Tư tưởng Hồ Chí Minh diễn giải chủ nghĩa xã hội không bằng những khái niệm
trừu tượng mà bằng những mục tiêu cụ thể gần gũi với đời sống nhân dân. Theo
Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho
nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm,
được ấm no và sống một đời hạnh phúc”. Tư tưởng ấy không chỉ xác định rõ mục
tiêu hướng tới của CNXH, mà còn chỉ ra những động lực thúc đẩy và những trở lực
cần khắc phục trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.
1.Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
a) Mục tiêu về chế độ chính trị: xây dựng được chế độ dân chủ.
Hồ Chí Minh khẳng định: “chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ”,
“nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Dân Có quyền
quyết định vận mệnh đất nước, đồng thời chịu trách nhiệm với sự nghiệp đổi mới,
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Mọi lợi ích, quyền hạn, công việc, các cấp chính
quyền do dân cử ra, các tổ chức đoàn thể do dân tổ chức nên đều vì dân, của dân,
do dân. “Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” - đây là tư tưởng cốt lõi, là nền
tảng của CNXH Việt Nam.
b) Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật
thiết với mục tiêu về chính trị.
Hồ Chí Minh xác định: Đây phải là nền kinh tế phát triển cao “với công nghiệp và
nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”, là “một nền kinh tế thuần
nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”. Người cho rằng Kinh tế
quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân giữ vai trò chủ đạo, lãnh đạo nền kinh
tế quốc dân, là nền tảng vững chắc của chế độ mới, Nhà nước phải có chính sách
ưu tiên, bảo hộ và đầu tư phát triển kinh tế quốc doanh. Kinh tế hợp tác xã là hình
thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, thể hiện tinh thần đoàn kết, hợp tác và
tương trợ lẫn nhau, Nhà nước đặc biệt khuyến khích hướng dẫn và giúp đỡ để kinh
tế hợp tác xã phát triển đúng hướng. Người luôn nhấn mạnh rằng mục tiêu kinh tế
và mục tiêu chính trị phải gắn bó chặt chẽ với nhau “Chế độ kinh tế và xã hội của
chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã
hội chủ nghĩa ngày càng phát triển” vì chỉ khi có nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vững
mạnh thì quyền làm chủ của nhân dân mới được thực hiện đầy đủ.
c) Mục tiêu về văn hóa: Xây dựng nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học
và đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Hồ Chí Minh nhìn nhận mối quan hệ giữa văn hóa, chính trị và kinh tế là mối quan
hệ biện chứng, nghĩa là chúng tác động qua lại và quy định lẫn nhau: Chính trị và
kinh tế là nền tảng quyết định tính chất của văn hóa. Ngược lại, văn hóa có vai trò
to lớn trong việc phục vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị. Người chủ
trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng,
vừa kế thừa truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại. Phát triển văn
hóa không chỉ để nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, mà còn để tạo ra con
người mới xã hội chủ nghĩa – nhân tố quyết định của sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
d) Mục tiêu về quan hệ xã hội: đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh
Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội nơi mọi người đều có quyền làm
việc; có quyền nghỉ ngơi; có quyên học tập; có quyền tự do thân thể; quyền tự do
ngôn luận, báo chí, họp hội, lập hội, biểu tình; có quyền tự do tín ngưỡng; có
quyền bầu cử, ứng cử; bình đẳng trước pháp luật và được hưởng thành quả lao
động của mình. Đó là xã hội tôn trọng con người, coi trọng lợi ích cá nhân chính
đáng trong sự hài hòa với lợi ích chung của tập thể , là mối quan hệ biện chứng
giữa cá nhân và tập thể, vừa tôn trọng con người, vừa hướng đến sự thống nhất và
công bằng xã hội. Hướng đến mục tiêu cuối cùng là “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.”
2. Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, Hồ Chí Minh cho rằng cần phát huy các nguồn động
lực to lớn của xã hội, trong đó nhân dân là yếu tố trung tâm.
a) Lợi ích của nhân dân
Hồ Chí Minh xem lợi ích nhân dân là cội nguồn của mọi động lực cách mạng.
Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân
phải hết sức tránh.”, “phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”. Người khẳng
định, CNXH khác các chế độ trước ở chỗ nó phục vụ lợi ích của đông đảo nhân
dân lao động, chứ không phải của thiểu số. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thành
công, phải lấy hạnh phúc, quyền lợi của nhân dân làm trung tâm của mọi chính
sách và hành động; Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, chính là con
đường duy nhất để phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, đưa đất nước phát triển
