



















Preview text:
CHƯƠNG 1: NHÀ NƯỚC CHIẾM HỮU NÔ LỆ PHƯƠNG ĐÔNG
I. Cơ sở hình thành nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông:
1. Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng.
Ai Cập cổ đại.
- Nằm ở Đông Bắc châu Phi, hình thành trên lưu vực sông Nile, bị bao bọc bởi biển và sa mạc, mọi giao
lưu với thế giới bên ngoài đều thông qua eo đất Xinai nối liền Ai Cập với Tây Á. - Toàn bộ lịch sử Ai
Cập gắn với dòng sông Nile, sông Nile dài gần 6.500km chảy từ Nam xuống Bắc tạo thành 2 vùng được
gọi là Hạ Ai Cập và Thượng Ai Cập. Sông Nile tạo ra một vùng thung lũng dài với đất phù sa màu mỡ,
hàng năm còn mang đến nước tưới cho cây cối, hoa màu tốt tươi.
→ Về vị trí địa lý, chính sông Nile đã nuôi dưỡng cư dân đầu tiên của Ai Cập, là một trong những cơ sở
để hình thành nhà nước Ai Cập thời kỳ chiếm hữu nô lệ.
Lưỡng Hà cổ đại.
- Lưỡng Hà nằm giữa 2 con sông là Tigrơ (Tigris) và Ơphrat (Euphrates), nằm ở khu vực Tây Á.
- Phía Đông và Phía Bắc được bao bọc bởi các dãy núi cao nguyên và hoang mạc.
- Khác với các quốc gia thời kỳ chiếm hữu nô lệ phương Đông, Lưỡng Hà được coi là vùng đất có địa hình
tương đối mở khi nó trở thành ngã ba đường giao thương phát triển kinh tế và hàng hóa.
Ấn Độ cổ đại. -
Ấn Độ là một bán đảo hình tam giác, nằm ở phía nam châu Á nhưng bị ngăn cách với châu lục
này bởi dãy núi cao nhất thế giới là dãy núi Himalaya. 3 mặt giáp biển, mặt còn lại bị ngăn cách bởi dãy
núi nên muốn đi đến Ấn Độ cực kỳ khó khăn ở thời kỳ này. -
Sông Hằng và sông Ấn được xem là 2 dòng sông mẹ sinh ra quốc gia Ân Độ, bồi đắp nên phù sa
và đó là cơ sở để hình thành nhà nước Ấn Độ.
→ Ấn Độ có vị trí địa lý khá biệt lập và các cư dân cổ đại của Ấn Độ sinh sống dọc lưu vực sông Hằng và sông Ấn.
Trung Quốc cổ đại. -
Lãnh thổ Trung Quốc rộng lớn nên địa hình và khí hậu đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều so với các quốc gia khác. -
Sông Hoàng Hà và sông Trường Giang là 2 sông lớn có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển
lịch sử Trung Quốc. Các triều đại của Trung Quốc đã xuất hiện, tồn tại trên lưu vực hai dòng sông này và
xây dựng nên nền văn minh Trung Quốc độc đáo.
→ Những điểm chung cơ bản về điều kiện tự nhiên: -
Các quốc gia này đều nằm trên lưu vực các con sông lớn. Giải thích: Điều này đem lại những thuận
lợi và khó khăn cho các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Đông: thuận lợi khi đem lại khí hậu nhiệt đới
(nóng ẩm, mưa nhiều, độ ẩm cao), thúc đẩy nền kinh tế trồng trọt đã phát triển rất sớm khi công cụ lao
động còn thô sơ; khó khăn là vì sống tập trung gần các con sông lớn khiến dân cư dễ đối mặt với những
hiểm họa từ thiên nhiên (lũ lụt, sạt lở đất…). Chính vì vậy, ngay từ sớm các quốc gia chiếm hữu nô lệ ở
phương đông đã đặt ra vấn đề sống chung với lũ và khắc chế thiên nhiên. -
Địa hình phức tạp và khép kín (riêng chỉ có Lưỡng Hà là địa hình tương đối mở) → Chính đặc
điểm về điều kiện tự nhiên này dẫn đến khó khăn là giao thông bị hạn chế làm cho các nền văn minh ở thời
điểm này phát triển độc lập và mang đậm tính dân tộc.
2. Điều kiện kinh tế:
- Sự chuyển biến về kinh tế: Chính nhờ điều kiện thuận lợi về tự nhiên mà kinh tế của các quốc gia ở
phương Đông cổ đại ngay từ sớm đã xuất hiện nền kinh tế nông nghiệp. Mặc dù canh tác trên đất đai màu
mỡ nhưng công cụ lao động còn thô sơ, chủ yếu là bằng đá, cành cây giòn và dễ gãy nên năng suất lao
động thấp. Sự thay đổi căn bản bắt đầu xuất hiện ở thiên niên kỷ thứ IV TCN khi phát hiện ra công cụ
bằng đồng. So với công cụ bằng đá, cành cây, xương… trước kia thì công cụ bằng đồng đã có ưu điểm
vượt trội: dẻo, mềm, dễ đập… góp phần làm đời sống cư dân ổn định, năng suất sản xuất tăng, bắt đầu có
của dư thừa để dành. Sự xuất hiện của công cụ lao động mới đã làm xuất hiện hoạt động mới như săn bắt,
đánh cá, trồng trọt, chăn nuôi. Từ hoạt động săn bắt, hái lượm, kinh tế trồng trọt bắt đầu phát triển và 3
lần phân công lao động. C ô ng c ụ b ằ ng đá C ô ng c ụ kim lo ạ i
Ho ạ t độ ng s ă n b ắ t, h á i l ượ m Kinh t ế tr ồ ng tr ọ t
- Qu á tr ì nh ph â n c ô ng lao độ ng: Tr ồ ng tr ọ t Ch ă n nu ô i Th ủ c ô ng nghi ệ p Th ươ ng nghi ệ p
Đặc trưng kinh tế:
- Kinh tế nông nghiệp là chủ đạo. Tính chất: Tự nhiên, tự cung tự cấp.
- Xuất hiện thủ công nghiệp và thương nghiệp, nhưng không được chú trọng.
3. Điều kiện xã hội:
- Chuyển biến về mặt xã hội:
+ Đặc trưng của xã hội công xã nguyên thủy là lao động chung, ở chung và ăn chung, sự phân công lao
động lúc này phụ thuộc vào giới tính: săn thú là việc của đàn ông, còn hái lượm, trông nom con cái là
việc của phụ nữ. Chính vì việc săn bắt bất ổn định hơn nên địa vị của phụ nữ trong gia đình, xã hội cao
hơn người đàn ông, người phụ nữ không chỉ là người chủ của gia đình mà còn là người quyết định mọi
việc trong thị tộc. Mặt khác do tập quán kết hôn quần hôn, con cái sinh ra chỉ biết mặt mẹ không biết mặt
cha và lấy họ mẹ nên thời kỳ này là chế độ mẫu hệ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của công cụ lao động mới
làm nhiều hoạt động săn bắt (đánh cá, trồng trọt…) đòi hỏi sức lao động của đàn ông nên chuyển từ chế
độ mẫu hệ sang phụ hệ, người đàn ông là lao động chính trực tiếp làm ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu
sinh sống của cả thị tộc nên đàn ông là chủ của gia đình và chế độ phụ hệ xuất hiện.
