



















Preview text:
Chào các bạn, mình tên là Sơn, là một cựu sinh viên trường Đại học Luật – Đại học Huế.
Để giúp các bạn có thể ôn thi tốt môn Lý luận nhà nước và pháp luật, mình đã soạn bộ đề
cương gồm câu hỏi và đáp án để các bạn có thể dễ dàng học và ôn thi hiệu quả hơn. Bộ
đề cương bao gồm 02 Phần: Phần 1 là câu hỏi và đáp án; Phần 2 là tips làm bài thi và đề
thi minh hoạ. Vì đây là tài liệu mình bỏ công sức ra soạn nên các bạn không được share hay in ở quầy photo nha.
Nếu các bạn có thắc mắc trong lúc ôn tập, cần mình giải đáp có thể nhắn tin qua FB theo
link sau: https://www.facebook.com/profile.php?id=100034053252789
Chúc các bạn ôn thi thật tốt và đạt kết quả cao trong kỳ thi sắp tới.
PHẦN 1: CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN
Câu 1: Trình bày sự ra đời của nhà nước (quan trọng)
Xã hội cộng sản nguyên thuỷ là xã hội đầu tiên của loài người. Xã hội này chưa biết đến
nhà nước, nhưng chính trong lòng xã hội đó đã nảy sinh những tiền đề vật chất cho sự ra
đời của nhà nước. Những nguyên nhân làm chế độ xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã
đồng thời cũng là những nguyên nhân xuất hiện nhà nước. Đóng vai trò quan trọng trong
việc làm tan rã chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chuyển chế độ cộng sản nguyên thuỷ lên
một hình thái kinh tế xã hội cao hơn đó là sự phân công lao động xã hội:
Lịch sử xã hội cổ đại đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội, đó là:
Lần 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt;
Lần 2: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
Lần 3: Thương nghiệp xuất hiện
Thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt:
Sau lần phân công lao động đầu tiên, cả chăn nuôi và trồng trọt đều phát triển với sự ứng
dụng của chăn nuôi vào trồng trọt. Sản xuất phát triển kéo theo nhu cầu về sức lao động,
để đáp ứng nhu cầu này, thay vì giết tù binh trong chiến tranh như trước thì tù binh bây
giờ được giữ lại để biến thành nô lệ.
Có thể thấy, sau lần phân công lao động đầu tiên, xã hội đã có những xáo trộn đáng kể,
xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành giai cấp chủ nô và nô lệ. Sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Sơn
chế độ tư hữu còn làm thay đổi đáng kể quan hệ hôn nhân: Hôn nhân một vợ một chồng
đã thay thế hôn nhân đối ngẫu.
Thứ hai, Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
Việc tìm ra kim loại và chế tạo công cụ bằng kim loại tạo khả năng tăng năng suất lao
động. Nghề chế tạo kim loại, nghề dệt, nghề làm đồ gốm, ngày càng phát triển. Điều này
đã dẫn đến việc thủ công nghiệp tách khỏi trồng trọt thành 1 nghề độc lập.
Hậu quả của lần phân công lao động thứ hai này đã làm xã hội hoá lực lượng nô lệ. Quá
trình phân hoá xã hội đẩy nhanh, sự phân biệt giàu nghèo, mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên sâu sắc.
Thứ ba, Thương nghiệp xuất hiện
Với việc xuất hiện nhiều ngành nghề chuyên môn trong sản xuất đã làm phát sinh nhu
cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội. Sự phát triển nền sản xuất hàng hoá dẫn đến sự phát
triển của thương nghiệp và thương nghiệp tách ra thành một ngành nghề độc lập.
Lần phân công lao động này đã làm thay đổi sâu sắc xã hội, với sự ra đời của tầng lớp
thương nhân. Mặc dù họ là những người không trực tiếp tiến hành lao động sản xuất
nhưng lại chi phối toàn bộ đời sống sản xuất xã hội, bắt những người lao động, sản xuất lệ thuộc vào mình.
Qua ba lần phân công lao động xã hội đã làm cho nền kinh tế xã hội có sự biến chuyển sâu sắc:
Một là: Xáo trộn dân cư trong xã hội do nhu cầu trao đổi sản phẩm
Hai là: Sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sản phẩm dư thừa, vì thế kéo theo
hiện tượng chiếm của cải dư thừa làm của riêng, nguồn gốc của chế độ tư hữu
Ba là: Nhu cầu sức lao động và tư hữu đã làm xuất hiện nô lệ
Bốn là: Quá trình phân hoá tài sản làm xuất hiện chế độ tư hữu và kéo theo là sự phân
chia giai cấp trong xã hội
Tất cả những yếu tố này đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vỡ tính khép kín của thị tộc.
Để điều hành xã hội mới cần phải có một tổ chức mới khác về chất. Tổ chức đó phải do
những điều kiện nội tại của nó quy định, nó phải là công cụ quyền lực của giai cấp nắm Nguyễn Hữu Sơn
ưu thế về kinh tế và nhằm thực hiện sự thống trị, dập tắt các cuộc xung đột giai cấp, giữ
cho các xung đột đó nằm trong vòng trật tự. Từ đó dẫn đến sự ra đời của nhà nước.
Câu 2: Trình bày khái niệm và đặc điểm của nhà nước (Quan trọng)
1. Khái niệm nhà nước
Nhà nước là một thiết chế chính trị đặc biệt, là thực thể pháp lý độc lập, nắm giữ quyền
lực công, thực hiện chức năng tài phán và quản lý dân cư trên một lãnh thổ nhất định thông qua pháp luật
2. Đặc điểm của nhà nước
Thứ nhất, nhà nước có dân cư và phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.
