HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
NGÂN HÀNG CÂU HỎI THI MÔN
VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY(3 tín chỉ - 45 câu)
Thời gian thi: 120 phút)
I. NHÓM CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÁI HIỆN KIẾN THỨC (4 điểm)
Câu 1. Trình bày tiến trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí
Minh trong thời kỳ trước đổi mới.
Ngay từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
từng bước hình thành nhận thức ban đầu về tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông qua các
bài viết, công trình của các đồng chí lãnh đạo tiền bối như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn
Đồng, hình ảnh, tư tưởng, đạo đức và tác phong của Hồ Chí Minh dần được giới thiệu rộng rãi
trong nhân dân và trong Đảng. Tại Đại hội II của Đảng năm 1951, trong diễn văn khai mạc do
đồng chí Tôn Đức Thắng trình bày, Đảng khẳng định đường lối chính trị, tác phong làm việc và
đạo đức cách mạng của Đảng chính là đường lối, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ
tịch; đồng thời yêu cầu toàn Đảng ra sức học tập đường lối, tác phong và đạo đức của Người.
Tuy chưa xuất hiện khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng việc học tập tư tưởng của Người
đã chính thức được đặt ra.
Đến năm 1960, nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí
Trường Chinh đã nhấn mạnh nhiệm vụ ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và học tập tư tưởng, đạo đức,
tác phong của Người để phục vụ tốt hơn cho Đảng và nhân dân. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua
đời, trong điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc tại lễ truy
điệu, Đảng đã tôn vinh Người là anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại. Tại Đại hội IV, Đảng lần
đầu khẳng định Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta “những di sản bất diệt”. Tại Đại hội V,
Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức và tác
phong Hồ Chí Minh trong toàn Đảng.
Nhìn chung, trước thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm nhận thức được giá
trị to lớn của di sản Hồ Chí Minh, song việc nhận thức vẫn chủ yếu tập trung vào phương diện
đạo đức, tác phong và tấm gương của Người, chưa được khái quát đầy đủ thành một hệ thống lý
luận hoàn chỉnh với tư cách là một nền tảng tư tưởng. 1
Câu 2. Trình bày tiến trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí
Minh trong thời kỳ đổi mới.
Bước vào công cuộc đổi mới từ năm 1986, nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí
Minh có bước phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và tầm lý luận. Đại hội VI của Đảng khẳng
định: muốn đổi mới tư duy thì phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa
Mác – Lênin, đồng thời kế thừa di sản tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Đây là bước đầu xác định tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở lý luận của đường lối đổi mới.
Đại hội VII của Đảng năm 1991 đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi lần đầu tiên Đảng
khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Đại hội cũng bước đầu đưa ra định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau
Đại hội VII, chương trình khoa học cấp Nhà nước KX-02 được triển khai đã tạo cơ sở khoa học
quan trọng cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu đó, tại Đại hội IX năm 2001, Đảng đã đưa ra
định nghĩa đầy đủ và toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định đây là hệ thống quan điểm
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc.
Tiếp đó, Trung ương ban hành Chỉ thị 23 năm 2003 và Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 06 năm
2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Đến Đại hội XI năm 2011, Đảng tiếp tục khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng
tinh thần vô cùng to lớn, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đồng thời
ban hành Chỉ thị 03 đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành
nhiệm vụ thường xuyên. Đại hội XII tiếp tục nhấn mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức và phong cách Hồ Chí Minh gắn với đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Câu 3. Trình bày sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Sau khi đất nước thống nhất, trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân
tộc, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới và phát triển
toàn diện hơn trên ba nội dung lớn.
Thứ nhất, Đảng nhận thức ngày càng rõ mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa tư tưởng “dựng nước đi đôi với giữ nước”, trong 35 năm đổi 2
mới, Đảng luôn khẳng định xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược không thể
tách rời. Nhận thức đó được thể hiện qua chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng,
an ninh, coi đối ngoại là một mặt trận quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình. Đại hội XII
nhấn mạnh phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và tăng cường quốc
phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Thứ hai, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng được mở rộng và cụ thể hơn. Từ
Cương lĩnh năm 1991 xác định bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội
chủ nghĩa, đến Đại hội XI bổ sung nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; và
đến Đại hội XII tiếp tục bổ sung nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Như vậy, bảo vệ Tổ quốc
không chỉ là giữ đất, giữ nước, mà còn giữ chế độ, giữ văn hóa và bản sắc dân tộc.