+ Đi kèm với sự thay đổi về mặt xã hội đó là công xã thị tộc tan rã, hình thành công xã nông thôn:
Thứ nhất, gia đình nhỏ tách khỏi gia đình thị tộc và trở thành đơn vị kinh tế độc lập, công xã nông thôn
xuất hiện thay thế công xã thị tộc. Thứ hai, chế độ tư hữu xuất hiện. Ch ế độ m ẫ u h ệ Ch ế độ ph ụ h ệ Xã hội công xã nguyên thủy C ô ng x ã th ị t ộ c
C ô ng x ã l á ng gi ề ng C ô ng x ã n ô ng th ô n C ủ a c ả i d ư th ừ a
T ư h ữ u xu ấ t hi ệ n
T ư h ữ u v ề t ư li ệ u sinh ho ạ t
+ Phân hóa giàu nghèo và hình thành giai cấp:
Giai cấp thống trị: Giai cấp bị trị: Quý tộc chủ nô - Nông dân công xã. -
Nô lệ: có nguồn gốc từ tù binh chiến tranh,
nông dân phá sản, không có quyền lợi về kinh tế,
chính trị, bị xem là đồ vật, công cụ lao động thuộc
sở hữu của chủ nô, chủ nô có toàn quyền sở hữu
đối với nô lệ, có thể mua bán, thế chấp, trao đổi nô
lệ, thậm chí là giết… Chính vì lý do này, khi nghiên
cứu về chế độ nô lệ ở phương đông cổ đại, chủ
nghĩa Mác đã nhận xét rằng đây chính là chế độ nô lệ gia trưởng.
Lưu ý: Chế độ nô lệ trong xã hội phương đông cổ đại mang tính chất không điển hình (hay gọi là chế
độ nô lệ gia trưởng) bởi vì:
+ Thứ nhất, số lượng nô lệ ở phương đông không có nhiều.
+ Thứ hai, chế độ nô lệ gia trưởng là loại hình xã hội còn duy trì nhiều tàn dư của chế độ công xã thị tộc,
số lượng nô lệ ít và sống, hầu hạ chủ nô, đồng thời, nền kinh tế chủ yếu nông nghiệp nên họ sống và làm
việc cùng với cả chủ, mối quan hệ này mang tính chất gia đình. Chính vì vậy mà không có sự khác biệt
giữa chủ nô và nô lệ như ở phương tây. Do vậy, tính chất nô lệ ở phương đông cổ đại mang tính gia trưởng.
Chế độ nô lệ điển hình
Chế độ nô lệ gia trưởng Phương Tây Phương Đông
Số lượng nô lệ đông đảo Số lượng nô lệ ít
Lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội
Phục vụ trong các gia đình chủ nô (nô tỳ, đánh xa…)
Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ rất gay gắt.
Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ khổng phải là
mâu thuẫn chính trong xã hội
→ Như vậy, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị đã bắt đầu xuất hiện ở trong xã hội phương đông cổ đại.
Giữa 2 giai cấp này bắt đầu hình thành mâu thuẫn nhưng chưa đến nỗi gay gắt và chưa bùng nổ thành các
cuộc đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên, nhà nước vẫn ra đời do sự tác động của hai yếu tố đó là: yếu tố trị thủy và chiến tranh.
Yếu tố trị thủy và chiến tranh: -
Trị thủy và thủy lợi: Huy động sức của nhiều người trong thời gian ngắn. Giải thích: Do sống gần
các lưu vực sông lớn cần tiến hành trị thủy để việc sản xuất nông nghiệp trở nên dễ dàng hơn. Việc trị thủy
là cần sức của nhiều người trong thời gian ngắn nên đòi hỏi phải đoàn kết, gắn bó với nhau. Đồng thời, vai
trò của người đứng đầu chỉ đạo công việc trị thủy rất quan trọng. Hai yếu tố này đã làm các cơ quan đã
được hình thành trước khi nhà nước xuất hiện và thực hiện các chức năng mang tính xã hội phục vụ công việc chung của xã hội. -
Chiến tranh: Đòi hỏi phải có người xây dựng, chỉ huy, thống lĩnh quân đội, tập trung lớn sức người, sức của.
→ Khi trị thủy và chiến tranh trở thành nhu cầu sống còn của cư dân làm những tổ chức đầu tiên được
hình thành để thực hiện những công việc chung của xã hội và dần dần hoàn thiện, chính là tiền thân của nhà nước.
→ So sánh với quan điểm của chủ nghĩa Mác về con đường hình thành Nhà nước thì có thể nhận ra con
đường hình thành Nhà nước của phương Đông cổ đại có sự khác biệt cơ bản. Nếu con đường hình thành
Nhà nước theo học thuyết Mác - Lênin đi tuần tự theo từng bước là: từ xuất hiện chế độ tư hữu, phân hóa
giai cấp đến mâu thuẫn giai cấp, khi mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt và bùng nổ đấu tranh giai cấp thì
Nhà nước ra đời như là một sản phẩm của việc mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Tuy nhiên, ở
phương Đông, sự ra đời của 4 nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc thì không đi theo
lần lượt từng bước như học thuyết trên mà nó có mâu thuẫn giai cấp nhưng mâu thuẫn giai cấp này chưa
đến mức gay gắt đến mức bùng nổ đấu tranh giai cấp. Hai yếu tố trị thủy và chiến tranh tác động mạnh
mẽ đến sự hình thành nhà nước. Chính vì thế, Nhà nước phương đông cổ đại đã hình thành mà không cần
đến mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt đến mức bùng nổ đấu tranh giai cấp làm hình thành Nhà nước.
Câu hỏi: Yếu tố trị thủy và chiến tranh có phải là nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành Nhà nước
hay không? Nếu không có yếu tố trị thủy và chiến tranh thì Nhà nước có ra đời hay không?
→ Lưu ý: Nếu có yếu tố trị thủy và chiến tranh nhưng không có sự tư hữu về tài sản, không có phân hóa
giai cấp thì Nhà nước không thể ra đời được vì nhu cầu trị thủy và chiến tranh không phải bây giờ mới
xuất hiện mà trị thủy và chiến tranh đã xuất hiện từ khi con người bắt đầu sản xuất và sinh hoạt. Có thủ
lĩnh, có sự tập trung về mặt quyền lực nhưng không có sự tư hữu về tài sản, không có phân hóa giai cấp
thì sẽ không có giai cấp thống trị, giai cấp bị trị, thủ lĩnh ngoài quyền uy mà không nắm kinh tế thì sẽ
không được sự kính trọng của mọi người. Chính vì vậy, yếu tố trị thủy và chiến tranh không phải là
nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành Nhà nước mà chỉ là yếu tố thúc đẩy Nhà nước hình thành
nhanh hơn. Nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành Nhà nước vẫn là sự phân hóa giai cấp.