Nếu trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc tập hợp các thành viên của mình
theo dấu hiệu huyết thống thì nhà nước lại phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính
lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hay giới tính. Việc phân chia này
dẫn đến việc hình thành các cơ quan quản lý trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ. Lãnh
thổ là dấu hiệu đặc trưng riêng có của nhà nước, nhà nước thực thi quyền lực thống trị
trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ. Nhà nước nào cũng có lãnh thổ riêng, trên lãnh thổ đó
được phân thành các đơn vị hành chính như tỉnh, xã…
Thứ hai, nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt
Nhà nước là tổ chức công quyền, thiết lập một quyền lực đặc biệt không còn hoà nhập
với dân cư như trong xã hội thị tộc mà tách rời và đứng trên xã hội. Quyền lực này mang
tính chính trị và dấu ấn giai cấp, được thực hiện bởi bộ máy cai trị, quân đội, toà án, cảnh
sát,.. Như vậy, để thực hiện quyền lực, để quản lý xã hội, nhà nước có một tầng lớp người
đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Lớp người này được tổ chức thành các cơ quan
nhà nước và hình thành một bố máy thống trị, có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị
của giai cấp thống trị, bắt các tầng lớp khác phải phục tùng theo ý chí của mình
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia
Nhà nước là một tổ chức quyền lực có chủ quyền
- Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị - pháp lý, thể hiện quyền tự quyết của nhà
nước về mọi chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ một yếu tố bên ngoài nào. Nguyễn Hữu Sơn
- Chủ quyền quốc gia là thuộc tính gắn liền với nhà nước
- Chủ quyền quốc gia có tính tối cao. Tính tối cao của chủ quyền quốc gia thể hiện ở chỗ,
quyền lực của nhà nước phổ biến trên toàn bộ đất nước đối với tất cả dân cư và các tổ chức xã hội
- Dấu hiệu của chủ quyền quốc gia thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với
nhau không phân biệt quốc gia lớn hay nhỏ. Chủ quyền quốc gia không chỉ thể hiện trong
quan hệ đối nội mà còn xác lập chủ quyền trong quan hệ đối ngoại
Thứ tư, nhà nước là một thực thể pháp lý độc lập.
Nhà nước có thể sở hữu tài sản, kiện các pháp nhân, các thực thể pháp lý khác và ngược
lại cũng là đối tượng bị kiện
Thứ năm, nhà nước ban hành pháp luật và buộc mọi thành viên xã hội phải thực hiện.
- Nhà nước là người đại diện chính thống cho mọi thành viên trong xã hội, để thực hiện
được sự quản lý đối với các thành viên, nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm thực
hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Tất cả các quy định của nhà nước đối với mọi công nhân
được thể hiện trong pháp luật do nhà nước ban hành.
- Nhà nước và pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau:
Nhà nước không thể thực hiện được vai trò là người quản lý xã hội nếu không có pháp
luật, ngược lại pháp luật phải thông qua nhà nước để ra đời.
Thứ sáu, Nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế.
Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và tiến hành các hoạt động quản lý đất nước, mọi nhà
nước đều quy định và tiến hành thu các loại thuế bắt buộc đối với các dân cư của mình.
Nhà nước là thiết chế chính trị duy nhất có quyền quy định về thuế và thu các loại thuế.
Câu 3: Trình bày sự ra đời của pháp Luật
- Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp, những quy phạm xã hội
thời đó trở nên không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện xã hội mới, xuất hiện chế độ tư
hữu, xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, tính chất khép kín trong xã hội bị phá vỡ,
các quy phạm phản ánh ý chí và bảo vệ lợi ích chung không còn phù hợp. Trong điều
kiện lịch sử mới, xã hội đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội Nguyễn Hữu Sơn
một “trật tự”, loại quy phạm mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị, đáp
ứng nhu cầu đó, pháp luật đã ra đời.
- Pháp luật được hình thành qua các phương thức sau:
+ Thứ nhất là: Biến đổi các tập quán có nội dung phù hợp với lợi ích của giai cấp thống
trị, thông qua nhà nước nâng chúng lên thành các quy phạm pháp luật.
Thời kỳ đầu khi chưa có chữ viết, luật được sử dụng chính là luật bất thành văn. Luật bất
thành văn là các quy tắc bắt nguồn từ các chuẩn mực xã hội của công lý hoặc từ phong
tục. Chẳng hạn, trong quan hệ mua bán có tranh chấp, trước thẩm phán, bên bán tìm cách
buộc bên mua thanh toán hàng hoá dựa trên một quy tắc người mua phải trả tiền cho hàng hoá mà họ mua.
+ Thứ hai là: thông qua việc nhà nước công nhận các quyết định của các cơ quan tư
pháp, hành chính (thường được gọi là tiền lệ).
Hình thức này thuở ban đầu rất thịnh hành, do nhu cầu từ việc giải quyết các yêu cầu của
người dân trong các vụ việc cụ thể bởi tính linh hoạt, mềm dẻo, dễ dàng khoả lấp được sự
thiếu vắng của các quy tắc xử sự chung mà tập quán chưa sẵn sàng.
+ Thứ ba là: thông qua việc nhà nước ban hành các văn bản pháp luật.