bền vững, phồn vinh.
b) Dân chủ của nhân dân
Hồ Chí Minh coi “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, “địa vị cao nhất là
dân, vì dân là chủ”, là sức mạnh nội sinh làm nên mọi thành tựu của chế độ mới.
Dân chủ hướng tới quyền làm chủ của nhân dân. Khi nhân dân được làm chủ, họ s
phát huy tinh thần sáng tạo, ý thức trách nhiệm, góp phần thúc đẩy xã hội phát
triển.
c) Sức mạnh đoàn kết toàn dân
Theo Người, đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là
nguồn sức mạnh to lớn, là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu
cách mạng, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đoàn kết chính
là lực lượng mạnh nhất trong tất cả các lực lượng, bởi nó kết tinh ý chí, trí tuệ và
sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam. Theo Người, muốn đoàn kết bền vững, phải
trên cơ sở thống nhất về mục tiêu, lợi ích và lý tưởng cách mạng, gắn bó giữa Đảng
– Nhà nước – nhân dân.
d) Vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội
Theo Hồ Chí Minh Đảng như “người cầm lái con thuyền cách mạng”. Nếu người
cầm lái vững vàng thì con thuyền mới đi đúng hướng. Đảng Cộng sản Việt Nam là
động lực lãnh đạo tối cao, có vai trò định hướng, dẫn dắt toàn bộ sự nghiệp cách
mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước là tổ chức đại diện cho ý chí, quyền lực và lợi ích của nhân dân. Nhà
nước có chức năng quản lý xã hội, biến các chủ trương, đường lối của Đảng thành
pháp luật, chính sách, kế hoạch cụ thể. Nhà nước là cầu nối giữa Đảng và nhân dân
.
Các tổ chức chính trị – xã hội là nơi nhân dân tập hợp, phát huy dân chủ và sáng
kiến. Tuy có nội dung và phương thức hoạt động khác nhau, nhưng đều nhất quán
về chính trị và tư tưởng, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nước và vì lợi ích của nhân dân, dân tộc.
e) Con người Việt Nam – nhân tố quyết định
Theo Hồ Chí Minh, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con
người xã hội chủ nghĩa.” Chủ nghĩa xã hội không thể hình thành chỉ nhờ các thiết
chế kinh tế – chính trị hay máy móc, mà phải bắt đầu từ việc hình thành một kiểu
người mới – con người xã hội chủ nghĩa.
Đó là những con người có ý thức làm chủ Nhà nước và xã hội; Có tinh thần tập
thể, xã hội chủ nghĩa; Có quan điểm phục vụ sản xuất, lao động sáng tạo; Có ý
thức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Có tinh thần tiến bộ, khát vọng vươn
lên
3. Trở lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bên cạnh các động lực, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những trở lực lớn cần kiên quyết
khắc phục để CNXH phát triển đúng hướng.
Chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh nguy hiểm nhất, làm tha hóa con người, chia rẽ tập
thể, làm mất niềm tin của nhân dân. Cản trở việc phát huy dân chủ, làm giảm hiệu
quả quản lý và năng suất lao động. Phá hoại đạo đức cách mạng và lý tưởng xã hội
chủ nghĩa.
Quan liêu, tham ô, lãng phí – là sự thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên và công chức nhà nước, kẻ thù của nhân dân, làm giảm lòng tin vào chế độ,
làm tổn hại lợi ích của dân và nhà nước.
Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thói quen lạc hậu - sợ khó, sợ khổ, sợ đổi mới, làm việc
theo lối mòn, không chịu học hỏi, không dám sáng tạo khiến xã hội chậm phát
triển, kìm hãm tiến bộ.
Sự chống phá của các thế lực thù địch bên ngoài - Người luôn cảnh giác trước âm
mưu của chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế, chúng tìm mọi cách chống phá,
xuyên tạc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, kích động ly khai, gây chiến tranh kinh tế
– văn hóa – tư tưởng.
Những hạn chế về trình độ dân trí, kinh tế và khoa học – kỹ thuật - Khi bắt đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trình
độ văn hóa, kỹ thuật của nhân dân còn thấp, nên đây là một trở lực khách quan.
Tác động của tàn dư xã hội cũ - Bao gồm tư tưởng phong kiến, lối sống cá nhân
chủ nghĩa, mê tín dị đoan, thói quen cục bộ, gia trưởng, trọng nam khinh nữ…Đây
là những di sản tinh thần tiêu cực còn tồn tại trong ý thức và sinh hoạt xã hội, gây
ảnh hưởng đến việc hình thành con người mới, lối sống mới.
4. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực và trở lực của chủ nghĩa xã hội là
nền tảng lý luận và kim chỉ nam cho con đường phát triển của Việt Nam hiện nay.
Người đã chỉ rõ: xây dựng CNXH là sự nghiệp vĩ đại nhưng lâu dài, đòi hỏi phải
dựa vào nhân dân, vì nhân dân, phát huy mọi nguồn lực sáng tạo và đoàn kết của
toàn dân tộc.
Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh với những tàn dư, thói hư tật xấu và những
lực cản trong xã hội.
Những tư tưởng ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng con đường xây
dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Preview text:

