












Preview text:
NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU
Các bước đối chiếu
- Phân tích đối chiếu được thực hiện qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1 – Miêu tả và Giai
đoạn 2 – Đối chiếu. Hai giai đoạn này được thực hiện theo ba bước và ba bước này
phải theo thực hiện theo trật tự quy định: Description >>> Juxtaposition >>> Comparison Miêu tả
>>> Đặt gần nhau >>> So sánh để xem xét
Description – Miêu tả
- Miêu tả các đối tượng cần đối chiếu thông qua ngữ liệu. Ngữ liệu ở đây có thể là: +
Các bản dịch uy tín, trung thành với bản gốc. Tránh sử dụng các bản
dịch hay bản viết không phải dịch hay viết từ ngôn ngữ gốc đối chiếu (như bản
dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp nhưng đối tượng cần đối chiếu thuộc tiếng Anh, hay
bản dịch tiếng Việt từ tiếng Tây Ban Nha nhưng lại nhầm lẫn thuộc tiếng Anh dẫn đến miêu tả không chính xác); +
Các từ điển đơn ngữ và song ngữ uy tín, lưu ý về mốc thời gian xuất bản
các từ điển để tránh bỏ sót các cập nhật từ quan trọng; +
Thông tin, ngữ liệu từ các thông tín viên và các sách dạy ngôn ngữ/
miêu tả ngữ pháp các ngôn ngữ được đối chiếu. - Yêu cầu đối với ngữ liệu: +
Tính tự nhiên của ngữ liệu. Ngữ liệu cần được ra đời từ chính cộng
đồng bản ngữ của nó nhằm giữ được mức chính xác cao nhất cho bước miêu tả. +
Tính đa dạng của ngữ liệu. Càng có nhiều ngữ liệu trong tay, miêu tả
càng khách quan, chính xác và đầy đủ
- Ngoài ra, bước miêu tả còn bị ảnh hưởng lớn bởi trình độ song ngữ và kiến thức ngôn ngữ học của nhà nghiên cứu trong việc: +
Lựa chọn và miêu tả chính xác cứ liệu ngôn ngữ. Việc nhận diện và lựa
chọn sai do thiếu kiến thức hay cảm quan (trực giác tích lũy) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc miêu tả các đối tượng đối chiếu. +
Xác định những yếu tố được xem là tương đương. Vì không phải yếu tố
nào trong ngôn ngữ này cũng giống trong ngôn ngữ kia ở mọi mặt, thế nên cần xác
định được điểm nào là tương đương để từ cái tương đương đó ta tìm ra điểm khác biệt. +
Xác định những yếu tố có thể so sánh. Vì nếu yếu tố có trong ngôn ngữ
này nhưng không có trong ngôn ngữ khác, ta sẽ không thể so sánh hay đối chiếu.
Juxtaposition – Xác định những yếu tố có thể đối chiếu
- Quá trình này thường phụ thuộc vào năng lực song ngữ của người nghiên cứu, tức khả
năng suy xét và trực giác. Năng lực song ngữ cho phép người nghiên cứu xác định yếu tố
X nào đó trong ngôn ngữ này có tương đương với yếu tố Y trong ngôn ngữ khác hay
không. Nếu hai yếu tố tương đương nhau thì có thể so sánh được với nhau. Đây là phần
chủ quan, nhưng hết sức quan trọng đối với nghiên cứu ngôn ngữ học, giúp người nghiên
cứu “cảm giác” được những gì là đúng và những gì là lạ lẫm khi xem xét các yếu tố đó.
Tuy nhiên, để hạn chế tính chủ quan này, cũng cần căn cứ vào các ngữ liệu khách quan
đáng tin cậy, từ đó rút ra các đặc điểm, miêu tả đầy đủ và chính xác. Ví dụ:
Ta không thể so sánh kết cấu simple past tiếng Anh với phương tiện tương đương trong
tiếng Việt, vì tiếng Việt không có hình thái dẫn đến không có thì. Thay vì vậy, ta ý thức
được rằng simple past là một “tense” dùng để biểu thị “time” – thời gian – một phổ niệm
tư duy có trong mọi ngôn ngữ, vì thế chúng có thể chỉ khác nhau ở cách biểu hiện. Từ
hướng tiếp cận đó, ta có thể lựa chọn phương án đối chiếu “Các phương tiện biểu đạt thời
gian quá khứ trong tiếng Anh và tiếng Việt” hay phương án “Các phương tiện biểu đạt/
cách chuyển dịch ý nghĩa simple past tense trong tiếng Anh sang tiếng Việt”.
Comparison – Đối chiếu
Đây là bước quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu đối chiếu. Bước này chỉ có thể
được thực hiện sau khi đã miêu tả đầy đủ, chính xác và xác định yếu tố có thể so sánh
được. Qua so sánh, các đối tượng có thể giống nhau ở điểm này nhưng khác nhau ở điểm
kia, nhiệm vụ chúng ta là phải chỉ ra những điểm đó.