Bởi lẽ, nếu chỉ dùng các tập quán đã chuyển hoá để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ
có rất nhiều các quan hệ xã hội mới phát sinh trong xã hội không được điều chỉnh. Tiền lệ
pháp lại dễ sản sinh ra tính tuỳ tiện của quan lại, vì vậy để đáp ứng nhu cầu này hoạt
động xây dựng pháp luật của các nhà nước đã ra đời.
Câu 4: Trình bày khái niệm và đặc điểm của pháp Luật (Quan trọng)
1. Khái niệm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và
bảo đảm thực hiện, để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội. 2. Đặc điểm
Thứ nhất, pháp luật là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thiết lập trật tự cho xã hội. Nguyễn Hữu Sơn
- Xã hội là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, để có trật tự trong các quan hệ, công chúng
cần có các quy tắc xử sự chung, pháp luật, vì thế, đóng vai trò là tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi cho cư dân.
- Theo đó, pháp luật, thông qua các quy định về quy tắc ứng xử của công chúng, giữ cho
hoạt động của công chúng theo một trật tự nhất định. Nếu không có pháp luât, xã hội sẽ
rối loạn, sẽ có xung đột giữa các cá nhân, các cộng đồng, các nhóm xã hội. Pháp luật vừa
là thước đo hành vi con người vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng
xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng chúng vận
động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan.
- Các quy phạm pháp luật mặc dù do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tuy nhiên trong thực tiễn chỉ những quy phạm nào
phù hợp với thực tiễn mới được giữ lại thông qua nhà nước. Đó chính là tính hợp lý,
khách quan của quy phạm pháp luật
Thứ hai, Pháp luật được coi là biểu tượng công lý, là phương tiện tạo lập bình đẳng cho xã hội
Pháp luật thường được hiểu là những quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận
và bảo đảm thực hiện
Thứ ba, pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội
- Pháp luật và nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau thể hiện qua việc mặc dù nhà
nước là chủ thể tạo ra pháp luật, song nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu thiếu vắng pháp
luật. Nhà nước sử dụng pháp luật để quy định và kiểm soát hành vi của các chủ thể trong
xã hội. Việc bảo đảm pháp luật được thực hiện dựa trên quyền lực đến từ nhà nước. Nếu
không có uy quyền từ nhà nước, pháp luật không thể đi vào cuộc sống.
- Quyền lực nhà nước được phân biệt với các quyền lực xã hội khác bởi tính bắt buộc.
Pháp luật có sứ mệnh duy trì trật tự, an toàn công cộng, thực hiện công lý, bảo vệ quyền
tự do và các quyền của con người.
- Hoạt động của nhà nước được hợp pháp thông qua pháp luật, trách nhiệm của nhà nước
được biểu thị dưới hình thức trách nhiệm pháp lý về cả phía cơ quan nhà nước và phía
các chủ thể khác là đối tượng của quản lý nhà nước. Nguyễn Hữu Sơn
Thứ tư, pháp luật là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp.
- Tính năng này của pháp luật thể hiện rõ nét trong pháp luật của các nhà nước chiếm hữu
nô lệ, nhà nước phong kiến.
- Tính giai cấp của pháp luật được thể hiện qua:
+ Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, nội dung của ý chí đó được
quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị. Nhờ nắm trong tay quyền
lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp
mình 1 cách tập trung nhất, hợp pháp hoá ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo hộ thực
hiện bằng sức mạnh của nhà nước
+ Mục đích điều chỉnh của pháp luật: Khi xem xét về mục đích của pháp luật, trước hết
pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, pháp luật là
nhân tố điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội, nhằm hướng các quan hệ xã hội
phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị
của giai cấp thống trị.
Câu 5: Trình bày các thuộc tính của pháp luật (Chủ yếu nhớ 5 đặc tính)
Pháp luật có 05 thuộc tính bao gồm:
Thứ nhất: Tính quy phạm phổ biến
- Pháp luật được tạo bởi hệ thống các quy phạm pháp luật, quy phạm là tế bào của pháp
luật, là khuôn mẫu, là mô hình xử sự chung. Trong xã hội các hành vi xử sự của con
người rất khác nhau, tuy nhiên trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định vẫn đưa ra
được cách xử sự chung phù hợp với đa số.
- Tính quy phạm phổ biến của pháp luật được biểu hiện ở chỗ các quy phạm pháp luật
được áp dụng nhiều lần trên lãnh thổ, việc áp dụng các quy phạm này chỉ bị đình chỉ khi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, bổ sung, sửa đổi hoặc thời hiệu các quy phạm đã hết.
- Tính quy phạm phổ biến của pháp luật dựa trên ý chí của nhà nước.
Thứ hai: Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức Nguyễn Hữu Sơn
Là sự thể hiện nội dung pháp luật dưới những hình thức nhất định. Thuộc tính này thể hiện ở việc:
- Nội dung của pháp luật được xác định rõ ràng, chặt chẽ, khái quát trong các điều, khoản
của các điều luật trong một văn bản quy phạm pháp luật cũng như toàn bộ hệ thống pháp
luật do nhà nước ban hành.
- Ngôn ngữ sử dụng trong pháp luật là ngôn ngữ pháp luật, lời văn trong sáng, đơn nghĩa.