Tư tưởng Hồ Chí Minh diễn giải chủ nghĩa xã hội không bằng những khái niệm trừu tượng mà bằng những mục tiêu cụ thể gần gũi với đời sống nhân dân. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”. Tư tưởng ấy không chỉ xác định rõ mục tiêu hướng tới của CNXH, mà còn chỉ ra những động lực thúc đẩy và những trở lực cần khắc phục trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

1.Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

a) Mục tiêu về chế độ chính trị: xây dựng được chế độ dân chủ.

Hồ Chí Minh khẳng định: “chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ”, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Dân Có quyền quyết định vận mệnh đất nước, đồng thời chịu trách nhiệm với sự nghiệp đổi mới, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Mọi lợi ích, quyền hạn, công việc, các cấp chính quyền do dân cử ra, các tổ chức đoàn thể do dân tổ chức nên đều vì dân, của dân, do dân. “Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” - đây là tư tưởng cốt lõi, là nền tảng của CNXH Việt Nam.

b) Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị.

Hồ Chí Minh xác định: Đây phải là nền kinh tế phát triển cao “với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”, là “một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”. Người cho rằng Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân giữ vai trò chủ đạo, lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, là nền tảng vững chắc của chế độ mới, Nhà nước phải có chính sách ưu tiên, bảo hộ và đầu tư phát triển kinh tế quốc doanh. Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, thể hiện tinh thần đoàn kết, hợp tác và tương trợ lẫn nhau, Nhà nước đặc biệt khuyến khích hướng dẫn và giúp đỡ để kinh tế hợp tác xã phát triển đúng hướng. Người luôn nhấn mạnh rằng mục tiêu kinh tế và mục tiêu chính trị phải gắn bó chặt chẽ với nhau “Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển” vì chỉ khi có nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vững mạnh thì quyền làm chủ của nhân dân mới được thực hiện đầy đủ.

c) Mục tiêu về văn hóa: Xây dựng nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Hồ Chí Minh nhìn nhận mối quan hệ giữa văn hóa, chính trị và kinh tế là mối quan hệ biện chứng, nghĩa là chúng tác động qua lại và quy định lẫn nhau: Chính trị và kinh tế là nền tảng quyết định tính chất của văn hóa. Ngược lại, văn hóa có vai trò to lớn trong việc phục vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị. Người chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng, vừa kế thừa truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại. Phát triển văn hóa không chỉ để nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, mà còn để tạo ra con người mới xã hội chủ nghĩa – nhân tố quyết định của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

d) Mục tiêu về quan hệ xã hội: đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh

Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội nơi mọi người đều có quyền làm việc; có quyền nghỉ ngơi; có quyên học tập; có quyền tự do thân thể; quyền tự do ngôn luận, báo chí, họp hội, lập hội, biểu tình; có quyền tự do tín ngưỡng; có quyền bầu cử, ứng cử; bình đẳng trước pháp luật và được hưởng thành quả lao động của mình. Đó là xã hội tôn trọng con người, coi trọng lợi ích cá nhân chính đáng trong sự hài hòa với lợi ích chung của tập thể , là mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể, vừa tôn trọng con người, vừa hướng đến sự thống nhất và công bằng xã hội. Hướng đến mục tiêu cuối cùng là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

2. Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Để đạt được mục tiêu trên, Hồ Chí Minh cho rằng cần phát huy các nguồn động lực to lớn của xã hội, trong đó nhân dân là yếu tố trung tâm.

a) Lợi ích của nhân dân

Hồ Chí Minh xem lợi ích nhân dân là cội nguồn của mọi động lực cách mạng. Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh.”, “phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”. Người khẳng định, CNXH khác các chế độ trước ở chỗ nó phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân lao động, chứ không phải của thiểu số. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, phải lấy hạnh phúc, quyền lợi của nhân dân làm trung tâm của mọi chính sách và hành động; Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, chính là con đường duy nhất để phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, đưa đất nước phát triển bền vững, phồn vinh.

