lOMoARcPSD| 61458992
Nhân học đại cương
Hôn nhân là gì? Chức năng của hôn nhân. Cho các thí dụ.
1. Khái niệm:
- Hôn nhân là sự giao kết giữa nam nữ được hợp thức hóa bởi các
tập quán pháp luật của hội, nhằm chung sống khác giới tính với nhau
để tái sản xuất ra con người, từ đó sản sinh ra những quyền hạn và trách
nhiệm của vợ chồng trong mối quan hệ với nhau con cháu của họ. -
người nêu định nghĩa khác: Hôn nhân còn được hiểu một liên minh tình
dục kinh tế được xã hội thừa nhận , liên quan đến việc gắn lâu dài
giữa hai người trở lên. Những ngườiynhiệm vụ làm cha mẹ đối với
một đứa trẻ được sinh ra từ liên minh đó.
- Các nhà nhân học đồng ý với nhau rằng, một hôn nhân thường liên
quan đến:
+ Một nền văn hóa được xác định một quan hệ giữa một người đàn ông và
một người phụ nữ từ các gia đình khác nhau, nó quy định thông qua quan
hệ tính giao và duy trì nòi giống.
+ Một tập hợp các quyền lợi của vợ chồng và gia đình của h đối với nhau,
bao gồm quyền chăm sóc đối với con cái của họ.
+ Quy định các trách nhiệm tuân thủ truyền thống văn hóa của các cặp vợ
chồng hoặc của họ đối với con thân thuộc cả phân công lao động
trong một gia tộc.
2. Các chức năng của hôn nhân.
A, Hợp thức hóa quan hệ tình dục:
- Trong các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ tình dục một thành phần
quan trọng. Bởi vì trong nhiều xã hội, hôn nhân là điều kiện tiên quyết
chính thức để bắt đầu hoạt động tình dục. Sự ham muốn tình dục một
động cơ mạnh mẽ thúc đẩy tới hôn nhân.
lOMoARcPSD| 61458992
- Tuy nhiên có các mối quan hệ tình dục có thể tồn tại mà không cần
đến sự chung thủy hoặc cam kết gắn lâu dài. Trong mối quan hệ tình
dục người ta thừa nhận các mối quan hệ tình dục hợp pháp ngoài hôn nhân.
+ dụ: Tại VN, Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 đã bãi bỏ
quy định cấm qua hệ tình dục ngoài hôn nhân. Trước đây, theo Điều 142
Bộ luật hình snăm 1999, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hành vi vi
phạm đạo đức và thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo hoặc không giam giđến
3 năm hoặc phạt t6 tháng đến 3 năm. Tuy nhiên, quy định này đã được
bãi bỏ theo Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015.
B, Thiết lp các gia đình ht nhân mớixác định quyền lợi, nghĩa vụ của
các thành viên.
- Việc kết hôn sẽ tạo ra một gia đình mới lợi ích của các thành viên,
không chỉ có vợ và chồng mà còn có con cái họ sinh ra.
+ dụ: về gia đình mình: quyền lợi (được yêu thương, tôn trọng
chăm sóc; được tham gia vào các quyết định của gia đình; được phát triển
bản thân theo đuổi ước mơ) nghĩa vụ (yêu thương, tôn trọng chăm
sóc lẫn nhau; tham gia vào các công việc chung của gia đình; giúp đỡ nhau
trong học tập, công việc và cuộc sống)
- Tập quán hôn nhân vốn rất đa dạng các dân các dân tộc,
nhưng trong từng hội hôn nhân đã thể chế a những quyền lợi nghĩa
vụ cụ thể cho những thành viên trong gia đình.
C, Tạo lập các liên minh họ hàng.
- Những người có quan hệ huyết thống của một đôi vợ chồng không
nên hay ítn dính líu đến cuộc hôn nhân của hai người đó, nhưng thực tế
2
sự liên quan sâu sắc kéo dài của những người họ hàng được xem
chuyện đương nhiên trong nhiều xã hội.
lOMoARcPSD| 61458992
- Những người có quan hệ với nhau qua hôn nhân là những người họ
hàng thân thích.
