









Preview text:
lOMoAR cPSD| 58707906
Câu 5: Tác động tiêu cực, tích cực của nguồn vốn ODA, liên hệ VN.
Tác động tích cực của nguồn vốn ODA đến Việt Nam:
Với những ưu điểm của mình, ODA đã có rất nhiều tác động tích cực đến kinh tế, xã hội… ở Việt Nam như :
- Giúp tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
• Thông qua các dự án ODA, nước ta có thể nâng cao trình độ KHCN và trình độ nhân lực
của mình bằng những hoạt động của các nhà tài trợ.
• Tăng cường cơ hội và đa dạng hoá phương thức đầu tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân
lực và thu nhập của đông đảo người dân.
• Thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp này, các nhà đầu tư trong nước và người dân
sẽ được dịp “cọ xát”, rèn luyện và bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, giúp nâng cao trình
độ bản thân nói riêng, chất lượng nguồn nhân lực nói chung.
- Thúc đẩy tăng trưởng , cải thiện đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo
• Bằng những khoản cho vay hay đầu tư không hoàn lại của mình, các nước đầu tư đã góp
phần vào việc bổ sung ngân sách nhà nước của nước ta. Tạo điều kiện cho việc đầu tư phát triển kinh tế, xã hội….
• Nguồn vốn này đã đóng vai trò quan trọng trong chiến lược tăng trưởng, giảm nghèo,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải cách thể chế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Nguồn
vốn ODA đã đóng góp cho sự thành công của một số chương trình quốc gia có ý nghĩa sâu rộng
như Chương trình dân số và phát triển, tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng trẻ em... Ví dụ:
ODA đầu tư các dự án về giáo dục như: dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi
học cho trẻ mầm non”- Dự án ODA đầu tiên dành cho sự phát triển mầm non…vv..
Việc đầu tư vào Công nghiệp hay dịch vụ sẽ sử dụng nhiều lao động nước ta, từ đó
giúp nguòn lao động dư thừa của nước ta có việc làm, mang lại thu nhập ổn định, từ đó đời sống
nhân dân được cải thiện, tổng thu nhập quốc dân tăng
=> thúc đẩy tăng trưởng
- Góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế 7
• Các dự án ODA mà các nhà tài trợ đầu tư vào Việt Nam chủ yếu vào các lĩnh vực cơ sở hạ
tầng, kinh tế kỹ thuật, phát triển nhân lực.. tạo điều kiên cho việc cân đối giữa các ngành trong cả nước . Ví dụ:
Rất nhiều dự án cơ sở hạ tầng, giao thông lớn trên cả nước đều xây dựng nhờ vào nguồn
ODA như: Cầu Bãi Cháy, Hầm Kim Liên, Cầu Thanh Trì
- Mở rộng đầu tư phát triển và thu hút đầu tư trực tiếp FDI lOMoAR cPSD| 58707906
• Để thu hút đầu tư của các nước phát triển, chắc chắn nước ta phải xem xét về các mặt như
sơ sở hạ tầng của mình . Vấn đề là các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư vào một nước,
thì việc đầu tiên họ quan tâm sẽ là lợi nhuận. Vì vậy một nước có cơ sở hạ tầng, hệ thống giao
thông hay phương tiện liên lạc…vv… yếu kém sẽ khó có thể thu hút đc ODA
=> Nhà nước sẽ phải mở rộng đầu tư phát triển để cải thiện những vấn đề còn yếu kém.
• Khi vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây
chuyền đến dòng vốn đầu tư trực tiếp trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư trong và ngoài
nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư của
mình, kết quả tổng đầu tư trực tiếp xã hội sẽ tăng lên.
- Thiết lập và cải thiện các mối quan hệ quốc tế ….vv….
• Hiện nay nước ta nhận được ngồn vốn ODA từ nhiều quố gia khác nhau trên thế giới, việc
đầu tư của các nước bạn này đã giúp mối quan hệ ngoại giao của nước ta và nước đầu tư trở nên
thân mật, gắn bó hơn… từ đó, mở rộng mối quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, có thể thấy tác động tích cực rõ rệt nhất chính là: ODA là nguồn vốn bổ sung
quan trọng cho đầu tư và phát triển.
