-
Thông tin
-
Quiz
Những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới | Tiểu luận Lịch sử đảng
Nghiên cứu về bối cảnh của công cuộc đổi mới, phân tích những đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, xác định được những thành tựu đạt được để tiếp tục phát huy, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại để đưa ra những giải pháp phù hợp. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lịch sử Đảng (LSĐ) 85 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới | Tiểu luận Lịch sử đảng
Nghiên cứu về bối cảnh của công cuộc đổi mới, phân tích những đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, xác định được những thành tựu đạt được để tiếp tục phát huy, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại để đưa ra những giải pháp phù hợp. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lịch sử Đảng (LSĐ) 85 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN QUỲNH ANH
LỚP: QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ TRUYỀN THÔNG TOÀN CẦU (CHẤT LƯỢNG CAO) – K40 MÃ SINH VIÊN: 2056140006
ĐỀ TÀI: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986-2016)
TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Nguyễn Thị Hảo
Hà Nội, tháng 6 – năm 2021 MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU...................................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................3
1. Mục đích nghiên cứu........................................................................................4
2. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................4
3. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................5
4. Kết cấu tiểu luận...............................................................................................5
CHƯƠNG I...............................................................................................................5
NHỮNG LÝ LUẬN VỀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 2016)........................5
1.1. Công cuộc đổi mới (1986 – 2016).................................................................5
1.1. Bối cảnh lịch sử.............................................................................................5
1.1.1. Tình hình thế giới....................................................................................5
1.1.2. Tình hình trong nước...............................................................................6
CHƯƠNG 2..............................................................................................................7
NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 2016).................................................................7
2.1. Những thành tựu đạt được qua 30 năm đổi mới............................................7
2.1.1. Nâng cao nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội của Việt Nam............................................................................8
2.1.2. Từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.....................................9
2.1.3. Sự chuyển biến tích cực về mặt xã hội, không ngừng phát triển văn hóa,
con người...........................................................................................................11
2.1.4. Phát triển quan hệ ngoại giao, giao lưu và hợp tác quốc tế...................12
2.1.5. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng
cường xây dựng Đảng........................................................................................13
2.2. Những hạn chế và những vấn đề đặt ra.......................................................14
2.2.1. Về tốc độ tăng trưởng kinh tế................................................................14
2.2.2. Về vấn đề văn hóa, xã hội.....................................................................15
2.2.3. Về chính trị và hệ thống chính trị..........................................................16
2.2.4. Về việc xây dựng quan hệ sản xuất, quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội 16 2
CHƯƠNG 3............................................................................................................17
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT NHỮNG HẠN CHẾ VÀ BÀI
HỌC RÚT RA TỪ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI......................................................17
3.1. Một số phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế của công
cuộc đổi mới..........................................................................................................17
3.1.1. Tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa..................................................................17
3.1.2. Phát triển văn hóa, hạn chế những tiêu cực trong xã hội......................19
3.1.3. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường....................................................19
3.1.4. Đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo, kinh tế tri thức, khoa học, công
nghệ và bảo vệ môi trường................................................................................20
3.2. Bài học rút ra từ công cuộc đổi mới............................................................21
KẾT LUẬN.............................................................................................................23
Tài liệu tham khảo.................................................................................................23 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Trước sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt trên thế giới, có thể thấy
