lOMoARcPSD| 58728417
MỞ ĐẦU
Sự yếu kém về luận một nguyên nhân trực tiếp rất quan trọng của
bệnh kinh nghiệm. Tuy nhiên, sự yếu kém về luận không chỉ dẫn đến bệnh kinh
nghiệm mà còn dẫn đến bệnh giáo điều. Bởi vì, chính sự yếu kém về lý luận làm
cho chúng ta dễ tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin một cách đơn giản, phiến
diện, cắt xén, sơ lược, không đến nơi đến chốn.
Việc tiếp thu luận từ trình độ duy kinh nghiệm dễ dẫn đến làm méo
luận. Trước đây, khi nói về Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Đảng ta còn
nhiều nhược điểm, mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn
thấp kém.
Có thể nói, nhận định đó ngày nay vẫn đúng. Vì vậy một trong những cách nâng
cao trình độ luận, trình độ trí tuệ việc tôn trọng vận dụng đúng các nguyên
tắc giá trị đã được chứng minh. Qua bài phân tích sau đây tổng đài vấn Luật
Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Nguyên tắc thống nhất giữa
luận thực tiễn áp dụng nguyên tắc này vào con đường đi lên chủ nghĩa
hội ở nước ta”
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC -LÊNIN
1.1. Khái niệm thực tiễn và lý luận của triết học 1.1.1.
Phạm trù thực tiễn của Triết học
Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn phạm tbản trong luận nhận thức mác xít. -nin cho rằng:
“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải quan điểm thứ nhất bản của
lí luận nhận thức”.
Triết học Mác Lênin đánh giá phạm trù thực tiễn một trong những phạm trù
nền tảng, bản của triết học nói chung luận nhận thức nói riêng. Quan
điểm đó đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học. Triết học
Mác khẳng định:
lOMoARcPSD| 58728417
Thực tiễn toàn bộ những hoạt động vật chất mục đích, mang tính lịch sử
xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Như vậy, khác với hoạt động duy, trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng
những công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo
mục đích của mình. Đây hoạt động đặc trưng bản chất của con người.
được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi
con người qua các thời kỳ lịch sử. Do vậy, thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật
chất có mục đích và mang tính lịch sử – xã hội.
Hoạt động thực tiễn có 03 hình thức cơ bản:
Lao động sản xuất vật chất hình thức thực tiễn bản, hoạt động
trực tiếp tác động vào tự nhiên nhăm tạo ra của cải, vật chất cho sự tồn
tại và phát triển của xã hội
Hoạt động chính trị hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người
khác nhau nhằm cải biến các mối quan hệ hội để thúc đẩy xã hội phát
triển. Đây những hoạt động làm cải biến mối quan hệ xã hội, làm thay
đổi các chế độ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển.
Thực nghiệm khoa học hoạt động được tiến hành trong đều kiện do
con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự
nhiên hội nhằm xác định các quy luật vận động của đối tượng
nghiên cứu. Đây là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, vai trò
ngày càng tăng trong sự phát triển ca xã hội.
- Giữa các dạng hoạt động này mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong
đóhoạt động sản xuất vật chất cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định. Bởi
hoạt động khách quan, thường xuyên nhất tạo ra điều kiện cần thiết để con
người tồn tại phát triển; đồng thời cũng tạo điều kiện đtiến hành các dạng
hoạt động khác. Còn các dạng hoạt động khác nếu tiến bộ thì tạo điều kiện cho
hoạt động sản xuất vật chất được tăng cường, nếu phản tiến bộ thì kìm hãm sự gia
tăng của sản xuất vật chất.
lOMoARcPSD| 58728417
- Chính sự tác động lẫn nhau giữa các dạng (hình thức) hoạt động làm
chothực tiễn vận động, phát triển không ngừng ngày càng vai trò quan trọng
đối với nhận thức.
1.1.2. Phạm trù Lí luận của triết học
luận theo tiếng Hy Lạp “theoria” có nghĩa sự quan sát, nghiên cứu, nhận
ra, thảo luận.
nhiều cách hiểu khác nhau về “lí luận”, song thể hiểu theo cách phổ biến
nhất: “Lí luận hthống tri thức được khái quát tthực tiễn phản ánh những mối
liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng”
.Hồ Chí Minh chỉ rõ: luận sự tổng kết nhuengx kinh nghiệm của loài người,
tổng hợp những tri thức vtự nhiên hội tích trữ lại trong quá trình lịch
sử”
Để tồn tại phát triển, con người luôn tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu hiểu
biết của mình vthế giới, trên sở đó nhằm cải biến thế giới. Sự hiểu biết của
con người cũng có nhiều cấp độ khác nhau.
