Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Khoa Hệ thống thông tin kinh tế & Thương mại điện tử
Những điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Nhà nước Việt Nam Nhóm thực hiện : Nhóm 7
Lớp học phần : 232_HCMI0111_23
Giáo viên giảng dạy: Vũ Thị Thu Hà Hà Nội, tháng 3 năm 2024 1 MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................2
A.GIỚI THIỆU..............................................................................................................3
B.NỘI DUNG...............................................................................................................4
1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước Việt Nam.......................4
1.1 Nhà nước dân chủ.................................................................................4
1.2 Nhà nước pháp quyền............................................................................6
1.3 Nhà nước trong sạch, vững mạnh.........................................................9
2. Vận dụng: Liên hệ với việc xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện nay....13
2.1. Thực trang xây dựng Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh13
2.2.Nguyên nhân........................................................................................18
2.3 Giải pháp.............................................................................................21
C. KẾT LUẬN..............................................................................................................25
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................26 2 BIÊN BẢN HỌP NHÓM STT Mã sinh viên Họ và tên Nhiệm vụ 1 22D190087 Nguyễn Thị Thùy Linh 1.2 + 1.3 + 2.2 2 22D150100 Vũ Lê Phương Linh 2.1 3 22D160150 Trần Việt Long Thuyết trình 4 22D150105 Bùi Khánh Ly Thuyết trình 5 22D160155 Hoàng Thị Lý Đề tài phụ 1.2 6 22D160156 Đào Thị Xuân Mai Đề tài phụ 1.1 7 22D190098 Nguyễn Duy Mạnh Phản biện 8 22D190100 Hoàng Hữu Minh Powerpoint 9 22D190106 Nguyễn Thành Nam Word 10 22D190111 Thân Thị Nga 1.1 + 2.3
Nhóm trưởng: Nguyễn Thị Thùy Linh
Thư ký: Nguyễn Thành Nam 3 A.GIỚI THIỆU
Từ lâu nhiều nhà lãnh đạo của Đảng ta đã khẳng định chủ tịch Hồ Chí Minh là "
nhà tưởng vĩ đại, nhà lý luận kiệt xuất”. Tư tưởng và đạo đức cao cả của người mãi
mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn của chúng ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin
vào điều kiệncụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh phản
ánh những vấn đềm thuộc quy luật và có tính quy luật của cách mạng nước ta, đã
được thực tiễn thắng lợicủa cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và xác nhận. Tư
tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị dân tộc mà còn có ý nghĩa thời đại, góp
phần vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra cho thế kỷ hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí
Minh có vai trò quan trọng đối với quá trình xây dựng Đảng và nhà nước đặc biêt là
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên thực
tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Ngàynay, tư tưởng đó vẫn tiếp tục rọi sáng
con đường xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 4 B.NỘI DUNG
1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước Việt Nam.
1.1 Nhà nước dân chủ
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán
trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Đây cũng là một kết luận
mà Người rút ra khi khảo sát các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp, Nga. Nhà nước Việt
Nam kiểu mới thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc trong đó công, nông là gốc và trí
thức ngày càng có vị trí quan trọng đặc biệt khi đất nước bước vào thời kỳ xây
dựng. Tất cả mọi người dân Việt Nam, không phân biệt gái trai, giàu nghèo, nòi
giống, dân tộc, tôn giáo... đều là người chủ của Nhà nước, có trách nhiệm xây dựng
Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Hồ Chí Minh khẳng định: Tất
cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. “Nước ta là nước dân
chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”.
Tính chất dân chủ nhân dân là đặc trưng nổi bật của chính quyền nhà nước kiểu
mới. Trong nước ta, nhân dân là người nắm giữ mọi quyền lực, còn các cơ quan
nhà nước do nhân dân tổ chức ra, nhân viên nhà nước là người được ủy quyền, thực
hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân, trở thành công bộc của nhân dân. Thể 🡺 chế
dân chủ cộng hòa đã làm thay đổi tận gốc quan hệ quyền lực chính trị và thực hiện
quyền lực, nhân dân được đặt ở vị trí cao nhất, nhà nước không còn là công cụ
thống trị, nô dịch dân như trong thời phong kiến, tư bản.
