



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 41487872 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN ANH THƯỜNG PHẠM THỊ LOAN LOGIC HỌC
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH lOMoAR cPSD| 41487872 2 LỜI NÓI ĐẦU
Logic học ra đời từ rất sớm, đóng vai trò quan trọng trong nhận thức cũng
như đời sống xã hội. Có thể nói, nó vừa là một khoa học lý thuyết, vì nó có đối tượng
và phương pháp nghiên cứu rõ ràng, kiểm định được giá trị đúng sai, giúp con người
có thao tác tư duy hợp lý để đạt được tri thức chân lý; đồng thời nó cũng được xem
như một nghệ thuật vì nó giúp con người nâng cao khả năng ứng xử và sáng tạo trong
cuộc sống. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, tri thức logic học được coi là công cụ cần
thiết để tiếp cận, giải quyết các vấn đề trong khoa học cũng như trong cuộc sống
nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn. Để đáp ứng nhu cầu thiết thực của đông đảo
sinh viên và quý bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu logic học, giáo trình logic học này được
biên soạn dựa trên sự tổng hợp kết quả nghiên cứu, dịch thuật và giảng dạy trong
nhiều năm ở đại học của các tác giả. Giáo trình có đặc điểm vừa bám sát chương
trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời cập nhật được các tài liệu logic
mới của các trường đại học tiên tiến trên thế giới.
Giáo trình được kết cấu thành 6 chương:
Chương 1: Dẫn luận vào logic học
Chương 2: Các quy luật cơ bản của tư duy
Chương 3: Khái niệm
Chương 4: Phán đoán
Chương 5: Suy luận
Chương 6: Giả thuyết, chứng minh và bác bỏ ngụy biện
Mặc dù các tác giả đã cố gắng rất nhiều song không tránh khỏi những
hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, rất mong nhận được góp ý của các nhà khoa học,
quý bạn đọc để tài liệu học tập này được tốt hơn. lOMoAR cPSD| 41487872 3 MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. DẪN LUẬN VÀO LOGIC HỌC
1. Khái niệm, đối tượng và phân loại logic học ................................................. 6
1.1. Thuật ngữ logic và logic học ....................................................................... 6
1.2. Phân loại logic học ...................................................................................... 7
2. Lược sử về logic học ...................................................................................... 9
3. Logic học với các giai đoạn trong quá trình nhận thức ................................ 13
3.1. Nhận thức cảm tính ................................................................................... 13
3.2. Nhận thức lý tính với tư cách là đối tượng nghiên cứu của logic học ...... 14
4. Ý nghĩa của logic học ................................................................................... 17
4.1. Ý nghĩa khoa học ....................................................................................... 17
4.2. Ý nghĩa thực tiễn ....................................................................................... 20
CÂU HỎI ÔN TẬP .......................................................................................... 23
CHƯƠNG 2. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƯ DUY
1. Quy luật đồng nhất ............................................................................................................. 24
1.1. Định nghĩa và ký hiệu ................................................................................................... 24
1.2. Yêu cầu của quy luật đồng nhất .............................................................................. 25
1.3. Ý nghĩa của quy luật đồng nhất .............................................................................. 26
2. Quy luật phi mâu thuẫn................................................................................................... 26
2.1. Định nghĩa và ký hiệu ................................................................................................... 26
2.2. Phân biệt khái niệm mâu thuẫn hình thức và mâu thuẫn biện chứng
............................................................................................................................................................ 27
2.3. Yêu cầu của quy luật phi mâu thuẫn .................................................................... 27
2.4. Ý nghĩa của quy luật phi mâu thuẫn .................................................................... 28 lOMoAR cPSD| 41487872 4
3. Quy luật triệt tam .......................................................................................... 28
3.1. Định nghĩa và ký hiệu ............................................................................... 28
3.2. Yêu cầu của quy luật triệt tam ................................................................... 28
3.3. Ý nghĩa của quy luật triệt tam ................................................................... 29
4. Quy luật túc lý .............................................................................................. 29
4.1. Định nghĩa và ký hiệu ............................................................................... 29
4.2. Yêu cầu của quy luật túc lý ....................................................................... 29
4.3. Ý nghĩa của quy luật túc lý ........................................................................ 30
CÂU HỎI ÔN TẬP .......................................................................................................... 30
CHƯƠNG 3. KHÁI NIỆM
1. Khái quát về khái niệm .................................................................................................... 34
1.1. Khái niệm là gì? ............................................................................................................... 34
1.2. Kết cấu của khái niệm .................................................................................................. 34
1.3. Phân loại khái niệm ........................................................................................................ 36
1.4. So sánh khái niệm với từ ............................................................................................. 39
1.5. Mối quan hệ của các khái niệm ............................................................................... 41
2. Các thao tác logic đối với khái niệm ......................................................................... 45
2.1. Chuyển dịch khái niệm ................................................................................................ 45
2.2. Định nghĩa khái niệm .................................................................................................... 47
2.3. Phân chia khái niệm ....................................................................................................... 54
CÂU HỎI ÔN TẬP .................................................................................................................. 59
CHƯƠNG 4. PHÁN ĐOÁN
1. Khái quát về phán đoán..................................................................................................... 63 lOMoAR cPSD| 41487872 5
1.1. Phán đoán là gì? ........................................................................................ 63
1.2. Phán đoán với câu ..................................................................................... 63
1.3. Phân loại phán đoán .................................................................................. 64