Thứ ba: Tính bắt buộc chung
- Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung vì nó mang tính chất
khuôn mẫu cho mọi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Căn cứ trên mô hình
hành vi mà pháp luật xác lập, các chủ thể điều chỉnh hành vi của mình, biết được mình có
thể và không cần phải làm gì, không được làm gì, và phải làm như thế nào
- Các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ được pháp luật dự liệu, buộc phải thực thi các
mô hình hành vi đã được pháp luật quy định, không phụ thuộc vào bất cứ lý do gì. Nếu
chủ thể không thực hiện hành vi đã được xác lập, những hành vi bất tuân pháp luật này bị
coi là hành vi trái pháp luật, có nguy cơ bị áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý bởi nhà nước.
Thứ tư: Tính được bảo đảm bằng nhà nước
Pháp luật không chỉ do nhà nước ban hành mà nhà nước còn bảo đảm cho pháp luật được
thực hiện, có nghĩa là nhà nước trao cho các quy phạm pháp luật có tính quyền lực bắt
buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Như vậy, pháp luật trở thành quy tắc xử sự
có tính bắt buộc chung nhờ vào sức mạnh quyền lực của nhà nước
Thứ năm: Tính công khai
- Pháp luật là các quy tắc xử sự chung vì thế pháp luật phải được công chúng biết đến, do
đó, luật phải được công khai.
- Luật sau khi ban hành bởi cơ quan chức năng, phải được công bố công khai trên các
kênh thông tin khác nhau bao gồm cả các kênh thông tin chính thức như trên công báo,
trang web của các cơ quan nhà nước, niêm yết tại trụ sở,.. và qua các kênh thông tin đại chúng. Nguyễn Hữu Sơn
Ngoài các thuộc tính cơ bản trên, vì pháp luật là phương tiện chủ yếu để thực thi dân chủ
và quyền con người nên pháp luật còn có các thuộc tính:
+ Tính phù hợp với xã hội + Tính ổn định
+ Tính có thể được thay đổi + Tính thống nhất
Câu 6: Phân tích bản chất của nhà nước (Quan trọng)
Bản chất của nhà nước được thể hiện trên 2 phương diện chính gồm: Tính giai cấp và tính xã hội
Thứ nhất, Tính xã hội của nhà nước
Nhà nước mang trong mình vai trò xã hội to lớn.
- Một nhà nước không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà
không tính đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Vì vậy, ngoài tư cách
là công cụ bảo vệ, duy trì sự thống trị giai cấp, nhà nước còn là tổ chức chính trị - xã hội
rộng lớn, bảo đảm lợi ích chung của xã hội. Trên thực tế, nhà nước nào cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo đảm cho xã hội
được trật tự ổn định và phát triển, thực hiện một số chức năng phù hợp với yêu cầu chung
của toàn xã hội và bảo đảm những lợi ích nhất định của các giai tầng khác trong chừng
mực những lợi ích đó không mâu thuẫn gay gắt với lợi ích của giai cấp thống trị.
- Mức độ và phạm vi thể hiện tính xã hội là không hoàn toàn giống nhau ở các nhà nước
và ngay cả trong một nhà nước ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Bởi lẽ, tính xã hội
của nhà nước phụ thuộc hàng loạt yếu tố khách quan và chủ quan. Những biến đổi của
đời sống xã hội sớm hay muộn cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi tương ứng của nhà nước.
- Với sự khẳng định của các nhà nước hiện đại về bản chất của các nhà nước là nhà nước
của nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của nhà nước. Theo đó, nhà nước có nhiệm vụ
quản trị tốt xã hội, bảo đảm xã hội công bằng, bình đẳng và văn mình, hướng tới bảo đảm
quyền con người. Xã hội hiện đại, cùng với những chuyển biến mạnh mẽ, những giá trị
cơ bản như: sự bình đẳng xã hội, xã hội công dân; nhân quyền, pháp quyền… đã tác động
mạnh mẽ tới nhà nước, dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong bản chất của nhà nước. Nguyễn Hữu Sơn
Thứ hai, tính giai cấp của nhà nước
Nhà nước là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trong xã hội có đối kháng giai
cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được thể hiện dưới 03 hình thức
gồm: Kinh tế, chính trị, tư tưởng.
- Về mặt kinh tế:
+ Trong 03 quyền lực, quyền lực kinh tế đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp.
+ Quyền lực kinh tế tạo ra cho chủ sở hữu khả năng bắt những người khác phụ thuộc vào
mình về mặt kinh tế. Tuy nhiên, bản thân quyền lực kinh tế lại không có khả năng duy trì
quan hệ bóc lột, vì thế để bảo đảm cho quan hệ bóc lột, giai cấp nắm quyền lực kinh tế
phải thông qua quyền lực chính trị. Ở phương diện này, nhà nước là công cụ bảo vệ lợi
ích cho các giai tầng nắm quyền lực kinh tế trong xã hội, thực hiện các mục đích mà giai
cấp thống trị đã đề ra.
- Về mặt chính trị:
+ Về bản chất, quyền lực chính trị là bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhằm trấn áp
các giai cấp khác trong xã hội. Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế đã trở
thành chủ thể của quyền lực chính trị.
+ Nhờ nắm trong tay nhà nước, giai cấp thống trị đã tổ chức và thực hiện quyền lực chính
trị của mình, hợp pháp hoá ý chí của giai cấp mình thành ý chí nhà nước và như vậy,
buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.
- Về mặt tư tưởng
Thông qua nhà nước, khi nắm trong tay quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị, giai cấp
thống trị còn thông qua nhà nước xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư
tưởng thống trị trong xã hội, buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc vào mình về mặt tư
tưởng, phải làm theo điều mà giai cấp thống trị mong muốn 1 cách tự nguyện.
