÀ VĂN KIM LÂN
1. Con người, cuc đi
Kim n sinh 1 tháng 8 năm 1920, mt 20 tháng 7 năm 2007, tên tht là Nguyn Văn Tài, q
làng Phù Lưu, xã Tân Hng, huyn T Sơn, tnh Bc Ninh.
2. S nghip sáng tác
a. Đóng góp ch yếu
- Kim Lân bt đu viết truyn ngn t năm 1941. Tác phm ca ông được đăng trên c báo Tiu
thuyết th by Trung Bc ch nht. Mt s truyn (“V nht”, “Đa con người v l”, “Đa con người
đu”, “Cô Va”,...) mang tính cht t truyn nhưng đã th hin được không khí tiêu điu, m đm ca
nông thôn Vit Nam và cuc sng lam lũ, vt v ca người nông dân thi kỳ đó.
- Ông được dư lun cý nhiu hơn khi đi vào nhng đ tài đc đáo như tái hin sinh hot văn
hóa phong phú thôn quê (đánh vt, chi gà, th chim...). Các truyn: “Đôi chim thành”, “Con mái”,
“Chó săn”... k li mt cách sinh đng nhng thú chơi k trên, qua đó biu hin mt phn v đp tâm
hn ca người nông dân trước Cách mng tháng m- nhng người sng cc nhc, kh nghèo nhưng
vn yêu đi, trong sáng, tài hoa.
- Sau ch Mng tháng Tám, Kim Lân tiếp tc m báo, viết văn. Ông vn chuyên v truyn ngn
và vn viết v làng quê Vit Nam- mng hin thc mà t lâu ông đã hiu biết sâu sc.
- Trong c hai giai đon sáng c, tuy viết không nhiu nhưng giai đon nào Kim Lân ng
nhng tác phm hay. mt cây bút truyn ngn vng vàng, ông đã viết v cuc sng con người
nông thôn bng tình cm, tâm hn ca mt người vn là con đ ca đng rung.
- Nǎm 2001, Kim Lân được trao tng Gii thưởng Nhà nước v văn hc ngh thut.
b. Nhng tác phm chính:
“Nên v nên chng” (tp truyn ngn, 1955).
“Con chó xu xí” (tp truyn ngn, 1962).
III. HƯỚNG DN ĐC HIU VĂN BN
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
A.Tác gi, tác phm
1.Tác gi
- Kim Lân tên khai sinh là Nguyn Văn Tài, sinh năm 1920, quê Bc Ninh.
- Kim Lân bt đu viết truyn ngn t năm 1941.
- Thế gii ngh thut trong truyn ngn ca Kim Lân tp trung khung cnh nông thôn hình
tượng người nông dân, th hin không khí tiêu điu, m đm ca ng thôn Vit Nam cuc sng vt
v lam lũ ca người nông dân Vit Nam trước Cách mng tháng Tám.
- Ngòi bút ca Kim Lân đc bit hp dn khi viết v sinh hot phong phú thôn quê vinhng thú
chơi nh mnh như đánh vt, chi gà, th chim…, qua đó th hin v đp tâm hn ca người nông dân
trước Cách mng sng cc nhc, kh nghèo nhưng vn yêu đi, trong sáng, tài hoa.
- Sau cách mng Kim n vn tiếp tc viết v làng quê Vit Nam gt hái nhng thành công mi
đ tài s trường ca mình.
- Tác phm chính: “Nên v nên chng” ( 1955 ), “Con chó xu xí” (1962).
2. Tác phm
a. Hoàn cnh sáng tác
Truyn ngn "Làng" được viết trong thi kì đu ca cuc kháng chiến chng Pháp và đăng ln đu
trên tp chí Văn ngh ( 1948 ).
b. Đc đim ni dung – ngh thut
- Truyn thuc loi ct truyn tâm lí, không xây dng trên các biến c ln, s kin bên ngoài
chú trng đến c nh hung bên trong ni tâm nhân vt, miêu t các din biến tâm lí, t đó làm
ni rõ tính cách nhân vt và ch đ tác phm.
- Truyn “Làngkhai thác mt tình cm bao trùm ph biến trong con người thi kháng
chiến: tình cm quê hương đt nước. Đây mt tình cm mang tính cg đng. Nhưng thành công ca
Kim Lân đã din t tình cm, tâm chung y trong s th hin c th sinh đng mt con người, tr
thành mt nét tâm sâu sc nhân vt ông Hai, thế là tình cm chung li mang rõ màu sc
riêng, cá nhân, in rõ cá tính nhân vt.
B. Phân tích
1.Tình yêu làng nhân vt ông Hai
- Ông Hai yêu cái làng Ch Du ca nh bng mt tình cm tht đc bit. Nhng biu hin ca
tình y ông Hai cũng rt đc bit: ông say mê k v làng, luôn khoe làng mình, t hào vi cái làng ch
Du ca mình v nhiu mt. Tình cm y càng được bc l tha thiết, nhit thành khi ông phi xa làng đi
tn cư.
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
- Ông t hào v làng mình giàu đp: “nhà ngói san sát, sm ut như tnh. Đưng trong ng lát
toàn đá xanh, tri mưa tri gió tha h đi khp đu làng, cui xóm, bùn không dính đến gót chân”.
- Hi trước Cách mng, ông còn khoe v cái sinh phn ca viên tng đc người làng ông.
- Sau Cách mng, ông li t hào v nhng cái khác, đó phong trào cách mng ca ng rt sôi
ni, rt khí thế, lôi cun mi tng lp nhân dân vào các đoàn th cu quc. Ông còn khoe v “cái
phòng thông tin tuyên truyn sáng sa, rng i nht vùng, chòi phát thanh cao bng ngn tre, chiu
chiu loa gi c làng đu nghe thy”.