2. Nội dung và quy tắc của các loại phán đoán ................................................ 66
2.1. Nội dung và quy tắc của phán đoán đơn ................................................... 66
2.2. Nội dung và quy tắc của các loại phán đoán phức .................................... 76
2.3. Cách xác định giá trị chân lý của phán đoán phức bằng bảng chân trị hoặc
bảng ngữ nghĩa .......................................................................................................... 87
3. Chuẩn hóa phán đoán ................................................................................... 89
3.1. Chuẩn hóa phán đoán là gì? ...................................................................... 89
3.2. Chuẩn hóa về nội dung và hình thức ......................................................... 89
4. Tính đẳng trị của các phán đoán ................................................................... 91
CÂU HỎI ÔN TẬP .......................................................................................... 92 CHƯƠNG 5. SUY LUẬN
1. Khái quát về suy luận ....................................................................................................... 96
1.1. Suy luận là gì? ................................................................................................................... 96
1.2. Cấu tạo logic của phép suy luận .............................................................................. 96
1.3. Suy luận, phán đoán và khái niệm ......................................................................... 97
1.4. So sánh suy luận với suy ý .......................................................................................... 97
1.5. Nguyên tắc chung của suy luận ............................................................................... 97
1.6. Các loại suy luận .............................................................................................................. 99
2. Nội dung và quy tắc của các loại suy luận ............................................................. 99
2.1. Suy luận diễn dịch ........................................................................................................... 99
2.2. Suy luận quy nạp .......................................................................................................... 123 lOMoAR cPSD| 41487872 6
2.3. Suy luận tương tự ......................................................................................................... 135
CÂU HỎI ÔN TẬP ............................................................................................................... 137
CHƯƠNG 6. GIẢ THUYẾT, CHỨNG MINH VÀ BÁC BỎ NGỤY BIỆN
1. Giả thuyết ............................................................................................................................. 147
1.1. Giả thuyết là gì? ............................................................................................................ 147
1.2. Cấu trúc của giả thuyết ............................................................................................. 148
1.3. Các loại giả thuyết ........................................................................................................ 149
1.4. Quy trình xác nhận giả thuyết ............................................................................... 151
1.5. Các phương pháp xác nhận giả thuyết ............................................................. 152
1.6. Giả thuyết và lý thuyết khoa học ......................................................................... 153
2. Chứng minh ......................................................................................................................... 155
2.1. Chứng minh là gì? ........................................................................................................ 155
2.2. Cấu trúc của phép chứng minh ............................................................................ 155
2.3. Phân loại chứng minh ................................................................................................. 158
2.4. Quy tắc chứng minh .................................................................................................... 161
3. Ngụy biện và bác bỏ nguỵ biện ................................................................................. 163
3.1. Ngụy biện là gì? ............................................................................................................. 163
3.2. Phân loại ngụy biện ..................................................................................................... 163
3.3. Phương pháp bác bỏ ngụy biện ............................................................................ 174
CÂU HỎI ÔN TẬP ............................................................................................................... 177
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ÔN TẬP ....................................................................... 183
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 203 lOMoAR cPSD| 41487872 7 Chương 1
DẪN LUẬN VÀO LOGIC HỌC
Khái niệm, đối tượng và phân loại logic học
Thuật ngữ logic và logic học
Thuật ngữ logic được sử dụng hiện nay trong tiếng Việt bắt nguồn từ
thuật ngữ logos (λόγος) trong tiếng Hy Lạp với nhiều nghĩa khác nhau: lời nói,
diễn thuyết, ý nghĩa, lý tính, trật tự, quy luật, chân lý, hữu thể, suy tưởng nội
tại… Từ nghĩa suy tưởng nội tại, Aristote đã gọi khoa học mà mình sáng lập
nên là Episteme logike. Về sau, thuật ngữ logike được dùng một mình để chỉ
khoa học nghiên cứu về các quy luật và các thao tác của tư duy trong quá trình
truy tìm và chứng minh chân lý. Thuật ngữ này khi Latinh hóa, thành logica.
Logica là nguồn gốc của hàng loạt từ trong ngôn ngữ châu Âu như: logique
trong tiếng Pháp, logic trong tiếng Anh, logik trong tiếng Đức…
Thuật ngữ logic trong tiếng Việt hiện nay là sự tiếp biến của thuật ngữ
logique trong tiếng Pháp và logic trong tiếng Anh: viết như tiếng Anh - logic,
nhưng phát âm gần như tiếng Pháp - logique.
Thuật ngữ logic trong tiếng Việt mang nhiều nghĩa:
Thứ nhất, tính chặt chẽ, nhất quán, hợp lý của lập luận. Chẳng hạn như:
“Lập luận của vị diễn giả rất logic, vì vậy thuyết phục được hầu hết mọi người
tham dự”. Với ý nghĩa này, logic được hiểu là tính hợp lý trong tư duy.
Thứ hai, trong những trường hợp nhất định, thuật ngữ logic còn được hiểu
như tính quy luật, tính tất yếu của thế giới hiện thực khách quan. Chẳng hạn như,
“Logic của quá trình phát triển xã hội loài người là sự thay thế các hình thái kinh tế
tiến bộ hơn”. Với nghĩa này, logic được hiểu là tính tất yếu, quy luật khách quan.
Thuật ngữ logic học trong tiếng Việt hiện nay dùng để chỉ khoa học nghiên
cứu về các quy luật và các hình thức của tư duy trong quá trình truy tìm và chứng
minh chân lý. Cụ thể là logic học nghiên cứu các quy luật cơ bản của tư tuy như:
quy luật đồng nhất, quy luật phi mâu thuẫn, quy luật triệt tam, quy luật túc lý và các
hình thức tư duy: khái niệm, phán đoán, suy luận, chứng minh và bác bỏ ngụy biện. lOMoAR cPSD| 41487872 8
1.2. Phân loại logic học
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, người ta có thể chia logic học ra
nhiều loại khác nhau. Nếu căn cứ trên quá trình phản ánh của nhận thức, logic
học được chia thành hai loại: logic học hình thức và logic học biện chứng.
