Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING -- -- 
BÀI THẢO LUẬN NHÓM 5
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài 2: Nguồn gốc hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh? Trong các nhân tố tạo
nên tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố nào đóng vai trò quyết định với bản chất khoa

học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh? Tại sao
Giảng viên: Bùi Hồng Vạn Mã LHP: 2318HCMI0111 Hà Nội, tháng 3 năm 2023 Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN..................................................................................................4
1. Khái quát Tư tưởng Hồ Chí Minh..........................................................................................4
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?..........................................................................................4
1.2. Nội dung cốt lõi Tư tưởng Hồ Chí Minh.........................................................................4
1.3 Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh..................................................................................4
2. Cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh..............................................................................5
2.1 Cơ sở khách quan.............................................................................................................5
2.2. Nhân tố chủ quan.............................................................................................................7
3. Quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh.............................................7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG.......................................................................................................9
1. Nguồn gốc hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.................................................................9
1.1. Tư tưởng HCM là sự kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam mà đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước................................................................................9
1.2. Tư tưởng HCM là sự tiếp thu và phát triển tinh hoa của VH nhân loại.........................11
1.3. Tư tưởng HCM là sự vận dụng phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mac-lenin................12
1.4. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của HCM là nhân tố rất quan
trọng để hình thành và phát triển tư tưởng HCM..................................................................15
2. Nhân tố quyết định đối với bản chất khoa học và cách mạng của Tư tưởng Hồ Chí Minh. .17
2.1.1. Bản chất Khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh........................................................17
2.1.2. Bản chất Cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh....................................................20
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ VÀ KẾT LUẬN....................................................................................23
1. Liên hệ với việc giảng dạy...................................................................................................23
2. Kết luận............................................................................................................................... 25
ĐỀ TÀI 2: VẬN DỤNG CÁC CHUẨN MỰC TRUNG VỚI NƯỚC HIẾU VỚI DÂN, CẦN
KIỆM LIÊM CHÍNH TRONG TTHCM ĐỂ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN ĐẠI
HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY.............................................................................................28
BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM 05........................................................................................29 1 LỜI CẢM ƠN
Nhóm 5 chúng em gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Bùi Hồng Vạn. Suốt thời gian
vừa qua thầy đã hết mình giảng dạy để đem lại kiến thức cho chúng em, tại tiền đề để
chúng em có thể hoàn thành bài thảo luận này. Vì kiến thức còn hạn chế nên bài thảo
luận của chúng em có thể còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ
thầy để bài của chúng em hoàn thiện hơn!
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, chúng ta đang được sống trong 1 cuộc sống hòa bình do công sức do
chính máu của cha ông ta dành lấy được. Trong quá trình đầy gian nan đó, không thể
thiếu 1 đường lối chính quy, đúng đắn, cái đích chính xác và quan trọng nhất là 1 vị
lãnh tụ yêu nước, vì dân, vì nước.
Hồ Chí Minh là một hiện tượng đa văn hoá. Hồ Chí Minh không phải là một ông
già xứ Nghệ thuần chất. Các nhà báo nước ngoài từng tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều
nhận xét: trong văn hoá Hồ Chí Minh có chất "uymua" Anh, chất lịch thiệp, trang nhã
Pháp, chất thâm thuý, hàm súc của các nhà hiền triết phương Đông.
Bàn về tư tưởng và văn hoá Hồ Chí Minh, nếu coi đó là một “nền tảng tinh khiết,
không pha trộn” – với ý nghĩa là thuần chất Mác-Lênin - chưa hẳn đã là một lời khen,
bởi nó vừa không đúng về khoa học, vừa sai với thực tế. Trong tự nhiên cũng như trong
xã hội, không có hiện tượng nào thuần tuý tinh khiết, không pha trộn. Văn hoá càng
như thế. Chính Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định điều này: “Văn hoá Việt Nam là ảnh
hưởng lẫn nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương chung đúc lại”. Và Người đã
nhắc nhở các nhà văn hoá Việt Nam: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta
học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá
xưa và nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam có tinh thần thuần tuý Việt Nam, để hợp với
tinh thần dân chủ”1. Mặt khác, Người cũng căn dặn: “Mình đã hưởng cái hay của người
thì cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả2, nghĩa
là phải biết học tập một cách sáng tạo, để có những đóng góp xứng đáng vào kho tàng 2
văn hoá của nhân loại. Đó là nguyên tắc phương pháp luận nhất quán của Hồ Chí Minh
trên con đường tiếp biến các giá trị văn hoá của loài người.