Cấp độ thấp ca nhận thức là kinh nghiệm. Đây là loại nhận thức hình thành tsự
quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí
nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm.
hai loại, tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.
Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát
trực tiếp hàng ngày.
Tri thức kinh nghiệm khoa học loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí
nghiệm khoa học, loại tri thức này quan trọng chỗ đây là sở để hình thành
nhận thức khoa học và lý luận.
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên
tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm.
Tnh độ cao hơn của nhận thức kinh nghiệm nhận thức luận. Đây loại
nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát về bản chất
quy luật của các sự vật, hiện tượng. Kết quả của nhận thức luận là tri thức
lý luận.
lOMoARcPSD| 58728417
Tri thức luận tính gián tiếp được hình thành phát triển trên sở
của nhận thức kinh nghiệm. Tri thức lý luận nh trừu tượng và khái quát vì nó
chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng.
Do đó, tri thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống
hơn.
Ngoài ra, căn cứ trên tính chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể
chia nhận thức thành: nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.
1.2. Những yêu cầu bản của nguyên tắc thống nhất giữa luận thực
tiễn
1.2.1. Thực tiễn là cơ sơở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,
luận hình thành, phát triển sản xuất từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn
1.2.1.1. Thực tiễn là cơ sở của lý luận
Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành luận kết
quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua kết quả của hoạt
động thực tiễn kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc,
tính chất các mối quan hcủa các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức
thực tiễn để hình thành lý luận. Qúa trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung
điều chỉnh các luận đã được khái quát. Mặt khác hoạt động thực tiễn của con
người làm nảy sinh những vấn đề mưới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục
giải quyết. Thông qua đó, lý luận được bổ sung mở rộng. Chính vì vậy, V.I.Lênin
nói: “ Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong
những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó tự nó và
nó”
1.2.1.2. Thực tiễn là động lực của lý luận
Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các
cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên
với hội. luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn
mang lại lợi ích cho con người càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn
khái quát luận. Qúa trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người,
lOMoARcPSD| 58728417
làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động
của con người không bhạn chế trong không gian thời gian. Thông qua đó,
thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận
1.2.1.3. Thực tiễn là mục đích của lý luận
Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm
thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý
luận nâng cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để
đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội.
Tự thân luận không thể tạo nên những sản phản đáp ứng nhu cầu của con người.
Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ
biến dổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Đó thwucj chất là mục
đích ca lý luận. Tức lý luận đạp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người.
1.2.1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Tính chân lý ca lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thwucj
tiễn khách quan được thực tiễn kiểm nghiệm, giá trị phương pháp của luận
với hoạt động thực tiễn của con người. Do đó mọi luận phải thông qua thực tiễn
để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C. Mac nói: “vấn đề để tìm hiểu xem tư duy của
con người thể đạt đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn không phải
vấn đề của luận là vấn đề của thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người
phải chứng minh chân lý”. Thông qua luận những luận đạt đến chân sẽ
được bổ sung vào kho tàng chi thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp thực
tiễn thì sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Gía trị của lý luận nhất
thiết phải được chứng minh trong hoạt đông thực tiễn.
Tuy thực tiễn tiêu chuẩn chân của luận chân của luận, nhưng
không phải mọi thực tiễn đều tiêu chuẩn crủa chân lý. Thực tiễn tiêu chuẩn
của chân khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực
tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa.
Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn nhiều giai cấp phát triển khác
nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận
thể xa rời thực tiễn . Do đó chỉ những luận nào phản ánh được tính toàn vẹn
lOMoARcPSD| 58728417
của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Chính vậy V.L.Leenin cho rằng: “Thực
tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được được in vào ý thức của
con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này tính vững chắc
của một thiên khiến, một tính chất công lý, chính sự lặp đi lặp lại hàng nghìn
triệu lần ấy”
1.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi luận; ngược lại, luận phải được
vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung phát triển trong thực tiễn.
luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn luận khả năng định
hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. luận
còn dự báo được những rủi ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có
trong hoạt động. Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả
mà còn là cơ sở để khắc phc những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con
người. Mặt khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá
nhân thành cộng đồng tạo sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo
tự nhiên cải tạo xã hội. Chính vậy, C.Mác đã cho rằng: “vũ khí của sự phê
phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán vũ khí, lực lượng vật chất chỉ
thể bị đánh đổi bằng lực lượng vật chất, một khi thâm nhập vào quần chúng”
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, xong còn mang tính
lịch scụ thể. Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ra còn phân tích cụ thể mỗi tính
hình cụ thể. Nếu vận dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những
hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự
thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và
khó khăn của con người trên sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy
phong phú, đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật. Tính quy luật cảu
thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của luận không chỉ
phương pháp còn định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó định hướng
mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ
trong hoạt động thực tiễn. Không những thế lý luận còn định hướng mô hình của
hoạt động thực tiễn. Vận dụng luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ luận
lOMoARcPSD| 58728417
để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt
động, dự báo các diễn biến các mối quan hệ, lực lượng tiến hành những phát
sinh của trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế
những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao.
Lý luận tuy logoic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với
thwucj tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ra phải bám sát diễn
biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khuyến khuyết của
luận, hoặc thể thay đổi luận cho phù hợp với thực tiễn, chúng thể mang
lại hiệu quả có thể không hoặc kết quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá tr
của lý luận phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của lý luận chính là điều
chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn luận,
ưu điểm không những có tính phổ biến, cả của tính hiện thực trực
tiếp”
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬNTHỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐI LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI
2.1. Thực trạng con đường đi lên Xã hội chủ nghĩa của nước ta
Nước ta đi lên chủ nga xã hội xuất phát từ một nước vốn là thuộc
địa, nửa phong kiến, từ một nước hội tiền bản, những yếu tố giai đoạn
đầu tw bản chủ nghĩa, với nền sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa. Đặc điểm xuất phát này quy định cả nội dung, hình thức, bước đi thời
gian của con đường đi lên chủ nghĩa hội nước ta. Khi nói về đặc điểm xây
dựng chủ nghĩa hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận mạnh: Đặc điểm
to nhất.. từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa hội, không
phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Do điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội nên chúng ta phải thực
hiện kiểu “quá độ gián tiếp” từ xã hội tiền tư bản, lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
khâu trung gian, nhiều bước quá độ, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - hội
tính chất quá độ, đan xen để thực hiện bước chuyển tiếp lên chủ nghĩa hội. Đây
lOMoARcPSD| 58728417
cũng là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài
với nhiều chặng đường.
2.2. Vận dụng nguyên tăc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta là xây dựng thành công chủ nghĩa
hội chủ nghĩa cộng sản, đó cũng mục tiêu của con đường xã hội chủ nghĩa
ở nước ta. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, có thời kỳ chúng
ra mắc phải sai lầm chủ quan duy ý chí và giáo điều trong việc áp dụng chủ nghĩa
Mac--nin hình chủ nghĩa hội - viết. Trong những năm đổi mới,
Đảng ta đã có sự nhận thức đúng hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh
điển, đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác --nin trên một loạt các vấn đề, vận
dụng phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội nước ra đã trải qua một quá trình lâu dài và không đơn giản. Trong quá trình
đó Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác --nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
tham khảo kinh nghiệm quốc tế, xuất phát từ thực tiễn đất nước, có nhiều tìm tòi,
sáng tạo trong nhận thức luận, nhất trong thời kỳ đổi mới. Trong đại hộ Đảng
trên stổng kết luận - Thực tiễn đổi mới đã một bước tiến quan trọng
trong nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta
2.2.1. Kiên định con đường đã chọn
Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn 1 thế kỷ qua đã cho thấy rằng
con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa hội con đường tất yếu
khách quan, hợp quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam
Trong những năm đổi mới nhờ kiên định con đường xã hội chủ
nghĩa, chúng ra vừa vứng vàng thành quả cánh mạng và mục tiêu cách mạng, vừa
kiên quyết đổi mới, dám từ bỏ những phương pháp và mô hình sai lầm, sáng tạp
phương pháp mới, cách làm mới, hình mới để xây dựng chủ nghĩa hội
hiệu quả hơn. Chúng ta vừa giữ vững nền độc lập dân tộc vừa chủ động tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế.
lOMoARcPSD| 58728417
Như vậy, sự kiên định con đường hội chủ nghĩa đòi hỏi phải dám đổi
mới biết đổi mới; đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, cả về nhận thức
và hoạt động thực tiễn.