• Trong sự nghiệp công nghiện hóa - hiện đại hóa đất nước của các nước đang phát triển nói
chung và Việt Nam nói riêng, phải đòi hỏi một lượng vốn đầu tư vô cùng lớn, mà nếu chỉ huy động
vốn trong nước thì không thể đủ, vì thế việc nhận sự hỗ trợ từ ODA là vô cùng cần thiết. Ví dụ:
Sau 20 năm. Cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hỗ trợ Việt Nam khoản vốn
ODA lên tới gần 80 tỉ USD. Khoản tiền này được ví như “chất xúc tác” góp phần làm thay đổi bộ mặt đất nước .
Hoạt động sản xuất của công ty Mabuchi motor Việt Nam ( 100% vốn ODA Nhật Bản)
Mô hình dự án xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam (đoạn Bến Lức - Long Thành (do Nhật Bản đầu tư vốn ODA)
Cầu Cần Thơ được xây dựng từ vốn ODA của Nhật Bản
Tác động tiêu cực của ODA 8
Các tác động tiêu cực của ODA đến Việt Nam: Tăng khoảng cách giàu nghèo, tạo ra sự phụ
thuộc của các nước đi vay vào các nước cho vay và đặc biệt nhất là ODA đã làm trầm trọng cán
cân thanh toán của nước ta .
- ODA đã làm gia tăng nợ quốc gia: Việc ODA không ngừng tăng cao giúp cải thiện tình
hình kinh tế , xã hội nhưng cũng góp phần làm tăng cao nguồn nợ quốc gia:
Năm 2005: Việt Nam nợ 19 tỷ USD
Từ 2006-2010: khoản nợ tăng them 17 tỷ USD lOMoAR cPSD| 58707906
Dự tính sau 5 năm: khoản nợ sẽ tăng them 32 tỷ USD (34 đến 50% GDP)
- ODA làm gia tăng lạm phát :
+ Nợ =>vay nợ mới => tăng nợ => tăng vay ….vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ
hoặc vòng xoáy lạm phát: Nợ => tăng nghĩa vụ nợ => thâm hụt ngân sách => tăng lạm phát . Lúc
này nợ sẽ ngốn hết các khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội , làm căng thẳng them
trạng thái khát vốn, hỗn loạn xã hội
Chuyên gia của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam đã dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2013
lã 8,2% vượt xa dự định của chính phủ ( 6-7%)
+ Hơn nữa việc “thắt lưng buộc bụng” để trả nợ dẫn đến việc hạn chế nhập, tăng xuất, trong
đó có cả hàng tiêu dung mà trong nước còn thiếu hụt làm mất cân đối hàng tiền, tăng giá, tăng lạm phát
Câu 6: Đầu tư phát triển tác động đến KH_CN của mỗi quốc gia, liên hệ tình trạng
hiệu quả, điểm hạn chế tại VN. Trang 49 Liên hệ:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, lĩnh vực này cũng chịu những ảnh hưởng không nhỏ, nhất là ở
các nước đang phát triển như Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển quốc gia.
Thực trạng đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước, môi trường chính sách và pháp luật điều
chỉnh hoạt động khoa học và công nghệ trong những năm qua liên tục được cải tổ và đổi mới mạnh
mẽ. Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 ra đời, thay thế cho Luật Khoa học và công nghệ năm 2000.
Tiếp theo, là các nghị định, thông tư đã ra đời để cụ thể hóa Luật như: Thông tư liên tịch số
121/2014/TTLT-BTC- BKHCN ngày 25/8/2014 của liên bộ Tài chính - Khoa học và Công nghệ
hướng dẫn xây dựng dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường
xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ công lập; Thông tư liên tịch số
16/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 01/9/2015 hướng dẫn việc quản lý, xử lý tài sản được hình
thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà
nước; Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 hướng dẫn định 9 lOMoAR cPSD| 58707906
mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ
có sử dụng ngân sách nhà nước; Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT/BKHCN-BTC ngày
30/12/2015 quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng Ngân sách nhà nước…
Hiện nay, hoạt động khoa học và công nghệ phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Điều này đã được cụ thể hóa rõ nét ở Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính
phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ. Bình quân
hàng năm, đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ với mức kinh phí vào
khoảng 1,4 - 1,85% tổng chi ngân sách nhà nước, chiếm từ 0,4 đến 0,6 GDP.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ từ năm 2006 đến năm 2015 đều
có xu hướng tăng: Năm 2006 là 5.429 tỷ đồng, đến năm 2015 đạt 17.390 tỷ đồng, qua đó cho thấy
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ.