Hồ Chí Minh nhận thức tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân
giành được qua đấu tranh cách mạng, là hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực
hành dân chủ của nhân dân. “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do
lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc
Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử;
hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử... Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra 5
Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là chính phủ của toàn
dân”(3) . Thông qua việc bầu Quốc hội và Chính phủ, nhân dân thực hiện quyền lực
của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ thể
hiện ở việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, mà còn ở quyền bãi miễn,
kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu. Cơ chế dân chủ này nhằm làm cho
Quốc hội được trong sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động. Hồ Chí Minh
nêu rõ: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, để thể hiện nhân dân lao động làm chủ Nhà
nước thì đại biểu do dân bầu ra phải có mối liên hệ thường xuyên với nhân dân;
thoát ly mối liên hệ này, Nhà nước rất dễ rơi vào quan liêu, trì trệ, đứng trên đầu
nhân dân, trái với bản chất dân chủ đích thực vốn có của Nhà nước kiểu mới.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do nhân dân làm chủ còn bao
hàm một nội dung quan trọng khác đó là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước.
Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là
phụng sự cho lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc,
kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành
tận tụy của nhân dân” .
Là người làm chủ Nhà nước, nhân dân có quyền, thông qua cơ chế dân chủ
thực thi quyền lực, nhưng đồng thời nhân dân phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ
Nhà nước, làm cho Nhà nước ngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh. Hồ
Chí Minh luôn đòi hỏi với tư cách là chủ nhân của một nước độc lập, tự do, quyền
và nghĩa vụ công dân gắn bó chặt chẽ với nhau.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do dân là Nhà nước dân chủ,
thể hiện quyền lực của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là bảo đảm thực thi
quyền lực của nhân dân lao động. Quan điểm này của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ 6
xuyên suốt tất cả các quá trình xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Trong
công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là một nội
dung trọng yếu của việc kiện toàn, đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước ta.
1.2 Nhà nước pháp quyền
1.2.1 Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
- Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết là một nhà nước hợp hiến.
Vì vậy sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ lâm
thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới khai
sinh nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời có địa vị hợp pháp,
tổng tuyển cử bầu ra quốc hội rồi từ đó lập chính phủ và các cơ quan nhà nước mới.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một trong sáu nhiệm vụ cấp bách
của Chính phủ là: “Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị
Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.
Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu bầu Quốc Hội, thành lập uỷ ban dự thảo Hiến pháp của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên và Chủ tịch Hồ Chí Minh được
Quốc hội nhất trí bầu làm chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Đây là chính
phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc
giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại. 7
1.2.2 Nhà nước thượng tôn pháp luật
- Thiết lập và thực hiện “chế độ pháp trị” thống nhất trong phạm vi cả nước
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng
pháp luật là đặc trưng của nhà nước kiểu mới, là biện pháp quan trọng hàng đầu để
xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân non trẻ mới được thành lập. Chế độ
pháp trị theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là chế độ trong đó pháp
luật được đề cao, được tôn trọng và triệt để tuân theo. Chỉ có thể thực hiện chế độ
pháp trị đó thì Nhà nước dân chủ mới có thể tồn tại và phát triển bền vững. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện "chế độ pháp trị" ở Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã thấm nhuần sâu sắc quan điểm của V.I.
Lênin về tính thống nhất của pháp chế XHCN. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có
pháp chế thống nhất thì uy quyền của Nhà nước mới mạnh. Sức mạnh đó thể hiện ở
sức mạnh thống nhất, ở hiệu lực hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước, ở sự nhịp
nhàng, ăn khớp trên nền tập trung dân chủ, chống lại mọi biểu hiện phân tán, thiếu
đồng bộ trong áp dụng pháp luật.
- Đề cao vai trò và bảo đảm hiệu lực tối cao của Hiến pháp và luật
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc đề cao giá trị của Hiến pháp trong
đời sống chính trị - xã hội không chỉ thể hiện khát vọng lớn lao của Người trên
những bài viết, lời nói, mà còn được thể hiện bằng hành động cách mạng thực tế.
Người cho rằng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ mới được thành lập
cần phải dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc thì mới tiếp tục được duy trì và phát
triển. Và cơ sở pháp lý cao nhất ở đây chính là Hiến pháp. Do vậy, ngay tại phiên
họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề 8
ra những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng, trong đó có nhiệm vụ ban
hành Hiến pháp. Người viết: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai
trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến
pháp. Nhân dân ta không được hưởng các quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có
một Hiến pháp dân chủ".