Ở đây có mối quan hệ biện chứng giữa kiên định và đổi mới: muốn
kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, phải đổi mới được nhận thức và đưa được
nhận thức đó vào thực tiễn, tạo ra được những thành quả của chủ nghiwax xã hội
trong cuộc sống; tái lại, kiên định con đường hội chủ nghiwax thì mới đổi
mới đsúng hướng, mới bảo đảm độc lập dan a tộc và chủ nghiwax xã hội cho đất
nước. Chính trong qtrình đổi mới, trên sở kiên định con đường chủ nghĩa
xã hội, đảng ta từng bước hình thành những nhận thức về chủ nghĩa xã hội ngày
càng phù hợp hơn, từng bước khắc phục những quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu
trĩ, duy ý chí về chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới đó về chủ nghĩa xã hội.
Sự vận động, phát triển của thực tiễn và nhận thức đồi hỏi Đảng ta tiếp tục đi sâu
nghiên cứu luận, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển hơn nữa nhận thức
đó.
2.2.2. Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh nền tảng tưởng kim chỉ nan cho hoạt động thực tiễn của
mình.
Mở rộng giao lưu và tiếp thu thành tựu của các ngành khoa hc
khác một yêu cầu của phát triển tưởng nền tảng. Những thành tựu mới của
khoa học tự nhiên, khoa học hội nhân văn, khoa học - công nghệ vừa làm
thêm giá trị chủ nghĩa Mác - nin, tưởng Hồ Chí Minh vừa đặt ra những
vấn đề mới cần được lý giải để phát triển lý luận, tưởng. Cuộc đấu tranh chống
các loại tưởng đối lập hiện đại đòi hỏi công tác tưởng, lý luận phải đứng
thạch động nên phải vừa hiểu đầy đủ những luận điệu của kẻ thù vừa phải tự nâng
cao trình độ, mài sắc luận điểm mới có thể chiến thắng Trình độ dân trí ngày càng
cao, việc tiếp cận thông tin hàng ngày từ nhiều nguồn, đảng phải nhận đủ sức
hướng dẫn nhận thức. Cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên tất cả các lĩnh vực
xã hội liên quan đến tri thwucs của tất cả các ngành khoa học đòi hỏi Đảng phải
tiếp thu chọn lọc để làmn cứ, sở cho việc xác định đường lối, chủ trương.
lOMoARcPSD| 58728417
2.2.3. Khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh kinh nghiệm, giáo điều
- Trong những năm qua nước ta đã khắc phục khá tốt bệnh kinh
nghiệm, giáo điều. Đảng ta đã không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ của
toàn Đảng, toàn dân, không ngừng đổi mới, học tập kinh nghiệm của các nước
trên thế giới và đổi mới công tác lý luận dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Leenin
và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nước ta đã vận dụng lý luận vào thực tiễn của nước ta cải thiện
đời sống của nhân dân, khởi đầu bằng đổi mới duy để thực hiện đổi mới quá
trình xây dựng hội chủ nghĩa, Đảng ta đã vượt qua chủ nghĩa giáo điều, chủ
nghĩa vừa vận dụng sáng tạo, vừa phát triển luận Mác - Lênin, tưởng Hồ Chí
Minh qua đó hoạt động xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Coi trọng và thường xuyên tổng kết thực tiễn, qua đó sửa đổi, phát
triển lý luận đã có, bổ sung và hoàn chỉnh đường lối chính sách xây dựng lý luận
mới để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới.