Trong tổng đầu tư quốc gia cho nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ là 13.390,6
tỷ đồng thì đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm hơn một nửa: 7.591,6 tỷ đồng (tương đương
56,7%), trong khi nguồn đầu tư từ doanh nghiệp là 5.597,3 tỷ đồng đạt 41,8%, còn lại chỉ có 201,7
tỷ đồng (tương đương 1,5%) là từ nguồn vốn nước ngoài.
Nhìn chung, đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ đóng vai trò hết sức
quan trọng, và trong tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ chủ yếu đầu tư tập trung vào: (i) Đầu
tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật, các nhiệm vụ Nhà nước 50%; (ii) Con
người chiếm 25%; (iii) Đầu tư để hỗ trợ đề tài cấp Bộ, ngành 15%; Đầu tư để tăng cường cơ sở
vật chất chiếm 15%. Và đầu tư từ ngân sách nhà nước để phát triển khoa học và công nghệ được
phân cấp: Ngân sách trung ương thường chiếm tỷ trọng từ 70-75% và ngân sách địa phương chiếm
tỷ trọng 25- 30% (theo báo cáo của Bộ Khoa học và công nghệ).
Hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ đã đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, luôn là nguồn đầu tư chủ yếu, cơ bản cho hoạt động nghiên cứu khoa học; góp
phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển đào đạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ
(bình quân hàng năm chi ngân sách nhà nước cho hoat động khoa học công nghệ chiếm khoảng
2% tổng chi của ngân sách nhà nước, tương đương 0,6 GDP và tăng bình quân mỗi năm là 19%).
Thứ hai, đã có sự thay đổi về cơ cấu, phân cấp để phù hợp với nhu cầu nguồn lực đầu tư hiện
tại, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ phát triển bền vững.
Thứ ba, cơ sở pháp lý về đầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ ngày càng
hoàn thiện hơn, chi tiết và cụ thể hóa rõ nét hơn. Cụ thể, gồm 38 văn bản cấp Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ (Nghị định, Quyết định), 88 văn bản cấp Bộ (Thông tư, Thông tư liên tịch).
Tuy nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ thời gian
qua đã có được những kết quả nhất định, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể: 10
Một là, hàng năm, mặc dù đầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ đã có tăng
nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ với nhu cầu phát triển, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, đổi mới lOMoAR cPSD| 58707906
khoa học công nghệ như hiện nay. So với các nước, nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước để
đầu tư cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam còn hạn chế, ở Việt Nam ngân sách nhà nước đầu
tư cho khoa học và công nghệ chỉ chiếm 0,6% GDP, còn châu Âu năm 2013 là 2,01%, Nhật Bản
năm 2013 là 3,47%, Mỹ năm 2012 là 2,81%...
Hai là, việc phân bổ ngân sách nhà nước để phát triển khoa học và công nghệ còn phân tán,
dàn trải, thiếu tập trung, thiếu mục tiêu ưu tiên, chưa đảm bảo theo những tiêu chí rõ ràng, thiếu
cơ chế minh bạch (Chủ yếu tập trung chi cho bộ máy; Chi cho đào tạo cán bộ khoa học và công
nghệ còn ở mức thấp khoảng 1.000USD/người/năm, trong khi mức chi trung bình ở các nước phát
triển là 55.000USD/người/năm; Chi lương cho cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng
còn thấp)… do đó dẫn đến hiệu quả đầu tư còn thấp.
Ba là, hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
còn thấp. Bởi hiện nay chưa xây dựng được một cơ chế thực sự phù hợp, từ đó để gắn kết phân bổ
ngân sách nhà nước cho các tổ chức khoa học và công nghệ với các yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể
về các sản phẩm khoa học và công nghệ mà các đơn vị nghiên cứu cần thực hiện.
Câu 16: Hạn chế còn tồn tại trong việc thu hút và sd nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức ODA tại VN? Nguyên nhân.