Qua đó, có 3 khả năng trong đối chiếu hai ngôn ngữ:
1. XL1 = XL2 : X trong L1 có thể đồng nhất về một số phương diện nào đó với cái tương đương trong L2
2. XL1 ≠ XL2 : X trong L1 có thể có sự khác biệt về một phương diện nào đó với cái tương đương trong L2
3. XL1 = ØXL2 : X trong L1 không có cái tương đương trong L2
Có thể thấy, khả năng (1) và (2) là hai mặt của một khả năng, chúng phân biệt vì trong
trường hợp (1) chú trọng hơn đến sự giống nhau, trường hợp (2) chú trọng hơn đến sự
khác nhau. Ngoài ra có thể thấy, không có trường hợp nào mà các yếu tố trong hai ngôn
ngữ giống nhau hoàn toàn.
Ở trường hợp (3) có thể do hai khả năng:
a. Giữa hai ngôn ngữ không có cái tương đương nào được xác lập. Việc này có
thể do X trong L1 là phương tiện ngữ âm hay phương diện thuần túy hình thái và
không biểu thị bất cứ ý nghĩa nào có trong L2. Cũng như, đây là hậu quả của việc
chọn lựa khái niệm không thích hợp: không thể lựa chọn đối chiếu thanh điệu
trong tiếng Việt với tiếng Anh, vì tiếng Anh không có thanh điệu; không thể lựa
chọn đối chiếu phạm trù số trong tiếng Anh với tiếng Việt được, vì tiếng Việt
không tồn tại phạm trù số; không thể đối chiếu hiện tượng chuyển loại trong tiếng
Anh với tiếng Việt được, vì tiếng Việt không có hiện tượng chuyển loại.
b. X chỉ có trong L1, hoặc chỉ có trong L2 và X là một phương tiện mang nghĩa phổ
quát. Trường hợp này, nếu X mang nghĩa phổ quát thì dù chúng chỉ có trong L1
mà không có trong L2 thì việc đối chiếu vẫn có thể diễn ra, vì các ý nghĩa phổ quát
có thể sẽ có những cách biểu hiện khác nhau ở từng ngôn ngữ. Ví dụ: “Các
phương tiện biểu đạt passive voice của tiếng Anh trong tiếng Việt”. Dù tiếng Việt
không có phạm trù thái, nhưng do thái là một phạm trù liên quan đến nghĩa phổ
quát, nên có thể trong tiếng Việt vẫn có cách nào đó biểu đạt ý nghĩa này.
Tùy vào mục đích đối chiếu, người ta có thể thực hiện đối chiếu một chiều (miêu tả X
trong L1 rồi tìm những phương tiện biểu đạt X trong L2) hay đối chiếu hai chiều (miêu
tả X trong cả hai ngôn ngữ). Tuy nhiên, một nghiên cứu đối chiếu hoàn chỉnh nhất thiết
phải thực hiện hai chiều. Các định hướng điển hình có thể mang tên gọi như Hệ thống
X trong L1 và một/những biểu hiện tương đương của nó trong L2, hay Các cách
thức biểu đạt phạm trù X trong L1 và L2.
Các nguyên tắc miêu tả trong đối chiếu
Câu 2: Tại sao phải miêu tả các đối tượng cần đối chiếu trong 2 ngôn ngữ? Các
nguyên tắc đối chiếu là gì? Cho ví dụ
Phải miêu tả đối tượng trong 2 ngôn ngữ vì:
- Xác lập sự tương đồng và khác biệt của 2 ngôn ngữ
- Xác định sự khác biệt của 2 ngôn ngữ dựa trên 1 giả định nào đó có sự giống nhau
- Chỉ ra sự khác biệt dựa trên “cái chung” hay “sự tương đương” giữa 2 ngôn ngữ
Nguyên tắc 1: Chú ý loại hình ngôn ngữ
Cần chú ý đến loại hình của các ngôn ngữ được đối chiếu, vì mỗi loại hình sẽ có các đặc
trưng mang tính bản chất hệ thống, dẫn đến sự khác biệt to lớn với các loại hình ngôn
ngữ khác. Việc nhận thức và chú ý đến loại hình như vậy sẽ giúp miêu tả chính xác
hơn, từ đó cung cấp cơ sở lý thuyết để xác định tương đương và TC.
Chẳng hạn, nếu ta không chú ý đến loại hình, ta sẽ dễ nhầm lẫn giữa khái niệm “thì” và
“thời” khi miêu tả hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau, như giữa tiếng Anh với
tiếng Việt. Khái niệm “thời” là một phổ niệm của tư duy, tức mọi ngôn ngữ trên thế giới
đều có, nhưng chúng có những cách biểu hiện khác nhau. Nếu trong tiếng Anh – một
ngôn ngữ biến hình – “thời” được biểu hiện bằng sự biến đổi hình thái của Verb, và ta
gọi đây là một “thì”, là một phạm trù ngữ pháp của tiếng Anh. Nhưng trong tiếng Việt,
một ngôn ngữ đơn lập, không có sự biến đổi hình thái thì hoàn toàn không có “thì”, ta
biểu đạt ý nghĩa thời gian bằng các phương tiện từ vựng như “đã, đang, sẽ” và đây không
được gọi là “thì”.