- Ông nói chuyn v cái làng ca mình mt cách say mê náo nc l thường: “ Hai con mt ông sáng
hn lên, cái mt biến chuyn, hot đng”.
- Ông tình nguyn hăng hái li làng cùng đi du ch chiến đu. Đến khi hoàn cnh gia đình
phi đi tn cư, ông kh tâm, day dt, nh làng, nh anh em đng chí li làng.
Tác gi đã din t mt tình cm, mt nét tâm quen thuc truyn thng ca người ng dân:
tình cm gn vi làng quê t hào v quê hương mình. Cái m lí t hào v làng quê người ng
dân lúc đy lên thành mt th tâm lí đa phương hp hòi, ông Hai phn nào nhim cái tâm y.
Nhưng chính cách mng kháng chiến đã khơi dy nhng người nông dân tình cm yêu nước rng
ln , hnhp thng nht tình cm làng quê vào tình cm rng ln y. ông Hai, tình cm yêu làng
thng nht vi lòng yêu nước, vi tinh thn kháng chiến.
2. Din biến tâm trng ca ông Hai khi nghe tin làng mình theo gic
a. Tình hung bc l tâm trng
Tác gi đã đt nhân vt ông Hai vào mt tình hung gay gt đ làm bc l sâu sc tình cm yêu
làng, yêu nước ca ông. Tình hung y là cái tin làng ông theo gic, lp t chính ông nghe được t
ming nhng người mi tn cư qua vùng ông.
- Khi nghe tin quá đt ngt y, ông Hai sng s: C ông lão nghn ng hn li, da mt rân rân.
Ông lão lng đi, tưởng như đến không th được”. Khi trn tĩnh li được phn nào, ông còn c chưa tin cái
tin y. Nhưng ri nhng người tn cư đã k rành rt quá, li khng đnh h va dưới y n, làm ông
không th không tin.
- T lúc y trong tâm trí ông Hai ch còn có cái tin d y xâm chiếm, nó thành mt ni ám nh day
dt. Nghe tiếng chi bn Vit gian, ông cúi gm mt đi. V đến nhà, ông nm vt ra giường, ri ti
thân nhìn đàn con “nước mt ông lão c tràn ra. Chúng cũng tr con làng Vit gian đy ư? Chúng
nó cũng b người ta r rúng ht hi đy ư?”.
- Sut my ngày sau, ông Hai không dám đi đâu. Ông ch quanh qun nhà, nghe ngóng binh tình
bên ngoài. “Mt đám đông túm li, ông cũng đ ý, dăm by tiếng cười nói xa xa, ông cũng cht d. Lúc
nào ông cũng nơm np tưởng như người ta đang đ ý, người ta đang bàn tán đến cái chuyn y”,
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
“thoáng nghe nhng tiếng Tây, Vit gian, cam nhông…là ông li ra mt góc nhà, nín thít, thôi li chuyn
y ri”.
Tác gi đã din t rt c th ni ám nh nng n biến thành s s hãi thường xuyên trong ông Hai
cùng vi ni đau xót, ti h ca ông trước cái tin làng mình theo gic.
b. Xung đt ni tâm ca ông Hai
Tác gi th hin sâu sc tình yêu làng quê tinh thn yêu nước ông Hai qua mt mâu thun:
khi nghe tin làng mình theo gic, hai tình cm y đã dn đến mt cuc xung đt ni tâm ông Hai. Ông
đã dt khoát la chn theo cách ca ông: làng thì yêu tht, nhưng làng theo Tây tphi thù, tình yêu
nước đã rng ln hơn, bao trùm lên tình cm vi làng quê. Nhưng đã xác đnh như thế, ông vn
không th dt bnh cm vi làng quê, vì thế mà ông càng đau xót ti h.
- Ông Hai đã b đy vào tình thế bế tc tuyt vng khi m ch nhà mun đui gia đình ông đi.
Đi đâu bây gi? Không ai cha chp dân ca cái làng Vit gian, cũng không th quay v làng, V làng
tc chu quay li làm l cho thng Tây”. Mi mâu thun trong ni tâm tình thế ca nhân vt
dường như đã thành s bế tc, đòi hi phi được gii quyết.
- Trong tâm trng b dn nén bế tc y, ông ch còn biết trút ni lòng ca mình vào nhng li
th th tâm s vi đa con nh còn rt thơ ngây: “ Ông lão ôm thng con út …cũng vi đi được đôi phn”.
Đây mt đon văn din t rt cm đng sinh đng ni lòng sâu xa, bn cht, chân thành ca ông
Hai- mt người nông dân- vi quê hương, đt nước, vi cách mng kháng chiến. Qua nhng li tâm
s vi đa con nh, thc cht là li t nh vi mình, ta thy rõ ông Hai:
+ Tình yêu u nng vi cái làng Ch Du ca ông, ông mun đa con nh ghi nh câu “Nhà ta
làng Ch Du”.
+ Tm lòng chung thu vi kháng chiến, vi cách mng mà biu tượng là C H “Anh em đng chí
biết cho b con ông. C H trên đu trên c t soi cho b con ông”. Tình cm y sâu nng, bn vng
và thiêng liêng “Cái lòng b con ông là như thế đy, có bao gi dám đơn sai. Chết thì chết có bao gi dám
đơn sai”.
c.Ngh thut miêu t din biến tâm trng ông Hai
- Tác gi đt nhân vt vào tình hung th thách bên trong đ bc l chiu sâu tâm trng.