- Tính giai cấp là thuộc tính bản chất của bất kì nhà nước nào, song mức độ thể hiện trong
mỗi kiểu nhà nước cụ thể lại rất khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và tương
quan lực lượng của các giai tầng trong xã hội. Nguyễn Hữu Sơn
+ Khi một giai cấp có đủ điều kiện và sức mạnh để trở thành giai cấp thống trị thì tự mình
sẽ nắm lấy quyền lực nhà nước
+ Nếu giai cấp đó không thể tự mình cầm quyền thì các giai cấp sẽ thoả hiệp, chia sẽ
quyền lực nhà nước với các giai cấp và lực lượng khác trong xã hội để bảo vệ vị thể và
lợi ích của giai cấp và của xã hội.
Câu 7: Kiểu nhà nước (Phần này đọc qua để hiểu vì có thể ra ở phần nhận định đúng sai)
Câu 8: Hình thức nhà nước là gì, phân tích hình thức nhà nước (Quan trọng, nhưng
nếu câu hỏi là trình bày các hình thức nhà nước thì chủ yếu nêu được 3 cái như ở
dưới, không cần quá đi sâu vào. Mỗi cái trình bày được khái niệm, phân loại là được)
1. Khái niệm hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước là thuật ngữ pháp lý nhằm khái quát hoá mô hình nhà nước thông
qua các đặc điểm thể hiện nội dung của các yếu tố cấu thành bộ máy nhà nước và mối
quan hệ qua lại giữa chúng với nhau.
2. Phân tích hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước bao gồm: Hình thức chính thể, Hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị
**Lưu ý, câu hỏi thi thường sẽ ra 1 trong 3 dạng trên. Ví dụ: Trình bày khái niệm hình
thức chính thể, so sánh hình thức chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà hoặc trình
bày khái niệm và hình thức cấu trúc nhà nước
2.1 Hình thức chính thể 2.1.1. Khái niệm.
Hình thức chính thể là sự biểu hiện bề ngoài thành mô hình, hình dáng của nhà nước
thông qua cách thức thành lập, cơ cấu bên trong của việc tổ chức, vị trí, quyền hạn, trách
nhiệm, mối quan hệ của các cơ quan nhà nước, cấu tạo nên nhà nước và nguồn gốc quyền lực nhà nước.
2.1.2. Các loại hình thức chính thể: Nguyễn Hữu Sơn
- Hiện nay có hai hình thức chính thể cơ bản là: Hình thức chính thể quân chủ và hình
thức chính thể cộng hoà.
Thứ nhất, Hình thức chính thể quân chủ: Là hình thức chính thể mà trong đó quyền lực
tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một phần trong tay người đứng đầu nhà nước
theo nguyên tắc kế vị. Hình thức chính thể quân chủ có 02 biến dạng chính:
Một là: Hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối
- Người đứng đầu nhà nước là Vua, Quốc vương, Hoàng thân,.. được hình thành theo
nguyên tắc kế truyền (cha truyền con nối)
- Người đứng đầu thâu tóm mọi quyền hành từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp và đứng trên pháp luật
Hai là: Hình thức chính thể quân chủ hạn chế
- Quyền lực của nhà nước bị hạn chế bằng hiến pháp, hoặc bị chế ước bởi tính tối cao của
Nghị viện (Nghị viện có quyền giải quyết mọi vấn đề của nhà nước)
- Quyền hành pháp thuộc về Chính Phủ với một vị Thủ tướng đứng đầu do Nghị viện bầu
lên và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Thủ tướng có vai trò nổi trội trong việc thực
hiện quyền lực chính trị bởi Thủ tướng là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế trong Nghị
viện, là người quyết định đường lối chính trị của Chính Phủ.
Thứ hai, Hình thức chính thể cộng hoà: Là loại hình tổ chức nhà nước mà ở đó, quyền
lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được nhân dân bầu ra trong 1 thời gian
nhất định. Theo đó, hình thức chính thể cộng hoà là một loại hình tổ chức nhà nước dân
chủ, mà ở đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Hình thức chính thể cộng hoà có 03 biến dạng chính:
Một là: Chính thể cộng hoà đại nghị
- Là hình thức chính thể được tổ chức ở những nhà nước có Chính phủ được thành lập
bởi Nghị viện. Chính phủ được hình thành trên cơ sở Nghị viện, và chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
- Hình thức chính thể này có nhiều điểm giống với hình thức chính thể quân chủ đại nghị,
ở đó Nguyên thủ quốc gia chỉ có ý nghĩa tượng trưng và hầu như không tham gia vào
việc giải quyết công việc của nhà nước Nguyễn Hữu Sơn
- Có cơ chế tạo ra sự thống nhất giữa Nghị viện và Chính Phủ, bởi lẽ Chính phủ được
thành lập trên cơ sở đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện và luôn được số đông nghị sĩ ủng hộ
Hai là: Chính thể cộng hoà tổng thống
- Là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó, Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là
người đứng đầu bộ máy hành pháp, do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra.
- Tổng thống có quyền hạn lớn trong việc điều hành quốc gia thể hiện qua việc Tổng
thống có quyền thành lập Chính phủ, bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ và bổ
nhiệm thẩm phán liên bang với sự đồng ý của thượng viện, có quyền can thiệp vào hoạt
động lập pháp bằng quyền phủ quyết.
- Áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng. Theo đó,
Tổng thống đứng đầu hành pháp có nhiều quyền lực bên cạnh Nghị viện nắm giữ quyền
lập pháp và Toà án tối cao hoàn toàn độc lập trong các phán quyết của mình.