- Mọi chủ thể phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không có ngoại lệ
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp chế XHCN và cũng
chính là tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyên tắc này đã được
Người nêu ra trong Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ dân chủ cộng hoà Việt
Nam: Toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng và nghề
nghiệp, đều phải giữ gìn trật tự…, tuân theo pháp luật của Chính phủ và mệnh lệnh
của quân đội. Như vậy, yêu cầu tuân thủ pháp luật là mệnh lệnh, là nguyên tắc đối
với tất cả công dân, không kể người đó là cán bộ, công chức hay là dân thường,
không kể người đó làm nghề nghiệp gì, theo tín ngưỡng, tôn giáo gì….
1.2.3 Pháp quyền nhân nghĩa
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tôn trọng, bảo đảm thực hiện đầy đủ
các quyền con người theo những giá trị phổ quát của nhân loại và phù hợp với
truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Điều này phản ánh ngay trong Hiến
pháp, pháp luật cũng như trên thực tế.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo các lý thuyết hiện đại về quyền con người, Hồ
Chí Minh tiếp cận quyền con người toàn diện. Bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định
quyền con người theo quan điểm hiện đại, vừa có tính phổ cập toàn nhân loại, vừa
có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với chính thể VNDCCH. Hồ Chí Minh đề
cập các quyền tự nhiên của con người, trong đó, quyền cao nhất là quyền sống,
quyền tự do, bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc. 9
Hồ Chí Minh cũng đề cập đến quyền chính trị, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
của con người. Hồ Chí Minh chú trọng quyền của công dân nói chung, đồng thời
cũng chú trọng đến quyền của những nhóm người cụ thể, như: phụ nữ, trẻ em,
người dân tộc thiểu số, đặc biệt là quyền của những người yếu thế trong xã hội. Sự
nghiệp cách mạng chân chính là sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người, đấu
tranh cho quyền con người, vì thế, mục tiêu giải phóng con người, làm cho mọi
người có cuộc sống hạnh phúc, tự do, được hưởng dụng các quyền con người đầy
đủ nhất đã hòa quyện một cách hữu cơ và trở thành mục tiêu cao nhất của sự
nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh có quan điểm về một Nhà nước pháp quyền nhân
nghĩa, pháp luật có tính nhân văn, khuyến thiện cho con người trong xã hội. Cho
nên, ngay khi thành lập, Chính phủ lâm thời nước VNDCCH đã ngay lập tức tuyên
bố xóa bỏ mọi luật pháp hà khắc của chính quyền thực dân phản động. Tính nhân
văn của hệ thống luật pháp thể hiện ở việc ghi nhận đầy đủ và bảo vệ quyền con
người; ở tính nghiêm minh, khách quan, công bằng.
1.3 Nhà nước trong sạch, vững mạnh
1.3.1 Kiểm soát quyền lực nhà nước
Kiểm soát quyền lực nhà nước là phương tiện để nhà nước tự mình giữ vững
và phát huy bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân. Quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà là
quyền lực của nhân dân, được nhân dân giao quyền, nhân dân ủy quyền thông qua
quyền lập hiến của mình. Vì thế, hơn ai hết, nhà nước phải tự kiểm soát được mình,
để sau khi nhân dân giao quyền, nhân dân ủy quyền, quyền lực nhà nước được vận
hành theo đúng quyền lực được nhân dân giao cho; phòng, chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước. 10
Kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phương
tiện bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực thi hiệu lực và hiệu quả. Ngày
nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, xã hội càng trở nên hiện
đại, tổ chức quyền lực nhà nước lại càng cần được phân công, phối hợp và kiểm
soát chặt chẽ. Đây là một yêu cầu khách quan do sự phân công lao động xã hội, do
tính chuyên môn hóa của hoạt động quyền lực nhà nước. Vì vậy, trong tổ chức
quyền lực nhà nước cần có cơ chế tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhau một
cách chặt chẽ những con người làm việc trong bộ máy quyền lực nhà nước để có
thể kịp thời phát hiện và xử lý được ngay khi những người này không còn xứng
đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nước ta, việc xây dựng và hoàn
thiện đồng thời cả ba cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói trên đều có vai trò
quan trọng và có tác động qua lại. Trước hết, cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong
là nhân tố bảo đảm cho nhà nước tự kiểm soát được chính mình. Đồng thời, các cơ
chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài và kiểm soát độc lập là các cơ chế đặc
biệt quan trọng để bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực sự là quyền lực của nhân
dân, bổ sung, hỗ trợ cho cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong phát huy hiệu lực và hiệu quả.