1.2.1. Logic học hình thức (formal logic)
Logic học hình thức là khoa học nghiên cứu về hình thức, về kết cấu của
tư duy trong quá trình nhận thức chân lý với những đặc trưng cơ bản như:
Thứ nhất, không chú trọng đến nội dung. Logic học hình thức chỉ chú trọng
đến hình thức của khái niệm, phán đoán và suy luận. Chẳng hạn, phán đoán: tất
cả người mù đều thính tai. Logic học hình thức không quan tâm đến nội dung của
các khái niệm người mù là gì, thính tai là gì, người mù đều thính tai đúng hay sai?
mà chỉ quan tâm đến các khái niệm trong phán đoán đó là chung hay riêng, khái
niệm nào đầy đủ, khái niệm nào không đầy đủ, phán đoán này là phán đoán phủ
định hay khẳng định, phán đoán chung hay phán đoán riêng…
Thứ hai, logic học hình thức là logic phản ánh thế giới trong trạng thái
tĩnh tại. Trên thực tế, không có sự vật nào đứng yên tuyệt đối. Thế nhưng, khi
phản ánh vào trong tư duy logic hình thức nó được tĩnh tại hóa, vì vậy, một
khái niệm khi đã phản ánh một đối tượng luôn luôn được đồng nhất với chính
nó. Chẳng hạn, khái niệm Dân tộc Việt Nam. Mặc dù qua nhiều thời kỳ khác
nhau, Dân tộc Việt Nam biến đổi rất nhiều, nhưng khái niệm Dân tộc Việt Nam
vẫn luôn luôn đồng nhất với chính nó, không có gì thay đổi.
1.2.2. Logic học biện chứng (dialectical logic)
Logic học biện chứng là khoa học nghiên cứu về các quy luật, các thao tác của
tư duy trong quá trình vận động và biến đổi. Logic học biện chứng vừa là học thuyết
về sự vận động phát triển của tư duy và tư duy biện chứng, vừa là lý luận về sự phát
triển lý thuyết khoa học và phong cách tư duy khoa học. Nội dung của khái niệm logic
học biện chứng được hiểu rất rộng. Nó không chỉ là khoa học về những hình thức và
quy luật vận động của tư duy, nhận thức sự vật trong tính tất yếu, trong những mối
quan hệ toàn diện, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, mà còn là logic nghiên lOMoAR cPSD| 41487872 9
cứu của khoa học. Có thể nhận thấy logic học biện chứng với một số đặc trưng cơ bản như:
Thứ nhất, logic học biện chứng nghiên cứu các quy luật và thao tác của tư
duy trong trạng thái vận động biến đổi. Một đối tượng khi được phản ánh nó
vừa là nó lại vừa không phải là nó. Nghĩa là không gian thay đổi, thời gian thay
đổi, mối quan hệ thay đổi, sự vật đó không thể là nó trong mọi nơi mọi lúc nên
khái niệm, phán đoán, suy luận về nó cũng phải biến đổi theo.
Chẳng hạn, đối tượng A ở không gian S1, thời gian T1 thì nó là A1 nhưng
khi ở không gian S2, thời gian T2 thì nó là A2.
Thứ hai, logic học biện chứng không chỉ nghiên cứu hình thức, kết cấu
của tư duy mà còn quan tâm đến nội dung của các khái niệm, phán đoán, suy
luận. Chẳng hạn, trước suy luận “Mọi loài chim đều biết bay. Chim cánh cụt
cũng là loài chim. Vậy, chim cánh cụt biết bay”, logic học biện chứng xác định
nội dung của phán đoán “Mọi loài chim đều biết bay” là không chân thực,
phán đoán này không phù hợp với hiện thực khách quan, vì vậy, dẫn đến kết
quả suy luận này sai vì đại tiền đề là một phán đoán sai.
1.2.3. So sánh logic học hình thức và logic học biện chứng
Logic học hình thức xét mọi sự vật trong sự riêng rẽ và trạng thái tĩnh,
còn logic học biện chứng xét mọi sự vật trong mối quan hệ lẫn nhau và trong
quá trình vận động, phát triển của chúng. Logic học hình thức căn cứ trên
nguyên lý đồng nhất, logic học biện chứng căn cứ trên nguyên lý mâu thuẫn.
Một đằng xét một khía cạnh của đối tượng; còn một đằng xét đối tượng một
cách toàn diện và trong mối quan hệ với các sự kiện, hiện tượng khác. Logic
học hình thức chú trọng tới hình thức hơn là nội dung, logic học biện chứng
chú trọng tới cả hình thức lẫn nội dung. Logic học hình thức từ những khái
niệm, phán đoán, suy luận đi tới những kết luận đúng phù hợp giữa tư tưởng
với tư tưởng; logic học biện chứng xây dựng những phạm trù, những hình thức
cơ bản của tư duy, những lý thuyết khoa học phản ánh đúng thực tại biến đổi. lOMoAR cPSD| 41487872 10
Khi nhận thức cần khảo sát các sự vật, hiện tượng một cách tĩnh tại, rời rạc,
phân tích, tổng hợp chúng mà không xét chúng trong quá trình vận động, phát triển
thì logic học hình thức rất cần thiết. Tới khi nhận thức xét mọi vật, hiện tượng trong
quá trình vận động, phát triển và trong mối liên hệ lẫn nhau, những mối quan hệ nội
tại, những mâu thuẫn bên trong… thì logic học biện chứng lại đóng vai trò quan
trọng. Thực chất, đó chỉ là hai mặt, hai công đoạn, hai công cụ của quá trình nhận
thức, không thể tuyệt đối hóa công cụ này mà xem thường công cụ kia.
Lược sử về logic học
Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, nhiều triết gia cổ đại cũng đã bàn đến
logic học. Ở Trung Quốc, các trường phái bàn đến vấn đề này có Danh gia, Mặc gia.