* Ví dụ: Hudson & Lu (2003): ne (tiếng Nhật) & ba (tiếng Hán)
Các bước: (1) các chức năng của ne trong tiếng Nhật/ (2) Các chức năng của ba trong
tiếng Hán/ (3) So sánh ne và ba (những điểm giống; điểm khác; so sánh từ góc độ người
làm chủ thông tin)/ (4) ne & ba phân tích theo diễn ngôn.
Nguyên tắc 2: Miêu tả đầy đủ và chính xác
Các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu cần phải được miêu tả đầy đủ, chính xác.
Từ cơ sở đó, ta mới có thể xác định được sự giống nhau và khác nhau giữa các phương tiện đó.
Miêu tả chính xác và đầy đủ tức là ta phải miêu tả trong hệ thống và trong hoạt động
giao tiếp thông thường.
Chẳng hạn, khi đối chiếu nguyên âm trong tiếng Anh với tiếng Việt, ta cần phải đặt
chúng vào hệ thống cấu trúc âm tiết và các tiêu chí phân định thích hợp, như vậy có thể
tìm ra các điểm giống và khác biệt như:
Nguyên âm trong tiếng Việt nằm trong phần Vần, nguyên âm trong tiếng Anh cũng vậy;
Nguyên âm trong tiếng Việt chỉ kết hợp với âm cuối có 1 âm vị, nguyên âm trong tiếng
Anh có thể kết hợp với âm cuối là sự kết hợp của nhiều âm vị ( ví dụ: tang /taŋ¹/ và text /tekst/)
Nguyên âm đôi trong tiếng Việt thường là sự kết hợp từ nguyên âm có độ nâng cao đến
nguyên âm có độ nâng thấp (như ia, ươ, uô), còn nguyên âm đôi tiếng Anh thường đi từ
nguyên âm có độ nâng thấp đến nguyên âm có độ nâng cao (như [aɪ], [eɪ]).
Ngoài ra, nếu chỉ căn cứ vào hệ thống, ta sẽ bỏ qua nhiều hiện tượng chỉ phát hiện trong
giao tiếp thông thường. Chẳng hạn, cấu âm của nguyên âm /i/ trong tiếng Việt giữa người
miền Nam và miền Bắc là khác nhau, hay các âm cuối [-m] và [-p] trong phương ngữ
Nam khi giao tiếp sẽ làm biến đổi nguyên âm, làm chúng mất tính tròn môi (“họp, hộp”
sẽ bị biến thành “hợp”, tức nguyên âm [o] và [ɔ] bị mất tính tròn môi thành [ɤ]).
Ví dụ: không thể so sánh “I” và “tôi” mà không đặt trong hệ thống vai giao tiếp,không so
sánh “will” với “sẽ” mà không đặt trong hệ thống ý nghĩa chỉ về thời gian
Nguyên tắc 3: Các phương tiện phải được miêu tả trong hệ thống
Không thể chỉ nghiên cứu các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà cần phải đặt
chúng vào trong hệ thống. Do trong ngôn ngữ chỉ tồn tại sự khác biệt, bản thân của các
biểu hiện không hề tồn tại ý nghĩa mà chính những sự phân biệt giữa chúng mới làm thành ý nghĩa của chúng.
Chẳng hạn, khi đối chiếu đại từ “I” trong tiếng Anh với “tôi” trong tiếng Việt, nếu
không đặt trong hệ thống, ta sẽ thấy chúng giống nhau do ta chỉ nhìn thấy được cái giống
nhau mà không nhìn ra được sự phân biệt mang tính hệ thống giữa chúng với những yếu
tố khác trong hệ thống. Nhưng khi đặt chúng vào hệ thống, chẳng hạn hệ thống đại từ
nhân xưng (personal pronoun) (dù thật ra chúng không thể đối chiếu, sẽ giải thích sau), ta
thấy được sự biến hình và phù ứng của hệ thống đại từ tiếng Anh với phạm trù ngôi và
phạm trù số (như I là ngôi I số ít – we là ngôi I số nhiều; he, she, it ngôi III số ít – they
ngôi III số nhiều,…), thêm nữa cũng thấy được sự khác biệt về chức năng ngữ pháp (như
giữa I và me). Trong khi đó, với tiếng Việt, “tôi” không có các phạm trù ngữ pháp đó,
cũng không có sự thay đổi khi thay đổi chức năng (Tôi đi học – nó đánh tôi). Ở đây là do
chúng ta đã bỏ qua nguyên tắc 1, không chú ý loại hình ngôn ngữ, hoặc nhầm lẫn do
“nhãn” gắn từ trước tới giờ. Trên thực tế tiếng Việt không có “Personal pronoun” như
tiếng Anh, mà xưng hô bằng các danh từ chỉ quan hệ thân tộc. Như vậy, chúng ta không
thể đối chiếu giữa “I” và “tôi” khi xét về mặt đại từ nhân xưng, mà cần thay thế bằng một
hướng khác, hệ thống vai giao tiếp chẳng hạn. Có thể thấy, khi đặt vào trong hệ thống,
chúng ta có thể nhìn ra được những sự khác biệt mang tính hệ thống như trên nếu như vô
tình đã bỏ qua ở nguyên tắc 1.