Thứ ba, Đảng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về sức mạnh tổng hợp để bảo vệ độc lập
dân tộc. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh dân tộc kết hợp với sức
mạnh thời đại; sức mạnh tổng hợp của đất nước trên tất cả các lĩnh vực; sức mạnh của cả hệ
thống chính trị và nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân. Sự kết hợp đồng bộ các nguồn sức
mạnh đó là cơ sở để bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Câu 4. Trình bày sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
1. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội
Trong giai đoạn 1988–1991, khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng
Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa do Hồ Chí Minh lựa chọn. Hội
nghị Trung ương 6 khóa VI năm 1989 đã đề ra 5 nguyên tắc đổi mới, khẳng định: đổi mới
không phải là từ bỏ CNXH mà là làm cho CNXH được thực hiện tốt hơn; đổi mới phải gắn
với chủ nghĩa Mác – Lênin; xây dựng dân chủ gắn với chuyên chính; kết hợp chủ nghĩa yêu
nước với chủ nghĩa quốc tế.
Đại hội VII (1991) tiếp tục khẳng định: đi lên CNXH là con đường duy nhất đúng đắn. Đại
hội IX xác định thế kỷ XXI vẫn là thế kỷ xây dựng CNXH. Cương lĩnh 2011 nhấn mạnh: đi
lên CNXH là khát vọng của nhân dân, là lựa chọn đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh. → Như vậy, Đảng luôn kiên định, không dao động mục tiêu CNXH.
2. Đề ra và bổ sung Cương lĩnh xây dựng CNXH -
Đại hội VII (1991) lần đầu thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, xác định 6 đặc trưng của CNXH và 7 phương hướng xây dựng đất nước,
thể hiện sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. 3 -
Đến Đại hội XI, Cương lĩnh 2011 được bổ sung, phát triển với 8 đặc trưng, nổi bật là
mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN. Đồng thời xác định 8 phương hướng phát triển toàn diện và 8 mối
quan hệ lớn phải giải quyết đúng đắn như: giữa đổi mới – ổn định – phát triển; giữa kinh
tế thị trường và định hướng XHCN; giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc… -
Đại hội XII bổ sung thêm mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. → Điều này cho
thấy tư duy của Đảng về CNXH ngày càng đầy đủ, khoa học và sát thực tiễn hơn.
3. Nhận thức ngày càng rõ về công nghiệp hóa – hiện đại hóa -
Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh: “Công nghiệp hóa là con đường sống của chúng ta”,
Đại hội VI (1986) xác định trọng tâm ban đầu là 3 chương trình: lương thực – thực
phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, phù hợp với điều kiện đất nước. -
Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (1994) đưa ra khái niệm đầy đủ về công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, mở rộng sang cả sản xuất, dịch vụ và quản lý, gắn với khoa học – công
nghệ, cho phép “đi tắt, đón đầu”. -
Đại hội VIII (1996) xác định nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH–HĐH. Đại hội
IX, X nhấn mạnh gắn CNH–HĐH với kinh tế tri thức. Đại hội XI đặt mục tiêu đến giữa
thế kỷ XXI trở thành nước công nghiệp hiện đại. Đại hội XII xác định tiêu chí nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Câu 5. Trình bày sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng
Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc rằng
xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách
mạng. Đại hội VI (1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” đã chỉ rõ những hạn chế trong
lãnh đạo của Đảng và khẳng định nguyên nhân sâu xa là do coi nhẹ công tác xây dựng Đảng. Từ
đó, Đảng xác định phải đổi mới toàn diện: đổi mới tư duy, tổ chức, cán bộ và phong cách lãnh
đạo, coi đây là việc cấp bách và lâu dài.
Trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Đại hội VII
khẳng định: tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là yêu cầu hàng
đầu. Đại hội VIII tiếp tục nhấn mạnh: tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển
của Đảng, đồng thời xác định rõ: xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt – quan điểm này được
xuyên suốt trong các kỳ đại hội sau.
Trước tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ,
đảng viên, Đại hội XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã xác định 3 nhiệm vụ cấp bách, 4