- Tác gi miêu t rt c th, gi cm các din biến ni tâm qua các ý nghĩ, cm giác, hành vi, ngôn
ng…Đc bit, tác gi đã din t rt đúng y n tượng mnh m v s ám nh, day dt trong m
trng nhân vt. Điu đó chng t Kim Lân am hiu sâu sc con người nông dân và thế gii tinh thn ca
h.
3.Ngh thut ca truyn ngn “Làng”
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
- Truyn xây dng theo ct truyn tâm lí. c gi đã ng to tình hung truyn tính ng
thng, th thách ni tâm nhân vt, t đó bc l đi sng bên trong, tình cm tư tưởng ca nhân vt.
Đt vào trong thi đim ra đi ca tác phm càng thy được thành công ca Kim Lân.
- Ngh thut miêu t tâm lí nhân vt sâu sc, tinh tế.
- Ngôn ng nhân vt sinh đng, giàu tính khu ngth hin cá tính ca tng nhân vt ( cũng là
ngôn ngng dân nhưng li nói ca ông Hai và m ch nhà rt khác nhau ). Qua ngôn ng làm
tính cách nhân vt, đng thi phn ánh tâm lí ham thích các sinh hot chính tr ca qun chúng hi đu
cách mng và kháng chiến.
- Cách trn thut ca tác gi linh hot, t nhiên, nhiu chi tiết sinh hot, đi sng hàng ngày
xen vào vi mch tâm trng khiến cho truyn sinh đng hơn (qua truyn có th thy c th v đi sng
người tn cư, mi quan h gia ch nhà dân tn cư, nhng nét sinh hot hàng ngày trong vùng
kháng chiến).
IV. LI BÌNH TÁC PHM
A. TÌNH YÊU LÀNG CA ÔNG HAI
Kim Lân là nhà văn vn sng cùng phong phú sâu sc v nông thôn Vit Nam . Các ng
tác ca ông đu xoay quanh cnh ng sinh hot ca người nông dân. Truyn ngn “Làng” đươc sáng
tác vào thi kỳ đu ca cuc kháng chiến chng thc dân Pháp, vi nhân vt chính ông Hai, mt lão
nông hin lành, yêu làng, yêu nước và gn bó vi kháng chiến .
Ông Hai cũng như bao người nông dân quê t xưa luôn gn bó vi làng quê ca mình. Ông yêu quí
t hào vng Ch Du hay khoe v mt cách nhit tình, hào hng. nơi tn cư ông luôn nh
v làng, theo dõi tin tc kháng chiến hi thăm v Ch Du. Tình yêu làng ca ông càng được bc l
mt cách sâu sc và cm đng trong hoàn cnh th thách. Kim Lân đã đt nhân vt vào tình hung gay
gt đ bc l chiu sâu tình cm ca nhân vt. Đó tin làng Ch Du lp t theo gic.T phòng thông
tin ra, đang phn chn, náo nc vì nhng tin vui ca kháng chiến thì gp nhng người tn cư, nghe nhc
đến tên làng, ông Hai quay pht li, lp bp hi, hy vng được nghe nhng tin tt lành, nào ng biết tin
d: C ng Vit gian theo Tây”. Tin bt ng y va lt vào tai đã khiến ông bàng hoàng, đau đn :“C
ông lão nghn ng hn li,da mt tê rân rân, ông lão lng đi tưởng như đến không th được, mt lúc lâu
ông mi rn è è nut mt cái vướng c. Ông ct tiếng hi, ging lc hn đi nhm hy vng điu va
nghe không phi s tht. Trước li khng đnh chc chn ca nhng người tn cư, ông tìm cách lng
v. Tiếng văng vng ca người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha m tiên sư nhà chúng nó , đói kh
ăn cp ăn trm bt được người ta n thương,cái ging Vit gian bán nước thì c cho mi đa mt
nhát”.V đến nhà ông chán chường nm vt ra giường”, nhìn đàn con nước mt ông c giàn ra chúng
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
cũng là tr con làng Vit gian đy ư? Chúng cũng b người ta r rúng ht hi đy ư?”. Ông căm thù
nhng k theo Tây, phn bi làng, ông nm cht hai tay li rít lên: chúng bay ăn miếng cơm hay
miếng gì vào mm mà đi làm cái ging Vit gian bán nước đ nhc nhã thế này”. Nim tin, ni ng ging
trong ông. Ông kim đim li tng người trong óc, thy h đu tinh thn c đi nào li cam
tâm làm cái điu nhc nhã y”. Ông đau xót nghĩ đến cnh “người ta ghê tm, người ta thù hn cái ging
Vit gian bán nước”. Sut my ngày lin ông chng dám đi đâu,“ch nhà nghe ngóng binh nh”, lúc
nào cũng nơm np tưởng người ta đang đ ý, đang bàn n đến cái chuyn làng nh. Ni ám nh,day
dt,nng n biến thành s s i thường xuyên trong ông. Ông đau đn, ti h như chính ông ngưi
có li...