2.2.4. Tiếp tục đổi mới và phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã
hội
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Đảng đã nhấn mạnh phải
nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý
hiệu quả sự vận hành các loại thị trường bản theo chế cạnh tranh lành
mạnh; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh
doanh
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
trithức. Từ một nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa hội, bqua chế độ bản
chủ nghĩa, nhất thiết phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Muốn phát triển lực lượng sản xuất không
cách nào khác là tiến hànhng nghiệp hóa và kết hợp ngay tđầu coobg nghiệp
hóa, hiện đại hóa đồng thời gắn liền với phát triển tri thức.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc để làm nền
tảngtinh thần của xã hội. Để văn hóa thực sự làm nền tẳng tinh thân của hội,
phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục đào tạo, khoa học công
lOMoARcPSD| 58728417
nghệ những lĩnh vực được coi quốc sách hàng đầu, là nền tẩng động lực thức
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hộichủ nghĩa. Phát huy dân chủ hội chủ nghĩa bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân là mực tiêu và bản chất của chế độ ta. Để thực hiện mục tiêu đó, vấn đề
trung tâm phải xây dựng nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa thật sự của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tích cực hội nhập kinh tế
quốctế, đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác phát triển; chính sash đối
ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hquốc tế. Chủ động
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh
vực khác…
KẾT LUẬN
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của quá trình phát triển
hội nhất trong thời đại ngày nay khi thực tế cuộc sống đang đặt ra và đòi hỏi
phải giải quyết rất nhiều những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh của việc y
dựng, phát triển đời sống kinh tế văn hóa hội . luận Mác - Leenin với sự
thống nhất với thực tiễn đóng vai trò chỉ dẫn, chỉ đạo trong công nghiệp hóa -hiện
đại hóa đất nước. Thành quả của chúng ta ngày hôm nay nhờ sự năng động,
sáng tạo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình vận dụng nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác -Lênin
2. Triết học Mác -Lênin -Chương trình cao cấp
3. Tạp trí triết học

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58728417 MỞ ĐẦU
Sự yếu kém về lý luận là một nguyên nhân trực tiếp và rất quan trọng của
bệnh kinh nghiệm. Tuy nhiên, sự yếu kém về lý luận không chỉ dẫn đến bệnh kinh
nghiệm mà còn dẫn đến bệnh giáo điều. Bởi vì, chính sự yếu kém về lý luận làm
cho chúng ta dễ tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin một cách đơn giản, phiến
diện, cắt xén, sơ lược, không đến nơi đến chốn.
Việc tiếp thu lý luận từ trình độ tư duy kinh nghiệm dễ dẫn đến làm méo mó lý
luận. Trước đây, khi nói về Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Đảng ta còn
có nhiều nhược điểm, mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém.
Có thể nói, nhận định đó ngày nay vẫn đúng. Vì vậy một trong những cách nâng
cao trình độ lý luận, trình độ trí tuệ là việc tôn trọng và vận dụng đúng các nguyên
tắc giá trị đã được chứng minh. Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật
Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn và áp dụng nguyên tắc này vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC -LÊNIN
1.1. Khái niệm thực tiễn và lý luận của triết học 1.1.1.
Phạm trù thực tiễn của Triết học
Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn là phạm trù cơ bản trong lí luận nhận thức mác xít. Lê-nin cho rằng:
“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lí luận nhận thức”.
Triết học Mác – Lênin đánh giá phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù
nền tảng, cơ bản của triết học nói chung và lý luận nhận thức nói riêng. Quan
điểm đó đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học. Triết học Mác khẳng định: lOMoAR cPSD| 58728417
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử –
xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Như vậy, khác với hoạt động tư duy, trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng
những công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo
mục đích của mình. Đây là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Nó
được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi
con người qua các thời kỳ lịch sử. Do vậy, thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật
chất có mục đích và mang tính lịch sử – xã hội.
Hoạt động thực tiễn có 03 hình thức cơ bản: •
Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản, là hoạt động
trực tiếp tác động vào tự nhiên nhăm tạo ra của cải, vật chất cho sự tồn
tại và phát triển của xã hội •
Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người
khác nhau nhằm cải biến các mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát
triển. Đây là những hoạt động làm cải biến mối quan hệ xã hội, làm thay
đổi các chế độ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển. •
Thực nghiệm khoa học là hoạt động được tiến hành trong đều kiện do
con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự
nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật vận động của đối tượng
nghiên cứu. Đây là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, nó có vai trò
ngày càng tăng trong sự phát triển của xã hội. -
Giữa các dạng hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong
đóhoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định. Bởi vì nó
là hoạt động khách quan, thường xuyên nhất tạo ra điều kiện cần thiết để con
người tồn tại và phát triển; đồng thời cũng tạo điều kiện để tiến hành các dạng
hoạt động khác. Còn các dạng hoạt động khác nếu tiến bộ thì tạo điều kiện cho
hoạt động sản xuất vật chất được tăng cường, nếu phản tiến bộ thì kìm hãm sự gia
tăng của sản xuất vật chất. lOMoAR cPSD| 58728417 -
Chính sự tác động lẫn nhau giữa các dạng (hình thức) hoạt động làm
chothực tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận thức.