b) Dân chủ của nhân dân
Hồ Chí Minh coi “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, “địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, là sức mạnh nội sinh làm nên mọi thành tựu của chế độ mới. Dân chủ hướng tới quyền làm chủ của nhân dân. Khi nhân dân được làm chủ, họ sẽ phát huy tinh thần sáng tạo, ý thức trách nhiệm, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

c) Sức mạnh đoàn kết toàn dân

Theo Người, đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là nguồn sức mạnh to lớn, là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu cách mạng, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đoàn kết chính là lực lượng mạnh nhất trong tất cả các lực lượng, bởi nó kết tinh ý chí, trí tuệ và sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam. Theo Người, muốn đoàn kết bền vững, phải trên cơ sở thống nhất về mục tiêu, lợi ích và lý tưởng cách mạng, gắn bó giữa Đảng – Nhà nước – nhân dân.

d) Vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội

Theo Hồ Chí Minh Đảng như “người cầm lái con thuyền cách mạng”. Nếu người cầm lái vững vàng thì con thuyền mới đi đúng hướng. Đảng Cộng sản Việt Nam là động lực lãnh đạo tối cao, có vai trò định hướng, dẫn dắt toàn bộ sự nghiệp cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước là tổ chức đại diện cho ý chí, quyền lực và lợi ích của nhân dân. Nhà nước có chức năng quản lý xã hội, biến các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách, kế hoạch cụ thể. Nhà nước là cầu nối giữa Đảng và nhân dân .

Các tổ chức chính trị – xã hội là nơi nhân dân tập hợp, phát huy dân chủ và sáng kiến. Tuy có nội dung và phương thức hoạt động khác nhau, nhưng đều nhất quán về chính trị và tư tưởng, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vì lợi ích của nhân dân, dân tộc.

e) Con người Việt Nam – nhân tố quyết định

Theo Hồ Chí Minh, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa.” Chủ nghĩa xã hội không thể hình thành chỉ nhờ các thiết chế kinh tế – chính trị hay máy móc, mà phải bắt đầu từ việc hình thành một kiểu người mới – con người xã hội chủ nghĩa.
Đó là những con người có ý thức làm chủ Nhà nước và xã hội; Có tinh thần tập thể, xã hội chủ nghĩa; Có quan điểm phục vụ sản xuất, lao động sáng tạo; Có ý thức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Có tinh thần tiến bộ, khát vọng vươn lên

3. Trở lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Bên cạnh các động lực, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những trở lực lớn cần kiên quyết khắc phục để CNXH phát triển đúng hướng.

Chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh nguy hiểm nhất, làm tha hóa con người, chia rẽ tập thể, làm mất niềm tin của nhân dân. Cản trở việc phát huy dân chủ, làm giảm hiệu quả quản lý và năng suất lao động. Phá hoại đạo đức cách mạng và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Quan liêu, tham ô, lãng phí – là sự thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước, kẻ thù của nhân dân, làm giảm lòng tin vào chế độ, làm tổn hại lợi ích của dân và nhà nước.

Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thói quen lạc hậu - sợ khó, sợ khổ, sợ đổi mới, làm việc theo lối mòn, không chịu học hỏi, không dám sáng tạo khiến xã hội chậm phát triển, kìm hãm tiến bộ.

Sự chống phá của các thế lực thù địch bên ngoài - Người luôn cảnh giác trước âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế, chúng tìm mọi cách chống phá, xuyên tạc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, kích động ly khai, gây chiến tranh kinh tế – văn hóa – tư tưởng.

Những hạn chế về trình độ dân trí, kinh tế và khoa học – kỹ thuật - Khi bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trình độ văn hóa, kỹ thuật của nhân dân còn thấp, nên đây là một trở lực khách quan.

Tác động của tàn dư xã hội cũ - Bao gồm tư tưởng phong kiến, lối sống cá nhân chủ nghĩa, mê tín dị đoan, thói quen cục bộ, gia trưởng, trọng nam khinh nữ…Đây là những di sản tinh thần tiêu cực còn tồn tại trong ý thức và sinh hoạt xã hội, gây ảnh hưởng đến việc hình thành con người mới, lối sống mới.

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực và trở lực của chủ nghĩa xã hội là nền tảng lý luận và kim chỉ nam cho con đường phát triển của Việt Nam hiện nay.
Người đã chỉ rõ: xây dựng CNXH là sự nghiệp vĩ đại nhưng lâu dài, đòi hỏi phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân, phát huy mọi nguồn lực sáng tạo và đoàn kết của toàn dân tộc.
Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh với những tàn dư, thói hư tật xấu và những lực cản trong xã hội.
Những tư tưởng ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng con đường xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.