Tình thế ca ông càng tr nên bế tc, tuyt vng khi ch nhà ý đui gia đình ông vi do
không cha người ca làng Vit gian. Trong lúc tưởng tuyt đường sinh sng y, ông thoáng ý nghĩ
quay v làng nhưng ri li gt pht ngay bi “v làng tc là b kháng chiến, b C H”, là “cam chu quay
tr li làm l cho thng Tây”. Tình yêu làng lúc này đã ln rng thành nh yêu nước bi du tình
yêu, nim tin và t hào v ng Du b lung lay nhưng nim tin C Hcuc kháng chiến không
h phai nht. Ông Hai đã la chn mt cách đau đn dt khoát: Làng thì u tht nhưng làng theo
Tây mt ri thì phi thù!”. Dù đã xác đnh thế nhưng ông vn không th dt b tình cm ca mình đi
vi quê hương. Bi thế ông càng xót xa, đau đn.... Trong tâm trng b dn nén bế tc y, ông ch
còn biết tìm nim an i trong li tâm s vi đa con trai nh. Nói vi con thc ra đang trút ni
lòng mình. Ông hi con nhng điu đã biết trước câu tr li: Thế nhà con đâu?”, thế con ng h ai
?”…Li đa con vang lên trong ông thiêng liêng gin d:“Nhà ta làng Ch Du”, ng h C H Chí
Minh muôn năm !”…. Nhng điu y ông đã biết, vn mun ng con khc ct ghi tâm. Ông mong anh
em đng chí biết cho b con ông, tm lòng b con ông như thế đy, bao gi dám đơn sai, chết thì
chết bao gi dám đơn sai”. Nhng suy nghĩ ca ông như nhng li nguyn th son st. Ông xúc đng,
nước mt chy ròng ròng trên hai má. Tm lòng ca ông vi làng, vi nước tht sâu nng, thiêng liêng.
Du c làng Vit gian thì ông vn mt lòng trung thành vi kháng chiến,vi C H
May thay, tin đn tht thit v làng Ch Du được ci chính. Ông Hai sung sướng như đưc sng
li. Ông đóng khăn áo chnh t đi vi người báo tin và khi tr v cái mt bun thu mi ngày bng tươi
vui rng r hn lên”. Ông mua cho con bánh rán đường ri vi vã, lt đt đi khoe vi mi người. Đến
đâu cũng ch my câu“Tây đt nhà tôi ri bác ! Đt sch! Đt nhn! Ông ch tch làng tôi va mi
lên trên này ci chính. Ci chính cái tin làng Ch Du chúng tôi Vit gian theo Tây y mà. Láo! Láo hết!
Toàn sai s mc đích c .Ông c múa tay lên khoe vi mi người”. Ông khoe nhà mình b đt
sch, đt nhn như là minh chng khng đnh làng ông không theo gic. Mt hết c cơ nghip ông
không h bun tiếc, thm chí còn rt sung sướng, hnh phúc. Bi l, trong s cháy ri ngôi nhà ca
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
riêng ông s hi sinh v danh d ca làng Ch Du anh dũng kháng chiến. Đó mt nim vui kỳ
l,th hin mt cách đau xót cm đng nh yêu làng,yêu nước,tinh thn hy sinh cách mng ca
người dân Vit Nam trong cuc kháng chiến chng k thù xâm lược .
Cách miêu t chân thc, sinh đng, ngôn ng đi thoi, đc thoi đc thoi ni tâm đa dng, t
nhiên như cuc sng cùng vi nhng mâu thun căng thng, dn đy, bc bi đã góp phn không nh
to nên thành công ca câu chuyn, đng thi còn th hin s am hiu gn bó sâu sc ca nhà văn
vi người nông dân và công cuc kháng chiến ca đt nước.
Qua nhân vt ông Hai ta hiu thêm v v đp m hn ca người nông dân Vit Nam thi kỳ
kháng chiến chng thc dân Pháp xâm lược :Yêu làng, yêu nước gn vi kháng chiến. Có l thế
tác phm “Làng” xng đáng là mt trong nhng truyn ngn xut sc ca văn hc Vit Nam hin
đi.
B. TRUYN NGN “LÀNG”
Kim Lân tên tht Nguyn Văn Tài sinh năm 1921, quê Hà Bc. Là nhà văn chuyên viết truyn
ngn, ông đã ng tác đăng báo t trước cách mng tháng 8. nvăn am hiu sâu sc, gn vi
nông n nông thôn, Kim Lân hu như ch viết v sinh hot nông thôn cnh ng ca người nông
dân. Truyn ngn “Làng” là mt trong nhng truyn ngn hay nht ca Kim Lân được viết trong thi
đu ca cuc khánh chiến chng Pháp (1948). Đây mt tác phm đc đáo viết v lòng yêu nước ca
ông Hai Thu, lòng yêu nước này xut phát t tình yêu quê hương, yêu làng sâu sc ca ông. Tình cm và
ý nghĩa này đã tr thành ph biến mi người nông dân Vit Nam ta trong nhng ngày đu chng
Pháp.
Ông Hai yêu cái làng Ch Du ca ông tht đm đà, tha thiết , yêu đến ni đi đâu ông cũng khoe
v cái làng ca ông. K vng Ch Du, ông nói mt cách say sưa mà không cn biết người nghe có chú
ý hay không. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát, sm ut, đường trong làng lát toàn bng đá xanh,
tri mưa đi t đu làng đến cui xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm thóc
tt thượng hng, không ly mt ht thóc đt. Ông còn t hào v cái sinh phn ca tng đc làng ông.
Ông t hào, vinh d làng mình cái nét đc đáo, b dày lch s. Nhưng khi cách mng thành
công, đã giúp ông hiu dc s sai lm ca mình. t đó, mi khi khoe v làng là ông khoe v nhng
ngày khi nghĩa dn dp, nhng bui tp quân s c râu tóc bc phơ cũng vác gy đi tp. Ông n
khoe c nhng h , nhng , nhng hào,... lm công trình không đ đâu hết.