Hồ Chí Minh được thừa nhận là biểu tượng sáng ngời của sự tích hợp văn hoá
Đông - Tây, trước hết đó là kết quả của một đời không ngừng học tập và thâu thái; mặt
khác cũng là do Người đã luôn biết xuất phát từ bản lĩnh, bản sắc của văn hoá dân tộc
để tiếp thu và biến hoá những giá trị của loài người, làm phong phú vốn văn hoá của
mình mà vẫn giữ được tinh thần thuần tuý Việt Nam.
Trong bài thảo luận này, chúng em sẽ làm rõ “Nguồn gốc hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh và tìm ra nhân tố đóng vai trò quyết định với bản chất khoa học và
cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh”
Nhóm 5 có sự tham gia của các thành viên: STT THÀNH VIÊN NHIỆM VỤ GHI CHÚ 43 Nguyễn Ngọc Lan Tổng hợp word Nhóm trưởng 44 Lê Thị Lệ Chương 3 Thư ký 45 Đỗ Mai Linh Chương 2 47 Lê Khánh Linh Thuyết trình 48 Lê Trần Thùy Linh Thuyết trình 49 Nguyễn Thị Linh Chương 2 50
Trần Hoàng Diệu Linh Chương 2 51 Nguyễn Thị Thiên Lý Chương 2 52 Lương Ngọc Mai Powerpoint 53 Nguyễn Phương Mai Chương 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1. Khái quát Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của Cách Mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý
giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
1.2. Nội dung cốt lõi Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc
Quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân
Quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Về phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, Đảng viên vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy
tớ thật trung thành của nhân dân.
1.3 Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa trường tồn, dẫn đường cho dân tộc ta đi lên.
Toàn đảng toàn dân ta tìm thấy trong di sản chủ tịch Hồ Chí Minh những giá trị của sự phát
triển, của khát vọng vươn tới "Chân thiện mỹ ". Tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng
cho nhận thức và hành động của toàn Đảng toàn dân trong công cuộc đổi mới, vượt qua muôn
vàn khó khăn, thử thách, tiến hành nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước.
Hệ giá trị con người Việt Nam cần xây dựng trong sự nghiệp cách mạng nói chung và
trong công cuộc giai đoạn hiện nay chính là những nội dung trên cơ sở bắt nguồn từ tư tưởng
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 4
Di sản của chủ tịch Hồ Chí Minh là di sản của một nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc trong
phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào vì hòa
bình, hợp tác và phát triển trên thế giới. Di sản đó không chỉ là tài sản của dân tộc Việt Nam
mà còn là tài sản của nhân loại tiến bộ. Những vấn đề toàn cầu mà chủ tịch Hồ Chí Minh
hướng tất cả mọi người Việt Nam hướng tất cả mọi người có lương tri trên thế giới thực hiện
đã góp phần xây dựng một thế giới tiến bộ, văn minh. Do đó, Unesco đã đánh giá rằng chủ
tịch Hồ Chí Minh là một hiện tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến
trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc
đấu tranh chung của các dân tộc khác vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thế giới luôn luôn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi với ý nghĩa truyền cảm
hứng cho sự phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại, làm cho các dân tộc, mọi người thoát
khỏi sự áp bức, bất công, vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ.
2. Cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1 Cơ sở khách quan  Hoàn cảnh lịch sử
Tình hình trong nước, chính quyền triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm
lược của thực dân Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của
chúng trên toàn cõi Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hóa.
Tình hình quốc tế, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự
do chuyển sang giai đoạn độc quyền, xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới.
Những tiền đề tư tưởng, lý luận
Truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trước hết là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống cần cù lao động, anh dũng chiến đấu trong
dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, sống có tình, có nghĩa, nhân ái Việt Nam.
Trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là dòng chảy
xuyên suốt lịch sử dân tộc Chính truyền thống yêu nước của dân tộc đã trở thành sức mạnh
động lực mạnh mẽ thúc giục Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đi tìm đường cứu nước vào
năm 1911. Đó là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cả cuộc đời
hoạt động cách mạng. Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đã dẫn dắt Người đến với chủ nghĩa 5
Mác – Lênin. Hồ Chí Minh viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ
nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
Tinh hoa văn hoá nhân loại
Sự kết hợp của văn hóa phương Tây và văn hóa Phương Đông
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Đông.