Thông qua những cuộc tranh luận về danh - thực, các triết gia của hai trường phái
này đã thể hiện tư tưởng logic của mình. Tuy nhiên, những tư tưởng đó chưa mang
tính chất hệ thống và chưa có phương pháp tiếp cận nên nó chưa thể xem là một khoa
học được. Ở Ấn Độ cổ đại, cũng có những trường phái nghiên cứu khá sâu sắc về
logic học. Trong đó, trường phái Nyaya đã xây dựng được những nguyên tắc về kết
cấu của suy luận, quy tắc xác định giá trị của ngũ đoạn luận… Về sau, những nguyên
tắc và quy tắc đó được các học giả Phật giáo xây dựng thành một môn học, gọi là
Nhân minh học, gần giống với môn logic học của phương Tây.
phương Tây, tư tưởng về logic học đã có từ rất sớm, song với tư cách là
một khoa học, logic học được hình thành vào thế kỷ IV TCN ở Hy Lạp cổ đại.
Aristote (384-322 trước Công nguyên) là người đã có công hệ thống hóa, chuẩn
mực hóa, nguyên tắc hóa những tư tưởng logic trước đó để chính thức xây
dựng logic học thành một khoa học thật sự. Sự hình thành và phát triển của
logic học đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử:
Vào thời cổ đại, ở Hy Lạp, logic học đã nảy sinh từ nhu cầu giải thích về sức mạnh
to lớn của lời nói, về những phương tiện giúp cho lời nói có sức thuyết phục. Việc nghiên
cứu những mối liên hệ mang tính quy luật giữa các tư tưởng trong quá trình suy luận đã
làm nảy sinh ở Hy Lạp cổ đại Logic học Aristote - hệ thống logic học được đánh giá là
tương đối hoàn thiện đầu tiên trong lịch sử. Trong tác phẩm Organon (công cụ nhận thức,
gồm 6 tập), một công trình nền tảng về logic học, Aristote lOMoAR cPSD| 41487872 11
đã phân tích sâu sắc về ba quy luật cơ bản của tư duy (quy luật đồng nhất, quy
luật phi mâu thuẫn, quy luật triệt tam), về khái niệm, phán đoán, suy luận diễn
dịch với tiền đề là phán đoán đơn (tam đoạn luận đơn), chứng minh và ngụy
biện. Như vậy, ngay từ Aristote, hệ vấn đề của logic học đã được định hình khá rõ
ràng. Những mối quan hệ giữa các phán đoán về điều kiện chân thực của chúng
vốn cho phép chuyển giá trị chân thực từ một phán đoán này sang số khác mà
không cần phải kiểm tra thực nghiệm đã là đối tượng nghiên cứu chính của khoa
học này. Việc nghiên cứu các mối quan hệ đó cho phép xây dựng lý thuyết suy luận
hình thức, là suy luận mà ở đó để nhận được kết luận xác thực hay xác suất, không
nhất thiết phải thâm nhập vào nội dung các tiền đề mà chỉ cần tuân thủ các quy tắc
đã biết do lý thuyết này xác lập. Logic học do Aristote sáng lập trong thời cổ đại
chính là logic hình thức cổ điển với ba quy luật cơ bản là quy luật đồng nhất, quy
luật cấm mâu thuẫn và quy luật bài trung.
Sau Aristote, các nhà triết học trường phái Khắc kỷ (Stoicisme 206 trước
Công nguyên) đã kế thừa và bổ sung logic mệnh đề vào hệ thống logic học của
Aristote. Cụ thể, trường phái Khắc kỷ đã đóng góp cho khoa học logic bốn
nguyên tắc suy luận với tiền đề là phán đoán phức (logic mệnh đề):
Nếu có A thì có B, mà có A, vậy có B.
Nếu có A thì có B, mà không có B, vậy không có A.
Nếu không thể tồn tại cả A và B, có A, vậy không có B. Có B, thì không có A.
Nếu A hoặc B phải tồn tại, A không tồn tại, vậy B tồn tại. Hay, B không
tồn tại, vậy A tồn tại.
Đến thế kỷ III sau Công nguyên, Gallien (218-268) bổ sung thêm một hình thức
kết cấu nữa của tam đoạn luận đơn, gọi là hình IV, hay còn gọi là hình Gallien.
Vào thời trung cổ, trong giai đoạn đầu, người ta tiếp tục phát triển logic học
của Aristote, đi sâu vào những vấn đề ngữ nghĩa và triết học. Ở giai đoạn sau,
người ta khảo sát những dạng thức và logic của các phán đoán có điều kiện1.
Theo Nguyễn Đức Dân, Giáo trình Nhập môn logic học hình thức, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2009. lOMoAR cPSD| 41487872 12
Từ thời kỳ phục hưng tới thế kỷ XIX, logic học cổ điển với ý nghĩa chứng
minh bằng phương pháp diễn dịch từ những chân lý đã có lúc này không còn đáp
ứng được những nhu cầu không ngừng của con người trong khám phá, sáng tạo,
phát minh khoa học. Để khắc phục những hạn chế của logic học cổ điển, F. Bacon
(1561-1626) với tác phẩm Novum Organum (Công cụ mới) đã đưa vào một công cụ
mới để nhận thức và khám phá thế giới, đó là suy luận quy nạp mở rộng khoa học.
Với quan niệm cho rằng, suy luận quy nạp mở rộng có phương pháp sẽ giúp con
người khởi đầu có được những giả thuyết để khám phá những cái mới trong thế
giới hiện thực, và như vậy, logic học không chỉ là công cụ để chứng minh mà còn
là công cụ của sáng tạo, khám phá, phát minh, F. Bacon đã thiết lập nên Phương
pháp ba bảng (bảng có mặt, bảng vắng mặt và bảng xác định) để xác định mối
quan hệ nhân quả trong phép quy nạp. Phương pháp ba bảng này về sau được J.
Stuart Mill (1806-1873) kế thừa và xây dựng thành Phương pháp xác định nguyên
nhân, gồm: Phương pháp tương đồng, phương pháp khác biệt, phương pháp đồng
biến và phương pháp thặng dư của phép quy nạp mở rộng khoa học.