Chính cái tình hung ngt nghèo khi gic tràn vào làng, ông buc phi xa làng. Xa làng ông mang
theo tt c ni nin thương nh. vy, nên lúc tn cư, ông kh tâm day dt khôn nguôi. Qu tht, cuc
đi s phn ca ông Hai tht s gn vi bun vui ca làng. T hào yêu nơi “chôn rau ct rn”
ca mình tr thành mt truyn thng và tâm chung ca mi người nông dân thi by gi. Có th tình
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
yêu nước ca h bt ngun t cái đơn gin, nh : cây đa, giếng nướ, sân đình… và nâng cao lên đó chính
: tình yêu đt nước. Ti đây, cht nh đến câu nói bt h ca nvăn I-li-a Ê-ren-bua : lòng u
nhà, yêu làng xóm, yêu min quê tr nên lòng yêu T quốc “. Nhng ngày làng Thng, ông Hai sut
ngày ra tr s đ nghe ngóng tin tc v làng Ch Du và ông nghe tin c làng ông Vit gian theo Tây. C
ông lão nghn ng li, da mt rân rân” ông lão lng đi, tưng như không th th được. Ông cm thy
đâu đn nhc nhã cái làng Ch Du yêu quý ca mình theo gic. Ông nguyn ra bn theo Tây :
chúng bay ăn miếng cơm hay miếng vào mm mà đi làm cái ging Vit gian bán nước đ nhc nhã
thế này”. Cũng chình t c y, ông không dám đi đâu hết, sut ngày ru trong nhà và nghe ngóng tin
tc. Đến khi m ch nhà đến báo không cho gia đình ông na, ông thy tuyt đường sinh sngông
ny ra ý đnh: “hayquay v làng ?nhưng ri ý nghĩ đó lp tc b ông lão phn đi ngay vì :làng thì
yêu tht, nhưng làng theo Tây thì phi thù.” Có th nói vi ông Hai, làng nước bay gi đã tr thành
đi đch. Hai tình cm này đã dn đến cuc xung đt ni tâm trong lòng ông. Nhưng trong đó, tình yêu
đt nước được ông Hai đt lên trên hết.
Phi thc s am hiu sâu sc v con người, nht tâm ca người dân thì Kim Lân mi din t
đúng m trang nhân vt như vy. Trong nhng ngày này, ni nim tâm s ca ông được th hin
trong nhng li trò chuyn ca ông vi đa con út. Trò chuyn vi con như đ thanh minh cho làng
mình. Ông hi con: con ng h ai?Thng giơ tay mnh bo rành rt: ng h c H Chí Minh
muôn năm”. Cái lòng ca b con ông là thế đy “chết thì chết có bao gi dám đơn sai”.
Thế ri, mt tin khác li đính chính rng làng ông không theo gic. Nhng ni lo âu, xu h tan
biến. Thay vào đó là ni vui mng, sung sướng. Ông đi t đu làng đến cui xóm khoe cái tin làng mình
không theo gic, khoe c cái vic nhà ông b đt cháy mt cách sung sướng, h hê: bác Th đâu ri !
Bác Th làm đy ? Tây đt nhà tôi ri bác . Đt nhn ! ông ch tch làng tôi va mi n trên này
ci chính, ông y cho biết… cái tin, cái tin làng ch Du chúng tôi đi Vit gian y mà. Láo ! Láo hết ! toàn
là sai s mc đích c”. Qua li khoe ca ông Hai, điu làm ta cm đng đó là ông không h tiếc hay bun
khi ngôi nhà ca ông b đt . Nim vui vì làng không theo gic đã choáng hết tâm trí ông. Mi đau kh,
bun ti đã được rũ sch.
Qu tht, Kim n rt thành công trong vic khc ha hình nh ca ông Hai, mt trong nhng
người dân by gi, đơn gin, cht phác, tiêu biu cho tng lp nông dân Việt Nam sau Cách Mng tháng
Tám. H đã đt tình yêu đt nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân tht thành công trong ngh thut xây
xng truyn, nht ngh tht s dng ngôn ng nhân vt ông Hai đin hình. Li nói ca ông hai
đúng là li nói ca nhng người nông dân thi by gi, k c nhng t dung sai: bác Th đâu ri… Láo
! Láo hết ! toàn là sai s mc đích c”. Bên cnh đó Kim Lân còn thành công trong vic miêu t tâm
nhân vt. Din biến tâm ca ông Hai t đu đến cui truyn tht cm đông. Yêu làng đến ni đi đâu
Tài li
u: LT vào L
p 10 môn Ng
văn
Th
y Ph
m H
u C
ư
ng
Làng
cũng khoe v làng. Khi biết làng b nh nghi theo gic thì ông đau kh, ti nhc, khi biết làng mình
không theo gic, ông sung sướng, thm chí còn khoe c tin nhà mình b đ cháy mt cách vui sướng, h
hê. Xây dng được nhng chi tiết y, miêu t s phát trin tâm nhân vt như vy, Kim n đã chng
t được tài ngh ca mình.
Truyn “Làng” mt tác phm khá thành ng khi viết v lòng yêu nước, yêu làng ca người
nông dân VN thi kháng chiến chng Pháp. Kim Lân đã th hin được tài năng ca mình qua tác phm
này. Đc tác phm giúp ta nh dung được mt thi kỳ chng Pháp sôi ni ca nhân dân, mi người
mt lòng theo Bác, theo Đng kháng chiến đến cùng, l vy cuc chiến ca ta đã dành được
thng li v vang.