Người cũng đã tiếp thu và kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hoá Phục
hưng, thế kỷ Ánh sáng, của cách mạng tư sản phương Tây và cách mạng Trung Quốc.
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu tư
tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ, đặc biệt là tư tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái, chủ nghĩa Tam
dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc)… Người đã vận dụng và phát triển các trào lưu tư
tưởng học thuyết ấy lên một trình độ mới phù hợp với dân tộc và thời đại mới.
Như vậy, trong quá trình hình thành phát triển tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đã kế thừa có
chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông phương Tây, nâng lên một trình độ mới trên cơ sở
phương pháp luận Mácxít – lêninnít.
Chủ nghĩa Mác – Lênin
Khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước thuộc địa và nhiều nước tư
bản đế quốc. Trong khoảng thời gian đó, Hồ Chí Minh được bổ sung thêm những nhận thức
mới về những gì ẩn dấu đằng sau các từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Khoảng cuối năm 1917, khi
trở lại Pari, Hồ Chí Minh đã làm quen với nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội của nước Pháp
và nhiều nước trên thế giới. Năm 1919, Hồ Chí Minh tham gia Đảng Xã hội Pháp (SFIO), một
đảng tiến bộ lúc bấy giờ thuộc Quốc tế II. Việc Hồ Chí Minh tiếp thu bản Luận cương của
Lênin tháng 7-1920 và trở thành người cộng sản vào cuối năm đó đã tạo nên bước ngoặt căn
bản trong tư tưởng của Người. Thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin đã giúp Hồ
Chí Minh nhìn nhận, đánh giá phân tích tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc
cách mạng một cách khoa học; cùng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để đề ra
con đường cách mạng giải phóng dân tộc đứng đắn.
Có thể khẳng định rằng Chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc lý luận cơ sở chủ yếu nhất của
sự hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (tháng
3-1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông đã có quan hệ với nhau trong cuộc đấu
tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
2.2. Nhân tố chủ quan 6
- Tài năng và hoạt động thực tiễn sáng tạo của Hồ Chí Minh. Lý luận tư tưởng bao giờ cũng là
sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra trên cơ sở nhận thức các nhân tố khách
quan. Từ những trải nghiệm thực tế và việc được tiếp xúc với các nguồn tư tưởng mới đã hình
thành tư tưởng của Người.
- Ngay từ khi còn trẻ, Hồ Chí Minh đã có hoài bão lớn, có bản lĩnh kiên định, giàu lòng nhân
ái và sớm có chí cứu nước, giúp nhân dân thoát khỏi kiếp nô lệ. Tư chất thông minh, tư duy
độc lập, sáng tạo tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới là những đức tính dễ thấy ở
người thanh niên Nguyễn Tất Thành. Phẩm chất đó được rèn luyện, phát huy trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng của Người.
- Nhờ vậy, giữa thực tiễn phong phú và sinh động, giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác
nhau, giữa biết bao tình huống phức tạp, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu, phân tích tổng hợp, khái
quát hình thành những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học căn cứ vào các văn kiện của Đảng thì tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
3. Quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và nó đã trải qua một quá trình lâu dài thông qua
khoảng thời gian tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động
cách mạng phong phú của Người.
– Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng từ 1890 đến 1911:
Khi còn trẻ, với những đặc điểm quê hương, gia đình và môi trường sống, Hồ Chí Minh đã tư
tích lũy được những hiểu biết và tạo dựng cho mình nhiều phẩm chất đáng quý. Giai đoạn tìm
tòi, khảo nghiệm từ 1911 đến 1920 là giai đoạn bôn ba tìm đường cứu nước:
+ Hồ Chí Minh đã đi tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của
nhân dân các dân tộc bị áp bức.
+ Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về các vấn đề dân tộc và
thuộc địa, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.
+ Hồ Chí Minh đã chọn con đường đó là đứng hẳn về Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. 7
Sự kiện đứng hẳn về Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp đánh dấu bước
chuyển biến về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin,
từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước thành người cộng sản.
– Giai đoạn hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam (1921 – 1930):
+ Trong giai đoạn này, chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tích cực trong Ban nghiên cứu thuộc
địa của Đảng cộng sản Pháp, tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo Le Paria
nhằm mục đích để có thể tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa.
+ Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và được bầu vào Đoàn chủ tịch của Hội
giữa năm 1923. Sau đó, Hồ Chí Minh về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức hội Việt Nam
cách mạng thanh niên, cho ra đời Báo thanh niên, cùng với đó là mở các lớp huấn luyện chính
trị, đào tạo cán bộ, đưa họ về nước hoạt động cuối năm 1924.
+ Tháng 02- 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp thảo ra các văn kiện cụ thể đó là
các văn kiện sau: Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình và Điều lệ vắn tắt của
Đảng. Các văn kiện được neue này, cùng với hai tác phẩm Người hoàn thành và xuất bản
trước đó là Bản án chế độc thực dân Pháp (1925) và Đường Kách mệnh (1927) đã đánh dấu cơ
bản sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng của Việt Nam.
– Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định của cách mạng Việt Nam (1930 – 1941):
+ Đại hội VII Quốc tế cộng sản năm 1935 đã có sự chuyển hướng về sách lược, chủ trương
thành lập Mặt trận dân chủ chống phát xít.
+ Năm 1936, Đảng ta đề ra chiến sách mới, phê phán những biểu hiện tả khuynh, cô độc, biệt
phái ở giai đoạn trước đây. Từ đây Đảng ta đã trở lại với Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Hồ Chí Minh.
+ Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1939 cũng đã khẳng định rõ là cần phải
đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề
của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích giải phóng dân tộc,
lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao để mà giải quyết.
Những diễn biến của quá trình này cũng đã góp phần quan trọng phản ánh quy luật của cách
mạng Việt Nam, giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh.
– Giai đoạn phát triển và hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh (1941 đến 1969):
+ Đầu năm 1941, chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nước, trực tiếp chỉ đạo Hội nghị Trung ương 8
(tháng 5 năm 1941), tại hội nghị này đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết. 8
+ Sau khi giành được chính quyền và chiến thắng lịch sử vào năm 1945, Đảng ta và nhân dân
ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam.
+ Trước khi qua đời chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã để lại di chúc gửi gắm trong đó những tinh
hoa của tư tưởng, đạo đức, tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có, đã suốt đời phấn đấu hy
sinh vì Tổ quốc và toàn nhân loại của Người.
+ Đảng ta và nhân dân ta ngày càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn di sản tinh thần vô giá
mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta cũng
đã khẳng định rằng Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định được vai
trò của mình và đây thực sự là nguồn trí tuệ, nguồn động lực soi sáng và thúc đẩy công cuộc
đổi mới phát triển của toàn đất nước ta
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
1. Nguồn gốc hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Tư tưởng HCM là sự kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam mà đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước

- Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, tổ
chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống
văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những
khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc
đẩy hiểu biết lẫn nhau…
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập
cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý. 9
- Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và
giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc
ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình
lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê
hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Thời kỳ phong kiến, yêu
nước có nội dung trung quân ái quốc, lợi ích giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của nhân
dân lao động trong sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.
- Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với
Người là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của
Người không bao giờ thay đổi…Người có một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc
lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước,
hiếu với dân” và phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa
trên quan điểm giai cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối
với nhân dân lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế
giới. Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ
quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân
mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm.
- Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức,
đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình
có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào,
đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin-đỉnh
cao của trí tuệ nhân loại-cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống. Người nhấn mạnh:
Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh
sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng
đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh
phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho
con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng
Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh
thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những
yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. 10
1.2. Tư tưởng HCM là sự tiếp thu và phát triển tinh hoa của VH nhân loại
Nói đến văn hóa nhân loại có tầm cỡ vĩ đại nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với Hồ Chí
Minh là phải nói đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã tiếp thu phát triển chủ
nghĩa Mác-Lênin và ứng dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa cách mạng Việt
Nam giành nhiều thắng lợi vĩ đại và cống hiến nhiều vào kho tàng lý luận mác-xít cũng như
phương pháp hoạt động sáng tạo của cuộc cách mạng vô sản.
Tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông:
- Trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và
người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.
- Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ
lượng, khoan dung – những nét đặc trưng của giáo lý đạo Phật. Những mặt tích cực của Phật
Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia
đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn
trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đối với lão giáo hoặc đạo giáo Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng của
lão tử khuyên con người nên sống gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên. Hơn nữa
phải biết bảo vệ môi trường sống, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây. Tổ chức tết
trồng cây để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người. Hồ Chí Minh
chú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong lão giáo - người
khuyên cán bộ đảng viên ít lòng tham muốn về vật chất, thực hiện cần kiệm, liêm chính, chí
công vô tư. Hành động theo đạo lý với ý nghĩa là hành động đúng với quy luật tự nhiên xã hội
- Hồ Chí Minh còn kế thừa phát triển nhiều ý tưởng của các trường phái khác nhau
trong các nhà tư tưởng Phương Đông cổ đại như mặc tử Hàn Phi tử,… Đồng thời Hồ Chí
Minh cũng chú ý tìm hiểu những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ, Trung
Quốc như chủ nghĩa Găng đi, chủ nghĩa Tam Dân của tôn Trung Sơn,... Hồ Chí Minh đã phát
triển sáng tạo các quan điểm về dân tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn trong cách
mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng đấu tranh cho độc lập- tự do- hạnh phúc của con người và
dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản. Là nhà mác xít sáng tạo, hồ Chí Minh đã 11
kế thừa và phát triển những tinh hoa trong tư tưởng văn hóa phương Đông để giải quyết những
vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam thời hiện đại
Tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây:
- Trong 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, chủ yếu ở châu Âu, Hồ Chí Minh
đã chịu ảnh hưởng sâu sắc, tiếp thu những tiến bộ của các nhà tư tưởng, các nền văn hóa
phương Tây. Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc đến ý
chí đấu tranh cho độc lập, tự do, cho quyền được sống của con người ghi trong bản Tuyên
ngôn độc lập năm 1786 của nước Mỹ. Hồ Chí Minh đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân
quyền - quyền tự do cá nhân trong bản Tuyên ngôn này. Chính vì vậy, sau này Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã tiếp thu và nâng lên một tầm cao mới trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945.
- Năm 1913, Nguyễn Tất Thành đến nước Anh, Người đã đi những bước đầu tiên
trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, gia nhập Công đoàn thủy thủ Anh và cùng với
giai cấp công nhân ở đây tham gia các cuộc biểu tình, đình công. - Cuối năm 1917, Nguyễn
Tất Thành sang Pháp -“Thủ đô Ánh sáng”, quê hương của tư tưởng tự do-bình đẳng-bác ái,
tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà tư tư tưởng khai sáng như: Vonte; Rútxô;
Mông-téc-xkiơ;...ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng yêu nước của mình. Lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc còn học được cách thực hiện dân chủ ngay trong cách sinh hoạt khoa học ở câu lạc bộ
Phôbua trong quá trình hoạt động chính trị ở Đảng Xã hội Pháp, tiêu biểu nhất là các bài tranh
luận tại Đại hội Tua (tháng 12-1920). Người hoạt động, rèn luyện trong phong trào công nhân
Pháp, được sự cổ vũ, dìu dắt của trực tiếp của nhiều nhà cách mạng, trí thức tiến bộ Pháp. Rất
nhiều đảng viên Đảng Xã hội Pháp và nhiều người ở các nước thuộc địa đã tiếp xúc với Luận
cương của V.I.Lê nin, nhưng chỉ Nguyễn Ái Quốc tìm thấy trong đó con đường chân chính
cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng các dân tộc thuộc địa.
1.3. Tư tưởng HCM là sự vận dụng phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mac-lenin
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những bài học sâu
sắc từ Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga nhưng Người không rập khuôn, sao chép theo
nền tảng đó mà tiếp thu cái tinh thần của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Qua luận cương của Lênin,
Hồ Chí Minh đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam – con đường giải phóng dân 12
tộc. Từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam, từ những hiểu biết sâu sắc văn hóa
phương Đông, văn hóa Pháp, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin,
Người cho rằng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc”, nhân dân thuộc
địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình, cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa.
Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác – Lênin như một kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu
nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh rằng cần phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần
kỳ” đó. Từ phương pháp tiếp cận đúng đắn, mạnh dạn, khoa học trong kế thừa và phát triển
học thuyết Mác – Lênin, đồng thời bám sát thực tiễn Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh đã có
những luận điểm sáng tạo góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin trong vấn đề
cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ mới và con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở một nước phương Đông, thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu.
Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về
cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với chủ nghĩa Mác –Lênin.
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất biện chứng với chủ nghĩa Mác – Lênin về
những vấn đề của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa, đó là: Xây dựng Đảng, đội tiên phong của giai cấp và dân tộc để lãnh đạo
công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; về giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của quần chúng nhân dân và khối đại đoàn
kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng Nhà nước thực sự của dân,do
dân, vì dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ
quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân; về phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; về đạo đức cách mạng cần,
kiệm,liêm, chính, chí công vô tư; chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Đây là
những vấn đề cốt lõi nhất của cách mạng cả trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Thứ nhất, luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về chủ
nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất, quy luật vận 13
động, địa vị lịch sử, những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn sát dã man của chủ nghĩa thực dân
Pháp đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ những nguyện vọng khát khao được giải phóng và
những cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ
Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà những nhà lý luận Mác – xít đề cập đến.
+ Hai là, khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng
quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo, Người
tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn cho dân tộc, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo Hồ Chí Minh, ở Việt Nam cũng như các
nước phương Đông, do trình độ sản xuất phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai
cấp không giống như ở các nước phương Tây. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chủ nghĩa
dântộc là một động lực lớn của sự phát triển đất nước” ; gắn cách mạng Việt Nam với cách
mạng Thế giới, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, nghĩa là
Người đã quốc tế hóa những vấn đề của cách mạng nước ta.
+ Ba là vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
Hồ Chí Minh khẳng định: Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ,chúng ta nhất
định phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúngta mới thực sự
giải phóng được dân tộc, xã hội và con người. Đặc điểm lớn nhất của thời kỳquá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lênchủ nghĩa xã hội
không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
+ Bốn là về Đảng và xây dựng Đảng được Hồ Chí Minh nêu lên đầy mới mẻ và sáng
tạo. Với một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư như Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã xác định quy luật hình thành của Đảng là “kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước, bản chất của Đảng trong điều kiện một nước
nông nghiệp lạc hậu – Đảng là của giai cấp, đồng thời của dân tộc và của nhân dân lý luận,
chính trị, tổ chức mà cả về văn hóa.
+ Thứ năm, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến sáng tạo về tư tưởng quân sự, đặt nền
móng cho sự hình thành học thuyết quân sự cách mạng Việt Nam hiện đại. Xuất phát từ nhiệm
vụ cơ bản, hàng đầu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành chính
quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Người đã xác định: Phải giành chính quyền bằngbạo lực,
bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ thù ngoan cố, không chịu hạ vũ khí. 14
+ Điểm thứ sáu là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác– Lênin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên
chính vô sản. Ở Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo
về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà phát triển lên. Trong
chánh cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh đã nêu: Thiết lập chính phủ công nông binh, tổ
chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị TW8 (5/1941), Người đề ra chủ trương thành lập
“một nướcViệt Nam dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào, mà của chung toàn quốc.
+ Bảy là, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Hồ Chí Minh đã có các quan điểm sáng
tạovề chiến lược đại đoàn kết dân tộc theo phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn
kết;Thành công, thành công, đại thành công”. Đường lối của cách mạng Việt Nam là đi từ
giảiphóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội,
kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách
mạngđó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
1.4. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của HCM là nhân tố rất quan
trọng để hình thành và phát triển tư tưởng HCM

Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu về phẩm chất đạo đức của dân tộc và Đảng ta.