Sau 20 năm tiếp cận dòng vốn ODA lớn và tương đối ổn định từ cộng đồng các nhà tài trợ
quốc tế, tỷ trọng vốn ODA trong tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam đang giảm dần và hiện
chiếm chưa đến 2% GDP. Tuy nhiên, các cơ quan hoạch định chính sách bắt đầu cảnh báo: Bên
cạnh những mặt tích cực, ODA và vốn vay ưu đãi cũng đang bộc lộ những hạn chế nhất định, nếu
không cân nhắc kỹ có thể rơi vào bẫy “ODA và vay ưu đãi”.
- Luôn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc nước ngoàiODA
mang yếu tố chính trị, viện trợ thường gắn với điều kiện kinh tế. Xét về lâu dài các nhà viện trợ sẽ
có lợi về mặt an ninh kinh tế, chính trị khi các nước nghèo phát triển. ODA còn là công cụ để thiết
lập và duy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị cho các nước tài trợ.
Ví dụ: Năm 2005: Việt Nam nợ 19 tỉ USD
Từ 2006-2010: khoản nợ tăng thêm 17 tỉ USD
Sau 5 năm: khoản nợ sẽ tăng thêm 32 tỉ USD( 34-50% GDP)
- ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính
chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần thường chưa xh, nếu sử dụng không có hiệu quả nguồn vốn
ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian dài gian lại lâm vào tình
trạng nợ nần do không có khả năng trả nợ vì vốn ODA không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất,
nhất là cho xuất khẩu, trong khi việc trả nợ lại phải dựa vào việc xuất khẩu để thu ngoại tệ do đó
khi hoạch định chính sách sử dụng vốn ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn khác để tăng
cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
- ODA làm gia tăng lạm phát: Nợ dẫn đến vay nợ mới nên dẫn đến việc tăng nợ vì tăng vay.
Vòng xoáy này sẽ dẫn đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy lạm phát
Nợ => tăng nghĩa vụ nợ => thâm hụt ngân sách => tăng lạm phát . Lúc này nợ sẽ ngốn hết
các khoản chi ngân sách cho phát triển vàổn định xã hội , làm căng thẳng them trạng thái khát vốn,
hỗn loạn xã hội Chuyên gia của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam đã dự báo lạm phát của Việt Nam
năm 2013 lã 8,2% vượt xa dự định của chính phủ ( 6-7%) lOMoAR cPSD| 58707906
•Nguyên nhân: - Vì lãi suất của vốn ODA thấp hoặc bằng 0 nên không thúc đẩy hiệu quả
việc sử dụng nguồn vốn này. Thường mang tính chất trông chờ, ỷ lại. Hiệu quả đầu tư không cao.
- Việc sử dụng nguồn vốn ODA chịu sự giám sát, những điều kiện kiện nhất định của nhà tài
trợ. Ví dụ như nguồn vốn đầu tư này chỉ được đầu tư vào dự án này, hoặc khoản mục này mà không
được đầu tư vào dự án khác theo quy định, sự kiểm định của nước tài trợ.
Câu 18: Nâng cao thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam
Tình hình thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam
Kể từ khi nguồn vốn ODA bắt đầu đổ vào Việt Nam (năm 1993) đến nay, công tác vận động,
thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam đã thu được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở 3 chỉ tiêu
chủ yếu: Vốn ODA cam kết, vốn ODA ký kết và vốn ODA giải ngân. Số liệu của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư cho thấy, hơn 20 năm qua, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam trên 78,195 tỷ
USD vốn ODA, trong đó đã ký kết hiệp định chính thức 58,463 tỷ USD. Với 37,597 tỷ USD vốn
giải ngân, rất nhiều chương trình, dự án sử dụng vốn ODA đã được đưa vào sử dụng, tạo nền tảng
cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, góp phần vào xóa đói, giảm nghèo.