Chẳng hạn (2), khi đối chiếu đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng Anh và tiếng Tây
Ban Nha, ta cần đặt cả hai vào trong hệ thống đại từ nhân xưng chứ không miêu tả riêng “you” hay “tú”: I we you you he / she / it they yo nosotros tú vosotros él/el a el os/ellas
Đối chiếu hai hệ thống như vậy cho ta thấy nhiều điểm giống và khác biệt. Như cả hai
đều có sự phân biệt ngôi I/II/III, nhưng tiếng Anh không phân biệt số số đơn số phức
ngôi II, còn ở tiếng Tây Ban Nha thì có.
*Ví dụ: Nói “tôi” nhưng dùng “chúng tôi” để giảm nhẹ độ khẳng định, chủ quan (vượt ra
đến hoạt động giao tiếp).
Nguyên tắc 4: Các phương tiện không chỉ miêu tả trong hệ thống mà còn phải trong
hoạt động giao tiếp
Nếu chỉ căn cứ vào miêu tả hệ thống, ta sẽ dễ bị bỏ qua các hiện tượng chỉ xuất hiện
trong hoạt động giao tiếp. Vì thế cần thiết phải miêu tả cả cách sử dụng phương tiện/yếu
tố đó trong hoạt động giao tiếp.
Chẳng hạn, sau khi ta đối chiếu hệ thống đại từ nhân xưng trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, ta có: I we you you he / she / it they yo nosotros tú vosotros él/el a el os/ellas
Ngoài những điểm tương đồng và khác biệt nhìn thấy được qua miêu tả hai hệ thống như
vậy, còn có những hiện tượng bộc lộ qua hoạt động giao tiếp. Như trong tiếng Tây Ban
Nha có hiện tượng chuyển số đại từ nhân xưng trong giao tiếp để bày tỏ ý tôn trọng, trang
trọng giữa người nói với người nghe thì thường dùng “usted” (trang trọng, ngôi số 2, số ít)
thay cho “tú”. Còn trong tiếng Anh thì không.
*Ví dụ: So sánh “ giới từ - pre” trong TA và TV: trong TV không có giới từ => nên dùng
thuật ngữ “từ chỉ vị trí trong không gian”
Nguyên tắc 5: phải đảm bảo tính nhất quán khi đối chiếu
Cần phải đảm bảo tính nhất quán trong việc lựa chọn và sử dụng các mô hình, các lý
thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu. Tức là, các khái niệm đó phải được hiểu
cùng một cách chứ không có sự nhầm lẫn do “nhãn”; các lý thuyết phải chung một
khung. Vì trong ngôn ngữ có thể tồn tại nhiều cách giải thích, nhiều giải pháp khác nhau
tùy thuộc vào hướng tiếp cận (chẳng hạn, ta có nhiều các giải pháp âm vị học cho một
đơn vị nào đó trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt).
Chẳng hạn, khi miêu tả đối chiếu về thanh điệu tiếng Việt với ngôn ngữ X, ta cần xác
định rõ ràng giải pháp âm vị học 6 thanh điệu hay 8 thanh điệu khi miêu tả thanh điệu tiếng Việt.
Một ví dụ khác, khi ta áp dụng khái niệm “thì” trong đối chiếu hai ngôn ngữ, chẳng hạn
tiếng Anh và tiếng Việt, ta cần tránh nhầm lẫn giữa khái niệm “thì” (tense) và khái niệm
“thời” (time). “Thời” tức thời gian là phổ niệm tư duy, tức mọi ngôn ngữ đều có. Nhưng
“thì” (tense) thì là một phạm trù ngữ pháp chỉ thời gian của tiếng Anh dựa trên sự biến
hình của Verb. Còn tiếng Việt không có sự biến đổi hình thái nên hiển nhiên cũng không
có khái niệm “thì” mà thay vào đó biểu hiện “thời” bằng các phương tiện từ vựng như “đã, đang, sẽ”. *Ví dụ:
A. Việt - Hán - Thái (ngôn ngữ đơn lập - Isolating language)
B. Anh - Pháp - Đức (ngôn ngữ hòa kết, biến hình - Fusional or inflected language)
C. Nhật - Hàn (ngôn ngữ chắp dính - Agglutinative language)
Câu 3. a) Trình bày nội dung của khái niệm “tương đương” trong ngôn ngữ đối
chiếu. Trình bày vắn tắt một số kiểu loại tương đương thường dùng trong đối chiếu ngôn ngữ. Cho ví dụ. Khái niệm
Tương đương là một khái niệm được xác lập trên cơ sở quan hệ, liên quan đến giá trị, đến
khả năng thay thế. Chẳng hạn, nói A tương đương với B có nghĩa là A có giá trị như B, có khả năng thay thế B.