Không chỉ ngẫu nhiên mà Người được toàn dân gọi là vị lãnh tụ vĩ đại của toàn dân tộc. Với
phẩm chất cao quý và phong cách sống của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
một sự nghiệp vĩ đại, một di sản tinh thần vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Là một người Việt Nam, Người sinh ra và lớn lên khi đất nước chìm dưới ách đô hộ
của thực dân Pháp, Người cũng đã chứng kiến rất nhiều nỗi khổ cực của đồng bào và những
phong trào đấu tranh chống Pháp bị chìm trong biển máu. Chính vì thế, điều này đã thôi thúc
Hồ Chí Minh đi tìm lý tưởng cao cả và hoài bão lớn cứu dân, cứu nước thoát khỏi cảnh lầm
than, cơ cực, tiến đến độc lập tự do và đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Người có ý
chí, nghị lực to lớn, một mình dám đi ra nước ngoài khảo sát thực tế các nước phát triển trên
thế giới cũng như các dân tộc thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, mà chỉ với hai bàn tay trắng. Trên 15
con đường sang phương Tây tìm đường cứu nước, Người đã dừng chân nhiều nơi trên thế
giới, đã khảo sát tại nhiều nước và đặc biệt dừng chân lâu tại Mỹ, Anh và Pháp. Cuộc sống tuy
bôn ba, khổ cực nhưng Người vẫn luôn cống hiến hết mình để tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn là người có bản lĩnh tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu
tính phê phán, đổi mới và cách mạng. Nếu như các bậc tiền bối, các nhà cách mạng chọn con
đường sang phương Đông thì ngược lại, Hồ Chí Minh lại chọn con đường sang phương Tây,
cụ thể là nước Pháp để tìm đường cứu nước, cứu dân. Đây là lựa chọn hết sức táo bạo của
Người. Trong quá trình sang phương Tây tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã không ngừng
quan sát, nhận xét thực tiễn, làm phong phú thêm sự hiểu biết của mình, đồng thời hình thành
những cơ sở quan trọng để tạo dựng nên những thành công trong lĩnh vực hoạt động lý luận
của Người về sau. Và cuối cùng, ánh sáng của con đường cứu nước đã được lóe lên khi Người
đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của
Lênin và hướng tới giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Tiếp thu chủ nghĩa
Mác – Lênin, Người coi đó là kim chỉ nam cho hành động, là phương pháp luận chỉ dẫn,
Người không hạn chế, buộc mình và cũng không trói buộc người khác hay để người khác trói
buộc mình vào từng câu từng chữ. Tư duy của Hồ Chí Minh đã in sâu câu nói của Lê-nin:
“Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đó đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm
phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành
lạc hậu đối với cuộc sống”.
Tiếp đó, Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, đã đưa cách
mạng Việt Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới. Người đã quyết định chọn ra
con đường cách mạng chưa từng có trong lịch sử đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa và
phụ thuộc - “Con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trong thời gian kháng
chiến, việc nào cũng quan trọng, cũng khẩn cấp nhưng Hồ Chí Minh đã đưa ra quyết định
đúng đắn, thực hiện những công việc then chốt, đánh dấu bước ngoặt lớn. Tiêu biểu là Người
đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày
02/09/1945. Hay là sự kiện hợp nhất 3 Đảng : Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng
sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản
Việt Nam. Có thể nói, phải có một tầm nhìn rộng, đi trước thời đại thì Người mới có thể đưa
ra quyết định sáng suốt và góp phần đưa Việt Nam thành nước độc lập, tự do. 16
Hồ Chí Minh là người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, là người suốt đời
đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam và của cách mạng thế giới.
Sự khổ công học tập để chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức nhân loại, là tâm hồn của một nhà yêu
nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản nhiệt tình cách mạng, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì
độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào. Những phẩm chất cá nhân đó là một
nhân tố quyết định những thành công sáng tạo của Hồ Chí Minh trong hoạt động lý luận và
thực tiễn không vì cho sự nghiệp riêng mình mà vì cả dân tộc Việt Nam và nhân loại. Theo
Người, trung với nước, trung thành với lợi ích quốc gia, dân tộc và sự nghiệp đấu tranh cách
mạng của Đảng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Còn hiếu với dân, Người luôn tâm
niệm rằng: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.
2. Nhân tố quyết định đối với bản chất khoa học và cách mạng của Tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mac-Lenin là cơ sở đề quyết định bản chất Khoa học và Cách mạng của Tư
tưởng HCM. Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ
rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bịáp
bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo vàtha hóa về
nhiều mặt. Đồng thời học thuyết chỉ ra lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc là công nhân
và nhân dân lao động. Học thuyết chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. Đó là
quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về sự chuyển biến giữa
hình thái kinh tế- xã hội này sang hình thái kinh tế- xã hội khác không phải diễn ra một cách
tự phát mà phải thông qua đấu tranh giai cấp. Từ đó, Mác- Ăngghen và Lênin đã tìm ra quy
luật về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội như một tất yếu.
