lOMoARcPSD| 58707906
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------***-------
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Hùng
Họ và tên sinh viên: Trần Minh Anh
Mã sinh viên: 11220616
Lớp chuyên ngành: Kinh tế Đầu tư 64C
HÀ NỘI – 02/2025
lOMoARcPSD| 58707906
Contents
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
1. Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................3
2. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................3
3. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................3
4. Kết cấu bài luận.......................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ
KỸ NĂNG TRONG AEC.....................................................................................5
1.1. Khái quát về tự do di chuyển lao động có kỹ năng..................................5
1.1.1. Khái niệm..........................................................................................5
1.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến việc tự do di chuyển lao động có kỹ năng. .5
1.1.3. Xu hướng di chuyển lao động có kỹ năng trên thị trường lao động
quốc tế...........................................................................................................6
1.1.4. Tác động của tự do di chuyển lao động kỹ năng............................6
1.2. Khái quát sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)....................7
1.2.1 Sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).........................7
1.2.2. Mục tiêu phát triển của AEC..............................................................8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ K
NĂNG TRONG AEC..........................................................................................10
2.1. Các chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC............10
2.2. Thực thi chính sách ASEAN vtự do di chuyển lao động có kỹ năng....12
2.2.1. Những điểm nổi bật chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động
có kỹ năng....................................................................................................12
2.2.2. Những điểm hạn chế chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động
có kỹ năng....................................................................................................14
2.3. Thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC...................15
2.3.1. Tổng quan thị trường lao động ASEAN............................................15
2.3.2. Tác động tự do di chuyển lao động đến các nước thành viên ASEAN
.....................................................................................................................15
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆT NAM VỀ THI
HÀNH CHÍNH SÁCH TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG
TRONG AEC GIAI ĐOẠN 2019-2023..............................................................18
3.1. Thực trạng tình hình xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động kỹ
năng của Việt Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023.. 18
3.1.1 Thực trạng chất lượng lao động Việt Nam.........................................18
3.1.2. Xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động có kỹ năng của Việt
Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023...........................19
3.2. Điểm mạnh của lao động Việt Nam.........................................................21
3.2.1. Tính cần cù, chăm ch........................................................................21
lOMoARcPSD| 58707906
3.2.2. Sức khỏe tốt.......................................................................................21
3.2.3. Lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động hợp .......................21
3.2.4. Khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tốt............................................22
3.2.5. Đa dạng trong ngành nghề................................................................22
3.2.6. Khả năng thích nghi văn hóa............................................................22
3.3. Điểm yếu của lao động Việt Nam............................................................22
3.3.1. Người lao động có ý thức kỷ luật kém; tác phong làm việc thiếu
chuyên nghiệp..............................................................................................22
3.3.2. Một bộ phận lao động Việt Nam còn nhận thức chưa cao, nhẹ dcả
tin dễ bị các đối tượng mua chuộc, lừa đảo, nhập cảnh trái
phép..............23
3.3.3. Việt Nam còn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao...................26
3.3.4. Lao động Việt Nam còn thiếu các kỹ năng chuyên môn....................26
3.3.5. Khả năng ngoại ngữ của người việt còn hạn chế..............................26
3.4. hội của chính sách tự do di chuyển lao động kỹ năng theo
AEC đối
với Việt Nam...................................................................................................27
3.5. Thách thức của chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng theo
AEC đối với Việt Nam....................................................................................28
3.5.1. Thách thức về trình độ chuyên
môn..................................................28
3.5.2. Thách thức về sự khác biệt văn
hóa..................................................29
3.5.3. Thách thức từ sự khác biệt về pháp
luật............................................29 3.6. Giải pháp nâng cao khả năng thực thi
chính sách tự do di chuyển lao động kỹ năng theo AEC của Việt
Nam......................................................30
3.6.1. Với chính
phủ....................................................................................30
3.6.2. Với doanh
nghiệp..............................................................................30 KẾT
LUẬN........................................................................................................
.32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................33
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được
thành lập nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên thông qua việc
tự do hóa các lĩnh vực kinh tế, thương mại, dịch vụ đặc biệt là lao động kỹ năng.
Chính sách tự do di chuyển lao động kỹ năng trong AEC đóng vai trò quan trọng
lOMoARcPSD| 58707906
trong việc tăng ờng tính cạnh tranh kinh tế, nâng cao năng suất lao động, thu hút
nhân tài cho các nước thành viên.
Việt Nam quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào nhưng vẫn còn nhiều thách thức
trong việc đào tạo phát triển nguồn lao động kỹ năng. Khi chính sách tự do di
chuyển lao động trong AEC được thực thi, cơ hội việc làm cho lao động Việt Nam tại
các nước ASEAN sẽ ng lên, đồng thời Việt Nam cũng thể thu hút lao động nước
ngoài có chuyên môn cao. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh khốc liệt giữa
lao động trong nước với lao động quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện chất lượng
đào tạo nâng cao năng lực của lực lượng lao động. Chính sách này không chỉ tác động
trực tiếp đến thị trường lao động còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế
chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam. Việc nắm bắt hội tchính sách tự do
di chuyển lao động kỹ năng sgiúp Việt Nam tiếp cận những công nghệ, kiến thức
mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nếu không giải pháp thích hợp, Việt
Nam thể đối mặt với nguy "chảy máu chất xám" khi nhân tài chuyển sang các
quốc gia phát triển hơn trong khu vực ASEAN. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các
giải pháp để tận dụng tối đa cơ hội giảm thiểu thách thức của chính sách tự do di
chuyển lao động kỹ năng trong AEC cần thiết cấp thiết, có ý nghĩa luận
thực tiễn cao.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của đề tài này là chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng
trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), với trọng m tác động giải
pháp đối với Việt Nam. Cụ thể hơn, đề tài sẽ tập trung vào:
Nghiên cứu các quy định, chính sách hiện hành của AEC liên quan đến di chuyển
lao động có kỹ năng giữa các quốc gia thành viên ASEAN, tác động của chính sách này
đến Việt Nam và các nước thành viên AEC.
Nghiên cứu khả năng và trình độ chuyên môn của lao động Việt Nam khi tham gia
vào thị trường lao động khu vực AEC, bao gồm các thách thức và cơ hội mà họ đối mặt
khi di chuyển sang các quốc gia thành viên khác trong khu vực. Đánh giá tình hình thực
hiện chính sách tự do di chuyển lao động của Việt Nam, xác định những thuận lợi, khó
khăn các vấn đề cần giải quyết. Đề xuất các giải pháp cụ thể để Việt Nam tận dụng
tối đa hội giảm thiểu thách thức trong quá trình thực hiện chính sách tự do di
chuyển lao động.
3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, bài luận nghiên cứu chính sách tự do di chuyển lao động kỹ
năng trong phạm vi các quốc gia thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đặc
biệt là c quốc gia thị trường lao động phát triển nhu cầu cao về lao động kỹ
năng như Singapore, Malaysia, Thái Lan, nơi lao động Việt Nam nhiều hội
nhưng cũng đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Đối với Việt Nam, bài luận sẽ tập trung
vào những ngành nghề có kỹ năng đang được AEC tự do hóa, các ngành có nhu cầu cao
về nguồn nhân lực chất lượng.
Về thời gian, bài luận khảo sát thực trạng tự do di chuyển lao động kỹ năng
trong AEC và Việt Nam giai đoạn 2019-2023 và xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả
của chính sách cho những năm tới.
4. Kết cấu bài luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, bài luận
được chia thành 03 chương:
lOMoARcPSD| 58707906
Chương 1: Cơ sở lý luận về tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC
Chương 2: Thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC
Chương 3: Thực trạng của Việt Nam về thi hành chính sách tự do di chuyển lao
động có kỹ năng trong AEC.
lOMoARcPSD| 58707906
CHƯƠNG 1: SỞ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1.1. Khái quát về tự do di chuyển lao động có kỹ năng
1.1.1. Khái niệm
Lao động hoạt động của con người, tạo ra của cải vật chất giá trị tinh thần
cho cá nhân, xã hội nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của
con người.
Lao động kỹ năng là lao động c kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng nhận thức, kỹ
năng xã hội và hành vi phù hợp với ngành nghề cụ thể.
Tự do di chuyển lao động kỹ năng việc người lao động có trình độ chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp nhất định được phép tự do di chuyển giữa các quốc gia thành
viên trong một khối kinh tế để tìm kiếm việc làm làm việc mà không bị hạn chế bởi
các quy định về visa lao động hoặc giấy phép làm việc.
1.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến việc tự do di chuyển lao động có kỹ năng
Nhân tố bên trong
- Cung cầu thị trường lao động: Sự dư thừa hay thiếu hụt lao động ở từng
ngành hay toàn bộ thị trường đều ảnh hưởng gây lực kéo – đẩy mạnh đối với các
quốc gia tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế. Sự mất cân đối cung cầu trong thị
trường lao động quốc gia càng lớn thì xu hướng di chuyển càng lớn. Tuy nhiên,
đặc điểm của thị trường lao động quốc gia mới chỉ ảnh hưởng tới dòng di chuyển
lao động quốc tế nói chung.
- Chi phí di cư, chi phí cơ hội khi di chuyển lao động có kỹ năng: Chi phí
di gồm chi phí dành cho việc làm thủ tục hành chính để di chuyển sang
nước khác, chi phí di chuyển, chi phí đảm bảo cuộc sống tại nước đó để thực hiện
cung lao động chi phí trở về. Chi phí y đâu càng thấp thì sẽ khiến cho
người lao động càng động lực di chuyển tới đó. Đây cũng yếu tố thúc đẩy
di chuyển lao động nội khối phát triển bởi đặc thù của một khối kinh tế luôn
sự hợp tác, liên kết cao giữa các nước thành viên làm giảm những chi phí về thủ
tục hành chính cho sự di chuyển lao động.
- Chính sách thúc đẩy xuất khẩu, thu hút nhập khẩu lao động kỹ năng:
Mỗi quốc gia đều chính sách khác nhau về xuất nhập khẩu lao động. Các chính
sách thúc đẩy xuất khẩu thu hút nhập khẩu lao động được xây dựng dựa trên
điều kiện kinh tế - hội - chính trị quốc gia, quan điểm, định hướng phát triển
đất ớc, đặc điểm của thị trường lao động quốc gia những cam kết về di
chuyển lao động với các nước khác. Ngược lại, những chính sách về xuất nhập
khẩu lao động của một quốc gia lại ảnh hưởng tới mức độ tham gia di chuyển lao
động của nước đó.
Nhân tố bên ngoài
- Toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa đặt các nước vào mối quan hệ kinh tế quốc
tế trên sở hợp tác cùng có lợi. Từ đó, những quan hệ di chuyển hàng hóa, dịch
vụ các nguồn lực được hình thành. Tn cầu hóa ảnh hưởng rất lớn tới chiến
lược chính sách di chuyển lao động quốc tế của các quốc gia trên thế giới, tiến
tới xây dựng những thể chế, cách thức quản lý và hợp tác lao động.
- Trình đphát triển của các quốc gia: Trình độ phát triển của các quốc
gia ảnh hưởng nhiều tới sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối ở mọi khía
cạnh từ quy mô, cấu lao động tới hình thức di chuyển, sự hợp tác giữa các
lOMoARcPSD| 58707906
nước và quản lý lao động di chuyển. Với trình độ phát triển cao trong toàn khối,
mức lương trung bình nội khối cao tương đối so với ngoại khối thì di chuyển lao
động nội khối có xu hướng được đẩy mạnh.
- Trình độ giáo dục đào tạo của các quốc gia thành viên trong khối: Trình
độ giáo dục đào tạo của các quốc gia cũng ảnh hưởng không nhỏ tới di chuyển
lao động. Những quốc gia trình độ giáo dục đào tạo cao thì thường chất lượng
lao động nói chung cao tương đối so với các nước khác. Những lao động này
được thường chào đón trên thị trường. Những quốc gia trình độ giáo dục
đào tạo thấp sẽ khiến chất lượng lao động có chuyên môn ít và dư thừa lao động
phổ thông. Các nước này khi tham gia vào di chuyển lao động thường xu
hướng gửi lao động trình độ chuyên môn thấp nhận lao động chuyên môn cao.
- Chính sách an sinh xã hội cho người tham gia vào di chuyển lao động:
Chính sách an sinh hội cho người lao động di chuyển đề cập đến quyền được
hưởng sự an toàn, đảm bảo thu nhập và chăm sóc y tế. Các quốc gia chính
sách an sinh hội khác nhau đối với người lao động nước ngoài y theo điều
kiện kinh tế - chính trị - xã hội và quan điểm, định hướng đối với xuất nhập khẩu
lao động. Các dòng di chuyển lao động thường hướng tới những quốc gia
chính sách an sinh xã hội tốt hơn những quốc gia khác.
1.1.3. Xu hướng di chuyển lao động có kỹ năng trên thị trường lao động quốc
tế
Số lượng lao động kỹ năng di chuyển qua các biên giới quốc gia ngày càng
tăng. Điều này được thúc đẩy bởi sự toàn cầu hóa kinh tế, sự phát triển của công nghệ
thông tin nhu cầu ngày càng lớn về nhân lực chất lượng cao ở các nền kinh tế phát
triển.
Không chỉ tập trung vào các ngành truyền thống như y tế, công nghệ thông tin, mà
lao động kỹ ng còn chuyển sang nhiều lĩnh vực mới như tài chính, quản lý, khởi
nghiệp…Các quốc gia ngày càng tăng cường hợp tác để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
di chuyển lao động kỹ năng, thông qua các hiệp định thương mại tự do, các chương
trình trao đổi lao động… Công nghệ số phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm
kiếm việc làm, kết nối nhà tuyển dụng và người lao động trên toàn cầu.
1.1.4. Tác động của tự do di chuyển lao động có kỹ năng
Tác động tích cực
- Cải thiện đời sống người lao động, gia tăng thu nhập quốc gia: Lao
động khi di chuyển ra nước ngoài thường thu nhập ròng cao hơn so với làm
việc trong nước. Đây là giá trị được trả để họ sẵn sàng chấp nhận việc di cư. Nhờ
đó, những người lao động di chuyển thường có những khoản kiều hối gửi về cho
gia đình mình. Đây là nguồn ngoại tệ chảy vào các nước gửi lao động, đóng góp
vào cán cân thanh toán của nhiều nước đang phát triển. Đối với quốc gia gửi lao
động, kiều hối cũng nguồn thu nhập ổn định để cải thiện cuộc sống của gia
đình người di gia nhập vào nguồn vốn đầu cho tăng trưởng kinh tế đất
nước.
- Thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia: Trong
môi trường làm việc hiện đại, khoa học tiên tiến, người lao động được tiếp cận,
ứng dụng khoa học công nghệ vào công việc. Điều này khiến cho trình độ và kỹ
năng nghề nghiệp của người lao động sẽ dần được nâng cao. Khi quay trở về
lOMoARcPSD| 58707906
nước, họ mang những kinh nghiệm, kiến thức đã tích lũy được trong quá trình
làm việc nước ngoài về áp dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh nước nhà.
Tác động tiêu cực
- Chảy máu chất xám: Do sự chênh lệch về thu nhập và mức sống ở trong
ngoài nước, những người lao động có tay nghề xu ớng di chuyển sang
các nước khác có thu nhập cao hơn. Với xu hướng di chuyển lao động hiện nay,
luồng di chuyển lao động kỹ năng cao từ các nước kém phát triển hơn sang những
nước khác đang ngày càng lớn gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” tại nước
gửi lao động, giảm lực lượng lao động có trình độ cao trong nước và gây tổn thất
về chi phí đào tạo của các nước gửi lao động.
- Phân biệt đối xử: Những người lao động nhập mang theo những văn
hóa tốt cũng như xấu vào nước nhận lao động gây ra những bất đồng giữa các
nhóm người. Sự phân biệt đối xử cũng diễn ra thường xuyên giữa người bản địa
lao động nhập cư m phát sinh những mâu thuẫn lớn. Các căng thẳng xung
đột dân tộc có thể xảy ra đe dọa kinh tế và sự ổn định xã hội.
- Thay đổi về thu nhập và chi tiêu: Số lượng lao động nhập khẩu càng cao
thì nhu cầu tiêu dùng ng lớn. Nếu như điều này làm thúc đẩy sản xuất hàng hóa
hay dịch vụ thì lại gây áp lực tăng giá đối với việc thuê, mua nhà cửa. Lao
động nhập khẩu tác động đối với các khoản tiền lương của người lao động bản
địa trong một giới hạn nhất định. Sự mặt của người lao động nhập đã làm
giảm khan hiếm lao động trên thị trường khiến cho các doanh nghiệp thể hạ
lương thuê mướn nhân công. Thậm chí, do mức độ đáp ứng yêu cầu của các chủ
lao động cao của người lao động nhập cư, mức lương của họ còn cao hơn mức
lương của người lao động bản địa. Số tiền này một phần sẽ trở thành kiều hối
chuyển về nước gửi lao động làm giảm tổng thu nhập quốc dân của nước nhận.