Để phương pháp diễn dịch phong phú và có tính ứng dụng nhiều hơn, Réne
Déscartes (1596-1650), một nhà triết học, một nhà toán học giải tích và cũng là nhà
logic học ứng dụng đã bổ sung thêm Phương pháp diễn dịch toán học và trực giác diễn
dịch. Ông đã phát minh ra hình học giải tích, một môn học thuộc hình học sử dụng
những nguyên lý của đại số. Ông đưa logic vào trong ứng dụng nghiên cứu khoa học.
Tư tưởng logic ứng dụng đó được thể hiện khá đầy đủ và chi tiết trong tác phẩm nổi
tiếng của ông: Phương pháp luận (Discours de la méthode). Có thể nói, logic học hình
thức dưới thời của F. Bacon và R. Déscartes không còn thuần túy là logic học hình
thức nữa vì nó đã quan tâm đến nội dung của các thao tác trong suy luận. Vì vậy,
người ta cũng gọi logic học ở giai đoạn này là logic học ứng dụng (logique applique).
Leibniz (1646-1716) có ý định đưa logic học qua một gia đoạn mới với những
nguyên tắc như: xét những tư tưởng thành tố cơ bản cấu tạo nên tư tưởng nhân loại;
ký hiệu hóa toàn bộ khái niệm, phán đoán dưới hình thức toán học; kết hợp các ký
hiệu đơn giản thành những mệnh đề, những suy luận với những quy luật logic chặt
chẽ. Những ý tưởng về logic ký hiệu của Leibniz được nhà toán học G. Boole (1815-
1864) hiện thực hóa. Với tác phẩm Đại số của logic học, G. Boole chính là người đầu lOMoAR cPSD| 41487872 13
tiên đưa logic học thâm nhập và ứng dụng trong nhiều ngành khoa học hiện
đại như điện toán, điều khiển học, công nghệ tự động, kỹ thuật số…
Sau Boole, một loại các nhà toán học nổi tiếng đã có công trong việc phát
triển Logic toán như Frege (1848-1925), Russell (1872-1970), Whitehead (1861-
1947) v.v… làm cho logic toán có được bộ mặt như ngày nay.
Logic toán học là giai đoạn hiện đại trong sự phát triển của logic hình
thức. Về đối tượng của nó, logic toán học là logic học, còn về phương pháp thì
nó là toán học. Logic toán học có ảnh hưởng to lớn đến chính toán học hiện đại,
ngày nay nó đang phát triển theo nhiều hướng và được ứng dụng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau như toán học, ngôn ngữ học, máy tính v.v…
Ngày nay, logic hiện đại có rất nhiều chuyên ngành hẹp như logic mờ,
logic đa trị, logic tuyến tính, logic vị từ, logic không đơn điệu, logic thời gian…
Sự phát triển đó đang làm cho logic học ngày càng thêm phong phú, mở ra những
khả năng mới trong việc ứng dụng logic học vào các ngành khoa học và đời sống.
Về logic học biện chứng, Hégel (1770-1831) là người chính thức hệ thống hóa
tư tưởng biện chứng của các nhà tiền bối như Héraclite, Parménide, Thomas
D’Aquin, I. Kant… để xây dựng nên khoa học logic biện chứng. Nếu như logic
hình thức cho rằng tư duy không thể chứa mâu thuẫn, thì logic học biện chứng
cho rằng tư tưởng đúng là tư tưởng phản ánh được mâu thuẫn của thực tại khách
quan. Thực tại khách quan luôn chứa đựng mâu thuẫn, mâu thuẫn là nguồn gốc
của sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng, do đó tư tưởng phản
ánh nó cũng phải chứa đựng mâu thuẫn mới hợp lý. Tư tưởng không tiến từ cái
đồng nhất đến cái đồng nhất nữa mà phải đi từ cái chính đề (thèse) đến cái phản
đề (antithèse) và rồi trở lại cái hợp đề (synthèse). Mâu thuẫn không phải là sai lầm
của tư tưởng mà là động cơ của tư tưởng, là điều kiện của tiến bộ.
Logic học biện chứng của Hégel (1770-1831) được K. Marx (1818-1883), F.
Engels (1820-1895) và Lénine (1870-1924) kế thừa và phát triển thành khoa học về quá
trình nhận thức thế giới. Logic biện chứng không bác bỏ logic hình thức, mà chỉ vạch rõ
ranh giới của nó, coi nó như một hình thức cần thiết nhưng không đầy đủ của lOMoAR cPSD| 41487872 14
tư duy logic. Logic biện chứng của chủ nghĩa Marx không tách biệt khỏi phép
biện chứng duy vật và học thuyết về lý luận nhận thức.
Logic học với các giai đoạn trong quá trình nhận thức
Nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc
của con người, từ cụ thể đến trừu tượng, từ những dấu hiệu bề ngoài đến xác
định bản chất bên trong của đối tượng, từ cảm tính đến lý tính.
Vậy nhận thức không phải là một sự sao chép đơn điệu của bộ óc đối với
hiện thực khách quan mà là một quá trình phức tạp qua nhiều mức độ: cảm
tính, so sánh, phân tích… nhận thức lý tính, đối chiếu lý tính với thực tiễn.
3.1. Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp của quá trình nhận thức; nó phản ánh thế
giới hiện thực vào bộ não của con người một cách trực tiếp thông qua các giác quan,
sự phản ánh đó có tính cụ thể, phong phú nhưng chưa có tính hệ thống và chưa sâu
sắc. Nhận thức cảm tính có ba hình thức cơ bản: cảm giác, tri giác và biểu tượng:
Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng,
quá trình trong thế giới hiện thực khi chúng trực tiếp tác động lên các giác quan
của con người. Mặc dù nguồn gốc của cảm giác là thế giới hiện thực khách quan,
nhưng không phải con người phản ánh một cách thụ động, sao chép thuần tuý mà
là một sự phản ánh một cách chủ động, độc lập, sáng tạo. Vì tính chất này, nên
không phải bất cứ khi nào có thế giới hiện thực khách quan là con người bắt đầu
quá trình nhận thức. Con người chỉ cảm giác khi đã có chọn lựa. Cảm giác giữ
một vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức, vì nó là khởi điểm của quá
trình nhận thức. Nếu cảm giác không chuẩn xác thì nhận thức cũng sẽ sai lầm.