Theo thống kê của Bộ Tài chính, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ODA trong những năm qua
được đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực hạ tầng giao thông, phát triển nông nghiệp, nông thôn và xóa
đói giảm nghèo. Cùng với kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA thì Việt Nam cũng đã thực
hiện có hiệu quả chương trình tái cơ cấu lại các khoản nợ nước ngoài, giảm nghĩa vụ trả nợ 21
cho Chính phủ trên 12 tỷ USD, góp phần quan trọng vào việc tái cơ cấu nguồn ngân sách nhà nước
và tập trung vốn cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Các dự án của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam đạt tỷ lệ thành công 82,1%,
cao hơn tỷ lệ của một số nước như Ấn Độ (65,2%), Indonesia (63,2%), Philippines (45,5%)…
Những công trình trọng điểm đã hoàn thành và đang triển khai như: Quốc lộ 1A,
Quốc lộ 3, 5, 10; Đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; Đường xuyên Á TP.
Hồ Chí Minh - Mộc Bài kết nối với hệ thống đường bộ Campuchia và Thái Lan; Dự án xây dựng
nhà ga hành khách T2- Cảng hàng không Nội Bài; Dự án nước sạch và vệ sinh môi trường khu
vực nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng; Dự án hạ tầng giao thông khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long, Nhà máy nhiệt điện Ô Môn 2… đã thể hiện rõ tính hiệu quả của
việc sử dụng nguồn vốn ODA.
Báo cáo của Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA cho thấy, chỉ riêng năm 2014, công
tác vận động và thu hút vốn ODA, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt 4.362,13 triệu USD
(4.160,08 triệu USD vốn ODA và vay ưu đãi, 202,05 triệu USD viện trợ không hoàn lại), bằng
khoảng 68% của năm 2013. Mặc dù lượng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết năm 2014 giảm
song tình hình giải ngân lại có những cải thiện đáng ghi nhận. Giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu
đãi năm 2014 đạt khoảng 5,6 tỷ USD (vốn vay là 5,25 tỷ USD, viện trợ không hoàn lại là 350 triệu
USD), cao hơn 9% so với năm 2013.
Trong tổng số vốn giải ngân có khoảng 2,45 tỷ USD thuộc nguồn vốn xây dựng cơ bản,
khoảng 2,1 tỷ USD thuộc nguồn vốn cho vay lại, khoảng 318 triệu USD thuộc nguồn vốn hành
chính sự nghiệp và khoảng 732 triệu USD từ các khoản hỗ trợ ngân sách. Các nhà tài trợ quy mô lOMoAR cPSD| 58707906
lớn vẫn tiếp tục duy trì mức giải ngân cao như Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) 1,773 tỷ
USD, Ngân hàng thế giới (WB) 1,386 tỷ USD, ADB là 1,058 tỷ USD.
Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi huy động vẫn tiếp tục được ưu tiên sử dụng để hỗ trợ
phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; trong đó, các ngành giao thông vận tải, năng lượng và công
nghiệp, môi trường và phát triển đô thị chiếm tỷ trọng khá lớn (trên 70%). Các ngành nông nghiệp,
y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ… chiếm tỷ trọng khiêm tốn (trên 20%) …
Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình thực hiện và giải ngân các chương trình, dự án ODA
và vốn vay ưu đãi tuy có những chuyển biến tích cực song vẫn còn chậm hơn so với tiến độ đã
cam kết. Bên cạnh đó, mức giải ngân giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các địa phương còn chưa
đồng đều. Xét theo địa phương, giải ngân của các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh
cao hơn nhiều so với các địa phương khác.
Công tác quản lý, sử dụng vốn ODA cũng còn một số hạn chế. Hạn chế và yếu kém mang
tính tổng hợp nhất có thể kể tới, đó là năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA quốc gia cũng như ở cấp
ngành và địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó, thời gian xem xét và phê duyệt
danh mục tài trợ của các cơ quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ còn kéo dài; Vẫn còn nhiều
vướng mắc liên quan đến quy định quản lý rút vốn hay liên quan đến việc sử dụng vốn ODA và
vốn vay ưu đãi đối với các hạng mục chi tiêu thường xuyên vì sự nghiệp phát triển; liên 22
quan đến cơ chế tài chính trong nước đối với các khoản vay ODA và vốn vay ưu đãi; khác biệt về
quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ…
Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần
chứng tỏ được thế mạnh và tiềm năng phát triển của mình, khi đó mới có thể thu hút tốt hơn nữa
nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Do đó, để nâng cao hiệu quả tiến độ giải ngân và sử dụng hiệu
quả nguồn vốn ODA, các bộ, ngành, địa phương cần tích cực hơn nữa trong việc tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong việc giải phóng mặt bằng, nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị dự án, vốn đối ứng.