1.2. Khái quát sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)
1.2.1 Sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - AEC) là một trong
ba trụ cột chính của Cộng đồng ASEAN, cùng với Cộng đồng Chính trị - An ninh
(APSC) Cộng đồng Văn hóa - hội (ASCC), được thiết lập dựa trên nền tảng bền
vững của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Năm 2003, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu
tiên tuyên bố mục tiêu phát triển, hình thành một Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
Mục tiêu này phù hợp với tầm nhìn ASEAN năm 2020 đã được thông qua vào năm 1997
với mục tiêu phát triển ASEAN thành một cộng đồng ASEAN.
Năm 2006, tại cuộc họp các Btrưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38 tổ chức tại Kuala
Lumpur, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với mục
tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC.
Năm 2007, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN
đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay năm 2020 như kế hoạch
ban đầu.
Vào ngày 22/11/2015, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nlãnh
đạo ASEAN đã ký kết tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC và thông qua kế
hoạch tổng thể AEC năm 2025.
lOMoARcPSD| 58707906
1.2.2. Mục tiêu phát triển của AEC
Trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC đến năm 2015 (AEC Blueprint 2003)
đề cập đến 04 mục tiêu chính phát triển Cộng đồng AEC, thể hiện rõ quan điểm đã được
khẳng định trong Tuyên bố hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II): "Tạo dựng một khu vực
kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng cạnh tranh cao, nơi sự di chuyển tự do của
hàng hóa, dịch vụ đầu tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế
đồng đều giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế - hội ". Cụ thể
như sau:
Hình thành một thị trường đơn nhất sở sản xuất chung: Thông qua việc cho
phép tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn lao động tay nghề, giúp AEC
tăng cường khả năng cạnh tranh đối với nền kinh tế khác trong khu vực trên Thế giới.
Thuế quan sẽ được loại bỏ hàng rào phi thuế quan cũng dần được dỡ bỏ. Các nhà đầu
từ các nước thành viên trong ASEAN thể tự do đầu trong khu vực không
phải chịu sự chi phối của bất kỳ yêu cầu ràng buộc hay hàng rào bảo hộ đặc biệt nào.
AEC hình thành tạo dòng chảy lưu chuyển tự do những chuyên gia và lao động tay
nghề trong khu vực, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh ngày càng chuyên môn
hóa tại các quốc gia, giúp giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Hình thành một khu vực kinh tế cạnh tranh: Cộng đồng kinh tế ASEAN với mục
tiêu hình thành nên một khu vực kinh tế bình ổn, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh
cao, ưu tiên 6 yếu tố cốt lõi: các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu
dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển sở hạ tầng, thuế quan thương mại điện tử.
AEC cam kết thúc đẩy một văn hóa cạnh tranh bình đẳng, công bằng thông qua việc đưa
ra hàng loạt chính sách luật cạnh tranh để tạo một sân chơi cho các thành viên ASEAN
tính hiệu quả cao.
Phát triển kinh tế công bằng: Khuôn khổ AEC đối với sự phát triển của doanh
nghiệp vừa nhỏ nhằm mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ thông qua việc tăng cường tiếp cận thông tin, tài chính, công nghệ và nguồn
nhân lực chất lượng cao. Những sáng kiến này nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách
giữa các nước thành viên ASEAN tăng ờng hợp tác kinh tế giữa nhóm nước CLMV
(Lào, Campuchia, Myanmar Việt Nam) nhằm đảm bảo tất cả các nước đều được
hưởng lợi từ quá trình hội nhập kinh tế.
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu: ASEAN hoạt động trong một môi trường
tính toàn cầu ngày càng gia tăng, với một thị trường rộng lớn phụ thuộc lẫn nhau và các
ngành công nghiệp đang dần toàn cầu hóa.vậy, nhiệm vụ của AEC vượt ra ngoài
phạm vi biên giới lãnh thổ để xem xét những quy định bên ngoài khu vực có liên quan
đến việc hình thành những chính sách đối với AEC.
Như vậy, AEC chính là sự đẩy mạnh những cơ chế liên kết của ASEAN, thông qua
Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch
vụ (AFAS), Khu vực đầu ASEAN (AIA), hay Hiệp định về di chuyển thể nhân (MNP)
và thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs),...
lOMoARcPSD| 58707906
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG
TRONG AEC
2.1. Các chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC.
Với việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, ASEAN
đã đạt được một dấu mốc quan trọng trong quá trình hội nhập chính trị, kinh tế văn
hóa ngày càng tăng của khu vực. Như đã đề ra trong Kế hoạch chi tiết kinh tế ASEAN
năm 2007, AEC tìm cách “biến ASEAN thành một khu vực có sự luân chuyển tự do của
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và dòng vốn tự do hơn”.
Trong những năm gần đây, số ợng lao động kỹ năng tại ASEAN sự tăng
trưởng rệt. Cùng với đó hiện tượng chảy máu chất xám, khi nguồn nhân lực chất
lượng cao trong khối lại mong muốn phát triển nghề nghiệp tại một quốc gia mang lại
hội tốt hơn với mức sống cao hơn.Điều này gây ra sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực
chất lượng cao trong ASEAN. Khi một thị trường lao động tự do trong ASEAN được
thành lập, doanh nghiệp các nước cần tăng khả năng cạnh tranh thu hút người tài. Điều
này sẽ làm giảm hiện tượng chảy máu chất m. Việc thành lập thị trường lao động tự
do AEC vô cùng thuận lợi vì các nước có sự gần gũi về mặt văn hóa và địa lý. Bên cạnh
đó, các nước ASEAN đều thành viên của WTO - đều cam kết c điều khoản trong
GATS FTAs. Trong đó điều khoản về đầu dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự di chuyển của mỗi nhân. Như vậy thể nói, việc thành lập một thị trường lao
động tự do trong nội khối ASEAN không đơn thuần để thỏa mãn nhu cầu của sự phát
triển kinh tế, mà còn là nghĩa vụ đối với các cam kết ASEAN.
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã đưa ra nhiều chính sách để thúc đẩy tự do
di chuyển lao động kỹ năng giữa các quốc gia thành viên nhằm tăng cường sự hội
nhập kinh tế khu vực. Các chính sách này tập trung vào việc tạo điều kiện cho lao động
có kỹ năng di chuyển dễ dàng hơn, đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng an
toàn lao động.
Thứ nhất, Hiệp định khung ASEAN trong ngành dịch vụ (AFAS) được ký kết năm
1995. Hiệp định này đã ghi nhận tầm quan trọng của các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau
(MRAs) trong việc hội nhập toàn bộ ngành dịch vụ trong ASEAN. Thỏa thuận thừa nhận
lẫn nhau (MRAs)các cam kết giữa các nước trong cộng đồng ASEAN đưa ra các
chế thỏa thuận về tính đương đương của các thủ tục chứng nhận và trình độ chuyên môn
của lao động trong toàn ASEAN trên một số lĩnh vực nhất định. Theo đó cho phép chứng
chỉ của lao động được cấp bởi quan chức năng ơng ứng tại một quốc gia sẽ được
thừa nhận bởi các nước thành viên trong khu vực. Có thể thấy MRAs đóng vai trò thúc
đẩy quá trình di chuyển, cũng như tạo điều kiện phát triển năng lực ơng đương của
người lao động trong khu vực ASEAN. Đây là cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
ra đời của các cam kết về di chuyển lao động có kỹ năng sau này của ASEAN.
Thứ hai, Tuyên bố Bali II (2003) cùng với việc đưa ra khái niệm AEC, Tuyên bố
cũng đã định dạng hình của AEC bao gồm bốn nội dung bản, trong đó nội
dung về thiết lập ASEAN như là một thị trường chung và trên cơ sở sản xuất, chuyển sự
đa dạng mang tính đặc điểm của khu vực thành những hội kinh doanh từ đó giúp
ASEAN trở thành một mắt xích năng động mạnh mẽ của dây chuyền cung cấp thương
mại toàn cầu. ASEAN sẽ xây dựng những chế biện pháp mới nhằm tăng cường
mạnh mẽ việc thực hiện các sáng kiến, thúc đẩy hội nhập khu vực trong các lĩnh vực ưu
tiên; tạo thuận lợi cho việc di chuyển của các doanh nhân, lao động có kỹ năng và nhân
tài.
lOMoARcPSD| 58707906
Thứ ba, Hiến chương ASEAN (2007), đã bổ sung thêm nội dung doanh nhân,
chuyên gia, nhân tài và lao động được di chuyển thuận lợi” so với Tuyên bố Bali II.
Thứ , Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC Lộ trình chiến lược AEC (2007) đã
cụ thể hóa nội dung về di chuyển doanh nhân, chuyên gia, nhân tài tại Hiến chương
ASEAN thành một trong bốn nội dung tự do hóa các yếu tố sản xuất của thị trường;
trong đó tự do di chuyển lao động kỹ năng nằm trong nội dung xây dựng một thị
trường và cơ sở sản xuất thống nhất.
Thứ năm, Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân (MNP) (2012). Đây một
thỏa thuận toàn diện về thương mại dịch vụ theo phương thức 4 (hiện diện thể nhân),
tạo lập một khuôn khổ pháp thúc đẩy việc di chuyển tạm thời qua biên giới của các
thể nhân tham gia vào các hoạt động thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, từ đó đẩy
nhanh quá trình tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động kỹ năng
trong khu vực, góp phần vào việc hình thành một thị trường sở sản xuất thống nhất
ASEAN. Theo khoản 1 điều 2 của Hiệp định MNP thì hiệp định này chỉ áp dụng cho 4
nhóm thể nhân sau đây: (1) Du khách kinh doanh, (2) Những người di chuyển trong nội
bộ doanh nghiệp, (3) Các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và (4) Một số trường hợp
khác được quy định trong biểu cam kết. Hiệp định về di chuyển thể nhân bao gồm tất cả
các lĩnh vực dịch vụ, không bao gồm các lĩnh vực phi dịch vụ, nêu ra rằng “các quốc gia
cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển thể nhân, hướng tới tự do hóa lao động
có kỹ năng trong ASEAN”.
Thứ sáu, các quy định về di chuyển lao động trong AEC. Về an ninh chính trị AEC
sẽ tăng cường giải pháp để chống lại nạn buôn bán người bảo vệ nạn nhân của tình
trạng buôn bán người. Đối với tự do di chuyển lao động có kỹ năng, các quốc gia thành
viên cho phép và tạo thuận lợi trong việc nhập cảnh cho các tự nhiên nhân tham gia vào
thương mại hàng a, dịch vụ đầu trong khu vực. ASEAN đã xây dựng Khung
Tham chiếu Trình độ ASEAN (AQRF), đóng vai trò nmột công cụ chuyển đổi, cho
phép so sánh trình độ, bằng cấp giữa các quốc gia thành viên. Đây nền tảng cho việc
công nhận trình độ đảm bảo chất lượng lao động thông qua giáo dục. Mỗi quốc gia
cần xây dựng Khung tham chiếu trình độ quốc gia phù hợp với Khung tham chiếu trình
độ của khu vực nhằm đảm bảo trình độ lao động của quốc gia tương đương với các quốc
gia còn lại. Hiện nay có khoảng 140 quốc gia trên thế giới khung trình độ quốc gia,
rất nhiều ớc đang phát triển trong khu vực Đông Á như Malaysia, Indonesia
Philippines đã hoàn thiện những bước căn bản của tiến trình.
Thứ bảy, các quy định pháp luật của ASEAN về bảo vệ quyền của lao động di trú.
Trong nhiều năm, các quốc gia ASEAN đã hợp tác với nhau nhằm tăng cường công tác
quản lý divà bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người di cư. Những điều này được
đề cập trong Tuyên bố ASEAN về Bảo vệ Quyền của Lao động di trú, Diễn đàn ASEAN
về Lao động di cư, cuộc họp thường niên của đại diện Chính phủ, các tổ chức của người
lao động và tổ chức của người sử dụng lao động, đại diện của các tổ chức xã hội dân sự.
Ngoài ra, Tuyên bố của ASEAN về Bảo vệ thúc đẩy các Quyền của Lao động
di trú Dự thảo văn kiện khung của ASEAN về bảo vệ thúc đẩy quyền của người
lao động di trú hai văn kiện quan trọng đánh dấu bước tiến mới của Cộng đồng
ASEAN trong việc nhận thức tầm quan trọng của người lao động di trú cũng như việc
bảo vệ các quyền của họ, và mang tính định hướng cho quá trình xây dựng và thực hiện
các văn kiện khác có liên quan đến vấn đề người lao động di trú.
lOMoARcPSD| 58707906
Tuyên bố Cebu về lao động di cư kêu gọi cả nước gửi và nước tiếp nhận lao động
cùng thúc đẩy “toàn bộ tiềm năng phẩm giá của lao động di trong không khí tự
do, bình đẳng và ổn định” theo pháp luật trong nước. Ở nước tiếp nhận lao động, tuyên
bố nhấn mạnh “bảo vệ việc làm, trả lương công bằng phù hợp, tăng khả năng tiếp cận
đầy đủ với điều kiện sống và làm việc bền vững cho lao động di cư” (Điều 8). Tuyên bố
này cũng yêu cầu “các quan hữu quan trong ASEAN phải phát triển một công cụ
ASEAN đbảo vệ xúc tiến quyền của lao động di cư” qua đó giám sát tiến trình thông
qua Hội nghị Bộ trưởng ASEAN thường niên (Điều 22).
2.2. Thực thi chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động có kỹ năng
2.2.1. Những điểm nổi bật chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động có
kỹ năng
Thứ nhất, những quy định hiện hành về tự do di chuyển lao động ASEAN ơng
đối mở, cách tiếp cận về tự do di chuyển lao động nội khối di chuyển sự quản
và tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động kỹ năng. Cách tiếp cận trên góp
phần giúp các quốc gia duy trì chủ quyền trong lĩnh vực lao động; Nói cách khác, các
quốc gia thành viên chủ thể quyền quyết định đối với việc mở cửa thị trường lao
động của nước mình, trong khi đó ASEAN đóng vai trò hỗ trợ thiết lập cơ chế khu vực
nhằm tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động nội khối.
Việc kết MNP giữa các ớc thành viên đặt ra spháp nền tảng đối với
sự di chuyển tạm thời của thể nhân liên quan tới các hoạt động thương mại hàng hoá,
dịch vụ đầu . MNP quy định các vấn đề mang tính chất "khung" về các biện pháp
ảnh hưởng tới nhập cảnh và cư trú tạm thời lao động có kỹ năng thuộc 04 nhóm như đã
liệt trên. Trên sMNP, các quốc gia sđưa ra các cam kết cụ thể dựa trên quy
định của pháp luật quốc gia về thủ tục, tiêu chí nhập cảnh và cư trú tạm thời... Với cách
làm như vậy sẽ giúp cho quốc gia thể chủ động trong việc kiểm soát thể nhân cung
ứng dịch vụ trên lãnh thổ của mình thực tế các cam kết của các quốc gia thành viên
có sự đa dạng vphạm vi mức độ tiếp cận thị trường. Dựa trên biểu cam kết của 10
quốc gia thành viên về di chuyển thể nhân. Về đối tượng, hầu hết các cam kết tập trung
vào 2 đối tượng khách kinh doanh người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, một
số quốc gia như Việt Nam hay Campuchia bên cạnh 2 đối tượng trên còn đưa ra cam kết
đối với người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng. Về phạm vi cam kết, sự khác nhau
giữa các quốc gia như Brunei, Campuchia cam kết đối với 153 phân ngành, trong khi đó
Myanmar cam kết đối với 59 phân ngành. Về mức độ cam kết, có sự khác nhau về thời
gian được phép nhập cảnh lưu trú đối với từng đối tượng. Brunei đưa ra cam kết
người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp được lưu trú trong thời gian 03 năm,
Campuchia 02 năm Việt Nam 03 năm; trong khi đó Campuchia cam kết khách kinh
doanh thời gian u trú không quá 90 ngày, Indonesia 60 ngày và Việt Nam không quá
90 ngày.