1.1.2. Phạm trù Lí luận của triết học
Lí luận theo tiếng Hy Lạp là “theoria” có nghĩa là sự quan sát, nghiên cứu, nhận ra, thảo luận.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về “lí luận”, song có thể hiểu theo cách phổ biến
nhất: “Lí luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối
liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng”
.Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Lý luận là sự tổng kết nhuengx kinh nghiệm của loài người,
là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”
Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu hiểu
biết của mình về thế giới, trên cơ sở đó nhằm cải biến thế giới. Sự hiểu biết của
con người cũng có nhiều cấp độ khác nhau.
Cấp độ thấp của nhận thức là kinh nghiệm. Đây là loại nhận thức hình thành từ sự
quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí
nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm. Có
hai loại, tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.
Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày.
Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí
nghiệm khoa học, loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây là cơ sở để hình thành
nhận thức khoa học và lý luận.
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên
tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm.
Trình độ cao hơn của nhận thức kinh nghiệm là nhận thức lý luận. Đây là loại
nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát về bản chất
và quy luật của các sự vật, hiện tượng. Kết quả của nhận thức lý luận là tri thức lý luận. lOMoAR cPSD| 58728417
Tri thức lý luận có tính gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở
của nhận thức kinh nghiệm. Tri thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó
chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng.
Do đó, tri thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn.
Ngoài ra, căn cứ trên tính chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể
chia nhận thức thành: nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.
1.2. Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.2.1. Thực tiễn là cơ sơở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,
lý luận hình thành, phát triển sản xuất từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.2.1.1. Thực tiễn là cơ sở của lý luận
Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành lý luận là kết
quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua kết quả của hoạt
động thực tiễn kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc,
tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức
thực tiễn để hình thành lý luận. Qúa trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung
và điều chỉnh các lý luận đã được khái quát. Mặt khác hoạt động thực tiễn của con
người làm nảy sinh những vấn đề mưới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục
giải quyết. Thông qua đó, lý luận được bổ sung mở rộng. Chính vì vậy, V.I.Lênin
nói: “ Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong
những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó tự nó và vì nó”
1.2.1.2. Thực tiễn là động lực của lý luận
Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các
cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên
với xã hội. Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn
mang lại lợi ích cho con người càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn
khái quát lý luận. Qúa trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, lOMoAR cPSD| 58728417
làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động
của con người không bị hạn chế trong không gian và thời gian. Thông qua đó,
thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận
1.2.1.3. Thực tiễn là mục đích của lý luận
Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm
thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý
luận là nâng cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để
đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội.
Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản phản đáp ứng nhu cầu của con người.
Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ
biến dổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Đó thwucj chất là mục
đích của lý luận. Tức lý luận đạp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người.
1.2.1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thwucj
tiễn khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận
với hoạt động thực tiễn của con người. Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn
để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C. Mac nói: “vấn đề để tìm hiểu xem tư duy của
con người có thể đạt đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn không phải
vấn đề của lý luận mà là vấn đề của thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người
phải chứng minh chân lý”. Thông qua lý luận những lý luận đạt đến chân lý sẽ
được bổ sung vào kho tàng chi thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp thực
tiễn thì sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Gía trị của lý luận nhất
thiết phải được chứng minh trong hoạt đông thực tiễn.
Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận chân lý của lý luận, nhưng
không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn crủa chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn
của chân lý khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực
tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa.
Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai cấp phát triển khác
nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận có
thể xa rời thực tiễn . Do đó chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn lOMoAR cPSD| 58728417
của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Chính vì vậy mà V.L.Leenin cho rằng: “Thực
tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được được in vào ý thức của
con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này có tính vững chắc
của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy”
1.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được
vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn.