2.1.1. Bản chất Khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Có thể nói, chủ nghĩa Mác- Lê nin là thế giới quan, là phương pháp luận của Tư tưởng
Hồ Chí Minh, đem lại cho Người phương pháp đúng đắn để tiếp cận văn hoá dântộc và văn
hoá, trí tuệ nhân loại. Hồ Chí Minh đã chuyển hóa và nâng cao được những yếu tố tích cực,
tiến bộ của truyền thống dân tộc, cũng như tinh hoa văn hoá nhân loại đểtạo ra tư tưởng của mình. 17
Tính khoa học trong tư tưởng của Người thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh các quan điểm được trình bày
theo các luận điểm, luận cứ rõ ràng, đó là tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng
dân tộc; tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tư
tưởng về Đảng Cộng sản Việt Nam; tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; tư
tưởng về dân chủ và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; tư tưởng về văn hóa, đạo đức
và xây dựng con người mới.
- Tư tưởng của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở Người khám phá ra các quy
luật vận động xã hội, đời sống văn hóa, nghiên cứu các cuộc đấu tranh của các dân tộc trong
hoàn cảnh cụ thể để khái quát thành các lý luận. Sau đó lý luận lại được đem vào kiểm nghiệm
trong thực tiễn đấu tranh chứ không chỉ là các lý thuyết sách vở. Như vậy Tư tưởng HCM có
sự kết hợp giữa cả lý thuyết và thực tiễn
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sáng tạo và phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin trong
hoàn cảnh lịch sử mới của thời đại và của dân tộc Việt Nam. Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên
của Hồ Chí Minh là luận điểm về chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Những tác
phẩm của Người là "Bản án chế độ thực dân Pháp" (xuất bản năm 1925) và "Đây công lý của
thực dân Pháp ở Đông Dương" đã vạch trần bản chất và những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn
sát dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ nỗi đau khổ, của
kiếp nô lệ, nguyện vọng khát khao được giải phóng và những cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lê-nin, viết năm 1920, đã thức tỉnh
Nguyễn Ái Quốc, đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, vì dây là chủ nghĩa duy nhất
quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Những vượt trên những hạn chế lúc thuộc địa phụ thuộc vào
cách mạng chính quốc, là "hậu bị quan" của cách mạng và sản chính quốc; cách mạng chính
quốc thắng lợi thì các thuộc địa mới được giải phóng, Hồ Chí Minh vốn là người dân thuộc
địa, hiểu sâu sắc khát vọng và tiềm năng, sức mạnh to lớn của các dân tộc thuộc địa, nên đã
nêu lên luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với
cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân
dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể "chủ động đứng lên, đem sức ta mà giải phóng
cho ta", giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính
quốc. Đường lối của cách mạng Việt Nam là đi từ giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân 18
chủ nhân dân, từng bước tiên lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã
hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền
tảng liên minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Cũng từ
luận điểm cơ bản đó, Hồ Chí Minh đã có những phát hiện sáng tạo về Đảng Cộng sản ở một
nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư; xác định quy luật hình thành
của Đảng là kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc.
Trên cơ sở kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc, học tập kinh nghiệm hoạt động
quân sự của thế giới và của các Đảng anh em, tổng kết thực tiễn đấu tranh vũ trang, chiến
tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh đã sáng
tạo ra học thuyết quân sự hiện đại của Việt Nam. Trong đó, nổi bật là quan điểm về chiến
tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ; về xây dựng lực lượng vũ trang
toàn dân với ba thứ quân chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ; về nền quốc phòng toàn dân,
toàn diện, hiện đại....
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai
cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc và phát triển lên,
Hồ Chí Minh cho rằng, "mục đích của Quốc tế Cộng sản là làm thế giới vô sản cách mạng,
thiết lập vô sản chuyên chính", nhưng chúng ta phải căn cứ vào trình độ chính trị, kinh tế, xã
hội của đất nước mà đề ra đường lối, chiến lược cách mạng phù hợp, "chứ không phải nước
nào cũng phải làm cách mạng vô sản, lập chuyên chính như nhau". Vì vậy, ngay từ Chánh
cương vắn tắt (1930), Người đã nêu: Thiết lập Chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội
công nông. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), Người đề ra chủ trương thành lập "một
nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần Tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước
dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào, mà của chung toàn thể dân tộc".
- Về vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
trước hết, Người khẳng định: Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chúng ta
nhất định phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta mới
thực sự giải phóng được dân tộc, xã hội và con người. Vì vậy, chủ trương tiến hành đồng thời
hai nhiệm vụ chiến lược (miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục hoàn 19