Đối với AQRF, AQRF không hướng tới thiết lập một khung trình độ chung trong
khu vực, AQRF chỉ tác động mang tính chất trung lập lên khung trình độ quốc gia. Nói
cách khác, dựa trên AQRF các quốc gia sẽ xây dựng khung trình độ quốc gia tương ứng
với khung trình độ khu vực. Việc tham gia AQRF không mang tính bắt buộc mà dựa trên
sự tự nguyện của các quốc gia thành viên. Bên cạnh đó, AQRF không đòi hỏi phải thay
đổi khung trình độ quốc gia, tôn trọng cấu trúc đặc thù của khung trình độ quốc gia cũng
như quá trình tham gia của các quốc gia thành viên nhằm đáp ứng những ưu tiên của họ.
lOMoARcPSD| 58707906
Thứ hai, các quy định về tự do di chuyển lao động trong ASEAN thúc đẩy hải hòa
hóa các chính sách, quy định của quốc gia về tiêu chuẩn trình độ của người lao động.
Để thực hiện các biện pháp nhằm thúc đầy sự di chuyển của lao động nội khối, các quốc
gia thành viên cần phải chủ động trong việc thay đổi các chính sách, pháp luật trong
nước về lao động sao cho phù hợp như cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm đáp
ứng các tiêu chuẩn khu vực. dụ, để thực hiện MRA về dịch vvấn kỹ thuật,
Philippines đã ban hành và sửa đổi các đạo luật trong nước về kỹ sư như Chỉ thị số 157
về hành nghề kỹ hàng không tại Philippines, Luật số 318 về nh nghề kỹ sư hóa học,
Luật số 7920 về kỹ sư điện... Hoặc để thực hiện AQRF các quốc gia đã xây dựng khung
trình độ quốc gia sẽ tiếp cận theo phạm vi rộng sao cho các mức độ trong khung trình
độ quốc gia phù hợp nhất với các mức độ của AQRF, đối với những quốc gia chưa xây
dựng khung trình độ sẽ xác định được loại khung trình độ quốc gia hoặc các trình độ cốt
lõi sao cho phù hợp nhất với AQRF. Malaysia một trong những quốc gia thành viên
đã xây dựng Khung trình độ quốc gia (MQF - Malaysia Qualifications Framework) trước
khi có AQRF. Dự thảo MQF được Hội đồng Giáo dục Đại học quốc gia thông qua vào
năm 2003 và Chính phủ thông qua 2 năm sau đó tức là năm 2005. Kết quả của quá trình
tham chiếu giữa AQRF MQF thấy rằng MQF phù hợp tương đối tốt với AQRF tuy
nhiên còn một số điểm MQF cần phải thay đổi. Trên sở những khuyến nghị
Malaysia sẽ có sự điều chỉnh MQF sao cho phù hợp với các tiêu chí của AQRF.
2.2.2. Những điểm hạn chế chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động
kỹ năng.
Thứ nhất, xét về hình thức, các quy định về tự do di chuyển lao động ASEAN được
ghi nhận trong số ít điều ước quốc tế khu vực như Thỏa thuận, Hiệp định..., các văn bản
còn lại thuộc "Luật mềm" như Tầm nhìn, Kế hoạch tổng thể, Khung tham chiếu... Bên
cạnh đó, các quy định về tự do di chuyển lao động ASEAN được tích hợp với các quy
định về hợp tác kinh tế khác của ASEAN trong cùng một văn bản như Hiến chương
ASEAN (2007), Tuyên bố Bali II (2003), AEC Blueprint 2015 và AEC Blueprint 2025.
Nếu so sánh với những văn bản điều chỉnh trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương
mại dịch vụ, đầu thì số lượng văn bản về tự do di chuyển lao động chiếm con số khiêm
tốn. Trong tổng 57 văn kiện pháp lý thuộc lĩnh vực kinh tế, chỉ có 11 văn kiện liên quan
tới tự do di chuyển lao động.
Việc các nội dung về tdo di chuyển lao động được ghi nhận chủ yếu tại các văn
bản thuộc "luật mềm" sẽ đặt ra vấn đề về việc thực thi các cam kết khu vực của các quốc
gia thành viên, xét về hiệu lực các văn bản trên chỉ mang tính khuyến nghị không
ràng buộc nghĩa vụ pháp lý với các quốc gia thành viên cho nên việc thực hiện các văn
bản đó xuất phát từ sự thiện chí của các bên liên quan.
Thứ hai, về những quy định về công nhận lẫn nhau đối với các dịch vụ chuyên
môn. Các quốc gia thành viên ASEAN kết 8 thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch
vụ chung trong 8 thỏa thuận đó lại thiết kế theo những cách thức công nhận không giống
nhau và điểm chung của 8 thỏa thuận là trao quyền cho quốc gia quyết định công nhận
người cung ứng dịch vụ đạt tiêu chuẩn về trình độ để có thể hành nghề trên lãnh thổ của
mình. Các quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với từng ngành nghề như kiến trúc sư,
vấn kỹ thuật... đều các tiêu chuẩn khá cao, chỉ một số ít người lao động thực sự
lành nghề kinh nghiệm mới thể đạt được. Bên cạnh đó, việc được cấp phép
hành nghề theo MRA không có nghĩa là người cung ứng dịch vụ được bảo đảm tiếp cận
thị trường mà mức độ tiếp cận thị trường sẽ phụ thuộc vào các quy định trong nước. Ví
lOMoARcPSD| 58707906
dụ quy định về nhập cư, cấp giấy phép lao động sẽ những rào cản đối với khả ng
tiếp cận thị trường của người cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, việc triển khai MRA gặp
những khó khăn vướng mắc nhất định do quá trình công nhận phức tạp, đòi hỏi sự tham
gia của nhiều bên, tốn thời gian và mang tính kỹ thuật cao.
Việc thực hiện tự do di chuyển lao động trong ASEAN thông qua công nhận lẫn
nhau về dịch vụ chuyên môn, di chuyển thể nhân, và tham chiếu AQRF. Mặc dù giữa 3
biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng hiện nay các quy định trong các
văn bản của ASEAN dường như không thể hiện được mối liên hệ giữa 3 biện pháp
này, đặc biệt giữa MNP8 MRAs. Mối quan hệ giữa MRA, MNPAQRF có thể
tả như sau: MRA tạo nên tăng pháp điều chỉnh việc công nhận trình độ của người
cung cấp dịch vụ nước ngoài bởi quan thẩm quyền của một nước thành viên, MNP
điều chỉnh việc tiếp cận thị trường của nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài, trong khi đó
AQRF thiết lập cơ chế đối chiếu để hiểu về mức trình độ của người cung cấp dịch vụ
đến từ một quốc gia thành viên đã đạt được.
2.3. Thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC
2.3.1. Tổng quan thị trường lao động ASEAN
Thị trường lao động ASEAN là một trong những khu vực tiềm năng phát triển
lớn trên thế giới, với hơn 650 triệu dân sự đa dạng về kinh tế, văn hóa, kỹ ng
lao động. Khu vực này bao gồm 10 quốc gia thành viên: Brunei, Campuchia, Indonesia,
Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, và Việt Nam.
Một trong những lợi thế lớn của thị trường lao động ASEAN là cấu dân số trẻ.
Với hơn 60% dân số dưới 35 tuổi, ASEAN có một lực lượng lao động dồi dào tiềm
năng lớn trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ công nghệ. Các quốc gia như Indonesia,
Philippines Việt Nam đang trong giai đoạn “dân số vàng”, với tỷ lệ người trong độ
tuổi lao động cao, đặc biệt Indonesia, hơn 40% dân số ới 25 tuổi. Điều này mang
lại nhiều hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm phát triển các ngành
công nghiệp mới. Tuy nhiên, Singapore cũng đối mặt với thách thức già hóa n số,
trong khi Myanmar và Lào cần đầu tư vào giáo dục và đào tạo để tận dụng tối đa nguồn
lao động trẻ.
Tỷ lệ tham gia lực ợng lao động tại các quốc gia ASEAN cho thấy sự đa dạng
tiềm năng lớn của khu vực. Vào năm 2022, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động dao
động từ khoảng 60% đến 76% giữa các quốc gia thành viên. Việt Nam dẫn đầu với tỷ lệ
tham gia cao nhất, đạt khoảng 76%, nhờ o cơ cấu “dân số vàng” và sự phát triển mạnh
mẽ trong các ngành công nghiệp dịch vụ. Indonesia Singapore tỷ lệ tham gia
lần lượt 69% 70%, phản ánh sự đóng góp đáng kể của lực lượng lao động trong
các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, mặc dù Singapore đối mặt với thách thức già hóa dân
số. Philippines Thái Lan tỷ lệ tham gia là 63% 68%, cho thấy sự đóng góp mạnh
mẽ của lao động trẻ nữ trong nền kinh tế, mặc vẫn gặp khó khăn về tỷ lệ thất
nghiệp và việc làm phi chính thức.
Tỷ lệ thất nghiệp tại các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 2019-2023 nhiều biến
động do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 quá trình phục hồi kinh tế sau đó.
Indonesia ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp từ 5% vào năm 2019, tăng lên 7% vào năm 2020 do
các biện pháp phong tỏa và gián đoạn kinh tế, nhưng dần giảm xuống còn khoảng 5.5%
vào năm 2023. Tại Philippines, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt từ 5.1% năm 2019 lên mức kỷ
lục 17.7% o m 2020, nhưng đã giảm xuống 4.8% o m 2023 khi nền kinh tế
phục hồi. Singapore, với hệ thống kinh tế vững chắc, chỉ tăng nhẹ từ 2.4% vào năm 2019
lOMoARcPSD| 58707906
lên 3.5% năm 2020 và nhanh chóng phục hồi về mức 2% vào năm 2023. Việt Nam, mặc
bị ảnh hưởng bởi đại dịch, vẫn duy trì được tỷ lệ thất nghiệp khá thấp, dao động từ
2.2% đến 2.7% trong suốt giai đoạn. Những con số này phản ánh quá trình phục hồi kinh
tế không đồng đều giữa các quốc gia ASEAN, tùy thuộc vào mức độ phát triển khả
năng thích ứng với các cú sốc kinh tế toàn cầu.
2.3.2. Tác động tự do di chuyển lao động đến các nước thành viên ASEAN
Di lao động trong nội khối ASEAN ra ngoài khu vực đã giảm mạnh trong
giai đoạn 2020-2021 do các hạn chế đi lại và thay đổi trong nhu cầu lao động nh hưởng
bởi đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, theo các báo cáo từ Ngân hàng Phát triển Châu Á
(ADB), di cư lao động dần phục hồi vào năm 2022 và 2023, đặc biệt là tại
Malaysia Singapore, các quốc gia này vẫn thu hút nhiều lao động từ các ớc như
Indonesia, Myanmar và Việt Nam. Giai đoạn 2023-2024 chứng kiến sự phục hồi và gia
tăng số lượng lao động di kỹ năng, nhờ vào việc nới lỏng các hạn chế di chuyển
và cải thiện tình hình kinh tế toàn cầu. Sự gia tăng này phản ánh sự phục hồi trong các
thị trường lao động lớn và nhu cầu cao về kỹ năng trong các lĩnh vực công nghệ và dịch
vụ chuyên môn.
Cụ thể, Philippines vẫn dẫn đầu trong việc xuất khẩu lao động kỹ năng, với
khoảng 2.2 triệu lao động làm việc ớc ngoài vào năm 2022, nhvào các chương
trình đào tạo nghề hỗ trợ xuất khẩu lao động của Chính phủ. Indonesia cũng lượng
lao động di cao, chủ yếu các chuyên gia kỹ sư, đạt khoảng 1 triệu người.
Malaysia và Singapore tiếp tục điểm đến chính cho lao động kỹ năng từ các quốc
gia ASEAN, với nhu cầu cao trong các ngành công nghệ thông tin, y tế, và kỹ thuật.
Tự do di chuyển lao động trong khu vực ASEAN, được thúc đẩy bởi các chính sách
các hiệp định liên quan, đã những tác động sâu rộng đến các nước thành viên.
Dưới đây là một số tác động chính:
Tác động tới các quốc gia gửi lao động
Hiện nay, xuất khẩu lao động được coi giải pháp giảm áp lực dân số thất
nghiệp nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN. Khi các quốc gia gửi lao động đến quốc
gia khác làm việc và sinh sống thì người lao động có điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ
thuật công nghệ hiện đại, phát triển chuyên môn; tiếp thu kinh nghiệm quản lý, tác phong
làm việc. Sau khi về nước, nguồn lao động này áp dụng vào trong quá trình hoạt động
sản xuất, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi người lao động có kỹ ng đi
tìm công việc thu nhập cao hơn thông qua các MRA sẽ làm giảm nguồn cung nhân
lực ở quốc gia đó.
Tác động tới các quốc gia nhận lao động
Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có nhu cầu rất lớn đối với lực lượng lao động
kỹ thuật; Singapore và Malaysia đang thiếu lực lượng lao động trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng, marketing. Việt Nam có lao động tay nghề cao ở một số ngành nghề bậc cao
bậc trung như: công nghệ thông tin, dệt may, giày da, chế biến thực phẩm, một số
ngành khí… thể đắp sự thiếu hụt lao động của các nước khác trong khu vực
như Thái Lan, Malaysia; ngược lại Việt Nam có thể tuyển dụng lao động giá rẻ của Lào,
Campuchia. Sự di chuyển tự do của lao động kỹ năng tác động đến nền kinh tế của
nước nhận lao động thông qua việc tạo hội tuyển dụng nhân sự chất lượng cao cho
các doanh nghiệp.
Việc tiếp nhận lực lượng lao động có kỹ năng của các quốc gia khác còn gây ra áp
lực cho người lao động bản địa, tình trạng thất nghiệp gia tăng, ảnh hưởng tới thu nhập
lOMoARcPSD| 58707906
và mức sống của lao động bị mất việc. Mặt khác, di chuyển lao động kỹ năng trong
nội khối sẽ gây áp lực cho quốc gia nhận lao động về cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng,
điều này sẽ tác động lớn tới tăng trưởng ít nhất là trong một giai đoạn nhất định. Tác
động về kinh tế trên toàn khu vực
Đánh giá tác động của tự do di chuyển lao động có kỹ năng phải xem xét từ lợi ích
chung của toàn khu vực. Đây hội cho người lao động trong toàn khu vực chứ không
chỉ là một lựa chọn đơn thuần về chính sách.
Một là, việc thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động kỹ năng nội khối tuy
diễn ra chậm chạp nhưng vẫn giúp thúc đẩy dòng dịch chuyển lao động kỹ năng
hình thành thị trường lao động chung trong khu vực. Những năm qua, cùng với sự thay
đổi nhân khẩu, mức chênh lệch tiền lương trình độ lao động đã giúp thúc đẩy dòng
dịch chuyển lao động nội khối.
Hai là, doanh nghiệp tất cả các quốc gia hội tuyển dụng nhân sự đáp ứng
nhu cầu của mình, cũng buộc các quốc gia phải nâng cao trình độ nguồn lao động. Mặt
khác, lao động của nhiều quốc gia được làm việc với nhau giúp họ được cọ sát, học hỏi
từ những lao động trình độ kỹ năng cao; được tiếp xúc với một tri thức mới sẽ giúp
họ có nhiều kiến thức kỹ năng để tạo dựng, phát triển nghề nghiệp sau này. Thêm nữa,
lao động không kỹ năng không được di chuyển tự do sẽ ít hội việc làm, buộc
các nước phải điều chỉnh quy trình đào tạo, trang bị kỹ năng cho người lao động. Tạo sự
cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng công việc cũng như làm
giảm chi phí lao động.
Ba là, tự do di chuyển lao động nội khối giúp sử dụng lao động hiệu quả hơn trong
toàn khối. Quá trình già hóa dân số cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ khiến một
số quốc gia như Singapore, Thái Lan, Malaysia đang phải đối mặt với việc thiếu hụt lực
ợng lao động. Trong khi đó các nước như Việt Nam hay Lào lại sở hữu lực lượng lao
động dồi dào. Khi người lao động được tự do di chuyển sẽ tạo ra các dòng chảy lao động
để các doanh nghiệp có thể thu hút nhân tài trong toàn khu vực và người lao động có
hội tìm kiếm việc làm nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình.
Bốn là, mức sống của một bộ phận dân tăng nhờ mức ơng tăng. Thực tế cho
thấy, lao động có kỹ năng cao tại các nước có trình độ phát triển thấp hơn trong khu vực
có khả năng sẽ có mức tăng lương lớn nhất trong khuôn khổ AEC. Lao động có kỹ năng
cao Philippines Thái Lan ng sẽ được ởng lợi đáng kể, mức độ thấp hơn
người lao động Indonesia. ơng tự như vậy, lao động kỹ năng trung bình tại tất c
các nước cũng sẽ được hưởng lợi từ AEC, mặc dù ở mức độ thấp hơn.