Tri giác là sự phản ánh nhiều mặt, nhiều thuộc tính của đối tượng khi
chúng trực tiếp tác động vào bộ não con người thông qua các giác quan. Nhờ tri
giác, con người có một sự hiểu biết tương đối hoàn chỉnh về đối tượng nhưng
vẫn chỉ hiểu biết những tính chất sơ đẳng, bề ngoài. Mỗi chủ thể có khả năng
tri giác khác nhau. Sự khác nhau có thể do tri thức, do khả năng cảm nhận, do
tâm tư tình cảm… của mỗi người khác nhau. lOMoAR cPSD| 41487872 15
Biểu tượng là hình ảnh của đối tượng được lưu giữ lại trong não. Biểu
tượng thực chất là khâu trung gian giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính. Nhờ có biểu tượng, nhận thức con người dần dần tách khỏi đối tượng
trực tiếp để khái quát hóa đối tượng.
Chẳng hạn, khi con người gặp một động vật lạ, các giác quan con người
tập trung phản ánh con vật về hình dáng, về màu lông,… Sau khi có được
những dữ liệu của cảm giác về con vật lạ ấy, con người có thể có tri giác về con
vật đó, biết con vật đó thuộc về họ linh trưởng. Hình ảnh con vật đó sẽ được
lưu lại trong đầu, nhờ có hình ảnh đó con người so sánh với những con vật đã
biết để xác định con vật đó là con vật gì.
Đặc trưng của giai đoạn nhận thức cảm tính là trực tiếp, cụ thể, phong phú,
sống động nhưng chưa xác định được bản chất. Chẳng hạn, chiêm ngưỡng một
người đẹp, xem một con trăn gấm, nếm một ly rượu vang,... tất cả những điều đó
rất cụ thể, sống động và phong phú nhưng chưa thấu hiểu gì bản chất bên trong
của các đối tượng ấy. Vì vậy, tri thức ở giai đoạn này về đối tượng còn lờ mờ, lẫn
lộn, chưa phân biệt được rõ ràng giữa đối tượng này và đối tượng kia.
3.2. Nhận thức lý tính với tư cách là đối tượng nghiên cứu của logic học
Nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng là giai đoạn nhận thức
phản ánh đối tượng vào trong bộ não con người một cách gián tiếp, khái quát,
trừu tượng. Nhận thức lý tính là đặc trưng riêng có của con người. Nhờ có khả
năng nhận thức lý tính, con người có được tri thức hoàn chỉnh về đối tượng. Nhận
thức lý tính cũng có ba hình thức cơ bản: khái niệm, phán đoán, và suy luận.
Khái niệm là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng, nó phản ánh những
thuộc tính bản chất của một đối tượng. Sau giai đoạn nhận thức cảm tính, con người
còn có một giai đoạn trung gian với các thao tác như ghi nhớ, liên tưởng, so sánh,
phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa để đi đến thành lập khái niệm. Có
thể nói đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng; vì hầu hết mọi người đều có nhận thức
cảm tính, thế nhưng không phải ai cũng có khả năng tạo khái niệm. Vì vậy, trong
nghiên cứu, giai đoạn trung gian cực kỳ quan trọng. Nếu không có giai đoạn trung
gian, chúng ta thuần tuý chỉ có tri thức cảm tính về đối tượng. Ví dụ, sau khi cảm lOMoAR cPSD| 41487872 16
giác, tri giác, biểu tượng một đối tượng có hình thù mình nhỏ như con giun đất, da trơn
như da rắn, đầu như đầu rắn… con người phải chú ý, ghi nhớ hình ảnh đối tượng, liên
tưởng so sánh với các đối tượng khác để đặt cho đối tượng đó và các đối tượng cùng loài
một khái niệm: rắn giun. Khái niệm rắn giun là kết quả của quá trình nhận thức cảm
tính và quá trình thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, trừu tượng hóa và khái quát hóa.
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng phản ánh có hay không có tình
trạng xác định nào đó ở sự vật, hiện tượng. Phán đoán giúp con người liên kết các
thuật ngữ lại với nhau để xác định tính chất của đối tượng. Chẳng hạn, từ hai khái
niệm: rắn giun, động vật có nọc độc, cần thêm một hệ từ là nữa, chúng ta sẽ có được
phán đoán về một tính chất của rắn giun là: rắn giun là động vật có nọc độc.
Suy luận là hình thức của tư duy trừu tượng phản ánh mối liên hệ giữa các
phán đoán. Suy luận giúp con người chứng minh, phát hiện một cái mới được rút
ra từ những phán đoán đã biết trước đó. Chẳng hạn, từ các phán đoán đã biết:
Mọi dạng vật chất đều vận động. Plasma là một dạng vật chất. Tất yếu ta rút ra
được một phán đoán mới: Plasma cũng vận động. Hay, từ các phán đoán: Ông A
bị nhiễm chất độc da cam và sau đó sinh con bị dị dạng. Ông B bị nhiễm chất độc
da cam và sau đó sinh con bị dị dạng. Ông C bị nhiễm chất độc da cam và sau đó
sinh con bị dị dạng… Từ các phán đoán đã biết ấy, có thể rút ra một phán đoán
mới: Mọi người bị nhiễm chất độc da cam sinh con ra sẽ có thể bị dị dạng.
Trên cơ sở các suy luận, người ta xây dựng, thiết lập các hệ thống lý
thuyết, các học thuyết về tự nhiên, về xã hội, về con người… Chúng ta gọi đó là
tri thức của con người.