1.3.2 Phòng chống tiêu cực trong Nhà nước
- Những biểu hiện tiêu cực được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ sớm.
Sự tha hóa quyền lực dẫn đến hiện tượng cán bộ từ đỉnh cao quyền lực dễ trượt
dài trên con dốc chủ nghĩa cá nhân bởi những căn bệnh đặc quyền đặc lợi, vinh
thân phì gia đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ rất sớm, ngay từ những ngày
đầu non trẻ của nhà nước. Thế nhưng trong giai đoạn hiện nay, trước tác động của
mặt trái cơ chế thị trường, những căn bệnh ấy đã và đang xuất hiện trong một bộ 11
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên… Họ luôn ỷ thế vào quyền lực/quyền hạn/trách
nhiệm được trao tại các cơ quan công quyền để lợi dụng/lạm dụng quyền lực mưu
cầu lợi ích cho mình mà không màng đến lợi ích của Đảng, và của nhân dân. Họ vì
mục đích cá nhân mà suy nghĩ, hành động vụ lợi, dẫn đến vi phạm các nguyên tắc,
kỷ luật của Đảng và sai phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành.
Ngay sau khi nước nhà giành được
đô „c lâ „p không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan
công quyền. Theo Người, đó chính là những biểu hiện xấu, thể hiện trong quá trình
công tác và ứng xử đời thường, cho thấy sự suy thoái về đạo đức, lối sống mà một
bộ phận cán bộ, đảng viên đã mắc phải, như: “Óc bè phái. Ai không thân với mình
thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”.
Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí,
thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; Có những đồng chí còn
giữ thói "một người làm quan cả họ được nhờ", đem bà con, bạn hữu đặt vào chức
này việc kia, làm được hay không mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, cốt cho bà con,
bạn hữu có địa vị là được".
=> Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực/sự suy thoái mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nêu đều xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân; không chỉ phản ánh sự thiếu tu dưỡng, rèn
luyện về mọi mặt của người cán bộ, đảng viên mà còn chính là là kẻ thù của cách
mạng, kẻ thù của nhân dân. Chừng nào những biểu hiện tiêu cực này còn chưa
được ngăn chặn và đẩy lùi, thì chừng đó nó sẽ thúc đẩy sự "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa" trong mỗi người cách mạng, ngăn trở quá trình nỗ lực đấu tranh, phấn
đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc; đồng thời, phá hoại khối đoàn kết,
thống nhất trong nội bộ Đảng, phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân
dân; làm xói mòn lòng tin của Nhân dân với Đảng và Chính phủ. 12
- Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh
thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XII về đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong
đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc hệ thống chính trị.
Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống những biểu hiện
tiêu cực/sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng
viên chính là hiểu đúng, hiểu sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”; “các cơ quan của Chính
phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và “vô luận lúc nào,
vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của
cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Đồng thời,
thông qua đó, góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay từ đầu để
ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn,
vụ án lớn; không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây
bệnh lây lan cả rừng cây.
=> Vì vậy, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:
Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt
và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về
học tập lý luận chính trị nói riêng (nhất là nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước) trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn, vì "thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện
tiêu cực/sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự 13
chuyển hóa" này, cần phải phát huy vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh
chính trị gắn với phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói
chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt.
Ba là, mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy
dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở Đảng để làm
hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.
2. Vận dụng: Liên hệ với việc xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện nay.
2.1. Thực trang xây dựng Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh 2.1.1. Thành tựu
Qua 38 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử. Đa số cán bộ, đảng viên của Đảng đã tích cực rèn luyện phẩm chất,
năng lực, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, đóng vai trò
nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá:
“...Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ
máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo
đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Hệ thống pháp luật được hoàn thiện một bước cơ bản. Vai trò của pháp luật và
thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà
nước và đời sống xã hội. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực. Bộ máy nhà nước bước đầu
được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn gắn với tinh giản biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Hoạt động của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao có nhiều đổi mới, 14
chất lượng và hiệu quả được nâng cao. Vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
được thể hiện rõ hơn....
Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới. Hoạt động của
Chính phủ và các bộ, ngành chủ động, tích cực, tập trung hơn vào quản lý, điều
hành vĩ mô; tháo gỡ các rào cản; phục vụ, hỗ trợ phát triển. Cải cách hành chính,
cải cách tư pháp trên một số lĩnh vực có bước đột phá. Tổ chức bộ máy của toà án
nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục
được kiện toàn, chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức và cá nhân; tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tổ chức bộ máy của chính quyền
địa phương được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn; quan tâm xây dựng chính quyền
đô thị, chính quyền nông thôn, khẩn trương triển khai xây dựng chính quyền điện tử”:
Thứ nhất, đã tạo dựng được về cơ bản cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nhất
quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ được đẩy
mạnh, các quyền hiến định của nhân dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp, đã được
từng bước cụ thể hóa trong các Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tín ngưỡng
tôn giáo năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo... Quyền
dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; tham gia vào quản lý nhà
nước của nhân dân tiếp tục được củng cố và có những bước tiến quan trọng. Dân
chủ trong kinh tế cũng được phát huy mạnh mẽ, thể hiện ở việc cắt giảm nhiều điều
kiện đầu tư, kinh doanh bất hợp lý, bảo đảm cho người dân thực hiện quyền tự do
kinh doanh, chủ động tham gia quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã thể hiện được vai trò trung tâm
phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, nhất là trong công tác bầu cử, xây
dựng pháp luật, giám sát, phản biện xã hội. 15
Thứ hai, quyền lực nhà nước được phân công hợp lý, được giới hạn chặt chẽ
hơn bằng Hiến pháp và luật. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước đều được Hiến pháp, luật minh
định rõ hơn nhiều so với trước đây, các đạo luật về tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước được ban hành kịp thời với nhiều đổi mới. Quốc hội đã thực hiện
quyền lập pháp đạt kết quả ngày càng cao, hoạt động giám sát tối cao có nhiều đổi
mới và chất lượng giám sát được nâng cao. Chính phủ coi trọng hoạch định chính
sách để quản lý các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Hoạt động tư pháp được
thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, tăng cường tranh tụng với mục tiêu bảo vệ
công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Thứ ba, vị trí tối cao của Hiến pháp và luật được khẳng định. Tất cả các Hiến
pháp của nước ta qua các thời kỳ đều thể hiện nhất quán tinh thần Hiến pháp là đạo
luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; "Nhà nước được tổ chức và hoạt động
theo Hiến pháp và pháp luật"; "Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến
pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý" và "Quốc hội… Chủ tịch nước,
Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà
nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp" (Ðiều 8 và Ðiều 119, Hiến pháp 2013).
Thứ tư, bộ máy nhà nước được quan tâm đổi mới, kiện toàn theo hướng ngày
càng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Năng lực của các cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp ngày càng được nâng cao rõ rệt. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương được đổi mới theo hướng bảo đảm sự linh hoạt trong mô hình tổ chức ở
nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế, quy định hệ nguyên tắc
phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền
địa phương; quyền dân chủ và quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của 16
chính quyền địa phương được quy định rõ hơn. Sự kiểm soát quyền lực trong thực
thi công vụ được tăng cường theo hướng cán bộ, công chức có quyền càng lớn,
chức vụ càng cao thì sự kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ.
Thứ năm, hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày
càng tiếp cận đầy đủ hơn với yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền. Về mặt nội dung,
hệ thống pháp luật nước ta được xây dựng và hoàn thiện ngày càng toàn diện, đầy
đủ, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của đất nước.
Như vậy, thành tựu đạt được trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng sinh động để khẳng định rằng,
sự lãnh đạo của Ðảng là quy luật của xây dựng chủ nghĩa xã hội, là nhân tố bảo
đảm bản chất của dân, do dân, vì dân của nhà nước ta và quyết định sự thành công
của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. 2.1.2. Hạn chế
Sau nhiều năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng
lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, việc giữ vững tính chất giai cấp công nhân và tính chất nhân dân,
tính chất nhân đạo của Nhà nước chưa được thực hiện triệt để. Địa vị chính trị của
giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ. Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát
huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị
của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. 17
Thứ hai, các giá trị của nền dân chủ XHCN đã được phát huy nhưng chưa xứng
tầm với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN. Biểu hiện ở chỗ, thể chế luật
pháp để bảo đảm dân chủ được thực thi chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, thiếu ổn
định và tính khả thi của nó. Không ít quy định pháp luật được xây dựng công phu,
tốn kém, nhưng mới ban hành chưa lâu đã có nhu cầu phải bổ sung, sửa đổi. Tổ
chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu quả, một bộ phận đội ngũ cán
bộ, công chức sa sút về phẩm chất, yếu kém về năng lực.