Năm là, kinh tế của các quốc gia sẽ điều kiện phát triển nhờ quá trình chuyển
đổi cấu việc làm trên toàn khu vực do tác động của dịch chuyển lao động. Tự do di
chuyển lao động có kỹ năng trong AEC tạo nhiều cơ hội việc làm tốt hơn cho người lao
động kỹ năng trong khối, từ đó thể lựa chọn ngành, nghề phù hợp; tuy nhiên người
lao động trong các ngành bị thu hẹp sản xuất sẽ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp
nhưng đó cũng là cơ sở cho quá trình chuyển dịch cơ cấu việc làm trên toàn khu vực.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP CỦA VIỆT NAM VỀ THI HÀNH
CHÍNH SÁCH TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG KỸ NĂNG TRONG AEC
GIAI ĐOẠN 2019-2023
3.1. Thực trạng tình hình xuất khẩu lao động tự do di chuyển lao động
kỹ năng của Việt Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023.
lOMoARcPSD| 58707906
Cộng đồng kinh tế khu vực Đông Nam á – AEC được thành lập giúp hình thành sự
dịch chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và lao động có tay nghề cao trong
khu vực. Một thị trường chung về lao động mà AEC hướng tới sẽ tạo hội cho lao
động kỹ năng trong khu vực ASEAN tìm kiếm các công việc phù hợp, khả năng
phát triển nghề nghiệp, đem lại nguồn thu nhập xứng đáng cùng nhiều quyền lợi khác.
Những lao động có kỹ năng trong thị trường lao động tự do AEC được hiểu là lao
động có chất lượng cao (các chuyên gia, thợ lành nghề), trong đó có lao động được đào
tạo chuyên môn hoặc trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt
tiếng Anh sẽ được tự do di chuyển trong AEC.
Khi tham gia AEC, sẽ tác động mạnh mẽ tới thị trường lao động bởi AEC cho phép
các lao động tay nghề cao của 10 quốc gia thành viên được di chuyển tự do trong khu
vực (trước mắt là 8 lĩnh vực, ngành nghề bao gồm: nha khoa, điều dưỡng, kỹ thuật, xây
dựng, kế toán, kiến trúc, khảo sát du lịch). 3.1.1 Thực trạng chất lượng lao động
Việt Nam
Nguồn : Tổng cục thống kê
Số liệu cho thấy chất lượng lao động đã qua đào tạo tại Việt Nam có tăng từ năm
2019 - 2023.Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV năm 2023 là 27,6%,
tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Như vậy, tính đến cuối năm 2023, cả nước vẫn còn 38,0 triệu lao động chưa
qua đào tạo. Con số này cho thấy thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Nếu so với quy mô lực lượng lao động, tỷ lệ
lao động qua đào tạo văn bằng, chứng chỉ còn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển
kinh tế - hội đất ớc trong giai đoạn tới. Do đó, việc y dựng các chính sách
chương trình đào tạo cụ thể là yêu cầu rất cấp thiết trong thời gian tới.
Trong báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) 4.0 năm 2018, trụ cột 6
đánh giá về kỹ năng của người lao động Việt Nam chỉ đứng vị trí thứ 97/140 quốc gia.
Trong đó, trình đgiáo dục của lực lượng lao động đứng vị trí thứ 98; chất lượng đào
tạo nghề bị đánh giá thấp, đứng vị trí 115; kỹ năng của học sinh, sinh viên tốt nghiệp là
128; mức độ dễ dàng m kiếm lao động lành nghề tại thị trường Việt Nam đứng vị trí
104. Mặc dù số năm học trung bình của Việt Nam đạt 7,6 năm, cao hơn nhiều so với s
năm học trung bình của Campuchia là 4,6 năm nhưng các chỉ số kỹ năng của lực lượng
lao động Việt Nam chỉ ơng đương với ớc này thấp hơn so với các nước trong
khu vực. Những con số này đang phản ánh một thực tế rằng, chất lượng nguồn nhân lực
của Việt Nam thấp so với thế giới và là yếu tố cản trở đến tăng trưởng kinh tế.
lOMoARcPSD| 58707906
Về chất ợng nguồn nhân lực, nếu lấy thang điểm 10 thì Việt Nam chỉ đạt 3,79
điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB. Trong khi đó, Thái Lan,
Malaysia lần lượt đạt 4,94 và 5,59 điểm.
3.1.2. Xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động có kỹ năng của Việt
Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023
3.1.2.1. Xuất khẩu lao động sang ASEAN
ASEAN ba quốc gia điểm đến chính của lao động nhập đó Malaysia,
Singapore, Thái Lan (chiếm gần 90%). Tại Malaysia, 42,6% lao động nhập từ
Indonesia. Tại Singapore, 45% lao động nhập từ Malaysia. Tại Thái Lan, 50,8%
lao động nhập cư là từ Myanmar.
Tuy nhiên hiện nay, xu hướng di chuyển của lao động Việt Nam không hướng
vào các quốc gia có tiềm năng trong nội khối như Singapore, Malaysia, Thái Lan
tập trung vào các thị trường xuất khẩu truyền thống như Hàn Quốc , Nhật Bản, Đài
Loan.
Theo số liệu thống , hiện Việt Nam khoảng 500.000 lao động đang làm việc
ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khối ASEAN, có 150.000 lao động, chủ yếu làm
việc Malaysia. Ngoài ra còn một slao động tay nghề, lao động trình độ cao
đang làm việc tại Singapore, một phần lao động nữ làm việc tại Brunei và Myanmar.
Tuy nhiên, 85% lao động xuất khẩu của Việt Nam lao động phổ thông.
Malaysia , Các lao động nước ta tập trung phần lớn trong lĩnh vực sản xuất chế tạo, xây
dựng, số còn lại trong lĩnh vực dịch vụ (phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn, khu giải
trí, sòng bạc, bán hàng tại các cửa hàng, siêu thị), giúp việc gia đình, nông nghiệp.
Tại Singapore - một trong các điểm đến thu hút của lao động di tại ASEAN,
Singapore có mức tiền lương bình quân hàng tháng cao hàng đầu khu vực Châu Á.
Tuy nhiên, lao động Việt Nam lại khó tiếp cận được với thị trường này. khu vực
ASEAN, điển hình Singapore, lao động của chúng ta không chỗ đứng. Yêu cầu
dành cho lao động di đến Singapore rất khắt khe, Singapore áp dụng các chính sách
thu hút nhân tài nhưng đồng thời sử dụng các biện pháp hạn chế lao động kỹ năng thấp.
Chính vì vậy, tỉ lệ lao động Việt Nam di chuyển đến Singapore là rất nhỏ, do không đáp
ứng được yêu cầu chuyên môn, ngoại ngữ. Trong toàn năm 2023 Sing chỉ tiếp nhận 1015
lao động của Việt Nam
Nhu cầu lao động phổ thông tại các ớc ASEAN vẫn duy trì ổn định, đặc biệt
trong các ngành xây dựng, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, dịch vụ. Các quốc gia
như Malaysia, Thái Lan, và Singapore tiếp tục tìm kiếm lao động nước ngoài để bù đắp
cho sự thiếu hụt lao động nội địa. Tuy nhiên, yêu cầu về giấy phép lao động, kỹ năng và
ngôn ngữ vẫn rào cản đối với nhiều lao động Việt Nam, đặc biệt là những người muốn
tìm cơ hội tại Singapore và Thái Lan.
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những thực trạng nhập khẩu trái phép của người lao động
việt nam sang các quốc gia asean như Indo, Myanmar ,Campuchia ,.....Lao động bất hợp
pháp thường phải trả phí cho các tổ chức môi giới lao động hoặc các kẻ buôn người để
được đưa sang Indonesia, với khoản tiền không nhỏ. Tuy nhiên, họ có thể không nhận
được việc làm như mong đợi hoặc không được trả lương, dẫn đến tình trạng nợ nần.Do
không giấy tờ hợp pháp không được bảo vệ bởi hợp đồng lao động chính thức,
người lao động bất hợp pháp khôngquyền đòi hỏi các quyền lợi như bảo hiểm y tế,
lương thưởng, và các điều kiện làm việc an toàn.
lOMoARcPSD| 58707906
3.1.2.2. Tự do di chuyển lao động trong ASEAN
Đối với Việt Nam, hiện mới có 196 kỹ sư và 10 kiến trúc sư được công nhận là kỹ
sư và kiến trúc sư ASEAN, được di chuyển tự do trong ASEAN. Các ngành còn lại vẫn
chưa người được công nhận do tiêu chuẩn rất khắt khe. Tiêu chuẩn để được công
nhận là kỹ chuyên nghiệp ASEAN, bao gồm: tối thiểu 7 năm kinh nghiệm, trong
đó ít nhất 2 năm chủ trì các nhiệm vụ kthuật quan trọng; tinh thông nghề nghiệp,
có năng lực và kỹ thuật thực hành và tổ chức sản xuất kinh doanh; có khả năng sử dụng
thành thạo ít nhất một ngoại ngữ.
giải về việc số người được công nhận đủ kỹ năng nghề đi làm việc ASEAN
hiện quá ít ỏi, Cộng đồng AEC cho phép dịch chuyển lao động có tay nghề, nhưng mỗi
ngành nghề lại có những điều kiện riêng mà các nước phải thỏa thuận để công nhận lẫn
nhau về tiêu chuẩn kỹ năng nghề, y dựng khung đánh giá tiêu chuẩn thống nhất. Trong
khi đó, khung trình độ quốc gia hiện nay trong khối ASEAN vẫn tồn tại khoảng cách.
Chưa kể, việc dịch chuyển nội khối còn hạn chế, chưa thông suốt bởi các nước đã
những sự phòng vệ nhất định. Đó các quy định về giấy phép lao động quy định của
từng quốc gia trong AEC. Tức khi vượt qua được rào cản về kỹ năng chung, người
lao động còn phải vượt qua rào cản kỹ thuật của riêng từng ớc cũng như còn ph
thuộc vào nhu cầu thị trường lao động ở nước đó.
Nhiều nhà đầu quốc tế đánh giá kiến thức kỹ năng Việt Nam đào tạo trong
các sở giáo dục hiện nay còn khoảng cách lớn so với nhu cầu họ cần. Chưa kể
vấn đề kỹ năng mềm, tác phong công nghiệp của lao động Việt Nam cũng còn m.
Nhìn chung, lực lượng lao động Việt Nam đã gia tăng về cả slượng lẫn chất lượng.
Trình độ, ngoại ngữ cũng đã phần nào được cải thiện bằng nỗ lực của người lao động và
các ban ngành liên quan. Tuy nhiên, để thể hội nhập sâu rộng sánh vai được với
các nước trong khối, người lao động của Việt Nam cần tiếp tục trau dồi kỹ năng, chuyên
môn và đặc biệt là ngoại ngữ.
3.2. Điểm mạnh của lao động Việt Nam
3.2.1. Tính cần cù, chăm chỉ
Cần cù, siêng năng một trong những phẩm chất đáng quý của người Á Đông,
trong đó có Việt Nam, cần cù chính là yếu tố quan trọng giúp con người có thể đảm bảo
được việc duy trì cuộc sống cá nhân, bởi vì:
Thứ nhất, xuất phát điểm của Việt Nam một quốc gia truyền thống nông
nghiệp lúa nước kéo dài hàng nghìn năm. Nông nghiệp đòi hỏi sự kiên nhẫn và làm việc
liên tục theo chu kỳ mùa vụ. Người nông dân phải chăm chỉ chăm bón, gieo trồng
thu hoạch trong điều kiện khắc nghiệt. Điều này đã rèn luyện cho người lao động sự cần
cù, không ngại khó khăn luôn nỗ lực hoàn thành công việc. Tỷ trọng lao động trong
nông nghiệp 62,7% năm 2001 48,7% năm 2010. Điều này giúp họ thích nghi nhanh
chóng với môi trường làm việc ở nước ngoài và đạt hiệu suất cao.
Thứ hai, Việt Nam quốc gia khí hậu khá khắc nghiệt, không chỉ nắng lắm
mưa nhiều còn phải hứng chịu rất nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, vậy để
chống chọi với thiên nhiên, để duy trì và ổn định cuộc sống chúng ta phải cần cù;
Thứ ba, trong lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta đã dành tới hơn nửa thời gian để
tiến hành chiến tranh vệ quốc, mặc dù kết quả cuối cùng chúng ta giành thắng lợi nhưng
hậu quả sau mỗi cuộc chiến là sự hoang tàn đổ nát vì vậy để khắc phục hậu quả, ổn định
đời sống con người Việt Nam đã rèn cho mình đức tính cần cù.
lOMoARcPSD| 58707906
3.2.2. Sức khỏe tốt
Nhiều lao động xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành xây dựng, nông nghiệp, sản
xuất công nghiệp, sức khỏe dẻo dai, phù hợp với công việc đòi hỏi sức lực tính
bền bỉ cao. Kết quả tổng hợp từ 60/63 tỉnh/thành phố về hoạt động y tế lao động
phòng chống bệnh nghề nghiệp năm 2023 cho thấy, số người lao động (NLĐ) đạt sức
khoẻ tốt (loại I II) chiếm 70,5%. Tỷ lệ đạt sức khỏe loại III 20,6%. NLĐ sức
khỏe yếu (loại IV, V) chỉ chiếm tỷ lệ 8,9%.
3.2.3. Lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động hợp lý
Việt Nam lực lượng lao động dồi dào, đặc biệt lao động trẻ trong độ tuổi từ
15-39 tuổi luôn chiếm tỷ lệ trên 51% tổng số lực lượng lao động cả nước; mỗi năm Việt
Nam khoảng gần 1 triệu người bước vào đtuổi lao động, đây một lợi thế cạnh
tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển
kinh tế - hội. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2024 52,4 triệu
người, tăng 175,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Lực ợng lao động đã quay
trở lại theo xu hướng phát triển bình thường như thời kỳ trước dịch Covid-19 (lực lượng
lao động quý I thường xu ớng giảm nhẹ so với quý IV năm trước nhưng vẫn cao
hơn cùng kỳ năm trước).
So với một số ớc khác, chi phí thuê lao động Việt Nam thường rẻ hơn, nhưng
chất lượng lao động vẫn đảm bảo, tạo ra sức cạnh tranh lớn trong thị trường xuất khẩu
lao động. Về chi phí nhân công lao động,mức thu nhập trung bình tháng của người lao
động Việt Nam hiện là 275 USD, tương đương với 6.545.000 đồng Đây là mức chi phí
lao động ơng đối hấp dẫn. Việt Nam được xếp hạng thị trường giá cả hợp đứng
thứ sau Campuchia, Myanmar Philippines với tổng chi phí nhân công trung bình
là 108.196 USD mỗi tháng.
3.2.4. Khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tốt
Người Việt có truyền thống ham học hỏi, luôn sẵn sàng đón nhận những kiến thức
mới để phát triển bản thân cộng đồng. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nhanh
chóng hội nhập quốc tế, các lĩnh vực như công nghệ thông tin, sản xuất, nông
nghiệp công nghệ cao đã chứng minh rõ khả năng tiếp thu nhanh và hiệu quả của người
lao động Việt Nam.
VinFast là một công ty ô của Việt Nam, thuộc tập đoàn Vingroup, chỉ mới thành
lập vào năm 2017 nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những nhà sản xuất ô
hàng đầu tại Việt Nam. Công ty này đã sản xuất ra những mẫu xe đạt chuẩn quốc tế
trong thời gian ngắn đặc biệt chuyển sang sản xuất ô điện. VinFast đã học hỏi
tiếp thu công nghtiên tiến từ các đối tác quốc tế, từ thiết kế đến dây chuyền sản
xuất. Họ hợp tác với những công ty hàng đầu như Siemens, Bosch, Pininfarina để
phát triển các mẫu xe hiện đại. Các kỹ sư và công nhân Việt Nam nhanh chóng làm chủ
những quy trình sản xuất phức tạp, đáp ứng được yêu cầu chất lượng cao của thị trường
quốc tế.
Hay FPT một trong những tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam,
chuyên cung cấp dịch vụ phần mềm, viễn thông, chuyển đổi số. FPT đã hợp tác với
nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Microsoft, IBM, Oracle để chuyển
giao ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Các kỹ phần mềm Việt Nam của FPT đã
tiếp thu phát triển nhiều ứng dụng phần mềm phức tạp, từ trí tuệ nhân tạo (AI) đến
điện toán đám mây, phục vụ cho cả thị trường trong ngoài nước. Điển hình việc

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58707906
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN -------***-------
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Hùng
Họ và tên sinh viên: Trần Minh Anh Mã sinh viên: 11220616 Lớp chuyên ngành:
Kinh tế Đầu tư 64C HÀ NỘI – 02/2025 lOMoAR cPSD| 58707906 Contents
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................3 1.
Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................3 2.
Đối tượng nghiên cứu..............................................................................3 3.
Phạm vi nghiên cứu.................................................................................3 4.
Kết cấu bài luận.......................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ
KỸ NĂNG TRONG AEC.....................................................................................5
1.1. Khái quát về tự do di chuyển lao động có kỹ năng..................................5
1.1.1. Khái niệm..........................................................................................5
1.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến việc tự do di chuyển lao động có kỹ năng. .5
1.1.3. Xu hướng di chuyển lao động có kỹ năng trên thị trường lao động
quốc tế...........................................................................................................6
1.1.4. Tác động của tự do di chuyển lao động có kỹ năng............................6
1.2. Khái quát sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)....................7
1.2.1 Sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).........................7
1.2.2. Mục tiêu phát triển của AEC..............................................................8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ
NĂNG TRONG AEC..........................................................................................10
2.1. Các chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC............10
2.2. Thực thi chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động có kỹ năng....12
2.2.1. Những điểm nổi bật chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động
có kỹ năng....................................................................................................12
2.2.2. Những điểm hạn chế chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động
có kỹ năng....................................................................................................14
2.3. Thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC...................15
2.3.1. Tổng quan thị trường lao động ASEAN............................................15
2.3.2. Tác động tự do di chuyển lao động đến các nước thành viên ASEAN
.....................................................................................................................15
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆT NAM VỀ THI
HÀNH CHÍNH SÁCH TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG
TRONG AEC GIAI ĐOẠN 2019-2023..............................................................18
3.1. Thực trạng tình hình xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động có kỹ
năng của Việt Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023.. 18
3.1.1 Thực trạng chất lượng lao động Việt Nam.........................................18
3.1.2. Xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động có kỹ năng của Việt
Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023...........................19
3.2. Điểm mạnh của lao động Việt Nam.........................................................21
3.2.1. Tính cần cù, chăm chỉ........................................................................21 lOMoAR cPSD| 58707906
3.2.2. Sức khỏe tốt.......................................................................................21
3.2.3. Lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động hợp lý.......................21
3.2.4. Khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tốt............................................22
3.2.5. Đa dạng trong ngành nghề................................................................22
3.2.6. Khả năng thích nghi văn hóa............................................................22
3.3. Điểm yếu của lao động Việt Nam............................................................22
3.3.1. Người lao động có ý thức kỷ luật kém; tác phong làm việc thiếu
chuyên nghiệp..............................................................................................22
3.3.2. Một bộ phận lao động Việt Nam còn nhận thức chưa cao, nhẹ dạ cả
tin dễ bị các đối tượng mua chuộc, lừa đảo, nhập cảnh trái phép..............23
3.3.3. Việt Nam còn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao...................26
3.3.4. Lao động Việt Nam còn thiếu các kỹ năng chuyên môn....................26
3.3.5. Khả năng ngoại ngữ của người việt còn hạn chế..............................26
3.4. Cơ hội của chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng theo AEC đối
với Việt Nam...................................................................................................27
3.5. Thách thức của chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng theo
AEC đối với Việt Nam....................................................................................28 3.5.1. Thách thức về trình độ chuyên
môn..................................................28 3.5.2. Thách thức về sự khác biệt văn
hóa..................................................29 3.5.3. Thách thức từ sự khác biệt về pháp
luật............................................29 3.6. Giải pháp nâng cao khả năng thực thi
chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng theo AEC của Việt
Nam......................................................30 3.6.1. Với chính
phủ....................................................................................30 3.6.2. Với doanh
nghiệp..............................................................................30 KẾT
LUẬN........................................................................................................ .32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................33 LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được
thành lập nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên thông qua việc
tự do hóa các lĩnh vực kinh tế, thương mại, dịch vụ và đặc biệt là lao động có kỹ năng.
Chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC đóng vai trò quan trọng lOMoAR cPSD| 58707906
trong việc tăng cường tính cạnh tranh kinh tế, nâng cao năng suất lao động, và thu hút
nhân tài cho các nước thành viên.
Việt Nam là quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào nhưng vẫn còn nhiều thách thức
trong việc đào tạo và phát triển nguồn lao động có kỹ năng. Khi chính sách tự do di
chuyển lao động trong AEC được thực thi, cơ hội việc làm cho lao động Việt Nam tại
các nước ASEAN sẽ tăng lên, đồng thời Việt Nam cũng có thể thu hút lao động nước
ngoài có chuyên môn cao. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh khốc liệt giữa
lao động trong nước với lao động quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện chất lượng
đào tạo và nâng cao năng lực của lực lượng lao động. Chính sách này không chỉ tác động
trực tiếp đến thị trường lao động mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế
và chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam. Việc nắm bắt cơ hội từ chính sách tự do
di chuyển lao động có kỹ năng sẽ giúp Việt Nam tiếp cận những công nghệ, kiến thức
mới, và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nếu không có giải pháp thích hợp, Việt
Nam có thể đối mặt với nguy cơ "chảy máu chất xám" khi nhân tài chuyển sang các
quốc gia phát triển hơn trong khu vực ASEAN. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các
giải pháp để tận dụng tối đa cơ hội và giảm thiểu thách thức của chính sách tự do di
chuyển lao động có kỹ năng trong AEC là cần thiết và cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của đề tài này là chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng
trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), với trọng tâm là tác động và giải
pháp đối với Việt Nam. Cụ thể hơn, đề tài sẽ tập trung vào:
Nghiên cứu các quy định, chính sách hiện hành của AEC liên quan đến di chuyển
lao động có kỹ năng giữa các quốc gia thành viên ASEAN, tác động của chính sách này
đến Việt Nam và các nước thành viên AEC.
Nghiên cứu khả năng và trình độ chuyên môn của lao động Việt Nam khi tham gia
vào thị trường lao động khu vực AEC, bao gồm các thách thức và cơ hội mà họ đối mặt
khi di chuyển sang các quốc gia thành viên khác trong khu vực. Đánh giá tình hình thực
hiện chính sách tự do di chuyển lao động của Việt Nam, xác định những thuận lợi, khó
khăn và các vấn đề cần giải quyết. Đề xuất các giải pháp cụ thể để Việt Nam tận dụng
tối đa cơ hội và giảm thiểu thách thức trong quá trình thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động.
3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, bài luận nghiên cứu chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ
năng trong phạm vi các quốc gia thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đặc
biệt là các quốc gia có thị trường lao động phát triển và nhu cầu cao về lao động có kỹ
năng như Singapore, Malaysia, Thái Lan, nơi mà lao động Việt Nam có nhiều cơ hội
nhưng cũng đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Đối với Việt Nam, bài luận sẽ tập trung
vào những ngành nghề có kỹ năng đang được AEC tự do hóa, các ngành có nhu cầu cao
về nguồn nhân lực chất lượng.
Về thời gian, bài luận khảo sát thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng
trong AEC và Việt Nam giai đoạn 2019-2023 và xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả
của chính sách cho những năm tới.
4. Kết cấu bài luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, bài luận
được chia thành 03 chương: lOMoAR cPSD| 58707906
Chương 1: Cơ sở lý luận về tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC
Chương 2: Thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC
Chương 3: Thực trạng của Việt Nam về thi hành chính sách tự do di chuyển lao
động có kỹ năng trong AEC. lOMoAR cPSD| 58707906
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái quát về tự do di chuyển lao động có kỹ năng
1.1.1. Khái niệm
Lao động là hoạt động của con người, tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần
cho cá nhân, xã hội nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người.
Lao động có kỹ năng là lao động có các kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng nhận thức, kỹ
năng xã hội và hành vi phù hợp với ngành nghề cụ thể.
Tự do di chuyển lao động có kỹ năng là việc người lao động có trình độ chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp nhất định được phép tự do di chuyển giữa các quốc gia thành
viên trong một khối kinh tế để tìm kiếm việc làm và làm việc mà không bị hạn chế bởi
các quy định về visa lao động hoặc giấy phép làm việc.
1.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến việc tự do di chuyển lao động có kỹ năng
Nhân tố bên trong
- Cung cầu thị trường lao động: Sự dư thừa hay thiếu hụt lao động ở từng
ngành hay toàn bộ thị trường đều ảnh hưởng gây lực kéo – đẩy mạnh đối với các
quốc gia tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế. Sự mất cân đối cung cầu trong thị
trường lao động quốc gia càng lớn thì xu hướng di chuyển càng lớn. Tuy nhiên,
đặc điểm của thị trường lao động quốc gia mới chỉ ảnh hưởng tới dòng di chuyển
lao động quốc tế nói chung.
- Chi phí di cư, chi phí cơ hội khi di chuyển lao động có kỹ năng: Chi phí
di cư gồm có chi phí dành cho việc làm thủ tục hành chính để di chuyển sang
nước khác, chi phí di chuyển, chi phí đảm bảo cuộc sống tại nước đó để thực hiện
cung lao động và chi phí trở về. Chi phí này ở đâu càng thấp thì sẽ khiến cho
người lao động càng có động lực di chuyển tới đó. Đây cũng là yếu tố thúc đẩy
di chuyển lao động nội khối phát triển bởi đặc thù của một khối kinh tế luôn có
sự hợp tác, liên kết cao giữa các nước thành viên làm giảm những chi phí về thủ
tục hành chính cho sự di chuyển lao động.
- Chính sách thúc đẩy xuất khẩu, thu hút nhập khẩu lao động có kỹ năng:
Mỗi quốc gia đều có chính sách khác nhau về xuất nhập khẩu lao động. Các chính
sách thúc đẩy xuất khẩu và thu hút nhập khẩu lao động được xây dựng dựa trên
điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị quốc gia, quan điểm, định hướng phát triển
đất nước, đặc điểm của thị trường lao động quốc gia và những cam kết về di
chuyển lao động với các nước khác. Ngược lại, những chính sách về xuất nhập
khẩu lao động của một quốc gia lại ảnh hưởng tới mức độ tham gia di chuyển lao động của nước đó.
Nhân tố bên ngoài
- Toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa đặt các nước vào mối quan hệ kinh tế quốc
tế trên cơ sở hợp tác cùng có lợi. Từ đó, những quan hệ di chuyển hàng hóa, dịch
vụ và các nguồn lực được hình thành. Toàn cầu hóa có ảnh hưởng rất lớn tới chiến
lược và chính sách di chuyển lao động quốc tế của các quốc gia trên thế giới, tiến
tới xây dựng những thể chế, cách thức quản lý và hợp tác lao động.
- Trình độ phát triển của các quốc gia: Trình độ phát triển của các quốc
gia ảnh hưởng nhiều tới sự tham gia vào di chuyển lao động nội khối ở mọi khía
cạnh từ quy mô, cơ cấu lao động tới hình thức di chuyển, sự hợp tác giữa các lOMoAR cPSD| 58707906
nước và quản lý lao động di chuyển. Với trình độ phát triển cao trong toàn khối,
mức lương trung bình nội khối cao tương đối so với ngoại khối thì di chuyển lao
động nội khối có xu hướng được đẩy mạnh.
- Trình độ giáo dục đào tạo của các quốc gia thành viên trong khối: Trình
độ giáo dục đào tạo của các quốc gia cũng ảnh hưởng không nhỏ tới di chuyển
lao động. Những quốc gia có trình độ giáo dục đào tạo cao thì thường chất lượng
lao động nói chung cao tương đối so với các nước khác. Những lao động này
được thường chào đón ở trên thị trường. Những quốc gia có trình độ giáo dục
đào tạo thấp sẽ khiến chất lượng lao động có chuyên môn ít và dư thừa lao động
phổ thông. Các nước này khi tham gia vào di chuyển lao động thường có xu
hướng gửi lao động trình độ chuyên môn thấp và nhận lao động chuyên môn cao.
- Chính sách an sinh xã hội cho người tham gia vào di chuyển lao động:
Chính sách an sinh xã hội cho người lao động di chuyển đề cập đến quyền được
hưởng sự an toàn, đảm bảo thu nhập và chăm sóc y tế. Các quốc gia có chính
sách an sinh xã hội khác nhau đối với người lao động nước ngoài tùy theo điều
kiện kinh tế - chính trị - xã hội và quan điểm, định hướng đối với xuất nhập khẩu
lao động. Các dòng di chuyển lao động thường hướng tới những quốc gia có
chính sách an sinh xã hội tốt hơn những quốc gia khác.
1.1.3. Xu hướng di chuyển lao động có kỹ năng trên thị trường lao động quốc tế
Số lượng lao động có kỹ năng di chuyển qua các biên giới quốc gia ngày càng
tăng. Điều này được thúc đẩy bởi sự toàn cầu hóa kinh tế, sự phát triển của công nghệ
thông tin và nhu cầu ngày càng lớn về nhân lực chất lượng cao ở các nền kinh tế phát triển.
Không chỉ tập trung vào các ngành truyền thống như y tế, công nghệ thông tin, mà
lao động có kỹ năng còn chuyển sang nhiều lĩnh vực mới như tài chính, quản lý, khởi
nghiệp…Các quốc gia ngày càng tăng cường hợp tác để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
di chuyển lao động có kỹ năng, thông qua các hiệp định thương mại tự do, các chương
trình trao đổi lao động… Công nghệ số phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm
kiếm việc làm, kết nối nhà tuyển dụng và người lao động trên toàn cầu.
1.1.4. Tác động của tự do di chuyển lao động có kỹ năng
Tác động tích cực
- Cải thiện đời sống người lao động, gia tăng thu nhập quốc gia: Lao
động khi di chuyển ra nước ngoài thường có thu nhập ròng cao hơn so với làm
việc trong nước. Đây là giá trị được trả để họ sẵn sàng chấp nhận việc di cư. Nhờ
đó, những người lao động di chuyển thường có những khoản kiều hối gửi về cho
gia đình mình. Đây là nguồn ngoại tệ chảy vào các nước gửi lao động, đóng góp
vào cán cân thanh toán của nhiều nước đang phát triển. Đối với quốc gia gửi lao
động, kiều hối cũng là nguồn thu nhập ổn định để cải thiện cuộc sống của gia
đình người di cư và gia nhập vào nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế đất nước.
- Thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia: Trong
môi trường làm việc hiện đại, khoa học tiên tiến, người lao động được tiếp cận,
ứng dụng khoa học công nghệ vào công việc. Điều này khiến cho trình độ và kỹ
năng nghề nghiệp của người lao động sẽ dần được nâng cao. Khi quay trở về lOMoAR cPSD| 58707906
nước, họ mang những kinh nghiệm, kiến thức đã tích lũy được trong quá trình
làm việc ở nước ngoài về áp dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh ở nước nhà.
Tác động tiêu cực
- Chảy máu chất xám: Do sự chênh lệch về thu nhập và mức sống ở trong
và ngoài nước, những người lao động có tay nghề có xu hướng di chuyển sang
các nước khác có thu nhập cao hơn. Với xu hướng di chuyển lao động hiện nay,
luồng di chuyển lao động kỹ năng cao từ các nước kém phát triển hơn sang những
nước khác đang ngày càng lớn gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” tại nước
gửi lao động, giảm lực lượng lao động có trình độ cao trong nước và gây tổn thất
về chi phí đào tạo của các nước gửi lao động.
- Phân biệt đối xử: Những người lao động nhập cư mang theo những văn
hóa tốt cũng như xấu vào nước nhận lao động gây ra những bất đồng giữa các
nhóm người. Sự phân biệt đối xử cũng diễn ra thường xuyên giữa người bản địa
và lao động nhập cư làm phát sinh những mâu thuẫn lớn. Các căng thẳng và xung
đột dân tộc có thể xảy ra đe dọa kinh tế và sự ổn định xã hội.
- Thay đổi về thu nhập và chi tiêu: Số lượng lao động nhập khẩu càng cao
thì nhu cầu tiêu dùng càng lớn. Nếu như điều này làm thúc đẩy sản xuất hàng hóa
hay dịch vụ thì nó lại gây áp lực tăng giá đối với việc thuê, mua nhà cửa. Lao
động nhập khẩu có tác động đối với các khoản tiền lương của người lao động bản
địa trong một giới hạn nhất định. Sự có mặt của người lao động nhập cư đã làm
giảm khan hiếm lao động trên thị trường khiến cho các doanh nghiệp có thể hạ
lương thuê mướn nhân công. Thậm chí, do mức độ đáp ứng yêu cầu của các chủ
lao động cao của người lao động nhập cư, mức lương của họ còn cao hơn mức
lương của người lao động bản địa. Số tiền này một phần sẽ trở thành kiều hối
chuyển về nước gửi lao động làm giảm tổng thu nhập quốc dân của nước nhận.