(Cô bảo: Khi phân tích về sự hình thành Nhà nước phương Đông cổ đại thì cần chú ý đến yếu tố về điều
kiện tự nhiên, yếu tố về điều kiện kinh tế và yếu tố và điều kiện xã hội. Những yếu tố này có sự tác động
qua lại lẫn nhau và dẫn đến sự hình thành của Nhà nước).
→ Từ những nhận xét như trên thì ta có thể thấy sự hình thành Nhà nước của các quốc gia chiếm hữu nô
lệ phương đông cổ đại không giống hệt như quan điểm về sự hình thành Nhà nước của chủ nghĩa Mác -
Lenin mà nó được coi như là 1 ngoại lệ của sự hình thành Nhà nước.
II. Tổ chức bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông: Vua T ô
B ộ m á y quan l ạ i trung ươ ng Qu â n thu ế độ i
Quan l ạ i đị a ph ươ ng -
Vua: đứng đầu tổ chức bộ máy nhà nước, nắm mọi quyền hành: lập pháp, hành pháp, tư pháp, nắm
vương quyền và thần quyền. Quyền lực của vua là vô tận và vô hạn, cha chết thì truyền ngôi cho con. Vua
còn là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, nắm giữ mặt kinh tế rất vững chắc bởi vì chỉ khi chi phối quyền
lực về mặt kinh tế thì mới có thể chi phối các quyền lực khác về mặt chính trị và xã hội. -
Bộ máy quan lại trung ương: giúp việc cho vua, có sự phân công, phân nhiệm bằng cách mỗi người
đảm nhận một công việc, một chức vụ, tuy nhiên sự đảm nhận công việc, chức vụ này mang tính đơn giản, sơ khai. -
Quân đội: các vua ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương đông rất quan tâm về quân đội. Muốn
duy trì bộ máy nhà nước, duy trì sự thống trị của giai cấp chủ nô cũng như tổ chức chiến tranh để tranh
giành lãnh thổ thì cần phải có lực lượng quân đội mạnh. VD: Ở Lưỡng Hà, vua Hammurabi tổ chức được
lực lượng quân đội mạnh và kỷ luật, thường trực nên vua Hammurabi đã tiến hành các cuộc viễn chinh
xâm lược chinh phục toàn Lưỡng Hà, đưa thời kỳ cổ Babylon thành thời hoàng kim trong lịch sử Lưỡng Hà. -
Để duy trì bộ máy nhà nước và thực hiện các công việc chung của xã hội thì tô thuế là vấn đề được
các vua của quốc gia phương đông cổ đại quan tâm. -
Quan lại địa phương: Các quốc gia phương đông cổ đại chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính
và có người đứng đầu địa phương do vua bổ nhiệm nhưng chính quyền cơ sở thì hầu hết đều là các công
xã nông thôn. Ở phương đông, đời sống nông nghiệp quyết định nên người nông dân quây quần trong các
công xã. Nền kinh tế tự cung tự cấp làm cho tổ chức bộ máy công xã có tính tự quản rất cao. -
Hội đồng công xã: là những người do thành viên công xã bầu ra, trong đó đứng đầu công xã là
người thay mặt thực hiện quan hệ với chính quyền cấp trên.
→ Như vậy, tổ chức bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ phương đông hầu hết được tổ chức theo hình
thức chính thể quân chủ tuyệt đối, trong đó vua đứng đầu, nắm quyền lực tuyệt đối về tất cả các mặt
trong đời sống xã hội, giúp việc cho vua là hệ thống quan lại và thực hiện những công việc và chức năng
riêng. Tổ chức bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ phương đông ở thời kỳ này đã bắt đầu cơ bản có sự
hình thành và có sự chuyên môn. Tuy nhiên, sự chuyên môn này còn khá đơn giản, chỉ là mỗi người chỉ
thực hiện một chức năng riêng.
III. Đặc điểm chung của các nhà nước phương Đông cổ đại:
- Các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông ra đời không phải là do nhu cầu bức thiết của đấu tranh giai
cấp mà do yêu cầu chống ngoại xâm và bảo vệ các lợi ích chung cộng đồng.
- Các nhà nước phương Đông cổ đại được tổ chức theo hình thức quân chủ tuyệt đối.
- Quan hệ họ hàng huyết thống là yếu tố quan trọng nhất để tổ chức bộ máy nhà nước.
- Bộ máy nhà nước chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ thị tộc với những tín ngưỡng tôn giáo và lễ giáo truyền thống.
- Bộ máy nhà nước mang nặng tính quân sự
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG THỜI KỲ CỔ ĐẠI
- Nắm hình thức tồn tại của PLPĐCĐ
- So sánh với nhà nước phương Đông cổ đại thì thiếu bộ luật Ai Cập vì không có nhiều nguồn dữ liệu I.
Bộ luật Hammurabi (Lưỡng Hà)
- Không phải là bộ luật đầu tiên. Bộ luật đầu tiên là Ur-Nammu, nhưng bị thất
truyền. Đến giai đoạn hiện nay, các nhà khoa học công nhận và cho rằng Bộ luật
Hammurabi là bộ luật thành văn hoàn chỉnh đầu tiên đến giai đoạn hiện nay chứ
không phải là án lệ hay tập quán khác.
- Bộ luật được khắc trên 1 tấm đá Bazan, cao tầm 2m, chia thành 2 phần: tượng
hình và chữ. Đó là lý do tại sao đến bây giờ bộ luật này vẫn còn tồn tại: Bộ luật
thể hiện bằng văn bản. Sau khi khắc xong và ban hành sẽ được đặt ở nơi công
cộng để người dân dễ dàng theo dõi việc xét xử
- Khắc hình ảnh gồm: 1 vị vua (Hammurabi) và 1 vị thần (thần của ánh sáng và
công lý) => Hình ảnh thể hiện tinh thần quyền về vị thần đang trao quyền trượng,
tức là trao quyền lực lại cho vua Hammurabi quản lý đất nước. 1. Giới thiệu:
- Hoàn cảnh ra đời: Ra đời vào thời cai trị của Vua Hammurabi (từ đầu thế kỷ XIX
TCN đến đầu thế kỷ XVI TCN), được khắc trên 1 tấm đá cao Bazan. Được phát
hiện năm 1901 (hiện đang ở Bảo tàng Louvre Pháp) - Nguồn:
+ Kế thừa những tiền lệ và tập quán trong XH trước đó
+ Những quyết định (mệnh lệnh, chiếu chỉ) của vua Hammurabi
+ Phán quyết của các bô lão, tộc trưởng. - Cơ cấu:
+ Từ Điều 1- Điều 4: quy định về việc đi kiện và bằng chứng
+ Từ Điều 6 - Điều 25: quy định về trộm cắp và cướp
+ Từ Điều 39 - Điều 64 quy định về ruộng đất và chế độ thuế.