Đặc trưng của nhận thức lý tính là: gián tiếp, trừu tượng, khái quát, bản
chất, tương đối và gắn liền với ngôn ngữ.
mức độ nhận thức cảm tính, con người phản ánh trực tiếp sự vật hiện tượng
bằng giác quan của mình, trên cơ sở đó ta có hình ảnh cảm tính về sự vật hiện tượng.
Đến nhận thức lý tính, con người không nhận thức thế giới một cách trực tiếp mà có khả
năng nhận thức nó một cách gián tiếp. Vì nhận thức lý tính là nhận thức đối tượng lOMoAR cPSD| 41487872 17
thông qua hệ thống ký hiệu về đối tượng và dựa trên những quy luật logic nhất
định chứ không trực tiếp căn cứ trên sự tác động của các giác quan.
Tư duy có tính chất trừu tượng và khái quát. Trong thế giới sự vật cụ thể vô cùng
phong phú các thuộc tính, con người phải trừu tượng hóa đối tượng, chỉ quan tâm
đến những thuộc tính cơ bản của đối tượng và khái quát hóa những thuộc tính cơ bản
đó vào trong một khái niệm để chỉ một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng. Do vậy,
tư duy trừu tượng có tính chất sâu sắc, bản chất, giúp con người đi sâu vào bản chất
của đối tượng, xác định được những đặc trưng và quy luật vận động của đối tượng,
giúp con người trao đổi thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp với người khác.
Tư duy trừu tượng có tính chất tương đối. Vì tư duy trừu tượng càng ngày càng
đi xa đối tượng cụ thể, nên tư duy con người có thể đúng nhưng cũng có thể sai lầm:
có thể sai lầm trong quá trình phản ánh, cũng có thể sai lầm trong quá trình thao tác.
Chính vì tư duy trừu tượng có tính tương đối, nên con người không thể xem tư
duy trừu tượng là mục đích, là tri thức chân lý; mà phải lấy thực tiễn làm tiêu
chí để đánh giá tư duy lý luận. Nếu thực tiễn kiểm nghiệm đúng, tức là tri thức
phù hợp với hiện thực khách quan. Khi đó, tri thức trở thành chân lý.
Sở dĩ tư duy mang tính gián tiếp, tính trừu tượng, khái quát, bản chất và tương đối
vì nó gắn chặt với ngôn ngữ. Tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nếu
không có ngôn ngữ, các quá trình tư duy của con người không diễn ra được đồng thời
sản phẩm của tư duy cũng không được người khác tiếp nhận. Đây là một đặc điểm khác
biệt giữa tâm lý người và tâm lý động vật. Tâm lý hành động bao giờ cũng dừng lại ở tư
duy hành động trực quan, không có khả năng vượt qua khỏi phạm
đó. Mối liên hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối liên hệ biện chứng. Tư duy không thể
tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào khác ngoài ngôn ngữ. Ngôn ngữ cố định lại các kết quả
của tư duy, là vỏ vật chất của tư duy và là phương tiện biểu đạt kết quả của tư duy, do
đó có thể khách quan hóa kết quả của tư duy người khác cũng như cho chính bản thân
chủ thể tư duy. Và ngược lại, bất kỳ ý nghĩ, tư tưởng nào cũng đều nảy sinh phát triển
gắn liền với ngôn ngữ. Nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là sản phẩm của chuỗi âm
thanh vô nghĩa. Tuy nhiên ngôn ngữ không phải là tư duy, ngôn ngữ chỉ là phương tiện
của tư duy. Đó là mối liên hệ giữa nội dung và hình thức. lOMoAR cPSD| 41487872 18
Ví dụ như trong quá trình tư duy giải bài tập toán thì phải sử dụng các công
thức, ký hiệu, khái niệm được biểu hiện dưới dạng ngôn ngữ, nếu không có ngôn
ngữ thì chính bản thân người đang tư duy cũng không thể giải được bài tập.
Tóm lại, logic học không nghiên cứu giai đoạn nhận thức cảm tính, không
nghiên cứu giai đoạn kiểm nghiệm của thực tiễn mà chỉ nghiên cứu các thao
tác và các quy luật của giai đoạn tư duy trừu tượng. Logic học có vai trò giúp
nhận thức phản ánh đối tượng chính xác hơn, giúp nhận thức tránh được
những thao tác sai lầm trong quá trình chứng minh chân lý.
4. Ý nghĩa của logic học
4.1. Ý nghĩa khoa học
Trải qua hơn hai nghìn năm, từ thời Aristote đến nay, logic hình thức đã là công
cụ đắc lực góp phần hình thành và phát triển nhiều ngành khoa học khác nhau. Nó cũng là
công cụ nhận thức, tư duy hợp lý trong mọi mặt của đời sống con người. Ngày nay,
giai đoạn mà con người đang có tham vọng dùng máy móc để từng bước tự động
hóa các hoạt động trí tuệ của chính mình, logic không chỉ là công cụ để nghiên cứu
mà bản thân nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu. Từ đó, nhiều vấn đề mới
nảy sinh mà việc nghiên cứu chúng chắc chắn sẽ đưa đến những hiểu biết phong
phú hơn về hoạt động tư duy và nhận thức của con người.