1.2. Khái quát sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)
1.2.1 Sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - AEC) là một trong
ba trụ cột chính của Cộng đồng ASEAN, cùng với Cộng đồng Chính trị - An ninh
(APSC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC), được thiết lập dựa trên nền tảng bền
vững của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Năm 2003, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu
tiên tuyên bố mục tiêu phát triển, hình thành một Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
Mục tiêu này phù hợp với tầm nhìn ASEAN năm 2020 đã được thông qua vào năm 1997
với mục tiêu phát triển ASEAN thành một cộng đồng ASEAN.
Năm 2006, tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38 tổ chức tại Kuala
Lumpur, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với mục
tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC.
Năm 2007, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN
đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì năm 2020 như kế hoạch ban đầu.
Vào ngày 22/11/2015, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh
đạo ASEAN đã ký kết tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC và thông qua kế
hoạch tổng thể AEC năm 2025. lOMoAR cPSD| 58707906
1.2.2. Mục tiêu phát triển của AEC
Trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC đến năm 2015 (AEC Blueprint 2003) có
đề cập đến 04 mục tiêu chính phát triển Cộng đồng AEC, thể hiện rõ quan điểm đã được
khẳng định trong Tuyên bố hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II): "Tạo dựng một khu vực
kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh cao, nơi có sự di chuyển tự do của
hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế
đồng đều và giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế - xã hội ". Cụ thể như sau:
Hình thành một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung: Thông qua việc cho
phép tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề, giúp AEC
tăng cường khả năng cạnh tranh đối với nền kinh tế khác trong khu vực và trên Thế giới.
Thuế quan sẽ được loại bỏ và hàng rào phi thuế quan cũng dần được dỡ bỏ. Các nhà đầu
tư từ các nước thành viên trong ASEAN có thể tự do đầu tư trong khu vực mà không
phải chịu sự chi phối của bất kỳ yêu cầu ràng buộc hay hàng rào bảo hộ đặc biệt nào.
AEC hình thành tạo dòng chảy lưu chuyển tự do những chuyên gia và lao động có tay
nghề trong khu vực, đáp ứng nhu cầu sản xuất và kinh doanh ngày càng chuyên môn
hóa tại các quốc gia, giúp giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Hình thành một khu vực kinh tế cạnh tranh: Cộng đồng kinh tế ASEAN với mục
tiêu hình thành nên một khu vực kinh tế bình ổn, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh
cao, ưu tiên 6 yếu tố cốt lõi: các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu
dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.
AEC cam kết thúc đẩy một văn hóa cạnh tranh bình đẳng, công bằng thông qua việc đưa
ra hàng loạt chính sách và luật cạnh tranh để tạo một sân chơi cho các thành viên ASEAN có tính hiệu quả cao.
Phát triển kinh tế công bằng: Khuôn khổ AEC đối với sự phát triển của doanh
nghiệp vừa và nhỏ nhằm mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ thông qua việc tăng cường tiếp cận thông tin, tài chính, công nghệ và nguồn
nhân lực chất lượng cao. Những sáng kiến này nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách
giữa các nước thành viên ASEAN và tăng cường hợp tác kinh tế giữa nhóm nước CLMV
(Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam) nhằm đảm bảo tất cả các nước đều được
hưởng lợi từ quá trình hội nhập kinh tế.
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu: ASEAN hoạt động trong một môi trường có
tính toàn cầu ngày càng gia tăng, với một thị trường rộng lớn phụ thuộc lẫn nhau và các
ngành công nghiệp đang dần toàn cầu hóa. Vì vậy, nhiệm vụ của AEC là vượt ra ngoài
phạm vi biên giới lãnh thổ để xem xét những quy định bên ngoài khu vực có liên quan
đến việc hình thành những chính sách đối với AEC.
Như vậy, AEC chính là sự đẩy mạnh những cơ chế liên kết của ASEAN, thông qua
Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch
vụ (AFAS), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), hay Hiệp định về di chuyển thể nhân (MNP)
và thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs),... lOMoAR cPSD| 58707906
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG AEC
2.1. Các chính sách tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC.
Với việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, ASEAN
đã đạt được một dấu mốc quan trọng trong quá trình hội nhập chính trị, kinh tế và văn
hóa ngày càng tăng của khu vực. Như đã đề ra trong Kế hoạch chi tiết kinh tế ASEAN
năm 2007, AEC tìm cách “biến ASEAN thành một khu vực có sự luân chuyển tự do của
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và dòng vốn tự do hơn”.
Trong những năm gần đây, số lượng lao động có kỹ năng tại ASEAN có sự tăng
trưởng rõ rệt. Cùng với đó là hiện tượng chảy máu chất xám, khi nguồn nhân lực chất
lượng cao trong khối lại mong muốn phát triển nghề nghiệp tại một quốc gia mang lại
cơ hội tốt hơn với mức sống cao hơn.Điều này gây ra sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực
chất lượng cao trong ASEAN. Khi một thị trường lao động tự do trong ASEAN được
thành lập, doanh nghiệp các nước cần tăng khả năng cạnh tranh thu hút người tài. Điều
này sẽ làm giảm hiện tượng chảy máu chất xám. Việc thành lập thị trường lao động tự
do AEC vô cùng thuận lợi vì các nước có sự gần gũi về mặt văn hóa và địa lý. Bên cạnh
đó, các nước ASEAN đều là thành viên của WTO - đều cam kết các điều khoản trong
GATS và FTAs. Trong đó có điều khoản về đầu tư và dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự di chuyển của mỗi cá nhân. Như vậy có thể nói, việc thành lập một thị trường lao
động tự do trong nội khối ASEAN không đơn thuần để thỏa mãn nhu cầu của sự phát
triển kinh tế, mà còn là nghĩa vụ đối với các cam kết ASEAN.
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã đưa ra nhiều chính sách để thúc đẩy tự do
di chuyển lao động có kỹ năng giữa các quốc gia thành viên nhằm tăng cường sự hội
nhập kinh tế khu vực. Các chính sách này tập trung vào việc tạo điều kiện cho lao động
có kỹ năng di chuyển dễ dàng hơn, đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn lao động.
Thứ nhất, Hiệp định khung ASEAN trong ngành dịch vụ (AFAS) được ký kết năm
1995. Hiệp định này đã ghi nhận tầm quan trọng của các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau
(MRAs) trong việc hội nhập toàn bộ ngành dịch vụ trong ASEAN. Thỏa thuận thừa nhận
lẫn nhau (MRAs) là các cam kết giữa các nước trong cộng đồng ASEAN đưa ra các cơ
chế thỏa thuận về tính đương đương của các thủ tục chứng nhận và trình độ chuyên môn
của lao động trong toàn ASEAN trên một số lĩnh vực nhất định. Theo đó cho phép chứng
chỉ của lao động được cấp bởi cơ quan chức năng tương ứng tại một quốc gia sẽ được
thừa nhận bởi các nước thành viên trong khu vực. Có thể thấy MRAs đóng vai trò thúc
đẩy quá trình di chuyển, cũng như tạo điều kiện phát triển năng lực tương đương của
người lao động trong khu vực ASEAN. Đây là cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
ra đời của các cam kết về di chuyển lao động có kỹ năng sau này của ASEAN.
Thứ hai, Tuyên bố Bali II (2003) cùng với việc đưa ra khái niệm AEC, Tuyên bố
cũng đã định dạng mô hình của AEC bao gồm bốn nội dung cơ bản, trong đó có nội
dung về thiết lập ASEAN như là một thị trường chung và trên cơ sở sản xuất, chuyển sự
đa dạng mang tính đặc điểm của khu vực thành những cơ hội kinh doanh từ đó giúp
ASEAN trở thành một mắt xích năng động và mạnh mẽ của dây chuyền cung cấp thương
mại toàn cầu. ASEAN sẽ xây dựng những cơ chế và biện pháp mới nhằm tăng cường
mạnh mẽ việc thực hiện các sáng kiến, thúc đẩy hội nhập khu vực trong các lĩnh vực ưu
tiên; tạo thuận lợi cho việc di chuyển của các doanh nhân, lao động có kỹ năng và nhân tài. lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ ba, Hiến chương ASEAN (2007), đã bổ sung thêm nội dung “doanh nhân,
chuyên gia, nhân tài và lao động được di chuyển thuận lợi” so với Tuyên bố Bali II.
Thứ tư, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC và Lộ trình chiến lược AEC (2007) đã
cụ thể hóa nội dung về di chuyển doanh nhân, chuyên gia, nhân tài tại Hiến chương
ASEAN thành một trong bốn nội dung tự do hóa các yếu tố sản xuất của thị trường;
trong đó tự do di chuyển lao động có kỹ năng nằm trong nội dung xây dựng một thị
trường và cơ sở sản xuất thống nhất.
Thứ năm, Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân (MNP) (2012). Đây là một
thỏa thuận toàn diện về thương mại dịch vụ theo phương thức 4 (hiện diện thể nhân),
tạo lập một khuôn khổ pháp lý thúc đẩy việc di chuyển tạm thời qua biên giới của các
thể nhân tham gia vào các hoạt động thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, từ đó đẩy
nhanh quá trình tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, và lao động có kỹ năng
trong khu vực, góp phần vào việc hình thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất
ASEAN. Theo khoản 1 điều 2 của Hiệp định MNP thì hiệp định này chỉ áp dụng cho 4
nhóm thể nhân sau đây: (1) Du khách kinh doanh, (2) Những người di chuyển trong nội
bộ doanh nghiệp, (3) Các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và (4) Một số trường hợp
khác được quy định trong biểu cam kết. Hiệp định về di chuyển thể nhân bao gồm tất cả
các lĩnh vực dịch vụ, không bao gồm các lĩnh vực phi dịch vụ, nêu ra rằng “các quốc gia
cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển thể nhân, hướng tới tự do hóa lao động
có kỹ năng trong ASEAN”.
Thứ sáu, các quy định về di chuyển lao động trong AEC. Về an ninh chính trị AEC
sẽ tăng cường giải pháp để chống lại nạn buôn bán người và bảo vệ nạn nhân của tình
trạng buôn bán người. Đối với tự do di chuyển lao động có kỹ năng, các quốc gia thành
viên cho phép và tạo thuận lợi trong việc nhập cảnh cho các tự nhiên nhân tham gia vào
thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trong khu vực. ASEAN đã xây dựng Khung
Tham chiếu Trình độ ASEAN (AQRF), đóng vai trò như một công cụ chuyển đổi, cho
phép so sánh trình độ, bằng cấp giữa các quốc gia thành viên. Đây là nền tảng cho việc
công nhận trình độ và đảm bảo chất lượng lao động thông qua giáo dục. Mỗi quốc gia
cần xây dựng Khung tham chiếu trình độ quốc gia phù hợp với Khung tham chiếu trình
độ của khu vực nhằm đảm bảo trình độ lao động của quốc gia tương đương với các quốc
gia còn lại. Hiện nay có khoảng 140 quốc gia trên thế giới có khung trình độ quốc gia,
rất nhiều nước đang phát triển trong khu vực Đông Á như Malaysia, Indonesia và
Philippines đã hoàn thiện những bước căn bản của tiến trình.
Thứ bảy, các quy định pháp luật của ASEAN về bảo vệ quyền của lao động di trú.
Trong nhiều năm, các quốc gia ASEAN đã hợp tác với nhau nhằm tăng cường công tác
quản lý di cư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người di cư. Những điều này được
đề cập trong Tuyên bố ASEAN về Bảo vệ Quyền của Lao động di trú, Diễn đàn ASEAN
về Lao động di cư, cuộc họp thường niên của đại diện Chính phủ, các tổ chức của người
lao động và tổ chức của người sử dụng lao động, đại diện của các tổ chức xã hội dân sự.
Ngoài ra, Tuyên bố của ASEAN về Bảo vệ và thúc đẩy các Quyền của Lao động
di trú và Dự thảo văn kiện khung của ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền của người
lao động di trú là hai văn kiện quan trọng đánh dấu bước tiến mới của Cộng đồng
ASEAN trong việc nhận thức tầm quan trọng của người lao động di trú cũng như việc
bảo vệ các quyền của họ, và mang tính định hướng cho quá trình xây dựng và thực hiện
các văn kiện khác có liên quan đến vấn đề người lao động di trú. lOMoAR cPSD| 58707906
Tuyên bố Cebu về lao động di cư kêu gọi cả nước gửi và nước tiếp nhận lao động
cùng thúc đẩy “toàn bộ tiềm năng và phẩm giá của lao động di cư trong không khí tự
do, bình đẳng và ổn định” theo pháp luật trong nước. Ở nước tiếp nhận lao động, tuyên
bố nhấn mạnh “bảo vệ việc làm, trả lương công bằng và phù hợp, tăng khả năng tiếp cận
đầy đủ với điều kiện sống và làm việc bền vững cho lao động di cư” (Điều 8). Tuyên bố
này cũng yêu cầu “các cơ quan hữu quan trong ASEAN phải phát triển một công cụ
ASEAN để bảo vệ và xúc tiến quyền của lao động di cư” qua đó giám sát tiến trình thông
qua Hội nghị Bộ trưởng ASEAN thường niên (Điều 22).
2.2. Thực thi chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động có kỹ năng
2.2.1. Những điểm nổi bật chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động có kỹ năng
Thứ nhất, những quy định hiện hành về tự do di chuyển lao động ASEAN tương
đối mở, cách tiếp cận về tự do di chuyển lao động nội khối là di chuyển có sự quản lý
và tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động có kỹ năng. Cách tiếp cận trên góp
phần giúp các quốc gia duy trì chủ quyền trong lĩnh vực lao động; Nói cách khác, các
quốc gia thành viên là chủ thể có quyền quyết định đối với việc mở cửa thị trường lao
động của nước mình, trong khi đó ASEAN đóng vai trò hỗ trợ thiết lập cơ chế khu vực
nhằm tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động nội khối.
Việc ký kết MNP giữa các nước thành viên đặt ra cơ sở pháp lý nền tảng đối với
sự di chuyển tạm thời của thể nhân liên quan tới các hoạt động thương mại hàng hoá,
dịch vụ và đầu tư. MNP quy định các vấn đề mang tính chất "khung" về các biện pháp
ảnh hưởng tới nhập cảnh và cư trú tạm thời lao động có kỹ năng thuộc 04 nhóm như đã
liệt kê ở trên. Trên cơ sở MNP, các quốc gia sẽ đưa ra các cam kết cụ thể dựa trên quy
định của pháp luật quốc gia về thủ tục, tiêu chí nhập cảnh và cư trú tạm thời... Với cách
làm như vậy sẽ giúp cho quốc gia có thể chủ động trong việc kiểm soát thể nhân cung
ứng dịch vụ trên lãnh thổ của mình và thực tế các cam kết của các quốc gia thành viên
có sự đa dạng về phạm vi và mức độ tiếp cận thị trường. Dựa trên biểu cam kết của 10
quốc gia thành viên về di chuyển thể nhân. Về đối tượng, hầu hết các cam kết tập trung
vào 2 đối tượng là khách kinh doanh và người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, một
số quốc gia như Việt Nam hay Campuchia bên cạnh 2 đối tượng trên còn đưa ra cam kết
đối với người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng. Về phạm vi cam kết, có sự khác nhau
giữa các quốc gia như Brunei, Campuchia cam kết đối với 153 phân ngành, trong khi đó
Myanmar cam kết đối với 59 phân ngành. Về mức độ cam kết, có sự khác nhau về thời
gian được phép nhập cảnh và lưu trú đối với từng đối tượng. Brunei đưa ra cam kết
người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp được lưu trú trong thời gian 03 năm,
Campuchia 02 năm và Việt Nam là 03 năm; trong khi đó Campuchia cam kết khách kinh
doanh thời gian lưu trú không quá 90 ngày, Indonesia 60 ngày và Việt Nam không quá 90 ngày.