+ Từ Điều 66 - Điều 127 quy định về dân sự, hợp đồng vay, mượn
+ Từ Điều 128 - Điều 183 quy định về Hôn nhân gia định
Bộ luật là sự hợp thức hóa về mặt quyền lực, vị vua muốn nói rằng các vị thần đang trao
lại quyền lực cho ông và ông chỉ là người thay thế quản lý nhân dân thôi (một đất nước
phồn thịnh thì nhân dân phải tuân theo bộ luật) => Một bộ luật mang đầy màu sắc của tôn
giáo (về mặt nội dung) vì ngay phần mở đầu đã khẳng định vua rất là tin nên xã hội cũng
rất tin => rất nhiều quy phạm mang tính thần quyền.
“Nguyên thần trời đất vĩ đại, tất cả Anunac, thần bảo hộ các đền miếu hãy cùng nhau
dùng những lời trù đáng sợ để nguyền rủa bản thần người đó, nguyền rủa con cháu của
người đó, đất nước và quân đội của người đó.
Nguyên thần Enlin hãy dùng lời vàng ngọc của mình lớn tiếng nguyền rủa người đó, và
tức khắc làm cho sự nguyền rủa của ngài giáng lên người đó” => “người đó” là người
làm trái luật => Vì chế tài nguyền rủa vô cùng nghiêm khắc và đáng sợ nên vua
Hammurabi mới sử dụng để kết luận.
Đại từ nhân xưng vua Hammurabi dùng là “trẫm”. Liệu có phải vua Lưỡng Hà có xưng
“trẫm” không? => Không, chỉ là do dịch từ bản Trung Quốc ra. 2. Nội dung cơ bản:
a. Những quy định chung về tội phạm và hình phạt
- Thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội:
+ Điều 204 Bộ luật Hammurabi: “Nếu Muxkenu tát vào má Muxkenu, thì
phải bồi thường 10 xikho bạc”
+ Điều 205 Bộ luật Hammurabi: “Nếu nô lệ của dân tự do tát vào má của con
dân tự do thì phải cắt một tay của nó”
=> Sự phân chia tầng lớp rõ rệt.
- Áp dụng nguyên tắc “động thái phục thù” và dùng tiền chuộc tội
● Nguyên tắc “đồng thái phục thù”
+ Điều 200: “Nếu dân tự do đánh gãy răng của người dân tự do ngang hàng với
mình, thì phải đánh gãy răng của y”
+ Điều 229: “Nếu người thợ xây, xây nhà mà xây không cẩn thận, nhà bị sập làm
chết chủ nhà thì giết chế người thợ xây, nếu làm chết con trai của chủ nhà thì phải
giết chết con trai của người thợ xây”
=> Sự ngang bằng về hậu quả, không quan tâm đến “lỗi”
★ Thế nào là “đồng thái phục thù”?
=> Nghĩa là trả thù ngang bằng
=> So sánh với khái niệm Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do bộ luật quy định,
có lỗi và do chủ thể có năng lực TNHS gây ra.
=> Chịu hình phạt trong Bộ luật Hammurabi rất đơn giản chỉ cần có quy định và thiệt hại
thực tế xảy ra. VD: Điều 229. Không cần biết có lỗi vô ý hay cố ý, chỉ cần biết nhà bị sập
thì theo luật quy định không cần biết là nam nữ (không quan tâm đến năng lực TNHS)
chỉ cần làm chết con trai chủ nhà thì theo luật quy định phải giết chết con trai của người làm sập nhà.
★ Tại sao có nguyên tắc “đồng thái phục thù”? Nguyên tắc này có công bằng hay không?
=> Là trả thù công bằng, là tàn dư của chế độ công xã nguyên thủy (quy tắc vàng: ăn
chung, ngủ chung,... bình đẳng như nhau các sản phẩm làm được hay chiến lợi phẩm đều
chia đều) => Mọi người đã quen với việc chia đều. Ở thời đại này người ta không thể xác
định được lỗi, hạn chế kỹ thuật điều tra => Cái thực tế là cái thiệt hại được thấy rõ ràng.
=> Tồn tại ở cả những phương nước Phương Tây cổ đại (nợ máu phải trả bằng máu)
=> Không công bằng vì cơ bản xã hội lúc bấy giờ đã có sự phân tầng rõ ràng, không bình
đẳng nên không thể nào công bằng được. Về lý thuyết thì nguyên tắc này đảm bảo sự
công bằng nhưng bản chất xã hội đã phân hóa giai cấp => Đích đến của mọi nhà nước.
- Về kỹ thuật lập pháp: cách hành văn sử dụng từ, các xây dựng điều luật + Ưu điểm:
+ Hạn chế: thiếu khái quát, không có văn bản hướng dẫn (Bộ luật Manu,
TQ,... pháp luật của phương Đông cổ đại đều như vậy); hạn chế về kỹ thuật lập pháp.
+ So sánh: Ở phương Tây như BLDS khái quát rất cao, có văn bản hướng
dẫn. Ở phương Tây có ngành khoa học pháp lý, phương Đông không có =>
Vì ở phương Tây các giáo sư đã kết hợp với các khái niệm trong Logic học
để xây dựng ra khái niệm một cách khái quát.
VD: Giả sử Điều 229 người thợ xây không có con cái thì giết ai? => Không có
văn bản nào hướng dẫn thì áp dụng cái gì? => Chấm hết rồi không giải quyết được.
● Nguyên tắc dùng tiền chuộc tội:
+ Điều 196: “Nếu dân tự do làm hỏng mắt của con của bất cứ người dân tự
do nào thì phải làm hỏng mắt của y”
+ Điều 199: “Nếu y làm hỏng mắt nô lệ của dân tự do, hoặc làm gãy xương
nô lệ của dân tự do, thì phải bồi thường ½ giá mua của người nô lệ đó”
=> Tất cả những gì không có vật ngang giá chung thì sử dụng nguyên tắc “đồng thái
phục thù”. Nếu có vật ngang giá chung là tiền thì dùng bằng tiền. Từ khi đồng tiền xuất
hiện thì mọi lời xin lỗi trở nên vô nghĩa (nô lệ được coi là tài sản của chủ nô)
- Thời gian chờ trả thù:
+ Có thể bù đắp bằng những lợi ích vật chất tinh thần => xoa dịu nỗi đau.
+ Đến thời gian trả thù mà đổi ý không giết nữa thì sẽ không phải trả thù nữa
=> tính chất nhân đạo
● Hình phạt hà khắc dã man:
- Điều 21, 25 (xử tử và chôn ngay tại chỗ đã xâm phạm; … ném vào lửa)
+ Điều 21: “Nếu dân tự do xâm phạm chỗ ở của người khác thì bị xử tử và
chôn ngay ở chỗ đã xâm phạm”
+ Điều 25: “Nếu nhà nào bị cháy mà người tự do đến chữa cháy dòm ngó tài
sản và lấy bất cứ một vật gì thì người ấy bị ném vào lửa đỏ”.