Ba là: Chính thể cộng hoà lưỡng tính
- Là hình thức chính thể có sự chọn lọc và kết hợp một số tính chất của chính thể cộng
hoà đại nghị và cộng hoà tổng thống.
- Tổng thống do nhân dân bầu ra, là nguyên thủ quốc gia.
- Chính phủ do Nghị viện bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Đứng đầu Chính
phủ là Thủ tướng – thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện, có trách nhiệm tổ
chức thực thi các chính sách do Tổng thống hoạch định.
- Áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực một cách mềm dẻo, giữa các nhánh quyền lực
có sự điều hoà và phối hợp lẫn nhau.
2.2. Hình thức cấu trúc nhà nước 2.2.1 Khái niệm
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính – lãnh
thổ, và xác lập mối quan hệ giữa trung ương và địa phương.
2.2.2 Các loại hình thức cấu trúc nhà nước
Có 02 hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu gồm: Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất
và hình thức cấu trúc nhà nước liên bang. Nguyễn Hữu Sơn
Thứ nhất, nhà nước đơn nhất
- Là hình thức cấu trúc phổ biến trên thế giới (khoảng 167 quốc gia)
- Là nhà nước có một hiến pháp duy nhất, chủ quyền chung duy nhất, có một bộ máy nhà
nước, một hệ thống pháp luật và lãnh thổ được chia thành các đơn vị hành chỉnh – lãnh
thổ trực thuộc từ Trung ương xuống cơ sở.
- Về cơ bản, nhà nước đơn nhất được hình thành từ một lãnh thổ duy nhất, được chia ra
thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ trực thuộc nhằm tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước được tốt hơn.
- Tuỳ thuộc vào điều kiện và đặc điểm của mỗi quốc gia, việc phân chia đơn vị hành
chính – lãnh thổ là không giống nhau.
Thứ hai, nhà nước liên bang
- Là hình thức cấu trúc nhà nước được hình thành từ nhiều nhà nước thành viên có chủ
quyền, đang hiện hữu ở một số quốc gia như: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Canada, Đức, Thuỵ Sĩ
- Lãnh thổ nhà nước liên bang được hình thành từ lãnh thổ của các nhà nước thành viên,
các nhà nước thành viên không còn là nhà nước đúng nghĩa, không có chủ quyền về mặt đối ngoại.
-Tuy là một chủ thể của nhà nước liên bang, nhưng các nhà nước thành viên đều có một
hiến pháp và một hệ thống pháp luật riêng nhưng không được mâu thuẫn với hiến pháp
và pháp luật liên bang, được thành lập chính quyền và một bộ máy nhà nước riêng.
2.3 Chế độ chính trị (Không quan trọng) 2.3.1 Khái niệm
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, cách thức được sử dụng để tổ chức và thực
hiện quyền lực nhà nước
2.3.2 Các loại chế độ chính trị
Có 02 loại chế độ chính trị cơ bản gồm: Chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ
Thứ nhất, Chế độ chính trị dân chủ Nguyễn Hữu Sơn
- Chế độ chính trị dân chủ thừa nhận nguồn gốc nhà nước bắt nguồn từ nhân dân và đều
hiến định nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp. Theo đó, nhân dân có quyền
tham gia vào việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước; bàn bạc, thảo luận và
quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước.
- Nhân dân có quyền bình đẳng và ảnh hưởng ngang nhau tới quyết định chính trị, chính
quyền phải nhấn mạnh tới sự tham gia của đông đảo công chúng và việc cai trị của chính
quyền phải hướng tới lợi ích chung của cộng đồng
- Trong chế độ chính trị dân chủ, nhà nước sử dụng các phương pháp dân chủ trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; thừa nhận, bảo đảm và bảo vệ các quyền tự do
chính trị của nhân dân; hoạt động của nhà nước được công khai; phương pháp giáo dục
thuyết phục được coi trọng..
- Có nhiều hình thức khác nhau trong chế độ chính trị dân chủ như: Dân chủ thực chất và
dân chủ hình thức; dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp;…
Thứ hai, chế độ chính trị phản dân chủ
- Là chế độ chính trị mà nhân dân không có quyền tham gia vào quá trình thiết lập bộ
máy nhà nước hoặc tham gia bàn bạc, thảo luận và quyết định công việc của quốc gia
- Các cơ quan nhà nước được lập ra theo cách thức chuyên quyền, độc đoán chẳng hạn
như hình thức cha truyền con nối,..
- Trong chế độ chính trị phản dân chủ, các quyền tự do, dân chủ của nhân dân không
được nhà nước thừa nhận hoặc bị hạn chế, bị chà đạp bởi chính những người đang nắm
quyền cai trị. Nhân dân hoặc đại diện của họ không thể tham gia thảo luận, bàn bạc để
đưa ra quyết định quan trọng của đất nước.
- Chế độ chính trị phản dân chủ có những biến dạng cực đoan như: Chế độ phát xít, chế
độ phân biệt chủng tộc,..
Câu 9: Trình bày chức năng của nhà nước (Quan trọng)
- Khái niệm: Chức năng nhà nước là những hoạt động chủ yếu của nhà nước thể hiện bản
chất, vai trò, sứ mệnh xã hội và mục tiêu của nhà nước Nguyễn Hữu Sơn
- Chức năng của nhà nước có thể phân chia thành 02 chức năng chính đó là: Chức năng
đối nội và chức năng đối ngoại
+ Thứ nhất: Chức năng đối nội là những hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ
đất nước. Chẳng hạn như duy trì trật tự xã hội, bảo đảm an ninh con người, phát triển bền vững kinh tế,..