IV. Đ LUYN TP
1. Phân tích din biến tâm trng ca nhân vt ông Hai k t khi nghe tin làng mình theo gic.
2. Phân tích tình hung truyn cơ bn ca tác phm.
3. Nét chung và riêng ca tình cm vi đt nước, quê hương qua “Làngvà “Lng l Sa Pa.
| 1/9

Preview text:

Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
“LÀNG” CỦA KIM LÂN
I. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC
1. Tình huống truyện và diễn biến tâm trạng của ông Hai
2. Tình yêu làng quê, lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân.
3. Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.
II. VỀ NHÀ VĂN KIM LÂN
1. Con người, cuộc đời
Kim Lân sinh 1 tháng 8 năm 1920, mất 20 tháng 7 năm 2007, tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở
làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
2. Sự nghiệp sáng tác a. Đóng góp chủ yếu
- Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu
thuyết thứ bảyTrung Bắc chủ nhật. Một số truyện (“Vợ nhặt”, “Đứa con người vợ lẽ”, “Đứa con người
cô đầu”, “Cô Vịa”,...) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của
nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó.
- Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn
hóa phong phú ở thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả chim...). Các truyện: “Đôi chim thành”, “Con mã mái”,
“Chó săn”... kể lại một cách sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm
hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám- những người sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng
vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.
- Sau Cách Mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn. Ông vẫn chuyên về truyện ngắn
và vẫn viết về làng quê Việt Nam- mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc.
- Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có
những tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã viết về cuộc sống và con người ở
nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.
- Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
b. Những tác phẩm chính:
“Nên vợ nên chồng” (tập truyện ngắn, 1955).
“Con chó xấu xí” (tập truyện ngắn, 1962).
III. HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
A.Tác giả, tác phẩm 1.Tác giả
- Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920, quê ở Bắc Ninh.
- Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941.
- Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Kim Lân tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình
tượng người nông dân, thể hiện không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống vất
vả lam lũ của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
- Ngòi bút của Kim Lân đặc biệt hấp dẫn khi viết về sinh hoạt phong phú ở thôn quê vớinhững thú
chơi lành mạnh như đánh vật, chọi gà, thả chim…, qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân
trước Cách mạng sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.
- Sau cách mạng Kim Lân vẫn tiếp tục viết về làng quê Việt Nam và gặt hái những thành công mới
ở đề tài sở trường của mình.
- Tác phẩm chính: “Nên vợ nên chồng” ( 1955 ), “Con chó xấu xí” (1962). 2. Tác phẩm a. Hoàn cảnh sáng tác
Truyện ngắn "Làng" được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu
trên tạp chí Văn nghệ ( 1948 ).
b. Đặc điểm nội dung – nghệ thuật
- Truyện thuộc loại có cốt truyện tâm lí, không xây dựng trên các biến cố lớn, sự kiện bên ngoài
mà chú trọng đến các tình huống bên trong nội tâm nhân vật, miêu tả các diễn biến tâm lí, từ đó làm
nổi rõ tính cách nhân vật và chủ đề tác phẩm.
- Truyện “Làng” khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kì kháng
chiến: tình cảm quê hương đất nước. Đây là một tình cảm mang tính cộg đồng. Nhưng thành công của
Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện cụ thể sinh động ở một con người, trở
thành một nét tâm lí sâu sắc ở nhân vật ông Hai, vì thế nó là tình cảm chung mà lại mang rõ màu sắc
riêng, cá nhân, in rõ cá tính nhân vật. B. Phân tích
1.Tình yêu làng ở nhân vật ông Hai
- Ông Hai yêu cái làng Chợ Dầu của mình bằng một tình cảm thật đặc biệt. Những biểu hiện của
tình ấy ở ông Hai cũng rất đặc biệt: ông say mê kể về làng, luôn khoe làng mình, tự hào với cái làng chợ
Dầu của mình về nhiều mặt. Tình cảm ấy càng được bộc lộ tha thiết, nhiệt thành khi ông phải xa làng đi tản cư.
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
- Ông tự hào về làng mình giàu đẹp: “nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng lát
toàn đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi khắp đầu làng, cuối xóm, bùn không dính đến gót chân”.
- Hồi trước Cách mạng, ông còn khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc người làng ông.
- Sau Cách mạng, ông lại tự hào về những cái khác, đó là phong trào cách mạng của làng rất sôi
nổi, rất có khí thế, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân vào các đoàn thể cứu quốc. Ông còn khoe về “cái
phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre, chiều
chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”.
- Ông nói chuyện về cái làng của mình một cách say mê náo nức lạ thường: “ Hai con mắt ông sáng
hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động”.
- Ông tình nguyện hăng hái ở lại làng cùng đội du kích chiến đấu. Đến khi vì hoàn cảnh gia đình
phải đi tản cư, ông khổ tâm, day dứt, nhớ làng, nhớ anh em đồng chí ở lại làng.
Tác giả đã diễn tả một tình cảm, một nét tâm lí quen thuộc và truyền thống của người nông dân:
tình cảm gắn bó với làng quê và tự hào về quê hương mình. Cái tâm lí tự hào về làng quê ở người nông
dân có lúc đẩy lên thành một thứ tâm lí địa phương hẹp hòi, ở ông Hai phần nào nhiễm cái tâm lí ấy.
Nhưng chính cách mạng và kháng chiến đã khơi dậy ở những người nông dân tình cảm yêu nước rộng
lớn , hoà nhập thống nhất tình cảm làng quê vào tình cảm rộng lớn ấy. Ở ông Hai, tình cảm yêu làng là
thống nhất với lòng yêu nước, với tinh thần kháng chiến.
2. Diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc
a. Tình huống bộc lộ tâm trạng
Tác giả đã đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống gay gắt để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu
làng, yêu nước của ông. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc, lập tề mà chính ông nghe được từ
miệng những người mới tản cư qua vùng ông.
- Khi nghe tin quá đột ngột ấy, ông Hai sững sờ: “ Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân.
Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái
tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ vừa ở dưới ấy lên, làm ông không thể không tin.
- Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day
dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông cúi gằm mặt mà đi. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường, rồi tủi
thân nhìn đàn con “nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng
nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.
- Suốt mấy ngày sau, ông Hai không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng binh tình
bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc
nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến cái chuyện ấy”,
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
“thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông…là ông lủi ra một góc nhà, nín thít, thôi lại chuyện ấy rồi”.
Tác giả đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai
cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.
b. Xung đột nội tâm của ông Hai
Tác giả thể hiện sâu sắc tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước ở ông Hai qua một mâu thuẫn:
khi nghe tin làng mình theo giặc, hai tình cảm ấy đã dẫn đến một cuộc xung đột nội tâm ở ông Hai. Ông
đã dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù, tình yêu
nước đã rộng lớn hơn, bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù đã xác định như thế, ông vẫn
không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà ông càng đau xót tủi hổ.
- Ông Hai đã bị đẩy vào tình thế bế tắc tuyệt vọng khi mà mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi.
Đi đâu bây giờ? Không ai chứa chấp dân của cái làng Việt gian, cũng không thể quay về làng, “ Về làng
tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật
dường như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.
- Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, ông chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời
thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất thơ ngây: “ Ông lão ôm thằng con út …cũng vợi đi được đôi phần”.
Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông
Hai- một người nông dân- với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến. Qua những lời tâm
sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, ta thấy rõ ở ông Hai:
+ Tình yêu sâu nặng với cái làng Chợ Dầu của ông, ông muốn đứa con nhỏ ghi nhớ câu “Nhà ta ở làng Chợ Dầu”.
+ Tấm lòng chung thuỷ với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là Cụ Hồ “Anh em đồng chí
biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững
và thiêng liêng “Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.
c.Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm trạng ông Hai
- Tác giả đặt nhân vật vào tình huống thử thách bên trong để bộc lộ chiều sâu tâm trạng.
- Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, cảm giác, hành vi, ngôn
ngữ…Đặc biệt, tác giả đã diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm
trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc con người nông dân và thế giới tinh thần của họ.
3.Nghệ thuật của truyện ngắn “Làng”
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
- Truyện xây dựng theo cốt truyện tâm lí. Tác giả đã sáng tạo tình huống truyện có tính căng
thẳng, thử thách ở nội tâm nhân vật, từ đó bộc lộ đời sống bên trong, tình cảm tư tưởng của nhân vật.
Đặt vào trong thời điểm ra đời của tác phẩm càng thấy được thành công của Kim Lân.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế.
- Ngôn ngữ nhân vật sinh động, giàu tính khẩu ngữ và thể hiện cá tính của từng nhân vật ( cũng là
ngôn ngữ nông dân nhưng lời nói của ông Hai và mụ chủ nhà rất khác nhau ). Qua ngôn ngữ mà làm rõ
tính cách nhân vật, đồng thời phản ánh tâm lí ham thích các sinh hoạt chính trị của quần chúng hồi đầu
cách mạng và kháng chiến.
- Cách trần thuật của tác giả linh hoạt, tự nhiên, có nhiều chi tiết sinh hoạt, đời sống hàng ngày
xen vào với mạch tâm trạng khiến cho truyện sinh động hơn (qua truyện có thể thấy cụ thể về đời sống
người tản cư, mối quan hệ giữa chủ nhà và dân tản cư, những nét sinh hoạt hàng ngày trong vùng kháng chiến).
IV. LỜI BÌNH TÁC PHẨM
A. TÌNH YÊU LÀNG CỦA ÔNG HAI
Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam . Các sáng
tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Truyện ngắn “Làng” đươc sáng
tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với nhân vật chính là ông Hai, một lão
nông hiền lành, yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến .
Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình. Ông yêu quí
và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng. Ở nơi tản cư ông luôn nhớ
về làng, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu. Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ
một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay
gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Đó là tin làng Chợ Dầu lập tề theo giặc.Từ phòng thông
tin ra, đang phấn chấn, náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư, nghe nhắc
đến tên làng, ông Hai quay phắt lại, lắp bắp hỏi, hy vọng được nghe những tin tốt lành, nào ngờ biết tin
dữ: “Cả làng Việt gian theo Tây”. Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng, đau đớn :“Cổ
ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được, một lúc lâu
ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ. Ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi nhằm hy vọng điều vừa
nghe không phải là sự thật. Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư, ông tìm cách lảng
về. Tiếng văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó , đói khổ
ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương,cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một
nhát”.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”, nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “chúng
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Ông căm thù
những kẻ theo Tây, phản bội làng, ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay
miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Niềm tin, nỗi ngờ giằng
xé trong ông. Ông kiểm điểm lại từng người trong óc, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam
tâm làm cái điều nhục nhã ấy”. Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống
Việt gian bán nước”. Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu,“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”, lúc
nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý, đang bàn tán đến cái chuyện làng mình. Nỗi ám ảnh,day
dứt,nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông. Ông đau đớn, tủi hổ như chính ông là người có lỗi...
Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do
không chứa người của làng Việt gian. Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy, ông thoáng có ý nghĩ
quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”, là “cam chịu quay
trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình
yêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không
hề phai nhạt. Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo
Tây mất rồi thì phải thù!”. Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối
với quê hương. Bởi thế mà ông càng xót xa, đau đớn.... Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, ông chỉ
còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ. Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi
lòng mình. Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời: “Thế nhà con ở đâu?”, “thế con ủng hộ ai
?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”, “ủng hộ Cụ Hồ Chí
Minh muôn năm !”…. Những điều ấy ông đã biết, vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm. Ông mong “anh
em đồng chí biết cho bố con ông, tấm lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai, chết thì
chết có bao giờ dám đơn sai”. Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt. Ông xúc động,
nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”. Tấm lòng của ông với làng, với nước thật sâu nặng, thiêng liêng.
Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến,với Cụ Hồ …
May thay, tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính. Ông Hai sung sướng như được sống
lại. Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi
vui rạng rỡ hẳn lên”. Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã, lật đật đi khoe với mọi người. Đến
đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ! Đốt sạch! Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới
lên trên này cải chính. Cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà. Láo! Láo hết!
Toàn là sai sự mục đích cả .” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”. Ông khoe nhà mình bị đốt
sạch, đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc. Mất hết cả cơ nghiệp mà ông
không hề buồn tiếc, thậm chí còn rất sung sướng, hạnh phúc. Bởi lẽ, trong sự cháy rụi ngôi nhà của
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng Chợ Dầu anh dũng kháng chiến. Đó là một niềm vui kỳ
lạ,thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng,yêu nước,tinh thần hy sinh vì cách mạng của
người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược .
Cách miêu tả chân thực, sinh động, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng, tự
nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng, dồn đẩy, bức bối đã góp phần không nhỏ
tạo nên thành công của câu chuyện, đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn
với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.
Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có lẽ vì thế
mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.
B. TRUYỆN NGẮN “LÀNG”
Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921, quê ở Hà Bắc. Là nhà văn chuyên viết truyện
ngắn, ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. Là nhà văn am hiểu sâu sắc, gắn bó với
nông dân và nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông
dân. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì
đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của
ông Hai Thu, lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương, yêu làng sâu sắc của ông. Tình cảm và
ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân Việt Nam ta trong những ngày đầu chống Pháp.
Ông Hai yêu cái làng Chợ Dầu của ông thật đậm đà, tha thiết , yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe
về cái làng của ông. Kể về làng Chợ Dầu, ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú
ý hay không. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong làng lát toàn bằng đá xanh,
trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc
tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông.
Ông tự hào, vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo, có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành
công, nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Và từ đó, mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những
ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông còn
khoe cả những hố , những ụ, những hào,... lắm công trình không để đâu hết.
Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng, ông buộc phải xa làng. Xa làng ông mang
theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Vì vậy, nên lúc tản cư, ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Quả thật, cuộc
đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Tự hào và yêu nơi “chôn rau cắt rốn”
của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Có thể tình
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản, nhỏ : cây đa, giếng nướ, sân đình… và nâng cao lên đó chính
là : tình yêu đất nước. Tới đây, là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu
nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc “. Những ngày ở làng Thắng, ông Hai suốt
ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng Chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo Tây. Cổ
ông lão “nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi, tưởng như không thể thở được. Ông cảm thấy
đâu đớn và nhục nhã vì cái làng Chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. Ông nguyền rủa bọn theo Tây :
chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã
thế này”. Cũng chình từ lúc ấy, ông không dám đi đâu hết, suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin
tức. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa, ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông
nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “làng thì
yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù.” Có thể nói với ông Hai, làng và nước bay giờ đã trở thành
đối địch. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Nhưng trong đó, tình yêu
đất nước được ông Hai đặt lên trên hết.
Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người, nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả
đúng tâm trang nhân vật như vậy. Trong những ngày này, nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện
trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng
mình. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh
muôn năm”. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.
Thế rồi, một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. Những nỗi lo âu, xấu hổ tan
biến. Thay vào đó là nỗi vui mừng, sung sướng. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình
không theo giặc, khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng, hả hê: “bác Thứ đâu rồi !
Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này
cải chính, ông ấy cho biết… cái tin, cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo ! Láo hết ! toàn
là sai sự mục đích cả”. Qua lời khoe của ông Hai, điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn
khi ngôi nhà của ông bị đốt . Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Mọi đau khổ,
buồn tủi đã được rũ sạch.
Quả thật, Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai, một trong những
người dân bấy giờ, đơn giản, chất phác, tiêu biểu cho tầng lớp nông dân Việt Nam sau Cách Mạng tháng
Tám. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây
xựng truyện, nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Lời nói của ông hai
đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ, kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo
! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý
nhân vật. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. Yêu làng đến nỗi đi đâu
Tài liệu: LT vào Lớp 10 môn Ngữ văn- Thầy Phạm Hữu Cường Làng
cũng khoe về làng. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ, tủi nhục, và khi biết làng mình
không theo giặc, ông sung sướng, thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng, hả
hê. Xây dựng được những chi tiết ấy, miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy, Kim Lân đã chứng
tỏ được tài nghệ của mình.
Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước, yêu làng của người
nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm
này. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân, mọi người
một lòng theo Bác, theo Đảng kháng chiến đến cùng, có lẽ vì vậy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang.
IV. ĐỀ LUYỆN TẬP
1. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai kể từ khi nghe tin làng mình theo giặc.
2. Phân tích tình huống truyện cơ bản của tác phẩm.
3. Nét chung và riêng của tình cảm với đất nước, quê hương qua “Làngvà “Lặng lẽ Sa Pa.