=> Không có ranh giới giữa hình sự (phạt hình sự) và dân sự hợp đồng (cũng phạt hình
sự) => Hình sự hóa tất cả các quan hệ xã hội mà Bộ luật Hammurabi (Cách gọi khác: Bộ
luật Hình sự của Hammurabi)
b. Các quy định về dân sự:
❖ Quy định về hợp đồng (tự nghiên cứu trong giáo trình) - Hợp đồng mua bán: + Người bán + ….
+ “Người làm chứng” quan trọng, cần thiết trong xã hội bấy giờ - Hợp đồng vay: - Hợp đồng lĩnh canh - Hợp đồng gửi giữ
❖ Các quy định về hôn nhân và gia đình (Năm trước có thi)
- Quy định về thủ tục kết hôn: “Nếu dân tự do cưới vợ mà không có giấy tờ
thì người phụ nữ đó không phải là vợ của y” (Điều 126)
- Quy định về Nghĩa vụ vợ chồng (Điều 129):
+ Công nhận quyền gia trưởng
+ Người đàn ông là chủ gia đình (vì đây là xã hội đương việt, trọng
trưởng trọng vai trò người đàn ông) => Người đàn ông quyết định
vai trò chính trong kinh tế người đàn ông cũng quyết định vai trò
chính trong XH => địa vị vô cùng lớn.
+ Là ông chủ, là kẻ chiếm hữu đầy quyền hành đối với vợ mình =>
Người đàn ông có quyền cưới vợ, ly hôn với vợ và thậm chí trong
một số trường hợp còn có quyền giết vợ. Nếu người đàn ông Lưỡng
Hà phát hiện ra vợ ngoại tình thì anh ta có quyền trói cả vợ lẫn nhân
tình của mình thả xuống sông cho chết. Nhưng không có quy định
tương tự cho người phụ nữ nếu phát hiện người chồng ngoại tình =>
thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong HNGĐ.
- Quy định về ly hôn:
+ Chồng có quyền bỏ vợ (Điều 138): “Nếu dân tự do muốn bỏ vợ
chưa sinh con cái thì phải cho thị một số bạc tương đương với lễ hỏi
và phải trả lại những của hồi môn mà thị mang từ nhà cha mẹ về,
sau đó có thể bỏ” => Mặc dù XH này là XH trọng trưởng nhưng ở
góc độ nào đó vẫn nhìn thấy vai trò của người phụ nữ, bảo vệ người
phụ nữ ở một mức độ nhất định. Tức là khi muốn bỏ vợ phải trả lại
của hồi môn để người ta trả về => Xuất phát từ quy định của mặt
thừa kế không phân biệt con trai hay con gái (trên lý thuyết chứ thực thế cũng khó).
+ Vợ có quyền bỏ chồng (chỉ trong 2 TH)
➢ Khi bị bệnh hủi mà không muốn sống với chồng nữa, nếu có hàng
xóm làm chứng là chồng hành hạ mình (Điều 148)
+ Bệnh hủi (Bệnh phong hủi)? => Do virus gây ra và khi mắc bệnh
ở giai đoạn này được coi là bệnh hiểm nghèo. Hơn nữa họ rất sợ lây
ở giai đoạn này vì khi người vợ bị bệnh hủi thì đồng nghĩa với việc
người chồng muốn lấy một người vợ khác (tức là (1) sẽ phải trả của
hồi môn; (2) nếu người vợ không muốn ly hôn thì phải nuôi suốt đời
=> Là bệnh vô cùng đáng sợ do những phần chi của cơ thể sẽ dần bị
lở loét và sau đó cụt dần, mang đau đớn cho người khác.
+ Khi bị chồng hành hạ (Điều 142); trường hợp người vợ ghét chồng
và nói với người chồng rằng: “anh không được chiếm hữu tôi/ tôi
không muốn sống với anh nữa”
Lúc này phải tìm người hàng xóm của họ để điều tra việc này. Vì ở
giai đoạn này, kỹ thuật điều tra hình sự còn hạn chế nên để chứng
minh việc người đàn ông hay đi ra ngoài, còn hành hạ vợ thì cần tìm
người làm chứng để chứng tỏ đúng hay sai, có hay không => Quy
định này sẽ tồn tại bất cập khi người làm chứng nói sai (tức là anh
muốn ly hôn thì phải có sự đồng ý của anh hàng xóm)
❖ Các quy định về tố tụng:
- Việc xét xử mang tính thần thánh - phép thử tội:
“Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi đến một dòng sông
và nhảy xuống, nếu anh ta bị chìm bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở
hữu nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, dòng sông chứng minh rằng bị đơn
không có tội, tức anh ta sống sót thì nguyên đơn sẽ bị giết chết và bị đơn sẽ
sở hữu nhà của bị đơn”
=> Còn nhiều cách xét xử kỳ lạ khác: “Nếu một người phạm tội bị dùng sắt
nung nóng dí vào bàn tay, vài ngày sau đến trình diện nếu không còn vết
thương thì sẽ vô tội, vào mùa nắng nhất trong năm, đưa ra pháp trường
trói bằng vỏ cây để họ cầu trời khẩn phật rủ lòng thương, nếu người này
may mắn gặp trời mưa xuống thì sợi dây sẽ lỏng ra và thoát chết, người lại
thì không thể thoát tội”. 3. Nhận xét chung:
★ Ưu điểm:
- Phạm vi điều chỉnh rộng với hầu hết các quan hệ xã hội: Bộ luật
Hammurabi được xem như bách khoa toàn thư, điều chỉnh mọi quan
hệ từ dân sự đến hình sự,...
- Các quy định về hợp đồng khá tiến bộ
- Có ý thức bảo vệ đến những người có địa vị yếu trong xã hội.
★ Hạn chế:
- Mang tính trọng hình khinh dân
- Pháp luật bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo.
- Hình phạt thì rất dã man, mang đau đớn kéo dài thể hiện sự răn đe,
mà chưa có tính giáo dục, mang tính “đồng thái phục thù”
- Pháp luật mang tính bất bình đẳng sâu sắc về giới và bất bình đẳng
về giai cấp địa vị xã hội.
- Bộ luật chưa có tính khái quát, tính hệ thống cao, các quy định
thường chỉ là sự mô tả các hành vi cụ thể. II.