Đối với AQRF, AQRF không hướng tới thiết lập một khung trình độ chung trong
khu vực, AQRF chỉ tác động mang tính chất trung lập lên khung trình độ quốc gia. Nói
cách khác, dựa trên AQRF các quốc gia sẽ xây dựng khung trình độ quốc gia tương ứng
với khung trình độ khu vực. Việc tham gia AQRF không mang tính bắt buộc mà dựa trên
sự tự nguyện của các quốc gia thành viên. Bên cạnh đó, AQRF không đòi hỏi phải thay
đổi khung trình độ quốc gia, tôn trọng cấu trúc đặc thù của khung trình độ quốc gia cũng
như quá trình tham gia của các quốc gia thành viên nhằm đáp ứng những ưu tiên của họ. lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ hai, các quy định về tự do di chuyển lao động trong ASEAN thúc đẩy hải hòa
hóa các chính sách, quy định của quốc gia về tiêu chuẩn trình độ của người lao động.
Để thực hiện các biện pháp nhằm thúc đầy sự di chuyển của lao động nội khối, các quốc
gia thành viên cần phải chủ động trong việc thay đổi các chính sách, pháp luật trong
nước về lao động sao cho phù hợp như cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm đáp
ứng các tiêu chuẩn khu vực. Ví dụ, để thực hiện MRA về dịch vụ tư vấn kỹ thuật,
Philippines đã ban hành và sửa đổi các đạo luật trong nước về kỹ sư như Chỉ thị số 157
về hành nghề kỹ sư hàng không tại Philippines, Luật số 318 về hành nghề kỹ sư hóa học,
Luật số 7920 về kỹ sư điện... Hoặc để thực hiện AQRF các quốc gia đã xây dựng khung
trình độ quốc gia sẽ tiếp cận theo phạm vi rộng sao cho các mức độ trong khung trình
độ quốc gia phù hợp nhất với các mức độ của AQRF, đối với những quốc gia chưa xây
dựng khung trình độ sẽ xác định được loại khung trình độ quốc gia hoặc các trình độ cốt
lõi sao cho phù hợp nhất với AQRF. Malaysia là một trong những quốc gia thành viên
đã xây dựng Khung trình độ quốc gia (MQF - Malaysia Qualifications Framework) trước
khi có AQRF. Dự thảo MQF được Hội đồng Giáo dục Đại học quốc gia thông qua vào
năm 2003 và Chính phủ thông qua 2 năm sau đó tức là năm 2005. Kết quả của quá trình
tham chiếu giữa AQRF và MQF thấy rằng MQF phù hợp tương đối tốt với AQRF tuy
nhiên còn một số điểm mà MQF cần phải thay đổi. Trên cơ sở những khuyến nghị
Malaysia sẽ có sự điều chỉnh MQF sao cho phù hợp với các tiêu chí của AQRF.
2.2.2. Những điểm hạn chế chính sách ASEAN về tự do di chuyển lao động có kỹ năng.
Thứ nhất, xét về hình thức, các quy định về tự do di chuyển lao động ASEAN được
ghi nhận trong số ít điều ước quốc tế khu vực như Thỏa thuận, Hiệp định..., các văn bản
còn lại thuộc "Luật mềm" như Tầm nhìn, Kế hoạch tổng thể, Khung tham chiếu... Bên
cạnh đó, các quy định về tự do di chuyển lao động ASEAN được tích hợp với các quy
định về hợp tác kinh tế khác của ASEAN trong cùng một văn bản như Hiến chương
ASEAN (2007), Tuyên bố Bali II (2003), AEC Blueprint 2015 và AEC Blueprint 2025.
Nếu so sánh với những văn bản điều chỉnh trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương
mại dịch vụ, đầu tư thì số lượng văn bản về tự do di chuyển lao động chiếm con số khiêm
tốn. Trong tổng 57 văn kiện pháp lý thuộc lĩnh vực kinh tế, chỉ có 11 văn kiện liên quan
tới tự do di chuyển lao động.
Việc các nội dung về tự do di chuyển lao động được ghi nhận chủ yếu tại các văn
bản thuộc "luật mềm" sẽ đặt ra vấn đề về việc thực thi các cam kết khu vực của các quốc
gia thành viên, xét về hiệu lực các văn bản trên chỉ mang tính khuyến nghị mà không
ràng buộc nghĩa vụ pháp lý với các quốc gia thành viên cho nên việc thực hiện các văn
bản đó xuất phát từ sự thiện chí của các bên liên quan.
Thứ hai, về những quy định về công nhận lẫn nhau đối với các dịch vụ chuyên
môn. Các quốc gia thành viên ASEAN ký kết 8 thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch
vụ chung trong 8 thỏa thuận đó lại thiết kế theo những cách thức công nhận không giống
nhau và điểm chung của 8 thỏa thuận là trao quyền cho quốc gia quyết định công nhận
người cung ứng dịch vụ đạt tiêu chuẩn về trình độ để có thể hành nghề trên lãnh thổ của
mình. Các quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với từng ngành nghề như kiến trúc sư, tư
vấn kỹ thuật... đều là các tiêu chuẩn khá cao, mà chỉ một số ít người lao động thực sự
lành nghề và có kinh nghiệm mới có thể đạt được. Bên cạnh đó, việc được cấp phép
hành nghề theo MRA không có nghĩa là người cung ứng dịch vụ được bảo đảm tiếp cận
thị trường mà mức độ tiếp cận thị trường sẽ phụ thuộc vào các quy định trong nước. Ví lOMoAR cPSD| 58707906
dụ quy định về nhập cư, cấp giấy phép lao động sẽ là những rào cản đối với khả năng
tiếp cận thị trường của người cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, việc triển khai MRA gặp
những khó khăn vướng mắc nhất định do quá trình công nhận phức tạp, đòi hỏi sự tham
gia của nhiều bên, tốn thời gian và mang tính kỹ thuật cao.
Việc thực hiện tự do di chuyển lao động trong ASEAN thông qua công nhận lẫn
nhau về dịch vụ chuyên môn, di chuyển thể nhân, và tham chiếu AQRF. Mặc dù giữa 3
biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng hiện nay các quy định trong các
văn bản của ASEAN dường như không thể hiện rõ được mối liên hệ giữa 3 biện pháp
này, đặc biệt giữa MNP và 8 MRAs. Mối quan hệ giữa MRA, MNP và AQRF có thể mô
tả như sau: MRA tạo nên tăng pháp lý điều chỉnh việc công nhận trình độ của người
cung cấp dịch vụ nước ngoài bởi cơ quan có thẩm quyền của một nước thành viên, MNP
điều chỉnh việc tiếp cận thị trường của nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài, trong khi đó
AQRF thiết lập cơ chế đối chiếu để hiểu về mức trình độ của người cung cấp dịch vụ
đến từ một quốc gia thành viên đã đạt được.
2.3. Thực trạng tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC
2.3.1. Tổng quan thị trường lao động ASEAN
Thị trường lao động ASEAN là một trong những khu vực có tiềm năng phát triển
lớn trên thế giới, với hơn 650 triệu dân và sự đa dạng về kinh tế, văn hóa, và kỹ năng
lao động. Khu vực này bao gồm 10 quốc gia thành viên: Brunei, Campuchia, Indonesia,
Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, và Việt Nam.
Một trong những lợi thế lớn của thị trường lao động ASEAN là cơ cấu dân số trẻ.
Với hơn 60% dân số dưới 35 tuổi, ASEAN có một lực lượng lao động dồi dào và tiềm
năng lớn trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và công nghệ. Các quốc gia như Indonesia,
Philippines và Việt Nam đang trong giai đoạn “dân số vàng”, với tỷ lệ người trong độ
tuổi lao động cao, đặc biệt ở Indonesia, hơn 40% dân số dưới 25 tuổi. Điều này mang
lại nhiều cơ hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và phát triển các ngành
công nghiệp mới. Tuy nhiên, Singapore cũng đối mặt với thách thức già hóa dân số,
trong khi Myanmar và Lào cần đầu tư vào giáo dục và đào tạo để tận dụng tối đa nguồn lao động trẻ.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tại các quốc gia ASEAN cho thấy sự đa dạng
và tiềm năng lớn của khu vực. Vào năm 2022, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động dao
động từ khoảng 60% đến 76% giữa các quốc gia thành viên. Việt Nam dẫn đầu với tỷ lệ
tham gia cao nhất, đạt khoảng 76%, nhờ vào cơ cấu “dân số vàng” và sự phát triển mạnh
mẽ trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Indonesia và Singapore có tỷ lệ tham gia
lần lượt là 69% và 70%, phản ánh sự đóng góp đáng kể của lực lượng lao động trong
các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, mặc dù Singapore đối mặt với thách thức già hóa dân
số. Philippines và Thái Lan có tỷ lệ tham gia là 63% và 68%, cho thấy sự đóng góp mạnh
mẽ của lao động trẻ và nữ trong nền kinh tế, mặc dù vẫn gặp khó khăn về tỷ lệ thất
nghiệp và việc làm phi chính thức.
Tỷ lệ thất nghiệp tại các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 2019-2023 có nhiều biến
động do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và quá trình phục hồi kinh tế sau đó.
Indonesia ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp từ 5% vào năm 2019, tăng lên 7% vào năm 2020 do
các biện pháp phong tỏa và gián đoạn kinh tế, nhưng dần giảm xuống còn khoảng 5.5%
vào năm 2023. Tại Philippines, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt từ 5.1% năm 2019 lên mức kỷ
lục 17.7% vào năm 2020, nhưng đã giảm xuống 4.8% vào năm 2023 khi nền kinh tế
phục hồi. Singapore, với hệ thống kinh tế vững chắc, chỉ tăng nhẹ từ 2.4% vào năm 2019 lOMoAR cPSD| 58707906
lên 3.5% năm 2020 và nhanh chóng phục hồi về mức 2% vào năm 2023. Việt Nam, mặc
dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch, vẫn duy trì được tỷ lệ thất nghiệp khá thấp, dao động từ
2.2% đến 2.7% trong suốt giai đoạn. Những con số này phản ánh quá trình phục hồi kinh
tế không đồng đều giữa các quốc gia ASEAN, tùy thuộc vào mức độ phát triển và khả
năng thích ứng với các cú sốc kinh tế toàn cầu.
2.3.2. Tác động tự do di chuyển lao động đến các nước thành viên ASEAN
Di cư lao động trong nội khối ASEAN và ra ngoài khu vực đã giảm mạnh trong
giai đoạn 2020-2021 do các hạn chế đi lại và thay đổi trong nhu cầu lao động ảnh hưởng
bởi đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, theo các báo cáo từ Ngân hàng Phát triển Châu Á
(ADB), di cư lao động dần phục hồi vào năm 2022 và 2023, đặc biệt là tại
Malaysia và Singapore, các quốc gia này vẫn thu hút nhiều lao động từ các nước như
Indonesia, Myanmar và Việt Nam. Giai đoạn 2023-2024 chứng kiến sự phục hồi và gia
tăng số lượng lao động di cư có kỹ năng, nhờ vào việc nới lỏng các hạn chế di chuyển
và cải thiện tình hình kinh tế toàn cầu. Sự gia tăng này phản ánh sự phục hồi trong các
thị trường lao động lớn và nhu cầu cao về kỹ năng trong các lĩnh vực công nghệ và dịch vụ chuyên môn.
Cụ thể, Philippines vẫn dẫn đầu trong việc xuất khẩu lao động có kỹ năng, với
khoảng 2.2 triệu lao động làm việc ở nước ngoài vào năm 2022, nhờ vào các chương
trình đào tạo nghề và hỗ trợ xuất khẩu lao động của Chính phủ. Indonesia cũng có lượng
lao động di cư cao, chủ yếu là các chuyên gia và kỹ sư, đạt khoảng 1 triệu người.
Malaysia và Singapore tiếp tục là điểm đến chính cho lao động có kỹ năng từ các quốc
gia ASEAN, với nhu cầu cao trong các ngành công nghệ thông tin, y tế, và kỹ thuật.
Tự do di chuyển lao động trong khu vực ASEAN, được thúc đẩy bởi các chính sách
và các hiệp định liên quan, đã có những tác động sâu rộng đến các nước thành viên.
Dưới đây là một số tác động chính:
Tác động tới các quốc gia gửi lao động
Hiện nay, xuất khẩu lao động được coi là giải pháp giảm áp lực dân số và thất
nghiệp ở nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN. Khi các quốc gia gửi lao động đến quốc
gia khác làm việc và sinh sống thì người lao động có điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ
thuật công nghệ hiện đại, phát triển chuyên môn; tiếp thu kinh nghiệm quản lý, tác phong
làm việc. Sau khi về nước, nguồn lao động này áp dụng vào trong quá trình hoạt động
sản xuất, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi người lao động có kỹ năng đi
tìm công việc có thu nhập cao hơn thông qua các MRA sẽ làm giảm nguồn cung nhân lực ở quốc gia đó.
Tác động tới các quốc gia nhận lao động
Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có nhu cầu rất lớn đối với lực lượng lao động
kỹ thuật; Singapore và Malaysia đang thiếu lực lượng lao động trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng, marketing. Việt Nam có lao động tay nghề cao ở một số ngành nghề bậc cao
và bậc trung như: công nghệ thông tin, dệt may, giày da, chế biến thực phẩm, một số
ngành cơ khí… có thể bù đắp sự thiếu hụt lao động của các nước khác trong khu vực
như Thái Lan, Malaysia; ngược lại Việt Nam có thể tuyển dụng lao động giá rẻ của Lào,
Campuchia. Sự di chuyển tự do của lao động có kỹ năng tác động đến nền kinh tế của
nước nhận lao động thông qua việc tạo cơ hội tuyển dụng nhân sự chất lượng cao cho các doanh nghiệp.
Việc tiếp nhận lực lượng lao động có kỹ năng của các quốc gia khác còn gây ra áp
lực cho người lao động bản địa, tình trạng thất nghiệp gia tăng, ảnh hưởng tới thu nhập lOMoAR cPSD| 58707906
và mức sống của lao động bị mất việc. Mặt khác, di chuyển lao động có kỹ năng trong
nội khối sẽ gây áp lực cho quốc gia nhận lao động về cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng,
điều này sẽ tác động lớn tới tăng trưởng ít nhất là trong một giai đoạn nhất định.  Tác
động về kinh tế trên toàn khu vực

Đánh giá tác động của tự do di chuyển lao động có kỹ năng phải xem xét từ lợi ích
chung của toàn khu vực. Đây là cơ hội cho người lao động trong toàn khu vực chứ không
chỉ là một lựa chọn đơn thuần về chính sách.
Một là, việc thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động có kỹ năng nội khối tuy
diễn ra chậm chạp nhưng vẫn giúp thúc đẩy dòng dịch chuyển lao động có kỹ năng và
hình thành thị trường lao động chung trong khu vực. Những năm qua, cùng với sự thay
đổi nhân khẩu, mức chênh lệch tiền lương và trình độ lao động đã giúp thúc đẩy dòng
dịch chuyển lao động nội khối.
Hai là, doanh nghiệp ở tất cả các quốc gia có cơ hội tuyển dụng nhân sự đáp ứng
nhu cầu của mình, cũng buộc các quốc gia phải nâng cao trình độ nguồn lao động. Mặt
khác, lao động của nhiều quốc gia được làm việc với nhau giúp họ được cọ sát, học hỏi
từ những lao động có trình độ kỹ năng cao; được tiếp xúc với một tri thức mới sẽ giúp
họ có nhiều kiến thức kỹ năng để tạo dựng, phát triển nghề nghiệp sau này. Thêm nữa,
lao động không có kỹ năng không được di chuyển tự do sẽ ít có cơ hội việc làm, buộc
các nước phải điều chỉnh quy trình đào tạo, trang bị kỹ năng cho người lao động. Tạo sự
cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng công việc cũng như làm giảm chi phí lao động.
Ba là, tự do di chuyển lao động nội khối giúp sử dụng lao động hiệu quả hơn trong
toàn khối. Quá trình già hóa dân số cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ khiến một
số quốc gia như Singapore, Thái Lan, Malaysia đang phải đối mặt với việc thiếu hụt lực
lượng lao động. Trong khi đó các nước như Việt Nam hay Lào lại sở hữu lực lượng lao
động dồi dào. Khi người lao động được tự do di chuyển sẽ tạo ra các dòng chảy lao động
để các doanh nghiệp có thể thu hút nhân tài trong toàn khu vực và người lao động có cơ
hội tìm kiếm việc làm nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình.
Bốn là, mức sống của một bộ phận dân cư tăng nhờ mức lương tăng. Thực tế cho
thấy, lao động có kỹ năng cao tại các nước có trình độ phát triển thấp hơn trong khu vực
có khả năng sẽ có mức tăng lương lớn nhất trong khuôn khổ AEC. Lao động có kỹ năng
cao ở Philippines và Thái Lan cũng sẽ được hưởng lợi đáng kể, ở mức độ thấp hơn là
người lao động ở Indonesia. Tương tự như vậy, lao động kỹ năng trung bình tại tất cả
các nước cũng sẽ được hưởng lợi từ AEC, mặc dù ở mức độ thấp hơn.