Về phía các cơ quan quản lý nhà nước nguồn vốn ODA, cơ quan chủ quản, chủ dự án và các
nhà tài trợ cần tổ chức thường xuyên các cuộc họp kiểm điểm tình hình thực hiện, xác định và kịp
thời xử lý các vướng mắc nảy sinh; thúc đẩy tiến độ thực hiện và nâng cao tỷ lệ giải ngân các
chương trình, dự án ODA. Đặc biệt, để nâng cao hiệu quả trong việc thu hút nguồn vốn ODA và
vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần phải giải quyết tốt những vấn đề sau:
Thứ nhất, chuẩn bị đầy đủ, kịp thời nguồn vốn đối ứng cho các chương trình và dự án ODA
để các dự án này đạt tỷ lệ giải ngân cao và nhanh nhất.
Thứ hai, đồng nghĩa với việc Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, nguồn
vốn vay ODA không hoàn lại và nguồn vốn vay có ưu đãi thấp cho Việt Nam sẽ giảm. Tình hình
này đòi hỏi Việt Nam cần tăng cường năng lực và cải tiến mạnh mẽ trong thực hiện dự án ODA,
sử dụng tập trung hơn để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội quy mô lớn và tạo ra tác động
lan tỏa đối với sự phát triển chung của cả nước. lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ ba, hoàn thiện các văn bản pháp lý, đổi mới trong quy trình và thủ tục quản lý dự án
ODA trên cơ sở kết hợp tham khảo những quy chuẩn của các nhà tài trợ, nhất là đối với các thủ
tục: Đấu thầu mua sắm; đền bù, di dân và tái định cư; quản lý tài chính của các chương trình, dự án…
Thứ tư, cần có những chính sách và thể chế phù hợp để tạo môi trường cho các mô hình viện
trợ mới. Trong đó, khuyến khích sự tham gia của tư nhân và các tổ chức phi chính phủ. Ngoài ra,
cần hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ tiếp cận mô hình viện trợ mới, để nâng cao hiệu quả sử
dụng, giảm bớt các thủ tục và góp phần cải thiện các hệ thống quản lý theo chuẩn mực quốc tế.
Thứ năm, cần xác định các ưu tiên đầu tư khi sử dụng vốn ODA và nâng cao công tác giám
sát, theo dõi và đánh giá dự án; đồng thời, nâng cao năng lực và nhận thức cho đội ngũ tham gia
quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA. Bản chất ODA vẫn là khoản vay và có nghĩa vụ phải trả nợ,
cho nên cần loại bỏ tư tưởng “xin” ODA trong một bộ phận cán bộ ở các cấp, đã dẫn đến chưa
quan tâm đầy đủ đến việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này.
Thứ sáu, cần nghiên cứu kế hoạch và chiến lược giảm dần nguồn vốn ODA, đặc biệt là vốn
ODA có điều kiện, đồng thời, tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như FDI.
Với cách làm này, Việt Nam không chỉ duy trì được sự gia tăng của tổng vốn đầu tư mà còn cải
thiện được hiệu quả của tất cả các nguồn vốn, bao gồm cả vốn ODA.
Câu 30. Mối quan hệ oda và fdi ở nước đang pt. Liên hệvn Mối quan hệ lOMoAR cPSD| 58707906 Lực, trình độ và sức khỏe tốt phcuj vụ cho nềnkinh tế một cách bền vững và là một trong yếutố vô cùng quan trongh cho khu vực FDI với các dự án đòi
hỏilap động có rình độ cao.
1.3. Nguồn vốn
ODA đóng vai trò
định hướng cho FDI
đầu tư vào những
ngành, vùng cần thiết Không đảm bào lợi nhuận cho các nhà
đầu tư. Dó đó nguồn ODA
cần được ưu tiên vào những
vùng miền này để cải thiện
môi trường đầu tư, tạo thuận
lợi thu hút FDI, giảm chênh lệch pt giwuax các vùng. 46 lOMoAR cPSD| 58707906