Thứ ba, công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị còn
nhiều hạn chế, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn yếu về khả năng cạnh
tranh. Bộ máy của hệ thống chính trị còn quá cồng kềnh, chưa thật trong sạch, vững
mạnh; hiệu lực và khả năng quản lý, điều hành chưa ngang tầm với tình hình mới,
cơ chế vận hành chưa thật khoa học. Sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện 3 quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp còn nhiều điểm
chưa rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
còn yếu về khả năng cạnh tranh, chưa tăng cường được vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước, chưa phát triển được kinh tế hợp tác và phát huy khả năng của các thành
phần kinh tế, chậm đổi mới so với yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.
Thứ tư, nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần có sự
tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế giới về xây dựng Nhà
nước pháp quyền còn có những hạn chế nhất định. Hệ thống pháp luật về hội nhập
quốc tế chưa được hoàn thiện, việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Đặc biệt trong các
lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo
vệ môi trường,… chưa có các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, vv… 18
Thứ năm, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ,
đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của
Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè
phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ
quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. Thực hiện quy định về trách nhiệm nêu
gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao. Một số
cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ
Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. 2.2.Nguyên nhân
- Nhận thức chưa đầy đủ về tư tưởng Hồ Chí Minh
Một số cá nhân có những hành động như: xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử
Đảng, lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước làm cho một bộ
phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc nhất là giới trẻ hoài nghi, phai
nhạt niềm tin đối với Đảng, chia rẻ Đảng với Nhân dân, thông qua các hình thức
đăng tải các bài viết, video để xuyên tạc các sự kiện lịch sử dân tộc, qua đó, trực
tiếp chống phá và cổ xúy cho cái gọi là “xét lại lịch sử” tung ra những luận điệu
trắng trợn, mục đích nhằm “bôi đen” truyền thống của dân tộc. Chúng lật lại những
thông tin, sự kiện cũ, nhưng suy diễn, xuyên tạc bằng “cái nhìn mới” để kích thích
người nghe, người xem; trong đó, tập trung nhiều nhất vào một số sự kiện: về cuộc
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, về cải cách ruộng đất, Hiệp định Geneve (1954)
và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, gọi ngày 30/4 là “tháng tư
đen”, “tháng quốc hận”..., phủ nhận thành quả trong công cuộc đổi mới của Đảng,
cho rằng công cuộc đổi mới ở Việt Nam thực ra đi theo chủ nghĩa tư bản, đổi mới
chuyển từ kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là chuyển sang chủ nghĩa tư bản, vì kinh tế thị trường là của tư bản. 19
Không những vậy, việc lợi dụng các vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị
xã hội của nước nhà, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng nhằm
mục đích làm hạ uy tín, bôi nhọ cá nhân các lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng như tham
nhũng, khiếu kiện, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh Covid-19, việc bắt,
xử lý các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam,... hòng vu khống Việt Nam vi
phạm quyền con người.Chúng tập trung gia tăng việc đăng tải các nội dung thông
tin hạ thấp uy tín, bôi nhọ danh dự các cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước; đăng
tải, chia sẻ các nội dung, thông tin liên quan đến các vụ việc tham nhũng, tiêu cực
trong xã hội để hướng lái dư luận kích động quần chúng bày tỏ thái độ bất mãn đặc
biệt ở những địa bàn nhạy cảm, trước các sự kiện chính trị lớn của đất nước như
trước thềm đại hội Đảng các cấp, bầu cử nhân sự Đảng các nhiệm kỳ...; lập những
tài khoản giả mạo trên mạng xã hội, wedsite giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, lãnh đạo một số bộ, ngành, nhân vật nổi tiếng qua đó cắt, ghép đăng tải
thông tin sai sự thật, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, mất lòng tin của quần
chúng Nhân dân vào đường lỗi lãnh đạo của Đảng và bộ máy chính quyền đặc biệt
là “một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về
tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng
tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối đổi mới của Đảng” để tác động, lôi kéo tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
- Năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang diễn
ra sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu nhân dân, trái với
chuẩn mực đạo đức của người cộng sản “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”,
làm cho nhân dân bất bình, lo lắng. Như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của 20