Năm là, kinh tế của các quốc gia sẽ có điều kiện phát triển nhờ quá trình chuyển
đổi cơ cấu việc làm trên toàn khu vực do tác động của dịch chuyển lao động. Tự do di
chuyển lao động có kỹ năng trong AEC tạo nhiều cơ hội việc làm tốt hơn cho người lao
động có kỹ năng trong khối, từ đó có thể lựa chọn ngành, nghề phù hợp; tuy nhiên người
lao động trong các ngành bị thu hẹp sản xuất sẽ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp
nhưng đó cũng là cơ sở cho quá trình chuyển dịch cơ cấu việc làm trên toàn khu vực.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆT NAM VỀ THI HÀNH
CHÍNH SÁCH TỰ DO DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG AEC GIAI ĐOẠN 2019-2023
3.1. Thực trạng tình hình xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động có
kỹ năng của Việt Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023. lOMoAR cPSD| 58707906
Cộng đồng kinh tế khu vực Đông Nam á – AEC được thành lập giúp hình thành sự
dịch chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và lao động có tay nghề cao trong
khu vực. Một thị trường chung về lao động mà AEC hướng tới sẽ tạo cơ hội cho lao
động có kỹ năng trong khu vực ASEAN tìm kiếm các công việc phù hợp, có khả năng
phát triển nghề nghiệp, đem lại nguồn thu nhập xứng đáng cùng nhiều quyền lợi khác.
Những lao động có kỹ năng trong thị trường lao động tự do AEC được hiểu là lao
động có chất lượng cao (các chuyên gia, thợ lành nghề), trong đó có lao động được đào
tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là
tiếng Anh sẽ được tự do di chuyển trong AEC.
Khi tham gia AEC, sẽ tác động mạnh mẽ tới thị trường lao động bởi AEC cho phép
các lao động có tay nghề cao của 10 quốc gia thành viên được di chuyển tự do trong khu
vực (trước mắt là 8 lĩnh vực, ngành nghề bao gồm: nha khoa, điều dưỡng, kỹ thuật, xây
dựng, kế toán, kiến trúc, khảo sát và du lịch). 3.1.1 Thực trạng chất lượng lao động Việt Nam
Nguồn : Tổng cục thống kê
Số liệu cho thấy chất lượng lao động đã qua đào tạo tại Việt Nam có tăng từ năm
2019 - 2023.Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV năm 2023 là 27,6%,
tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Như vậy, tính đến cuối năm 2023, cả nước vẫn còn 38,0 triệu lao động chưa
qua đào tạo. Con số này cho thấy thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Nếu so với quy mô lực lượng lao động, tỷ lệ
lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ còn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn tới. Do đó, việc xây dựng các chính sách và
chương trình đào tạo cụ thể là yêu cầu rất cấp thiết trong thời gian tới.
Trong báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) 4.0 năm 2018, trụ cột 6
đánh giá về kỹ năng của người lao động Việt Nam chỉ đứng vị trí thứ 97/140 quốc gia.
Trong đó, trình độ giáo dục của lực lượng lao động đứng vị trí thứ 98; chất lượng đào
tạo nghề bị đánh giá thấp, đứng vị trí 115; kỹ năng của học sinh, sinh viên tốt nghiệp là
128; mức độ dễ dàng tìm kiếm lao động lành nghề tại thị trường Việt Nam đứng vị trí
104. Mặc dù số năm học trung bình của Việt Nam đạt 7,6 năm, cao hơn nhiều so với số
năm học trung bình của Campuchia là 4,6 năm nhưng các chỉ số kỹ năng của lực lượng
lao động Việt Nam chỉ tương đương với nước này và thấp hơn so với các nước trong
khu vực. Những con số này đang phản ánh một thực tế rằng, chất lượng nguồn nhân lực
của Việt Nam thấp so với thế giới và là yếu tố cản trở đến tăng trưởng kinh tế. lOMoAR cPSD| 58707906
Về chất lượng nguồn nhân lực, nếu lấy thang điểm 10 thì Việt Nam chỉ đạt 3,79
điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB. Trong khi đó, Thái Lan,
Malaysia lần lượt đạt 4,94 và 5,59 điểm.
3.1.2. Xuất khẩu lao động và tự do di chuyển lao động có kỹ năng của Việt
Nam với các nước thành viên AEC giai đoạn 2019-2023
3.1.2.1. Xuất khẩu lao động sang ASEAN
ASEAN có ba quốc gia là điểm đến chính của lao động nhập cư đó là Malaysia,
Singapore, và Thái Lan (chiếm gần 90%). Tại Malaysia, 42,6% lao động nhập cư từ
Indonesia. Tại Singapore, 45% lao động nhập cư là từ Malaysia. Tại Thái Lan, 50,8%
lao động nhập cư là từ Myanmar.
Tuy nhiên hiện nay, xu hướng di chuyển của lao động Việt Nam không hướng
vào các quốc gia có tiềm năng trong nội khối như Singapore, Malaysia, Thái Lan mà
tập trung vào các thị trường xuất khẩu truyền thống như Hàn Quốc , Nhật Bản, Đài Loan.
Theo số liệu thống kê, hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động đang làm việc
ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khối ASEAN, có 150.000 lao động, chủ yếu làm
việc ở Malaysia. Ngoài ra còn có một số lao động có tay nghề, lao động trình độ cao
đang làm việc tại Singapore, một phần lao động nữ làm việc tại Brunei và Myanmar.
Tuy nhiên, 85% lao động xuất khẩu của Việt Nam là lao động phổ thông. Ở
Malaysia , Các lao động nước ta tập trung phần lớn trong lĩnh vực sản xuất chế tạo, xây
dựng, số còn lại trong lĩnh vực dịch vụ (phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn, khu giải
trí, sòng bạc, bán hàng tại các cửa hàng, siêu thị), giúp việc gia đình, nông nghiệp.
Tại Singapore - một trong các điểm đến thu hút của lao động di cư tại ASEAN,
Singapore có mức tiền lương bình quân hàng tháng cao hàng đầu khu vực Châu Á.
Tuy nhiên, lao động Việt Nam lại khó tiếp cận được với thị trường này. Ở khu vực
ASEAN, điển hình là Singapore, lao động của chúng ta không có chỗ đứng. Yêu cầu
dành cho lao động di cư đến Singapore rất khắt khe, Singapore áp dụng các chính sách
thu hút nhân tài nhưng đồng thời sử dụng các biện pháp hạn chế lao động kỹ năng thấp.
Chính vì vậy, tỉ lệ lao động Việt Nam di chuyển đến Singapore là rất nhỏ, do không đáp
ứng được yêu cầu chuyên môn, ngoại ngữ. Trong toàn năm 2023 Sing chỉ tiếp nhận 1015 lao động của Việt Nam
Nhu cầu lao động phổ thông tại các nước ASEAN vẫn duy trì ổn định, đặc biệt
trong các ngành xây dựng, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, và dịch vụ. Các quốc gia
như Malaysia, Thái Lan, và Singapore tiếp tục tìm kiếm lao động nước ngoài để bù đắp
cho sự thiếu hụt lao động nội địa. Tuy nhiên, yêu cầu về giấy phép lao động, kỹ năng và
ngôn ngữ vẫn là rào cản đối với nhiều lao động Việt Nam, đặc biệt là những người muốn
tìm cơ hội tại Singapore và Thái Lan.
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những thực trạng nhập khẩu trái phép của người lao động
việt nam sang các quốc gia asean như Indo, Myanmar ,Campuchia ,.....Lao động bất hợp
pháp thường phải trả phí cho các tổ chức môi giới lao động hoặc các kẻ buôn người để
được đưa sang Indonesia, với khoản tiền không nhỏ. Tuy nhiên, họ có thể không nhận
được việc làm như mong đợi hoặc không được trả lương, dẫn đến tình trạng nợ nần.Do
không có giấy tờ hợp pháp và không được bảo vệ bởi hợp đồng lao động chính thức,
người lao động bất hợp pháp không có quyền đòi hỏi các quyền lợi như bảo hiểm y tế,
lương thưởng, và các điều kiện làm việc an toàn. lOMoAR cPSD| 58707906
3.1.2.2. Tự do di chuyển lao động trong ASEAN
Đối với Việt Nam, hiện mới có 196 kỹ sư và 10 kiến trúc sư được công nhận là kỹ
sư và kiến trúc sư ASEAN, được di chuyển tự do trong ASEAN. Các ngành còn lại vẫn
chưa có người được công nhận do tiêu chuẩn rất khắt khe. Tiêu chuẩn để được công
nhận là kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN, bao gồm: có tối thiểu 7 năm kinh nghiệm, trong
đó có ít nhất 2 năm chủ trì các nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng; tinh thông nghề nghiệp,
có năng lực và kỹ thuật thực hành và tổ chức sản xuất kinh doanh; có khả năng sử dụng
thành thạo ít nhất một ngoại ngữ.
Lý giải về việc số người được công nhận đủ kỹ năng nghề và đi làm việc ở ASEAN
hiện quá ít ỏi, Cộng đồng AEC cho phép dịch chuyển lao động có tay nghề, nhưng mỗi
ngành nghề lại có những điều kiện riêng mà các nước phải thỏa thuận để công nhận lẫn
nhau về tiêu chuẩn kỹ năng nghề, xây dựng khung đánh giá tiêu chuẩn thống nhất. Trong
khi đó, khung trình độ quốc gia hiện nay trong khối ASEAN vẫn tồn tại khoảng cách.
Chưa kể, việc dịch chuyển nội khối còn hạn chế, chưa thông suốt bởi các nước đã có
những sự phòng vệ nhất định. Đó là các quy định về giấy phép lao động và quy định của
từng quốc gia trong AEC. Tức là khi vượt qua được rào cản về kỹ năng chung, người
lao động còn phải vượt qua rào cản kỹ thuật của riêng từng nước cũng như còn phụ
thuộc vào nhu cầu thị trường lao động ở nước đó.
Nhiều nhà đầu tư quốc tế đánh giá kiến thức kỹ năng mà Việt Nam đào tạo trong
các cơ sở giáo dục hiện nay còn khoảng cách lớn so với nhu cầu mà họ cần. Chưa kể
vấn đề kỹ năng mềm, tác phong công nghiệp của lao động Việt Nam cũng còn kém.
Nhìn chung, lực lượng lao động Việt Nam đã gia tăng về cả số lượng lẫn chất lượng.
Trình độ, ngoại ngữ cũng đã phần nào được cải thiện bằng nỗ lực của người lao động và
các ban ngành liên quan. Tuy nhiên, để có thể hội nhập sâu rộng và sánh vai được với
các nước trong khối, người lao động của Việt Nam cần tiếp tục trau dồi kỹ năng, chuyên
môn và đặc biệt là ngoại ngữ.
3.2. Điểm mạnh của lao động Việt Nam
3.2.1. Tính cần cù, chăm chỉ
Cần cù, siêng năng là một trong những phẩm chất đáng quý của người Á Đông,
trong đó có Việt Nam, cần cù chính là yếu tố quan trọng giúp con người có thể đảm bảo
được việc duy trì cuộc sống cá nhân, bởi vì:
Thứ nhất, xuất phát điểm của Việt Nam là một quốc gia có truyền thống nông
nghiệp lúa nước kéo dài hàng nghìn năm. Nông nghiệp đòi hỏi sự kiên nhẫn và làm việc
liên tục theo chu kỳ mùa vụ. Người nông dân phải chăm chỉ chăm bón, gieo trồng và
thu hoạch trong điều kiện khắc nghiệt. Điều này đã rèn luyện cho người lao động sự cần
cù, không ngại khó khăn và luôn nỗ lực hoàn thành công việc. Tỷ trọng lao động trong
nông nghiệp 62,7% năm 2001 và 48,7% năm 2010. Điều này giúp họ thích nghi nhanh
chóng với môi trường làm việc ở nước ngoài và đạt hiệu suất cao.
Thứ hai, Việt Nam là quốc gia có khí hậu khá khắc nghiệt, không chỉ nắng lắm
mưa nhiều mà còn phải hứng chịu rất nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, vì vậy để
chống chọi với thiên nhiên, để duy trì và ổn định cuộc sống chúng ta phải cần cù;
Thứ ba, trong lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta đã dành tới hơn nửa thời gian để
tiến hành chiến tranh vệ quốc, mặc dù kết quả cuối cùng chúng ta giành thắng lợi nhưng
hậu quả sau mỗi cuộc chiến là sự hoang tàn đổ nát vì vậy để khắc phục hậu quả, ổn định
đời sống con người Việt Nam đã rèn cho mình đức tính cần cù. lOMoAR cPSD| 58707906
3.2.2. Sức khỏe tốt
Nhiều lao động xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành xây dựng, nông nghiệp, sản
xuất công nghiệp, có sức khỏe dẻo dai, phù hợp với công việc đòi hỏi sức lực và tính
bền bỉ cao. Kết quả tổng hợp từ 60/63 tỉnh/thành phố về hoạt động y tế lao động và
phòng chống bệnh nghề nghiệp năm 2023 cho thấy, số người lao động (NLĐ) đạt sức
khoẻ tốt (loại I và II) chiếm 70,5%. Tỷ lệ đạt sức khỏe loại III là 20,6%. NLĐ có sức
khỏe yếu (loại IV, V) chỉ chiếm tỷ lệ 8,9%.
3.2.3. Lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động hợp lý
Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, đặc biệt là lao động trẻ trong độ tuổi từ
15-39 tuổi luôn chiếm tỷ lệ trên 51% tổng số lực lượng lao động cả nước; mỗi năm Việt
Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh
tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển
kinh tế - xã hội. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2024 là 52,4 triệu
người, tăng 175,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động đã quay
trở lại theo xu hướng phát triển bình thường như thời kỳ trước dịch Covid-19 (lực lượng
lao động quý I thường có xu hướng giảm nhẹ so với quý IV năm trước nhưng vẫn cao
hơn cùng kỳ năm trước).
So với một số nước khác, chi phí thuê lao động Việt Nam thường rẻ hơn, nhưng
chất lượng lao động vẫn đảm bảo, tạo ra sức cạnh tranh lớn trong thị trường xuất khẩu
lao động. Về chi phí nhân công lao động,mức thu nhập trung bình tháng của người lao
động Việt Nam hiện là 275 USD, tương đương với 6.545.000 đồng Đây là mức chi phí
lao động tương đối hấp dẫn. Việt Nam được xếp hạng là thị trường có giá cả hợp lý đứng
thứ tư sau Campuchia, Myanmar và Philippines với tổng chi phí nhân công trung bình là 108.196 USD mỗi tháng.
3.2.4. Khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tốt
Người Việt có truyền thống ham học hỏi, luôn sẵn sàng đón nhận những kiến thức
mới để phát triển bản thân và cộng đồng. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nhanh
chóng và hội nhập quốc tế, các lĩnh vực như công nghệ thông tin, sản xuất, và nông
nghiệp công nghệ cao đã chứng minh rõ khả năng tiếp thu nhanh và hiệu quả của người lao động Việt Nam.
VinFast là một công ty ô tô của Việt Nam, thuộc tập đoàn Vingroup, chỉ mới thành
lập vào năm 2017 nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những nhà sản xuất ô tô
hàng đầu tại Việt Nam. Công ty này đã sản xuất ra những mẫu xe đạt chuẩn quốc tế
trong thời gian ngắn và đặc biệt là chuyển sang sản xuất ô tô điện. VinFast đã học hỏi
và tiếp thu công nghệ tiên tiến từ các đối tác quốc tế, từ thiết kế đến dây chuyền sản
xuất. Họ hợp tác với những công ty hàng đầu như Siemens, Bosch, và Pininfarina để
phát triển các mẫu xe hiện đại. Các kỹ sư và công nhân Việt Nam nhanh chóng làm chủ
những quy trình sản xuất phức tạp, đáp ứng được yêu cầu chất lượng cao của thị trường quốc tế.
Hay FPT là một trong những tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam,
chuyên cung cấp dịch vụ phần mềm, viễn thông, và chuyển đổi số. FPT đã hợp tác với
nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Microsoft, IBM, và Oracle để chuyển
giao và ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Các kỹ sư phần mềm Việt Nam của FPT đã
tiếp thu và phát triển nhiều ứng dụng phần mềm phức tạp, từ trí tuệ nhân tạo (AI) đến
điện toán đám mây, phục vụ cho cả thị trường trong và ngoài nước. Điển hình là việc