Logic hình thức là công cụ của tư duy trừu tượng, do đó, cũng là công cụ quan
trọng của mọi nhận thức khoa học. Hệ thống các quy luật của logic hình thức được sử
dụng suốt hơn hai nghìn năm đến nay vẫn giữ nguyên hiệu lực và khẳng định giá trị
tự thân của nó. Nhờ việc tách khỏi nội dung cụ thể của tư duy, logic hình thức áp dụng
rộng rãi các phương pháp hình thức vào nghiên cứu tư duy, xây dựng các lý thuyết
suy luận, chứng minh logic... Tuy logic hình thức có giới hạn sử dụng của mình và
không phải thích hợp để ứng dụng trong mọi trường hợp song nó thực sự là một công
cụ đắc lực của tư duy để phát triển khoa học. Nếu hạ thấp giá trị của logic hình thức,
vi phạm các quy luật và quy tắc của nó, ta sẽ tự mình đánh mất đi một trong những
chìa khóa để đi tới chân lý. Việc hiểu biết và áp dụng logic hình thức có một ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong khoa học và đời sống xã hội. lOMoAR cPSD| 41487872 19
Hình thức biểu hiện bên ngoài của tư duy là ngôn ngữ. Trong logic hình thức cổ
điển thì đó là ngôn ngữ tự nhiên. Nếu ta dùng ngôn ngữ tự nhiên mà thiếu hiểu biết về
logic hình thức thì sẽ dễ sa vào lập luận và nhận thức sai lầm. Trong lĩnh vực khoa
học tự nhiên, ngôn ngữ toán học và logic toán đã hoàn toàn ngự trị, song chúng cũng
có những hạn chế riêng, không có khả năng bao quát hết mọi lĩnh vực khoa học và
đời sống xã hội. Ngôn ngữ tự nhiên của logic truyền thống do phản ánh trực tiếp thế
giới khách quan nên có khả năng tác động trực tiếp đến thế giới quan, từ đó tác động
đến nhân sinh quan và lối sống của con người. Bởi thế logic hình thức cổ điển với
ngôn ngữ tự nhiên chiếm một vị trí rất quan trọng trong nhận thức khoa học và thực
tiễn đời sống mà các ngôn ngữ đặc thù khác khó mà thay thế được. Mặt khác, để phổ
biến các kết quả khoa học mới từ một lĩnh vực này sang một lĩnh vực khác hay vào
đời sống xã hội, các nhà khoa học phải làm nhiệm vụ chuyển đổi các kết quả từ ngôn
ngữ chuyên môn sang ngôn ngữ tự nhiên. Điều này không chỉ đòi hỏi họ phải hiểu biết
sâu sắc chuyên môn của mình mà còn phải nắm vững các kiến thức của logic hình
thức và vận dụng chúng một cách nhuần nhuyễn.
Đặc trưng cơ bản của tư duy logic là tính chặt chẽ và tính chính xác. Tính chính
xác phản ánh đúng đắn những đặc điểm bản chất của các đối tượng vào trong các dấu
hiệu cơ bản của khái niệm, là sự xác định được giá trị của tư tưởng ở trong phán đoán,
suy luận, bác bỏ, chứng minh. Tính chính xác của tư duy logic đòi hỏi phải có sự
lập luận rõ ràng, ràng mạch, khúc chiết để hiểu đúng nội dung mà tư duy phản
ánh. Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu logic học giúp chúng ta thiết lập, sử
dụng chính xác khái niệm, phán đoán, suy luận; chứng minh một cách mạch
lạc và hợp lý. Từ đó giúp chúng ta nâng cao hiệu quả trong quá trình tư duy,
giao tiếp, trình bày tư tưởng của mình chặt chẽ, nhất quán hơn. Logic học giúp
chúng ta phân biệt được đâu là lập luận đúng, đâu là lập luận sai; đồng thời
giúp phát hiện lập luận ngụy biện của những người cố tình đánh tráo vấn đề.
Logic học là khoa học đặc biệt. Nếu trong các khoa học tự nhiên và xã hội, tư
duy chỉ là phương tiện nhận thức hiện thực, thì trong logic học, nó lại là mục đích
trực tiếp của nhận thức. Vì thế, trong khi vạch ra những tính quy luật của tư duy như
là một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng nhất cùng với tự nhiên và xã hội,
thì khoa học này góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học lOMoAR cPSD| 41487872 20
là quan hệ tư duy với tồn tại. Theo nghĩa đó, logic học có ý nghĩa như thế giới quan khoa học.
Cũng như mọi học thuyết nói chung, lý thuyết logic, trong khi là kết quả của nhận
thức trước đó về khách thể của mình, trở thành phương tiện, và do vậy, trở thành
phương pháp của việc tiếp tục nhận thức nó. Logic học đảm bảo cho khoa học phương
pháp nhận thức xác định với tư cách là một lý thuyết rộng nghiên cứu quá trình tư duy
biểu hiện trong mọi khoa học. Điều này không chỉ đúng đối với logic học hình thức truyền
thống, có trọng tâm là lý thuyết suy luận và chứng minh, cung cấp cho
các khoa học phương pháp để thu được tri thức lý luận, mà còn đúng với logic
toán đang vạch thảo ra những phương pháp toán riêng ngày càng mới hơn để
giải quyết các nhiệm vụ nhận thức. Điều này càng đặc biệt đúng hơn với logic
biện chứng, mà những đòi hỏi của nó, về thực chất, là những yêu cầu của phương
pháp biện chứng đang được nhiều khoa học sử dụng. Như vậy, tri thức logic học
đóng vai trò là cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Không chỉ là cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học, tri thức logic
học còn là cơ sở phương pháp luận trong chuyên môn nghiệp vụ. Nắm vững tri thức
logic học, con người có thể rút ngắn quá trình nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết vấn
đề trong cuộc sống. Với tri thức logic học, con người có thể đạt được mục đích
nhanh nhất, hiệu quả tối ưu nhất, nhưng lại ít tốn kém nhất. Logic học trang bị cho
con người phương pháp suy luận logic, một mặt, nó được dùng như là phương thức
nhận thức quá khứ, những điều đã xảy ra và đã không còn có thể quan sát trực tiếp
được nữa. Mặt khác, suy luận logic cũng càng quan trọng hơn để hiểu tương lai, dự
báo, phỏng đoán về những điều vốn dĩ chưa xảy ra trên cơ sở của những kết luận
xác định về quá khứ và hiện tại. Suy luận logic giúp cho con người nhận được những
tri thức mới một cách trung gian từ những tri thức đã biết dựa trên cơ sở logic nhất
định để rút ra những tri thức mới đáng tin cậy. Với việc cung cấp cho con người
những nguyên tắc, phương pháp nhằm có được suy luận đúng đắn, logic học có vai
trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực của đời sống xã hội.