Trong đối chiếu ngôn ngữ, tương đương là MQH giữa các đơn vị, cấu trúc ngôn ngữ cho
ta cơ sở để xác định vì sao những đối tượng này được chọn để so sánh, vì chỉ những đối
tượng tương đương với nhau thì mới có thể so sánh được với nhau. Qua so sánh mà xác
định những điểm giống nhau và khác nhau. Chẳng hạn, “xin chào” trong tiếng Việt và
“good morning” trong tiếng Anh là những cách nói tương đương. Song những cách nói
này chỉ tương đương chứ không hoàn toàn giống nhau, vì “xin chào” được dùng vào bất
kỳ thời điểm nào trong ngày, nhưng chỉ hay được dùng trong những tình huống giao tiếp
thân mật, còn “good morning” chỉ được dùng vào buổi sáng, nhưng hoàn toàn không bị
hạn chế bởi tính chất của tình huống giao tiếp thân mật hay trang trọng.
Các kiểu tương đương kèm ví dụ
- Tương đương về mặt thống kê*:
Các kết cấu trong hai ngôn ngữ được coi là tương đương về mặt thống kê nếu chúng xuất
hiện như là bản dịch của nhau với tần số cao nhất hay nếu so với những kết cấu khác
đồng nghĩa, chúng có tần số xuất hiện trong các văn bản hữu quan giống nhau ở mức tối
đa. Tương đương về mặt thống kê có thể dựa vào 2-texts [+trans] hoặc 2-texts [-trans].
Các kết cấu tương đương về mặt thống kê không nhất thiết phải là tương đương về ngữ
nghĩa cú pháp. Đây là kiểu tương đương làm cơ sở cho nghiên cứu đối chiếu định lượng.
*Ví dụ: Chúng ta có thể tìm từ tiếng Anh chính xác hoặc tất cả các biến hình từ của nó
như: từ “display”, “displays”, “displayed”, hay “ displaying” (thống kê theo hình thái từ)
- Tương đương dịch*:
Được xác lập dựa vào 2-texts [+trans]. Kiểu tương đương này làm cơ sở cho những
nghiên cứu đối chiếu định tính dựa vào khối ngữ liệu và nghiên cứu đối chiếu các hệ thống.
*Ví dụ: Đối với câu “Why don’t we all get together for lunch one day?”, ta sẽ có 2 cách
dịch (a) “Sao chúng ta không gặp nhau để ăn trưa một ngày nào đó?” và (b) “Hôm nào
mình đi ăn với nhau một bữa nhỉ?”. Theo đó, (a) là câu dịch nguyên văn; (b) là tương đương dịch.
Theo đó, tương đương dịch là loại tương đương được người nghiên cứu sử dụng. Dịch
giả có thể sử dụng những góc nhìn khác nhau để diễn đạt ý nghĩa thể mà tác giả sử dụng trong nguyên tác.
- Tương đương hệ thống*:
Đây là kiểu tương đương làm cơ sở cho những nghiên cứu đối chiếu các hệ thống. Khi
nghiên cứu đối chiếu các hệ thống, việc phân tích phải thực hiện trên trục đối vị. Song bất
kỳ sự phân tích nào trên trục đối vị cũng có liên quan đến phân tích trên trục kết hợp, vì
khi phân tích một hệ thống nào đó, ví dụ hệ thống đại từ nhân xưng trong một ngôn ngữ,
ta không thể đả động đến những kết cấu mà trong đó, các yếu tố của hệ thống được sử
dụng. Để xác lập các hệ thống tương đương trong ngôn ngữ A và ngôn ngữ B, cần phải
nghiên cứu các kết cấu tương đương trong những ngôn ngữ đó.
*Ví dụ: những phương tiện được gọi là pronoun trong tiếng Anh và những phương tiện
được gọi là đại từ trong tiếng Việt, có thể so sánh với nhau vì một khi được dán nhãn
bằng thuật ngữ “chung” như vậy, chúng có thể được coi là những hệ thống tương đương.
- Tương đương ngữ nghĩa cú pháp*:
Làm cơ sở cho những nghiên cứu đối chiếu các kết cấu. Kiểu tương đương này được diễn
giải theo tinh thần của lý thuyết ngữ pháp tạo sinh: kiểu tương đương được xác định trên
cơ sở đồng nhất về cấu trúc chìm, được hiểu là cấu trúc nghĩa, cấu trúc đầu vào cho các
quá trình phái sinh ngữ pháp.