chúng ta đang sống trong thời kỳ toàn cầu hóa trước sự chuyển biến phức tạp 3
của thời cơ, đòi hỏi chúng ta phải tiến lên, bứt phá và làm chủ vận mệnh của
chính mình. Nếu không chủ động định vị mình trên thế giới, hẹp hơn là trong
khu vực thì việc đứng ngoài công cuộc hội nhập toàn cầu là không khó để xảy
ra. Không ít lần trong lịch sử chúng ta đối mặt với những cuộc xâm lược, lăm
le của các dân tộc khác và đất nước ta đã nỗ lực, quyết tâm không ngừng để
vượt qua, để chống chọi và giữ lấy độc lập Tổ quốc. Nếu không tự mình vượt
qua những thách thức, những khó khăn ấy thì khó có thể có được vị trí đứng
trên thế giới. Tuy nhiên, đi theo, làm theo cách cũ thì sẽ bị tụt hậu so với các
quốc gia khác, khi mà họ không ngừng đổi mới. Bởi vậy, công cuộc đổi mới
đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Vào khoảng 30 năm đầu từ năm 1930 đến 1960, qua hai kỳ Đại hội Đảng là
Đại hội I (3/1935) và Đại hội II (2/1951), Việt Nam đã giành được thắng lợi
trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và từng bước tiến tới cuộc
cách mạng dân chủ. Đến giai đoạn thứ hai là bốn kỳ Đại hội Đảng trong
khoảng từ năm 1960 đến 1986, qua Đại hội III (9/1960), Đại hội IV (12/1976),
Đại hội V (3/1982), đất nước ta đã hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân
dân, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và
đến giai đoạn thứ 3 là 30 năm từ năm 1986 – 2016, Đảng ta đã tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được
những thành tựu to lớn. Có thể nói đây là quá trình mang ý nghĩa lịch sử to
lớn. Đất nước ta sau kỳ đại hội VI (121986) cho đến nay đã không ngừng phát
triển về mọi lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, quốc phofg=ng, an
ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Việt Nam ta đã phát triển ngày càng lớn
mạnh và xây dựng được cơ đồ lớn lao và có được vị thế nhất định trên bản đồ
thế giới. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “ Những thành tựu và hạn chế của công
cuộc đổi mới” nhằm phân tích những đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước, xác định được những thành tựu đạt được để tiếp tục phát huy, chỉ ra 4
những hạn chế còn tồn tại để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm xây dựng
đất nước ngày càng phát triển. 1. Mục đích nghiên cứu
Hiểu được những chủ trương, đường lối của Đảng trong công cuộc đổi
mới và tiếp tục phát huy, kế thừa những thành tựu đạt được đồng thời khắc
phục những vấn đề, hạn chế còn tồn tại trong quá trình đổi mới. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về bối cảnh của công cuộc đổi mới, phân tích những đường
lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, xác định được những thành tựu đạt được
để tiếp tục phát huy, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại để đưa ra những giải pháp phù hợp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê và phương pháp sưu tầm. 4. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham thảo, tiểu luận bao
gồm 3 chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết. CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN VỀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 2016)
1.1. Công cuộc đổi mới (1986 – 2016)
Đổi mới là quá trình cải cách toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng vào những năm 1980 về kinh tế và nhiều lĩnh vực khác như chính trị,
văn hóa, giáo dục,… Chính sách đổi mới được thực hiện vào năm 1986 tại Đại
hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI. Tuy nhiên, về mặt chính trị chỉ
có những thay đổi rất nhỏ và vẫn giữ vững theo mô hình chủ nghĩa xã hội và 5
chủ nghĩa cộng sản. Đổi mới đã trở thành xu thế của thời đại, Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa đều tiến hành cải cách, đổi mới như Cải cách Khai
phóng ở Trung Quốc hay Đổi mới ở Lào. Các quan điểm về cải cách kinh tế ở
Việt Nam và Trung Quốc dựa trên những cải cách của các nước Đông Âu, tuy
nhiên ở Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu xuất phát từ kinh tế và những mặt
chính trị, hệ tư tưởng và xã hội không có những thay đổi quá lớn. 1.1. Bối cảnh lịch sử
Tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng và phức tạp trong quá trình
diễn ra Nghị quyết Đại hội VI. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cùng
cuộc cải tổ ở Liên Xô ngày càng rơi vào thất bại toàn diện và đối mặt với sự
sụp đổ hoàn toàn vào tháng 12/1991. Sự sụp đổ này gây nên những bất lợi,
ảnh hưởng đến nhiều mặt đối với Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Quan hệ viện trợ, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước Đông Âu và
Liên Xô nhanh chóng bị thu hẹp. Năm 1979, Việt Nam đã đưa quân tình
nguyện sang giúp đỡ nhân dân Campuchia đang chìm trong thảm cảnh diệt
chủng. Viện cớ quân Việt Nam vẫn chưa rút khỏi Campuchia , Mỹ cùng các
thế lực thù địch tiếp tục bao vây, cô lập, cấm vận kinh tế, tuyên truyền để
chống lại Việt Nam. Chúng còn dung túng, tạo điều kiện cho các tổ chức phản
động người Việt Nam từ nước ngoài trở về gây bạo loạn nhằm lật đổ chính
quyền Việt Nam. Sau năm 1979, quân Trung Quốc vẫn thường xuyên gây
xung đột vũ trang, bắn pháo, gây hấn trên một số vùng biên giới phía Bắc, đặc
biệt là mặt trận Vị Xuyên tỉnh Hà Giang. Đỉnh điểm là vào tháng 3/1988,
Trung Quốc cho quân chiếm chiếm giữ trái phép các đảo Chữ Thập, Châu
Viên, Ga Ven, Huy Cơ, sau đó, chúng tiếp tục lên kế hoạch thôn tính đảo Gạc
Ma, Cô Lin, Len Đao mà trong đó đảo Gạc Ma giữ vị trí quan trọng. Kể từ 6
những năm 1974, 1979, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vốn đã không
tốt đẹp, đến thời điểm này, mối quan hệ ấy càng trở nên căng thẳng hơn.