Bộ luật Manu (Ấn Độ cổ đại)
- Đặc điểm: Bộ luật Manu là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong tất cả các luật lệ cổ ở Ấn Độ cổ đại
Nếu như Luật Hammurabi là luật do vua Hammurabi lập nên hội đồng soạn thảo
tạo ra và ban hành mang tên ông thì đây là luật do các giáo sĩ Bà La môn xây dựng
(Thế kỷ II - I TCN) nên giáo luật cho các giáo dân của họ tuân thủ nhưng còn các
quý tộc (đẳng cấp thứ hai) xuất hiện thì họ luật hóa các quy định này thành Luật
Manu => Luật này chính là sự hợp thức hóa về chế độ đẳng cấp, duy trì bảo vệ chế độ đẳng cấp.
- Tháp đẳng cấp theo chế độ đẳng cấp Varna
- Bộ Luật Manu gồm 12 chương và 2685 Điều
- Mang tính chất hà khắc dã man sơ khai giai cấp => Bách khoa toàn thư về Ấn Độ cổ đại
- Quy định về Hôn nhân gia đình:
+ Về hình thức kết hôn: 4 hình thức hôn nhân, hôn nhân do cha mẹ định đoạt
=> được công nhận cướp cô dâu, mua vợ và hôn nhân tự nguyện => bị bài
trừ, hơi ngược lại với xã hội hiện tại.
+ Về mối quan hệ vợ chồng thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ hôn nhân
+ Quyền gia trưởng của người đàn ông trong gia đình. Người phụ nữ có địa vị
rất thấp kém cả trong gia đình và ngoài xã hội
- Bộ luật Manu công nhận sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng. Vai trò của người
phụ nữ vô cùng thấp kém ngay cả trong gia đình và ngoài xã hội.
+ Người chồng có thể trụy lạc, độc ác nhưng vẫn phải coi chồng là thần thánh (Điều 46 Bộ luật Manu)
+ Tại sao có nạn tảo hôn?
(Ở Ấn Độ, nam nhận thừa kế qua tài sản, nữ nhận qua của hồi môn) Nguyên nhân:
➢ Họ muốn duy trì hôn nhân do cha mẹ định đoạt => càng nhỏ càng dễ
định đoạt, càng lớn thì việc cha mẹ định đoạt càng khó khăn => Hợp
thức hóa môn đăng hộ đối.
➢ Trong xã hội này là xã hội nông nghiệp, trọng nam k 9hinh nữ, gia
đình có con gái dễ dàng bị mang gả đi
➢ Lịch sử Ấn Độ là sự lên ngôi của các tộc người khác nhau trong xã
hội (phương Tây gắn liền với nô lệ - hoạt động thực dân nhưng ở
phương Đông không có) => Người Ấn Độ không phải lúc nào cũng
thống trị mà có giai đoạn do người Hồi thống trị - có tục cướp cô
dâu => con gái đính hôn càng sớm càng tốt => bảo vệ quyền lợi cho người con gái. III.
Pháp luật Trung Quốc thời kỳ cổ đại:
- Trải qua các triều địa: Hạ, Thương, Chu
- Pháp luật thời nhà Chu: (Tây Chu và Đông Chu)
+ Pháp luật thời Tây Chu:
● “Ngũ Lễ” thời Tây Chu: Cát lễ (Lễ đón tiếp những điều tốt đẹp),
Gia lễ (lễ lập con trưởng, lễ trưởng thành), Hung lễ (lễ trừ tà), Quân
lễ (Lễ ra quân),Tân lễ (Đón tiếp những điều tốt đẹp hoặc đón tiếp chư hầu)
● Pháp luật Tây Chu: Hình phạt bao gồm 5 bậc, gọi là “Ngũ hình” -
Phi hình, cùng hình, đại lích, mặc hình, tỵ hình
(1) Phi hình (Chặt chân)
(2) Cung hình: thiến (đối với nam); nhốt vào nhà kính (đối với nữ)
(3) Đại tịch (tử hình) - cao nhất, người ta nghĩ ra những hình
phạt vô cùng đau đớn (chém đầu, chém bên đầu,...)
Một số hình phạt:
● Bêu đầu: chém đầu => Treo đầu lên thị chúng, vài
ngày sau được đem về chôn
● Lăng trì tùng xẻo: hành động có một tiếng trống đánh
“tùng thì xẻo một miếng thịt bằng dao cùng, chờ một
canh tiếp theo tiếp tục cứa vào chỗ đang xẻo dở.
● Ngũ mã phanh thây: Nạn nhân sẽ bị trói tứ chi vào bốn
con người, mỗi con ngựa này bị kích động và chạy
theo các hướng khác nhau khiến cơ thể nạn nhân bị xé
thành từng mảnh. Phạm nhân sẽ bị bỏ mặc cho máu
chảy đến chết. Hình phạt này còn có một biến thể khác
là “Ngũ mã phanh thây” với con ngựa thứ năm cột vào cổ phạm nhân.
(4) Mặc hình: khắc chữ lên mặt
(5) Tỵ hình: xẻo mũi => áp dụng với thầy thái tử
Thái tử phạm tội thì phạt ai => Phạt người không có dòng
máu huyết thống của thái tử (thầy giáo)
- Các tư tưởng chính trị - xã hội thời kỳ Đông Chu:
Nhà Chu: chọn kinh đô, chia 7 nước chư hầu: Tần, Tấn, tề, Ngụy, Hàn, Sở, Tr
● Về kinh tế: Vua nước chư hầu sẽ quyết định kinh tế nhưng phải cống nộp cho nhà Chu
● Về chính trị: vua nước chư hầu quyết định mọi thứ, ngoại trừ việc ai là
người tiếp tục làm vua nước chư hầu, nếu muốn lập vua khác thì do nước
Chu lập hoặc phải được sự đồng ý của vua Chu.
● Về quân sự: Các nước chư hầu có quân đội riêng nhưng khi nhà Chu yêu
cầu sẽ phải mang quân đi đánh khắp nơi
Lợi ích của vua Chu ban đầu lớn hơn: Vừa có vật tiến cống, vừa có lực
lượng quân đội hùng mạnh mà không cần nuôi quân => nhưng mà thời kỳ
này chỉ tồn tại khi nhà Chu cực mạnh (Tây Chu) => đến Đông Chu (Tây
chu cực thịnh còn Đông Chu suy tàn) => Bao Tự, Chu Vương chết => Các
nước chư hầu lớn mạnh trở thành nước bá chủ - như nước anh cả (cha vẫn
còn nhưng anh cả làm thay), nhà Chu chỉ là bù nhìn (Tần - dưới thời Tần
Mục Công, Tề - dưới thời Tề Hoàng Công, Sở - Dưới thời Sở Trang
Vương) => hệ thống Ngũ hình không thể cai trị được nữa => xã hội loạn
lạc, em giết anh, con giết cha => nổi lên phong trào “Bách gia trang minh”
- nhiều nhà tư tưởng đem học thuyết của mình thuyết phục các nhà chính trị áp dụng. Nho giáo Đạo gia Mặc gia Pháp gia
Hạt nhân của tư tưởng Lão tử chủ trương: “Vô Hạt nhân tư tưởng
Cai trị xã hội bằng pháp này là Nhân.
tri bất trị” - Không làm Mặc gia: Thuyết kiêm luật.