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định
hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận
còn dự báo được những rủi ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có
trong hoạt động. Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả
mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con
người. Mặt khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá
nhân thành cộng đồng tạo sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo
tự nhiên và cải tạo xã hội. Chính vì vậy, C.Mác đã cho rằng: “vũ khí của sự phê
phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán vũ khí, lực lượng vật chất chỉ
có thể bị đánh đổi bằng lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, xong nó còn mang tính
lịch sử cụ thể. Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ra còn phân tích cụ thể mỗi tính
hình cụ thể. Nếu vận dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những
hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự
thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và
khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy
phong phú, đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật. Tính quy luật cảu
thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ
là phương pháp mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng
mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ
trong hoạt động thực tiễn. Không những thế lý luận còn định hướng mô hình của
hoạt động thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận lOMoAR cPSD| 58728417
để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt
động, dự báo các diễn biến các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát
sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế
những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao.
Lý luận tuy logoic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với
thwucj tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ra phải bám sát diễn
biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khuyến khuyết của lý
luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn, chúng có thể mang
lại hiệu quả có thể không hoặc kết quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị
của lý luận phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của lý luận chính là điều
chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận,
vì nó có ưu điểm không những có tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
2.1. Thực trạng con đường đi lên Xã hội chủ nghĩa của nước ta
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nước vốn là thuộc
địa, nửa phong kiến, từ một nước xã hội tiền tư bản, có những yếu tố giai đoạn
đầu tw bản chủ nghĩa, với nền sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa. Đặc điểm xuất phát này quy định cả nội dung, hình thức, bước đi và thời
gian của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Khi nói về đặc điểm xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận mạnh: “ Đặc điểm
to nhất.. là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không
phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Do điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội nên chúng ta phải thực
hiện kiểu “quá độ gián tiếp” từ xã hội tiền tư bản, lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
khâu trung gian, nhiều bước quá độ, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có
tính chất quá độ, đan xen để thực hiện bước chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đây lOMoAR cPSD| 58728417
cũng là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài
với nhiều chặng đường.
2.2. Vận dụng nguyên tăc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta là xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đó cũng là mục tiêu của con đường xã hội chủ nghĩa
ở nước ta. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, có thời kỳ chúng
ra mắc phải sai lầm chủ quan duy ý chí và giáo điều trong việc áp dụng chủ nghĩa
Mac-Lê-nin và mô hình chủ nghĩa xã hội Xô - viết. Trong những năm đổi mới,
Đảng ta đã có sự nhận thức đúng hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh
điển, đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác -Lê-nin trên một loạt các vấn đề, vận
dụng phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ra đã trải qua một quá trình lâu dài và không đơn giản. Trong quá trình
đó Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
tham khảo kinh nghiệm quốc tế, xuất phát từ thực tiễn đất nước, có nhiều tìm tòi,
sáng tạo trong nhận thức lý luận, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Trong đại hộ Đảng
trên cơ sở tổng kết lý luận - Thực tiễn đổi mới đã có một bước tiến quan trọng
trong nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta
2.2.1. Kiên định con đường đã chọn
Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn 1 thế kỷ qua đã cho thấy rằng
con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu
khách quan, hợp quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam
Trong những năm đổi mới nhờ kiên định con đường xã hội chủ
nghĩa, chúng ra vừa vứng vàng thành quả cánh mạng và mục tiêu cách mạng, vừa
kiên quyết đổi mới, dám từ bỏ những phương pháp và mô hình sai lầm, sáng tạp
phương pháp mới, cách làm mới, mô hình mới để xây dựng chủ nghĩa xã hội có
hiệu quả hơn. Chúng ta vừa giữ vững nền độc lập dân tộc vừa chủ động tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế. lOMoAR cPSD| 58728417
Như vậy, sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải dám đổi
mới và biết đổi mới; đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, cả về nhận thức
và hoạt động thực tiễn.
Ở đây có mối quan hệ biện chứng giữa kiên định và đổi mới: muốn
kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, phải đổi mới được nhận thức và đưa được
nhận thức đó vào thực tiễn, tạo ra được những thành quả của chủ nghiwax xã hội
trong cuộc sống; tái lại, có kiên định con đường xã hội chủ nghiwax thì mới đổi
mới đsúng hướng, mới bảo đảm độc lập dan a tộc và chủ nghiwax xã hội cho đất
nước. Chính trong quá trình đổi mới, trên cơ sở kiên định con đường chủ nghĩa
xã hội, đảng ta từng bước hình thành những nhận thức về chủ nghĩa xã hội ngày
càng phù hợp hơn, từng bước khắc phục những quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu
trĩ, duy ý chí về chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới đó về chủ nghĩa xã hội.