Trong nước tình hình diễn ra khá phức tạp. Vào những năm 1987 –
1988, đất nước vẫn lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, chủ yếu
là do trước đó chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo và xây dựng xã
hội chủ nghĩa theo mô hình đã lỗi thời. Sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp
đình trệ; lưu thông, phân phối rối ren; lương thực, thực phẩm thiếu thốn dẫn
đến nạn đói xảy ra khắp nơi; lạm phát cao ở mức ba con số. Đặc biệt, năm
1988, do thiên tai mất mùa nên đến mùa giáp hạt, nhiều nơi từ miền Trung trở
ra rất thiếu thốn, đói kém. Đời sống của nhân dân không kể tầng lớp nào đều
sa sút, khó khăn vô cùng. Ở thành thị, công nhân, viên chức lương rất thấp,
chỉ đủ sống qua 10 – 15 ngày do các xí nghiệp kinh doanh không có tiền trả
lương cho công nhân, sản xuất giảm sút mạnh . Ở nông thôn, đến mùa giáp
hạt, rất nhiều hộ gia đình nông dân rơi vào tình cảnh thiếu ăn, đói kém. Xã
hội hỗn loạn, tình hình mang tính tiêu cực lan rộng; nhân dân hoang mang, lo
lắng vô cùng. Cao điểm là vào khoảng cuối năm 1985 đến cuối năm 1986,
sau thất bại của của cuộc cải cách giá – lương – tiền vào tháng 9/1985, tất cả
những ách tắc, khó khăn của nền kinh tế đổ lên cuộc sống mọi tầng lớp xã
hội. Phần lớn quần chúng nhân dân cảm thấy mệt mỏi, không thể sống trong
hoàn cảnh đó được nữa; Đảng và Nhà nước khi ấy cũng thấy được tình hình
thực tế khiến dân đói khổ, vất vả như nào và nhận ra không thể tiếp tục
những chủ trương, chính sách lỗi thời đó nữa. Bởi vậy, vào tháng 12/1986,
với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật”, đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc nhìn
nhận và tự khiển trách những sai lầm trong những chính sách, quy định trước 7
đó và đề ra những cải cách đổi toàn diện nhằm đưa đất nước ra khỏi những
khó khăn, khủng hoảng, hướng đến xã hội ổn định và phát triển hơn. CHƯƠNG 2
NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 2016)
2.1. Những thành tựu đạt được qua 30 năm đổi mới
30 năm đổi mới là một chặng đường dài và đóng vai trò quan trọng trong
lịch sử phát triển của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Đổi mới là một quá
trình cải cách toàn diện, sâu sắc, là một sự nghiệp cách mạng to lớn của nhân
dân Việt Nam và trong quá trình đó, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn.