“Nhân chi sơ tính bản không cai trị
ái - Con người sống Hàn Phi là công tử nước
thiện”, Tam cương
phải yêu thương lẫn Hán có học vấn uyên (Vua tôi, cha con, vợ nhau bác. chồng), Ngũ thường Ông là người đã tổng
(nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) kết kinh nghiệm thực Tam Cương:
tiễn và lý luận của Pháp - Con hiếu với cha gia và phát triển, hoàn - Vợ chung thủy với chỉnh thành sách Hàn chồng Phi Tử. - Quân thần phải trung
Bất cứ một người nào, thành với vua. dù xuất thân như thế nào, có quân công thì được thăng cấp. Nhà Tần nổi lên phong trào chém đầu người để nhận tiền, tiền rơi không có người nhật, ngủ không cần đóng cửa
Theo các bạn thuyết nào là phù hợp với tình trạng xã hội lúc bấy giờ?
=> Học thuyết pháp gia, xã hội lúc bấy giờ rất loạn lạc, không thể đề cao chữ nhân nên tư
tưởng Nho giáo không thích hợp => Cần có tư tưởng pháp quyền, cai trị xã hội bằng pháp
luật của pháp gia để bình định, xây dựng xã hội.
CHƯƠNG 3: NHÀ NƯỚC CHIẾM HỮU NÔ LỆ PHƯƠNG TÂY
I. Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Tây:
1. Cơ sở hình thành các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Tây:
- Các quốc gia cổ đại phương Tây ra đời vào khoảng thiên niên kỷ thứ II - Thiên niên kỷ thứ I TCN.
- Vào thế kỷ thứ VIII - V TCN, nhà nước với hình thức là các quốc gia thành bang
bắt đầu xuất hiện ở bán đảo Bancan vào thế kỷ IV TCN.
a. Điều kiện tự nhiên. Hy Lạp cổ đại:
- Hy Lạp là một quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải, có vị trí địa lý rất quan trọng
trong việc giao thương giữa phương Đông và phương Tây. Lãnh thổ Hy Lạp cổ đại
bao gồm 3 phần: phần Hy Lạp lục địa, Hy Lạp quần đảo và Hy Lạp Tiểu Á.
- Hy Lạp ít đồng ruộng, đất đai không thuận lợi cho việc trồng cây lương thực.
- Hy Lạp giáp biển thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động mậu dịch với các quốc gia khác.
- Địa hình Hy Lạp bị xé nhỏ bởi các dãy núi tạo thành các thung lũng hẹp. La Mã cổ đại:
- La Mã nằm trên bán đảo Italy, một bán đảo lớn, dài và hẹp, nằm chắn ngang Địa Trung Hải.
- Bán đảo Italy không bị chia cắt thành những vùng biệt lập. Ở đây có khá nhiều
đồng bằng màu mỡ và các cánh đồng cỏ rộng lớn.
- Cũng giống Hy Lạp, có diện tích tiếp giáp với biển khá nhiều, có nhiều vũng
vịnh nước sâu thuận lợi cho việc neo đậu tàu thuyền, từ đó thích hợp phát triển kinh tế thương nghiệp.
- La Mã có ngành kinh tế nông nghiệp phát triển hơn so với Hy Lạp. Địa hình của
La Mã không bị chia cắt như Hy Lạp nên thuận lợi cho việc xây dựng một nhà
nước La Mã thống nhất. → Nhận xét:
- Thứ nhất, các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Tây được hình thành trên các
đảo, bán đảo, các mặt giáp biển thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thương mại, mậu dịch hàng hải.
- Thứ hai, khí hậu ôn đới, đất đai phù hợp với việc trồng cây công nghiệp, là
nguyên liệu cho các ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp.
b. Điều kiện kinh tế.
- Quá trình phân công lao động qua 3 giai đoạn: Công cụ lao động Năng suất Phân bằng sắt xuất hiện lao động công lao tăng cao
- Sự phân công lao động ở xã hội ở phương Tây cổ đại rõ ràng và triệt để. Giải
thích: Quá trình phân công lao động ở phương Tây đã trải qua 3 giai đoạn và 3 giai
đoạn này tách biệt hoàn toàn với nhau, tức là thương nghiệp đã tách biệt khỏi thủ
công nghiệp và nông nghiệp. Không giống với phương Đông, mặc dù nền kinh tế
thủ công nghiệp và thương nghiệp đã xuất hiện nhưng chưa tách khỏi nền kinh tế
nông nghiệp vì nền kinh tế ở phương Đông là nền kinh tế chủ đạo, thủ công nghiệp
và thương nghiệp chỉ bổ trợ thêm cho nền kinh tế nông nghiệp. Trong khi đó, ở
phương Tây, thương nghiệp và thủ công nghiệp rất phát triển. - Điều kiện xã hội.
- Chuyển biến về mặt xã hội: Chế độ mẫu hệ Chế độ phụ hệ Công xã nguyên thủy Công xã thị tộc Công xã láng giềng Công xã du mục
+ Sự xuất hiện của chế độ phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ, chế độ phụ hệ là chế
độ mà người đàn ông có quyền quyết định tất cả những vấn đề trong gia đình và xã
hội. Sự xuất hiện của chế độ phụ hệ thể hiện vai trò của đàn ông và sự xuất hiện
của các gia đình nhỏ tách ra khỏi công xã nguyên thủy.
+ Sự xuất hiện công xã láng giềng thay thế công xã thị tộc. Trước đây, sợi dây liên
kết giữa những người trong công xã thị tộc là huyết thống thì nay công xã láng
giềng là tập hợp của những gia đình nhỏ, các gia đình nhỏ tách ra khỏi công xã thị
tộc và cùng nhau sinh sống ở những vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi, mối
liên hệ giữa họ là kinh tế chứ không còn là huyết thống. Hình thức công xã láng
giềng ở phương Tây là công xã du mục, đặc trưng cho nền kinh tế chăn nuôi du mục.
- Kinh tế phát triển mạnh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều đã nhanh chóng phá
vỡ chế độ sở hữu chung của chế độ công xã thị tộc.
Con đường hình thành Nhà nước theo học thuyết Mác - Lênin: Chế độ tư hữu Phân hóa giai Mâu thuẫn Đấu tranh Nhà cấp giai cấp giai cấp Năng Tư hữu Phân Mâu thuẫn Đấu Nhà hóa giai suất xuất giai cấp tranh giai cấp lao hiện, tư cấp
→ So sánh với quan điểm của chủ nghĩa Mác về con đường hình thành Nhà nước
thì có thể nhận ra con đường hình thành Nhà nước phương Tây cổ đại đi theo đúng
con đường hình thành Nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Phân hóa giàu nghèo và hình thành giai cấp:
iai cấp thống trị:
Quý tộc thị tộc: xuất thân từ vương công, tù trưởng, tộc
trưởng trước đây trong các công xã nguyên thủy.