*Ví dụ: (1)Seymour slicedthe salami withaknife. NP1 V NP2 - with - NP3
Câu tương đương trong tiếng Ba Lan:
(2) Seymour pokrajal salami nozem. NP1 V NP2 - Inst - NP3
Theo Lakoff: Nozem tương đương với giới từ with vì cả hai đều có ý nghĩa Instrument (công cụ).
Cấu trúc sâu: quy tắc tạo ra câu, quy tắc cú pháp
Cấu trúc bề mặt: vỏ vật chất âm thanh nghe được, trật tự sắp xếp nhìn thấy được. Ví dụ:
Cấu trúc sâu: NP V NP Cấu trúc bề mặt: Charlie broke the window.
The window was broken by Charlie.
- Tương đương quy tắc: Làm cơ sở cho những nghiên cứu đối chiếu các quy tắc.
Nghiên cứu đối chiếu các quy tắc không tách rời các kết cấu mà quy tắc này chi phối.
- Tương đương về thực thể: Liên quan đến những thực thể nằm ngoài ngôn ngữ,
thông qua đó các đơn vị ngữ âm, từ vựng của ngôn ngữ được thể hiện.
- Tương đương ngữ dụng: Làm cơ sở cho những nghiên cứu đối chiếu về ngữ
dụng, về phong cách hay những vấn đề ngôn ngữ học xã hội. B. ỨNG DỤNG
Câu 1: So sánh từ “AND” trong tiếng anh với những cách biểu hiện tương đương trong tiếng Việt?
Câu 2: So sánh từ “ đi” của tiếng Việt với những từ tương đương trong ngoại ngữ
bạn biết hoặc đang học?
Câu 3: So sánh từ “but” trong tiếng Anh hoặc từ tương ứng trong ngoại ngữ bạn
biết hoặc đang học với những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt?
Câu 4: Hãy đối chiếu từ “I” hoặc từ tương đương trong ngoại ngữ bạn đang học
hoặc bạn biết với từ tương ứng trong tiếng Việt?
Từ "I" trong tiếng Anh tương đương với từ "tôi" trong tiếng Việt. Đây là một số cách
diễn đạt từ "I" hoặc từ tương đương trong tiếng Anh và tiếng Việt:
Câu 5: Khảo sát từ “Always” của tiếng Anh trong tiếng Việt?
Câu 6: Hãy cho biết sự giống và khác nhau giữa “Beautiful” và “Đẹp”
Câu 7: Hãy cho biết sự giống và khác nhau giữa “Book” và “sách”
Câu 8: Hãy cho biết sự giống và khác nhau giữa “to go” và “đi”
Câu 9: Hãy cho biết sự giống và khác nhau giữa “run” và “chạy”
Câu 10: Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nghe nói “ngôn ngữ của nhà
văn, nhà thơ…” và “tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu. Dựa vào kiến thức
đã học, anh/chị hãy trình bày sự khác biệt giữa khái niệm ngôn ngữ trong “ngôn
ngữ của nhà văn, nhà thơ” và khái niệm ngôn ngữ trong “tiếng Việt là một ngôn
ngữ có thanh điệu”
Ngôn ngữ trong “ngôn ngữ của nhà văn, nhà thơ”:
Ý nghĩa: Trong ngữ cảnh này, "ngôn ngữ" không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp
thông thường mà còn là nghệ thuật sử dụng từ ngữ để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc và sáng tạo văn học. Đặc điểm:
Tính sáng tạo: Nhà văn, nhà thơ sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo, họ có thể chơi
chữ, tạo ra những hình ảnh độc đáo, và sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ,
đối lập, điệp ngữ để tạo nên tác phẩm văn học.
Tính cá nhân: Ngôn ngữ của mỗi nhà văn, nhà thơ thường mang đậm dấu ấn cá nhân,
phong cách riêng biệt và cách nhìn nhận thế giới của họ.
Tính thẩm mỹ: Ngôn ngữ văn học không chỉ nhằm mục đích truyền đạt thông tin mà
còn nhằm tạo ra giá trị thẩm mỹ, gợi cảm xúc và suy tư nơi người đọc.
Ví dụ: Ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu đều
mang những nét đặc trưng riêng và có sức hút nghệ thuật độc đáo.
Ngôn ngữ trong “tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu”:
Ý nghĩa: Ở đây, "ngôn ngữ" được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, là một hệ thống âm thanh và
ký hiệu dùng để giao tiếp và truyền đạt thông tin giữa con người với nhau. Đặc điểm:
Cấu trúc âm vị: Tiếng Việt có hệ thống âm vị đặc trưng, bao gồm cả nguyên âm và phụ
âm, và đặc biệt là các thanh điệu. Tiếng Việt có 6 thanh điệu: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.
Tính hệ thống: Ngôn ngữ này có một hệ thống ngữ pháp, từ vựng, và ngữ âm rõ ràng,
giúp người nói và người nghe có thể hiểu và trao đổi thông tin một cách chính xác.