Trong công cuộc cải cách toàn diện, đổi mới về mọi mặt, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã nâng cao nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhờ vận dụng linh hoạt và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời nắm bắt, bám sát
tình hình thực tế trong và ngoài nước; tiến hành tổng kết thực tiễn khái quát;
khắc phục những tư tương lỗi thời, cực đoan, bảo thủ. Trải qua 30 năm với 6
kỳ đại hội, mỗi kỳ đại hội từng bước đánh dấu những đổi mới, phát triển rõ rệt
trong nhận thức lý luận của Đảng về mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, đối
ngoại, văn hóa, xã hội,…trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991) đã thể hiện
sự phát triển lý luận của Đảng. Cương linh 2011 (bổ sung, phát triển) đã bổ
sung và xác định tám đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam : 8
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp; cón nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu
nghị hợp tác với các nước trên thế giới”. Ngoài ra, Cương lĩnh cùng hoàn
thiện tám phương hướng cơ bản gồm :” Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường;
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống
nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc
phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối
ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ XHCN thực hiện đại đoàn kết toàn
dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh” và tám mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng: “Quan hệ
giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;
giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực
lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế và giữa Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Có thể nói đây là đường lối chung để
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 9
Bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã xác định cần phải đổi mới đầu tiên
là tư duy kinh tế. Rút kinh nghiệm từ những cải cách thất bại trước đó, Đảng
đã quyết định không theo mô hình tập trung bao cấp nữa mà chuyển sang phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình
kinh tế tổng quát với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, hình
thức kinh doanh và phân phối. Thể chế kinh tế thị trườn định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta từng bước được hoàn thiện, chú trọng vào tạo lập một môi
trường cạnh tranh, bình đẳng, lành mạnh, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ
cấu lại nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản
xuất. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm kết hợp cùng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cùng với
phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường nhằm mang lại cơ
cấu kinh tế hiện đại, hợp lý và phát triển bền vững. Đảng cũng chú trọng vào
việc phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo và các ngành
công nghiệp có lợi thế; liên kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ;
áp dụng công nghệ cao vào phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Từ đó, nước ta đã xây dựng được
nền kinh tế độc lập, tự chủ đồng thời tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong gần 30 năm đổi mới, nhờ vào đường lối, chính sách phát triển kinh
tế hợp lý, đúng đắn mà Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế ấn
tượng và được thế giới đánh giá cao. Trong vòng 5 từ năm 1991 đến năm
1995, tốc độ tăng tưởng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước
(GDP) đạt 8,2%, vượt chỉ tiêu kế hoạch là 5,5 – 6,5%; về sản xuất nông
nghiệp là 4,5%; sản xuất công nghiệp là 13,3% và kim ngạch xuất khẩu là
20%. Cơ cấu kinh tế cũng có những chuyển đổi nhất định. Năm 1990, tỉ trọng
công nghiệp và xây dựng trong GDP là 22,6% và đã tăng lên 29,1% trong năm 10
1995, dịch vụ cũng tăng từ 39,6% lên 41,9% và cũng bắt đầu có tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế. Năm 1990, vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội chiếm 15,8% GDP
và đến năm 1995 đã tăng lên 27,4%, trong đó, nguồn đầu tư trong nước chiế
16,7% GDP. Lạm phát có sự tiến triển rõ rệt khi giảm từ mức 67,1% năm 1991
xuống còn 12,7% năm 1995. Trong giai đoạn 200 – 2010, kinh tế vẫn giữ
vững phong độ tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26% một năm.
Trong năm 2010,theo giá thực tế, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong
nước (GDP) đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000, đến năm 2011,
GDP đã tăng lên khoảng 170 tỷ USD. Từ năm 2011 đến 2015, nền kinh tế Việt
Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng GDP cũng giảm sút do khủng
hoảng tài chính thế giới cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân vẫn ở mức khá, khoảng 5,8% và đã thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt gần 45 tỷ USD trong 5 năm từ 2006 đến
2010, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch để ra là 77,8%. Có thể nói, nền kinh tế
Việt Nam khi ấy có sự tiến triển rõ rệt, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Đảng đã đề ra chủ trương kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển
văn hóa và thực hiện công bằng xã hội trong từng bước phát triển. Trong gần
30 năm đổi mới, nhờ chính sách hợp lý, nhất quán của Đảng và Nhà nước mà
đời sống vật chất của đại đa số quần chúng nhân dân được cải thiện. Số hộ dân
cư có thu nhập trung bình và cao tăng lên, số hộ nghèo giảm đáng kể, tỷ lệ hộ
nghèo cả nước bình quân giảm từ 1,5% đến 2% một năm. Trước đổi mới , tỷ lệ
hộ nghèo là 60% thì đến năm 2011 giảm còn 9,5%, đến năm 2013 còn 7,5%
và đến năm 2015 chỉ còn dưới 5%. Bên cạnh đó, chính sách xã hội luôn không
ngừng nâng cao và bảo đảm về đời sống vật chất cho nhân dân về việc ăn, ở, 11
đi lại, công việc, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Mỗi năm
lại có thêm 1 triệu lao động có việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp; nhiều nhà ở
được xây dựng mới và đường giao thông, cơ sở hạ tầng cũng được nâng cấp ở
cả thành thị và nông thôn. Đảng cũng tiến hành xây dựng và triển khai Luật
việc làm và nghiên cứu xây dựng các chương trình việc làm công. Thành tựu
của Việt Nam về xóa đói giảm nghèo đã được Liên hợp quốc công nhận và đánh giá cao.