Sự vận động, phát triển của thực tiễn và nhận thức đồi hỏi Đảng ta tiếp tục đi sâu
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển hơn nữa nhận thức đó.
2.2.2. Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho hoạt động thực tiễn của mình.
Mở rộng giao lưu và tiếp thu thành tựu của các ngành khoa học
khác là một yêu cầu của phát triển tư tưởng nền tảng. Những thành tựu mới của
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học - công nghệ vừa làm
rõ thêm giá trị chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa đặt ra những
vấn đề mới cần được lý giải để phát triển lý luận, tư tưởng. Cuộc đấu tranh chống
các loại tư tưởng đối lập hiện đại đòi hỏi công tác tư tưởng, lý luận phải đứng ở
thạch động nên phải vừa hiểu đầy đủ những luận điệu của kẻ thù vừa phải tự nâng
cao trình độ, mài sắc luận điểm mới có thể chiến thắng Trình độ dân trí ngày càng
cao, việc tiếp cận thông tin hàng ngày từ nhiều nguồn, đảng phải nhận đủ sức
hướng dẫn nhận thức. Cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên tất cả các lĩnh vực
xã hội liên quan đến tri thwucs của tất cả các ngành khoa học đòi hỏi Đảng phải
tiếp thu có chọn lọc để làm căn cứ, cơ sở cho việc xác định đường lối, chủ trương. lOMoAR cPSD| 58728417
2.2.3. Khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh kinh nghiệm, giáo điều -
Trong những năm qua nước ta đã khắc phục khá tốt bệnh kinh
nghiệm, giáo điều. Đảng ta đã không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ của
toàn Đảng, toàn dân, không ngừng đổi mới, học tập kinh nghiệm của các nước
trên thế giới và đổi mới công tác lý luận dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Leenin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. -
Nước ta đã vận dụng lý luận vào thực tiễn của nước ta cải thiện
đời sống của nhân dân, khởi đầu bằng đổi mới tư duy để thực hiện đổi mới quá
trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã vượt qua chủ nghĩa giáo điều, chủ
nghĩa vừa vận dụng sáng tạo, vừa phát triển lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh qua đó hoạt động xây dựng và bảo vệ tổ quốc. -
Coi trọng và thường xuyên tổng kết thực tiễn, qua đó sửa đổi, phát
triển lý luận đã có, bổ sung và hoàn chỉnh đường lối chính sách xây dựng lý luận
mới để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới.
2.2.4. Tiếp tục đổi mới và phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Đảng đã nhấn mạnh phải
nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý
có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành
mạnh; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh -
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
trithức. Từ một nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa, nhất thiết phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Muốn phát triển lực lượng sản xuất không có
cách nào khác là tiến hành công nghiệp hóa và kết hợp ngay từ đầu coobg nghiệp
hóa, hiện đại hóa đồng thời gắn liền với phát triển tri thức. -
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc để làm nền
tảngtinh thần của xã hội. Để văn hóa thực sự làm nền tẳng tinh thân của xã hội,
phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo, khoa học và công lOMoAR cPSD| 58728417
nghệ những lĩnh vực được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tẩng và động lực thức
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước -
Phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hộichủ nghĩa. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân là mực tiêu và bản chất của chế độ ta. Để thực hiện mục tiêu đó, vấn đề
trung tâm là phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. -
Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốctế, đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sash đối
ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác… KẾT LUẬN
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của quá trình phát triển xã
hội nhất là trong thời đại ngày nay khi thực tế cuộc sống đang đặt ra và đòi hỏi
phải giải quyết rất nhiều những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh của việc xây
dựng, phát triển đời sống kinh tế văn hóa xã hội . Lý luận Mác - Leenin với sự
thống nhất với thực tiễn đóng vai trò chỉ dẫn, chỉ đạo trong công nghiệp hóa -hiện
đại hóa đất nước. Thành quả của chúng ta ngày hôm nay là nhờ sự năng động,
sáng tạo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình vận dụng nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác -Lênin
2. Triết học Mác -Lênin -Chương trình cao cấp
3. Tạp trí triết học