Tính phổ quát: Mọi người nói tiếng Việt đều sử dụng cùng một hệ thống ngôn ngữ này,
mặc dù có thể có những biến thể địa phương hoặc phương ngữ.
Ví dụ: Khi nói "tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu," ta nhấn mạnh đến đặc trưng
ngữ âm của tiếng Việt, như cách phát âm khác nhau giữa các từ "ma" (mang thanh
ngang), "mà" (mang thanh huyền), "má" (mang thanh sắc), "mả" (mang thanh hỏi), "mã"
(mang thanh ngã), và "mạ" (mang thanh nặng). Tóm lại:
Ngôn ngữ của nhà văn, nhà thơ: Tập trung vào sự sáng tạo, thẩm mỹ và cá nhân hóa
trong cách sử dụng ngôn từ.
Ngôn ngữ trong “tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu”: Nhấn mạnh vào cấu trúc
ngữ âm học và tính hệ thống của ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp chung.
Hai khái niệm này tuy đều liên quan đến ngôn ngữ nhưng khác nhau về mục đích và phạm vi sử dụng.
Câu 11: Anh/Chị hãy chứng minh bằng ví dụ cụ thể rằng tiếng Việt không có các
phạm trù ngữ pháp như THÌ (tense), THÁI (voice), THỨC (mood), SỐ (number),
GIỐNG (gender). v.v như trong các thứ tiếng biến hình.
Tiếng Việt thực sự không có các phạm trù ngữ pháp như thì, thái, thức, số, giống như
trong các ngôn ngữ biến hình. Điều này có thể được minh họa qua các ví dụ sau: Thì (Tense):
Tiếng Việt không biểu hiện thì qua hình thức biến đổi của động từ. Chẳng hạn, động từ
"đi" không hề thay đổi cho dù nói về quá khứ, hiện tại hay tương lai.
Hôm qua tôi đã đi chơi. (Quá khứ)
Tôi đang đi chơi. (Hiện tại)
Ngày mai tôi sẽ đi chơi. (Tương lai) Thái (Voice):
Tiếng Việt không có sự phân biệt rõ ràng giữa thái chủ động và bị động như trong tiếng Anh. Chẳng hạn:
Tôi viết bài văn. (Chủ động)
Bài văn được viết bởi tôi. (Bị động)
Cả hai câu trên đều dùng động từ "viết" không hề thay đổi. Thức (Mood):
Tiếng Việt không biểu hiện thức như mệnh lệnh, giả thiết,. . qua hình thức biến đổi của
động từ. Chẳng hạn, "đi" vẫn không đổi cho dù nói lệnh hay nghi vấn. Đi ngay! (Mệnh lệnh) Bạn đi chưa? (Nghi vấn) Số (Number):
Tiếng Việt không phân biệt số ít/số nhiều qua hình thức biến đổi của danh từ. Chẳng hạn,
"con mèo" có thể chỉ một hay nhiều con mèo. Giống (Gender):
Tiếng Việt không có sự phân biệt giống của danh từ hoặc động từ. Chẳng hạn, "học sinh"
và "đi" đều không thay đổi cho dù chỉ nam hay nữ.
Như vậy, tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, nên không có các
phạm trù ngữ pháp phức tạp như thì, thái, thức, số, giống. Điều này khác với các ngôn
ngữ phụ thuộc biến hình như tiếng Anh, Pháp, Nga,. .Thay vào đó, ngôn ngữ này thường
dựa vào ngữ cảnh, từ vựng, và cách sắp xếp câu để diễn đạt các ý nghĩa tương ứng.
Câu 12: Ký hiệu ngôn ngữ bao gồm hình thức và nghĩa (khái niệm). Anh/chị hãy
trình bày các điểm chính trong mối quan hệ giữa hình thức và nghĩa của ký hiệu
ngôn ngữ. Cho ví dụ minh họa.
1. Tính võ đoán của ký hiệu ngôn ngữ
Ký hiệu ngôn ngữ thường mang tính võ đoán, nghĩa là không có mối quan hệ tự nhiên
nào giữa hình thức và nghĩa. Một từ trong ngôn ngữ này có thể hoàn toàn khác biệt so với
từ tương đương trong ngôn ngữ khác dù cùng chỉ một khái niệm.
Ví dụ: Từ "tree" trong tiếng Anh, "arbre" trong tiếng Pháp và "cây" trong tiếng Việt đều
chỉ khái niệm "cây cối", nhưng hình thức của các từ này không có sự liên kết tự nhiên nào.
2. Tính quy ước của ký hiệu ngôn ngữ
Mặc dù ký hiệu ngôn ngữ mang tính võ đoán, chúng được cộng đồng ngôn ngữ quy ước
và chấp nhận. Nghĩa của từ phụ thuộc vào sự đồng thuận của cộng đồng người nói.
Ví dụ: Trong tiếng Anh, từ "dog" chỉ con chó vì cộng đồng người nói tiếng Anh đã thống
nhất như vậy. Nếu cộng đồng thay đổi quy ước, nghĩa của từ có thể thay đổi.