- Thông qua hôn nhân tạo ra các mối dây ràng buộc này gọi liên
minh thích tộc nhằm thể hiện những chức năng: sinh tồn, chính trị, pháp
luật, kinh tế và xã hội vì lợi ích của những người liên quan.
- Mối quan hệ họ hàng thân thích vừa mang ý nghĩa về mặt hội,
kinh tế, chính trị vừa chi phối phong tục lễ nghi qua việc chuyển giao hàng
hóa, dịch vụ giữa người chồng, vợ và các thành viên trong gia đình.
+ Sính lễ: tài sản được chuyển từ gia đình chú rể đến gia đình
nhà cô dâu vào đám cưới. Có thể là động vật, tiền bạc, nhà cửa, trang sức
hay quần áo được coi là giá trị cao trong hội. VD: VN sính lễ
thường là trầu cau, rượu, bánh kẹo, lợn, gà,... TQ sính lễ thườngvàng
bạc, tiền mặt, vải vóc,...
+ Tục ở rể: Là một hình thức đền bù khác cho gia đình cô dâu dưới
hình thức lao động của chú rể. Nó đặc biệt phổ biến trong hội của người
du mục là người không có sự tích lũy tài sản cần thiết cho việc chi trả quà
sính lễ. VD: Ở VN, tục rể thường được thực hiện các dân tộc thiểu số
như Mường, Tày; các chàng rể thường phải ít nhất 1 năm, thậm chí
nhiều năm. TQ, tục này được thực hiện một số vùng như Tứ Xuyên,
Quỳ Châu và các chàng rể cũng phải ở ít nhất 1 năm.
+ Của hồi môn: phần của cải cha mẹ bên vợ cho con gái của mình
đi lấy chồng hoặc gia đình nhà chồng cho con dâu. Thường hàng hóa,
nữ trang, đồ vàng bạc đồ gia dụng hay gia súc,.. VD: Ở VN của hồi môn
thường vàng, bạc, tiền mặt, quần áo, giày dép, đồ dùng sinh hoạt, đồ
dùng trang trí nhà cửa,...
4

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61458992
Nhân học đại cương
Hôn nhân là gì? Chức năng của hôn nhân. Cho các thí dụ.
1. Khái niệm: -
Hôn nhân là sự giao kết giữa nam và nữ được hợp thức hóa bởi các
tập quán và pháp luật của xã hội, nhằm chung sống khác giới tính với nhau
để tái sản xuất ra con người, từ đó sản sinh ra những quyền hạn và trách
nhiệm của vợ chồng trong mối quan hệ với nhau và con cháu của họ. - Có
người nêu định nghĩa khác: Hôn nhân còn được hiểu là một liên minh tình
dục và kinh tế được xã hội thừa nhận , liên quan đến việc gắn bó lâu dài
giữa hai người trở lên. Những người này có nhiệm vụ làm cha mẹ đối với
một đứa trẻ được sinh ra từ liên minh đó. -
Các nhà nhân học đồng ý với nhau rằng, một hôn nhân thường liên quan đến:
+ Một nền văn hóa được xác định một quan hệ giữa một người đàn ông và
một người phụ nữ từ các gia đình khác nhau, nó quy định thông qua quan
hệ tính giao và duy trì nòi giống.
+ Một tập hợp các quyền lợi của vợ chồng và gia đình của họ đối với nhau,
bao gồm quyền chăm sóc đối với con cái của họ.
+ Quy định các trách nhiệm tuân thủ truyền thống văn hóa của các cặp vợ
chồng hoặc của họ đối với bà con thân thuộc và cả phân công lao động trong một gia tộc.
2. Các chức năng của hôn nhân.
A, Hợp thức hóa quan hệ tình dục: -
Trong các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ tình dục là một thành phần
quan trọng. Bởi vì trong nhiều xã hội, hôn nhân là điều kiện tiên quyết và
chính thức để bắt đầu hoạt động tình dục. Sự ham muốn tình dục là một
động cơ mạnh mẽ thúc đẩy tới hôn nhân. lOMoAR cPSD| 61458992 -
Tuy nhiên có các mối quan hệ tình dục có thể tồn tại mà không cần
đến sự chung thủy hoặc cam kết gắn bó lâu dài. Trong mối quan hệ tình
dục người ta thừa nhận các mối quan hệ tình dục hợp pháp ngoài hôn nhân.