+ Thứ hai: Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các
quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Chẳng hạn như phòng thủ đất nước và chống
mọi sự can thiệp vũ trang từ bên ngoài,..
- Chức năng đối nội và đối ngoại có mối quan hệ biện chứng với nhau. Việc xác lập và
thực hiện chức năng đối ngoại luôn dựa trên chức năng đối nội; ngược lại, thành quả của
việc thực hiện chức năng đối ngoại sẽ hỗ trợ to lớn đến tiến trình thực hiện chức năng đối nội
- Chức năng của nhà nước được thực hiện bằng các hình thức và phương pháp hoạt động
khác nhau bởi các cơ quan, tổ chức cấu thành trong bộ máy nhà nước; trong đó, tập trung
dưới ba hình thức chính là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ
pháp luật và hai phương pháp là giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế.
+ Xây dựng pháp luật là hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các quy phạm
pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Pháp
luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội; trật tự hoá, củng cố và phát triển
các quan hệ xã hội theo những định hướng mong muốn. Và điều này chỉ có thể đạt được
khi các quy phạm pháp luật được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách
nghiêm chỉnh và triệt để.
+ Phương pháp giáo dục, thuyết phục: Là phương pháp dựa trên hoạt động giáo dục,
tuyên truyền, mang tính định hướng, tổ chức, và chủ đích nhằm hình thành ở đối tượng
được tác động tri thức pháp lý, hành vi phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
+ Phương pháp cưỡng chế: Là phương pháp tiến hành dựa trên bạo lực của các cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền đối với chủ thể pháp luật trong những trường hợp nhất
định mà theo quy định của pháp luật các chủ thể này phải thực hiện hay không thực hiện Nguyễn Hữu Sơn
những hành vi nhất định hoặc chịu những hạn chế về mặt tài sản hay tự do thân thể.
Phương pháp này được sử dụng trong những trường hợp quyết định pháp luật không
được thực hiện một cách tự giác.
Câu 10: Trình bày khái niệm, đặc điểm của bộ máy nhà nước
- Khái niệm: Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể các cơ quan nhà nước có mục tiêu, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức và phạm vi hoạt động khác nhau dựa trên những
nguyên tắc và hệ thống các quy định của Hiến pháp, pháp luật.
Thông thường bộ máy nhà nước được cấu thành bởi ba loại cơ quan chủ yếu là cơ quan
đại diện ( Quốc hội, Hội đồng dân cử), cơ quan hành chính (Chính Phủ, Uỷ ban điều
hành), cơ quan xét xử (Toà án). Ngoài ra bộ máy nhà nước còn có chức danh nguyên thủ quốc gia - Đặc điểm:
Thứ nhất, tính chỉnh thể và lịch sử: Bộ máy nhà nước là một thể hoàn chỉnh và thống
nhất các bộ phận cấu thành. Mỗi bộ phận là một mắc xích quan trọng trong toàn bộ hệ
thống. Tuy vậy, bản thân tính chỉnh thể có tính lịch sử, phù hợp trong từng giai đoạn nhất
định. Chẳng hạn, khác với thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, bộ máy nhà nước trong giai
đoạn hiện nay hướng đến tính đa ngành đa lĩnh vực, tách chức năng quản lý và chức năng cung ứng dịch vụ công.
Thứ hai, tính đa dạng và phức tạp: Bộ máy nhà nước là hệ thống các bộ phận cấu
thành với các chức năng khác nhau, và hoạt động trong một phạm vi nhất định. Bản thân
mỗi bộ phận cấu thành rất khó hình dung và nắm bắt, nhất là khi nó đã vận hành trong
một không gian và thời gian nhất định.
Thứ ba, tính lợi ích: Vì bộ máy nhà nước là sản phẩm do con người xây dựng nên nó có tính lợi ích.
Câu quan trọng: Trình bày khái niệm, đặc điểm của cơ quan nhà nước Khái niệm
Cơ quan Nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước, là tổ chức (cá nhân)
mang quyền lực Nhà nước được thành lập và có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật
nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Nguyễn Hữu Sơn Đặc điểm:
Cơ quan nhà nước có 06 đặc điểm sau:
Thứ nhất: Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước và đó chỉ là
những bộ phận then chốt, thiết yếu của nhà nước.
Mỗi cơ quan nhà nước gồm một số lượng người nhất định, có thể gồm một người
(Nguyên thủ quốc gia ở nhiều nước) hoặc một nhóm người (Quốc hội, Chính phủ…).
Thứ hai: Cơ quan nhà nước do nhà nước và nhân dân thành lập.
Tùy thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nước… mà nhà nước có thể thành lập mới, sáp nhập, chia tách hay xóa bỏ một cơ quan
nào đó trong bộ máy nhà nước. Nhà nước có thể tổ chức các cuộc bầu cử để nhân dân bầu
cử ra các cơ quan nhà nước mới, tức là tổ chức cho nhân dân tham gia thành lập các cơ quan nhà nước.
Ví dụ: Bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta.
Thứ ba: Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước do pháp luật quỵ định.
Pháp luật quy định cụ thể về vị trí, tính chất, vai trò, con đường hình thành, cơ cấu tổ
chức, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động… của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Thứ tư: Mỗi cơ quan nhà nước có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng do pháp luật quy định.