3. Tính ổn định và tính biến đổi của ký hiệu ngôn ngữ
Ký hiệu ngôn ngữ có tính ổn định tương đối để đảm bảo giao tiếp hiệu quả. Tuy nhiên,
chúng cũng có thể biến đổi theo thời gian do các yếu tố xã hội, văn hóa, và lịch sử.
Ví dụ: Từ "cool" trong tiếng Anh trước đây chỉ có nghĩa là "mát mẻ", nhưng hiện nay còn
được sử dụng để chỉ điều gì đó "tuyệt vời" hay "thú vị".
4. Mối quan hệ giữa hình thức và nghĩa trong từ ghép và từ láy
Trong nhiều ngôn ngữ, từ ghép và từ láy thể hiện một mối quan hệ rõ ràng giữa hình thức và nghĩa.
Ví dụ: Trong tiếng Việt, từ "mặt trời" là một từ ghép, kết hợp hai từ "mặt" và "trời" để chỉ
khái niệm "mặt trời". Từ láy như "lung linh" thể hiện tính chất lung linh, sáng lấp lánh, có
sự liên kết rõ ràng giữa hình thức và nghĩa.
5. Tính đa nghĩa và hiện tượng đồng âm
Một hình thức có thể mang nhiều nghĩa khác nhau (tính đa nghĩa), và nhiều hình thức
khác nhau có thể có cách phát âm giống nhau (hiện tượng đồng âm).
Ví dụ: Từ "bank" trong tiếng Anh có thể có nghĩa là "ngân hàng" hoặc "bờ sông" (tính đa
nghĩa). Từ "sáng" trong tiếng Việt có thể chỉ buổi sáng hoặc ánh sáng (hiện tượng đồng âm).
6. Ngữ cảnh và sự thay đổi nghĩa
Nghĩa của một ký hiệu ngôn ngữ có thể thay đổi tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Ngữ
cảnh bao gồm cả ngữ cảnh vật lý, ngữ cảnh xã hội, và ngữ cảnh văn hóa.
Ví dụ: Từ "book" trong tiếng Anh có thể chỉ một cuốn sách, nhưng trong ngữ cảnh khác,
nó có thể có nghĩa là "đặt chỗ" (ví dụ: "to book a flight" - đặt vé máy bay). Tổng kết
Mối quan hệ giữa hình thức và nghĩa của ký hiệu ngôn ngữ rất phức tạp và đa dạng. Nó
bao gồm tính võ đoán, tính quy ước, tính ổn định và biến đổi, tính đa nghĩa, hiện tượng
đồng âm, và sự phụ thuộc vào ngữ cảnh. Những yếu tố này cùng tạo nên cách mà ngôn
ngữ truyền tải ý nghĩa và giúp chúng ta giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày.
Câu 13: Trong các phương thức ngữ pháp đã học, theo anh/chị, phương thức nào
phổ biến nhất trong tiêng Việt. Cho ví dụ minh họa.
Document Outline
- NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU
- Description – Miêu tả
- Juxtaposition – Xác định những yếu tố có thể đối c
- Ví dụ:
- Comparison – Đối chiếu
- Các nguyên tắc miêu tả trong đối chiếu
- Phải miêu tả đối tượng trong 2 ngôn ngữ vì:
- Nguyên tắc 1: Chú ý loại hình ngôn ngữ
- Nguyên tắc 2: Miêu tả đầy đủ và chính xác
- Nguyên tắc 3: Các phương tiện phải được miêu tả tr
- Nguyên tắc 4: Các phương tiện không chỉ miêu tả tr
- Nguyên tắc 5: phải đảm bảo tính nhất quán khi đối
- Câu 3. a) Trình bày nội dung của khái niệm “tương
- Các kiểu tương đương kèm ví dụ
- -Tương đương dịch*:
- -Tương đương hệ thống*:
- -Tương đương ngữ nghĩa cú pháp*:
- B. ỨNG DỤNG
- Câu 4: Hãy đối chiếu từ “I” hoặc từ tương đương tr
- Đặc điểm:
- Ngôn ngữ trong “tiếng Việt là một ngôn ngữ có than
- Đặc điểm:
- Tóm lại:
- Câu 11: Anh/Chị hãy chứng minh bằng ví dụ cụ thể r
- Thì (Tense):
- Thái (Voice):
- Thức (Mood):
- Giống (Gender):
- Câu 12: Ký hiệu ngôn ngữ bao gồm hình thức và nghĩ
- 1.Tính võ đoán của ký hiệu ngôn ngữ
- 2.Tính quy ước của ký hiệu ngôn ngữ
- 3.Tính ổn định và tính biến đổi của ký hiệu ngôn ngữ
- 4.Mối quan hệ giữa hình thức và nghĩa trong từ ghép
- 5.Tính đa nghĩa và hiện tượng đồng âm
- 6.Ngữ cảnh và sự thay đổi nghĩa
- Tổng kết