Quý tộc công thương: đội ngũ thợ thủ công, thương nhân
lớn mạnh, dần nắm quyền lực về kinh tế khi nền kinh tế thương
nghiệp, thủ công nghiệp phát triển. Đây là đội ngũ tích cực nhất
trong việc xây dựng nền dân chủ ở phương Tây thời kỳ này. Vì
quý tộc công thương nắm trong tay quyền lực kinh tế, quý tộc
thị tộc nắm trong tay quyền lực về chính trị nên quý tộc công
thương khi đã có kinh tế càng muốn có quyền lực về chính trị
(đây là quá trình dân chủ hóa, thâu tóm quyền lực chính trị về
tay quý tộc công thương). G iai cấp bị trị: Nông dân lao động. Bình dân.
Nô lệ: có nguồn gốc rất đa
dạng từ tù binh chiến tranh, nông
dân phá sản trở thành nô lệ, mua
bán nô lệ, con do nô lệ sinh ra,
cướp biển bắt về làm nô lệ. Đội
ngũ chiếm số lượng đông đảo
trong giai cấp bị trị. Đây là đội
ngũ trực tiếp tham gia sản xuất và
trực tiếp bị quý tộc, chủ nô bóc lột.
2. Lịch sử phát triển và suy vong của các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Tây:
(đọc thêm giáo trình) a. Hy Lạp.
- Văn minh Cret - Myxen (khoảng thiên niên kỷ III - thế kỷ XII TCN): Cret là một
hòn đảo lớn nằm ở phía nam bán đảo Êgiê với những thành thị nổi tiếng như Malia, Phaitốt, Cơnôsốt…
- Thời kỳ Hôme (thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN): Xã hội Hy Lạp thời kỳ Hôme là
xã hội thị tộc, bộ lạc ở giai đoạn mạt kỳ. Các thành viên thị tộc, theo truyền thống,
được thị tộc phân chia cho những mảnh đất để trồng trọt và chăn nuôi.
- Thời kỳ các quốc gia thành bang (thế kỷ VII - IV TCN): Trong tất cả các thành
bang tồn tại thời kỳ này, Xpac và Athens là 2 thành bang có vai trò quan trọng đối với Hy Lạp cổ đại.
- Thời kỳ Macedonia và thời kỳ Hy Lạp hóa (337 - 30 TCN): Sau khi Philip II bị
ám sát năm 337 TCN, con trai là Alexandre lên cầm quyền, thống lĩnh lực lượng
liên quân Hy Lạp Macedonia tiến đánh và chiếm Ba Tư, chinh phục vùng Tây Á,
Trung Á, Ai Cập, tới vùng bắc Ấn Độ lập nên một đế quốc rộng lớn được gọi là
thời kỳ Macedonia. 332 TCN, đế quốc Macedonia tan rã, tuy nhiên do văn hóa Hy
Lạp được truyền bá rộng rãi nên người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ Hy Lạp hóa. b. La Mã.
- Thời kỳ Vương Chính (753 - 510 TCN) - thời kỳ dân chủ quân sự:
+ Theo truyền thuyết, thành Roma do Romullus xây dựng vào năm 753 TCN trên
bờ sông Tibres thuộc miền trung bán đảo Ý, nơi quần cư của 3 bộ lạc người Latin
(mỗi bộ lạc 100 thị tộc).
+ Quản lý xã hội thị tộc của người Roma thời kỳ này là 3 cơ quan:
Đại hội nhân dân (Curi)
Là cơ quan quyền lực tối cao
- Nhà nước La Mã cổ đại thời kỳ cộng hòa (thế kỷ VI - I TCN): Năm 510 TCN, sau
khi người Roma lật đổ Rex Tarquin kiêu ngạo, La Mã bước vào thời kỳ cộng hòa.
- Thời quân chủ chuyên chế (30 TCN - 476 SCN): Từ cuối thế kỷ II TCN, nhất là
từ giữa thế kỷ I TCN, do sự đấu tranh của quần chúng nhân dân, sự chống đối ngày
càng mạnh của các tỉnh, nhà nước La Mã ngày càng có xu hướng tăng cường chuyên chính.
II. Các nhà nước điển hình ở phương Tây thời kỳ cổ đại: 1. Nhà nước Hy Lạp:
Vì địa hình bị xé nhỏ nên ở Hy Lạp xuất hiện nhiều nhà nước thành bang, trong đó
có 2 nhà nước thành bang điển hình nhất ở Hy Lạp là Xpác (Sparta) và Aten
(Athens), đây là 2 thành bang đại diện cho 2 xu hướng phát triển về chính thể: Xpác
(Sparta) theo chính thể cộng hòa quý tộc chủ nô, Aten (Athens) theo chính thể cộng hòa dân chủ chủ nô.
a. Nhà nước thành bang Xpác (Sparta).
Quá trình hình thành nhà nước Xpác:
- Sự ra đời của nhà nước Xpác là kết quả của quá trình thôn tính của tộc người
Đôriêng đối với tộc người Akêăng.
- Khi củng cố được sự thống trị của mình, người Đôriêng tiếp tục tổ chức chiến
tranh và xâm chiếm vùng đồng bằng của người Hilốt (thế kỷ VIII - VII TCN) biến
toàn bộ dân cư của họ thành nô lệ. Akê Đôri Nhà nước H
Giai cấp thống trị Giai
- Người Đôriêng (người Xpác) cấp bị trị
Người Pêriét (người Akêăng).
Tổ chức bộ máy nhà nước Xpác:
Hội đồng năm quan giám sát:
- Giám sát hai vua, HĐTL, HNCD. Hai vua
- Có quyền giải quyết các công việc
quan trọng của Nhà nước về chính trị, ngoại giao. Hội đồng trưởng lão Hội
- Có quyền kiểm tra tư cách công nghị công dân dân.
Nhận xét về nhà nước Xpác:
- Thứ nhất, tất cả các thiết chế quyền lực trong nhà nước đều do tầng lớp quý tộc chủ nô nắm giữ.
- Thứ hai, nhà nước thành bang Xpác được xem là một “trại lính”, một nhà nước
mang tính quân phiệt với sự lạc hậu về kinh tế, bảo thủ về mặt chính trị.
b. Nhà nước thành bang Aten (Athens).
Được đánh giá là nền dân chủ ra đời sớm nhất ở phương Tây thời kỳ cổ đại và là
nền dân chủ có giá trị tiến bộ đến ngày nay.
Quá trình hình thành nhà nước Athens (VIII - IV TCN):
- Điều kiện tự nhiên: Có bờ biển rất dài, có nhiều mỏ khoáng sản lộ thiên. - Điều kiện kinh tế:
+ Không thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
+ Có điều kiện phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp, mậu dịch hàng hải. - Điều kiện xã hội: Quý tộc thị tộc Giai cấp thống trị Quý tộc công Phân hóa giàu nghèo Phân hóa giai cấp thương Giai cấp bị trị Bình dân Nô lệ