Ví dụ: Chức năng của Nghị viện (Quốc hội) là lập pháp, quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước;… chức năng của Toà án là xét xử các vụ án.
Thứ năm: Mỗi cơ quan nhà nước được trao cho những quyền năng nhất định để thực
hiện những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định.
- Toàn bộ nhiệm vụ và quyền hạn mà một cơ quan nhà nước được thực hiện và phải thực
hiện tạo nên thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước nhân danh và sử dụng
quyền lực nhà nước, sử dụng những quyền năng nhất định để thực hiện thẩm quyền của mình.
- Quyền năng mà cơ quan nhà nước được sử dụng để thực hiện thẩm quyền của mình gồm có: Nguyễn Hữu Sơn
+ Có quyền ban hành những quyết định nhất định dưới dạng quy tắc xử sự chung (ví dụ,
luật của Quốc hội) hoặc quyết định cá biệt (ví dụ, bản án của Tòa án) là những quyết định
có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan;
+ Có quyền yêu cầu các tổ chức và cá nhân có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh
những quyết định do nó hoặc các chủ thể khác có thẩm quyền ban hành;
+ Có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện và sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quyết định đó;
+ Có quyền sử dụng các biện pháp cần thiết, trong đó có cả các biện pháp cưỡng chế nhà
nước để bảo đảm thực hiện các quyết định đó.
Câu 11: Trình bày các mối quan hệ cơ bản của nhà nước (Không quan trọng)
Có 03 mối quan hệ cơ bản là: Mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế; mối quan hệ giữa
nhà nước và chính trị; mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật
Thứ nhất, Mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế
- Nhà nước là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong thượng tầng kiến trúc, chịu sự tác
động và quyết định bởi kinh tế, cụ thể là cơ sở kinh tế và điều kiện kinh tế. Điều này xuất
phát từ nguồn gốc xuất hiện nhà nước, với nguyên nhân kinh tế là cơ bản.
- Kinh tế quy định cơ cấu tổ chức, phương thức và công cụ điều hành đời sống xã hội của
nhà nước. Với cơ chế kinh tế khác nhau cần có phương pháp quản lý nhà nước phù hợp.
Chẳng hạn, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thì phương pháp quản lý nhà nước
mang nặng tính chất áp đặt mệnh lệnh, hành chính.
- Mặc dù chịu sự chi phối và quyết định bởi kinh tế, nhà nước vẫn có tính độc lập tương
đối và tác động trở lại đối với kinh tế. Với hệ thống chính sách, pháp luật và cách thức
điều hành phù hợp với các quy luật vận hành của nền kinh tế, nhà nước có tác động tích
cực đối với kinh tế, thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ của nền kinh tế. Ngược lại, sẽ
kìm hãm, cản trở sự vận hành và phát triển các mối quan hệ và chủ thể kinh tế.
Như vậy, nhà nước trong mối quan hệ với kinh tế, một mặt phụ thuộc vào kinh tế, và mặt
khác có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế. Nguyễn Hữu Sơn
Thứ hai, Mối quan hệ giữa nhà nước và chính trị
- Nhà nước và chính trị là những bộ phận ở vị trí trung tâm của thượng tầng kiến trúc; vì
thế, nhà nước và chính trị tác động lẫn nhau, trở thành bước đi kế tiếp của nhau.
- Nội dung quan trọng nhất trong chính trị là tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; là
sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công việc nhà nước, xác định mục tiêu, hình
thức, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Bởi lẽ, quyền lực nhà nước là bộ phận quan
trọng nhất của quyền lực chính trị, là trung tâm của mọi cuộc tranh luận và đấu tranh của
các lực lượng trong xã hội. Mỗi lực lược xã hội, suy đến cùng, cố gắng nắm giữ quyền
lực nhà nước cũng chỉ hướng đến lợi ích nhiều nhất cho lực lượng của mình.
- Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước, các lực lượng chính trị hoạch
định đường lối, chiến lược, định hướng… dẫn dắt quốc gia phát triển. Thông qua con
đường nhà nước, những đường lối và định hướng đó trở thành chính sách và pháp luật.
- Nhà nước là công cụ cưỡng chế đặc biệt của giai cấp thống trị và là một trong những
hình thức biểu hiện tập trung của chính trị. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai
cấp thống trị thể chế hoá ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất thành ý
chí của nhà nước và ghi nhận trong quy tắc xử sự do nhà nước ban hành
Thứ ba, Mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật
Nhà nước và pháp luật luôn tác động lẫn nhau, tạo tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của
nhau. Tuy nhiên, cả nhà nước và pháp luật vẫn có sự khác biệt nhất định:
- Nhà nước là tổ chức quyền lực công, trong khi pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự
chung. Bản thân hai hiện tượng này có sự tác động đáng kể lẫn nhau. Pháp luật do nhà
nước ban hành, không có nhà nước thì pháp luật chỉ tồn tại dưới dạng những ý niệm, tư
tưởng, quy tắc xử sự thông thường, và chưa có tính bắt buộc đối với toàn xã hội. Sau khi
ban hành pháp luật, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng
nhiều biện pháp đa dạng. Nhờ đó, pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác và
phát huy vai trò của mình trong xã hội
- Đến lượt mình, mặc dù hình thành bằng con đường nhà nước, pháp luật quy định cơ cấu
tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Thông qua pháp luật, nhà nước định chế hoá
các quan hệ quyền lực, quy định thẩm quyền của từng thiết chế quyền lực công một cách Nguyễn Hữu Sơn