+ Ví dụ: Tại VN, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã bãi bỏ
quy định cấm qua hệ tình dục ngoài hôn nhân. Trước đây, theo Điều 142
Bộ luật hình sự năm 1999, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân là hành vi vi
phạm đạo đức và có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo hoặc không giam giữ đến
3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Tuy nhiên, quy định này đã được
bãi bỏ theo Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015.
B, Thiết lập các gia đình hạt nhân mới và xác định quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên. -
Việc kết hôn sẽ tạo ra một gia đình mới vì lợi ích của các thành viên,
không chỉ có vợ và chồng mà còn có con cái họ sinh ra.
+ Ví dụ: về gia đình mình: quyền lợi (được yêu thương, tôn trọng và
chăm sóc; được tham gia vào các quyết định của gia đình; được phát triển
bản thân và theo đuổi ước mơ) và nghĩa vụ (yêu thương, tôn trọng và chăm
sóc lẫn nhau; tham gia vào các công việc chung của gia đình; giúp đỡ nhau
trong học tập, công việc và cuộc sống) -
Tập quán hôn nhân vốn rất đa dạng ở các cư dân và các dân tộc,
nhưng trong từng xã hội hôn nhân đã thể chế hóa những quyền lợi và nghĩa
vụ cụ thể cho những thành viên trong gia đình.
C, Tạo lập các liên minh họ hàng. -
Những người có quan hệ huyết thống của một đôi vợ chồng không
nên hay ít nên dính líu đến cuộc hôn nhân của hai người đó, nhưng thực tế có 2
sự liên quan sâu sắc và kéo dài của những người họ hàng được xem là
chuyện đương nhiên trong nhiều xã hội. lOMoAR cPSD| 61458992 -
Những người có quan hệ với nhau qua hôn nhân là những người họ hàng thân thích. -
Thông qua hôn nhân tạo ra các mối dây ràng buộc này gọi là liên
minh thích tộc nhằm thể hiện rõ những chức năng: sinh tồn, chính trị, pháp
luật, kinh tế và xã hội vì lợi ích của những người liên quan. -
Mối quan hệ họ hàng thân thích vừa mang ý nghĩa về mặt xã hội,
kinh tế, chính trị vừa chi phối phong tục lễ nghi qua việc chuyển giao hàng
hóa, dịch vụ giữa người chồng, vợ và các thành viên trong gia đình.
+ Sính lễ: Là tài sản được chuyển từ gia đình chú rể đến gia đình
nhà cô dâu vào đám cưới. Có thể là động vật, tiền bạc, nhà cửa, trang sức
hay quần áo được coi là có giá trị cao trong xã hội. VD: ở VN sính lễ
thường là trầu cau, rượu, bánh kẹo, lợn, gà,... Ở TQ sính lễ thường là vàng
bạc, tiền mặt, vải vóc,...
+ Tục ở rể: Là một hình thức đền bù khác cho gia đình cô dâu dưới
hình thức lao động của chú rể. Nó đặc biệt phổ biến trong xã hội của người
du mục là người không có sự tích lũy tài sản cần thiết cho việc chi trả quà
sính lễ. VD: Ở VN, tục ở rể thường được thực hiện ở các dân tộc thiểu số
như Mường, Tày; các chàng rể thường phải ở ít nhất 1 năm, thậm chí là
nhiều năm. Ở TQ, tục này được thực hiện ở một số vùng như Tứ Xuyên,
Quỳ Châu và các chàng rể cũng phải ở ít nhất 1 năm.
+ Của hồi môn: Là phần của cải cha mẹ bên vợ cho con gái của mình
đi lấy chồng hoặc gia đình nhà chồng cho con dâu. Thường là hàng hóa,
nữ trang, đồ vàng bạc đồ gia dụng hay gia súc,.. VD: Ở VN của hồi môn
thường là vàng, bạc, tiền mặt, quần áo, giày dép, đồ dùng sinh hoạt, đồ
dùng trang trí nhà cửa,... 4