Về mặt y tế, các hệ thống cơ sở y tế được hình thành và xây dựng ở khắp
cả nắng. Hệ thống dịch vụ y tế được nâng cao chất lượng, công tác chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân cũng có nhiều tiến bộ. Đối với người có công với cách
mạng, chính sách ưu đãi được đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo mức sống của
họ cao hơn hoặc bằng mức sống trung bình của dân cư trên cùng địa bàn cư
trú. Bên cạnh đó, hệ thống an sinh xã hội cũng đã được xây dựng và phát triển
này một đa dạng và hiệu quả hơn, Đảng cũng chú trọng phát triển hệ thống
bảo hiểm gồm: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đồng thời khuyến khích và tạo
điều kiện cho người lao động có cơ hội tiếp cận và sử dụng các loại bảo hiểm.
Ngoài ra, các hình thức cứu trợ xã hội được mở rộng, nhân dân được đảm bảo
cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là đối với những người có hoàn
cảnh khó khăn và dân tộc thiểu số.
Về mặt văn hóa, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân
ngày càng được nâng cao và phát triển. Đảng ta chú trọng vào phát triển các
lĩnh vực văn hóa, xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn
hóa là động lực để phát triển đồng thời không ngừng mở rộng mối quan hệ
ngoại giao, giao lưu văn hóa thế giới, tiếp thu các nền văn hóa của nhân loại
một cách có chọn lọc nhằm phong phú hóa đời sống văn hóa của dân tộc Việt
Nam. Bên cạnh đó, sự nghiệp giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ được
coi là quốc sách hàng đầu. Đảng đã đưa ra những chính sách đổi mới căn bản 12
và phát triển toàn diện ngành giáo dục và đào tạo; không ngừng đưa ra các
giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo các cấp; phát
triển dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp; tập trung nâng cao chất lượng giáo
dục đại học. Như vậy, đời sống văn hóa xã hội của nhân dân cũng được cải
thiện và có những bước phát triển rõ rệt.
Đảng ta đã tích cực triển khai các đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa
bình, hợp tác, phát triển,đa phương hóa và đa dạng hóa, chủ động hội nhập
quốc tế, chủ động là đối tác, là thành viên đáng tin cậy và có trách nhiệm
trong các cộng động và tổ chức quốc tế. Việt Nam đã củng cố quan hệ hữu
nghĩ với nhiều nước, cụ thể là khôi phục và mở rộng quan hệ ngoại giao, hợp
tác với Trung Quốc; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Campuchia cùng các
nước trong khu vực; phát triển quan hệ với Liên bang Nga và các nước khu
vực Đông Âu và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập; mở rộng
quan hệ với Mỹ cùng nhiều nước khu vực Nam Á, Trung Đông, Châu Phi và
Mỹ La-tinh. Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực tham gia các quan hệ song
phương và các tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, WTO, ASEM,… từ đó
thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI, ODA và từng bước mở rộng thị trường
xuất nhập khẩu. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn
170 quốc; quan hệ thương mại và xuất khẩu hàng hóa tới 230 thị trường của
các nước và vùng lãnh thổ; ký kết trên 90 hiệp định thương mại, gần 60 hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu tư cùng 54 hiệp định chống đánh thuế hai
lần và nhiều hiệp định về hợp tác song phương với các nước và các tổ chức
quốc tế theo thông tin trên trang thông tin điện tử cảu Bộ Ngoại giao. Thành
tựu về quan hệ đối giao là một yếu tố quan trọng trong việc giữ gìn hòa bình,
độc lập cho dân tộc; thoát khỏi thế bị bao vây, cấm vận và góp phần nâng cao
vị thế nước ta trên thế giới. 13
Xây dựng Đảng được coi là nhiệm vụ then chốt, bao gồm xây dựng về
chính trị, tổ chức, tư tưởng, đạo đức, phương thức lãnh đạo và phong cách
công tác. Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng xây dựng Đảng vững mạnh,
trong sạch; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Đảng ta cũng đẩy mạnh
nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền, vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó làm kim chỉ nam cho hành động của
mình. Đảng kiên định với mục tiêu độc lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tâp
trung vào nguyên tắc tập trung dân chủ, chống giáo điều, cực đoan, bảo thủ.
Bên cạnh đó, Đảng cũng tiến hành tổng kết thực tiễn và nghiên cứu một số
vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội; tăng cường giáo dục và khắc phục suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức lối sống một bộ phận các cán bộ; tích cự làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Đảng ta tiếp tục đổi mới và hoàn thiện bộ máy Đảng và hệ thống chính trị
bằng cách xác định rõ nhiệm vụ, chức năng của từng tổ chức; sáp nhập một số
bộ, ban, ngành nhằm nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra và tiếp tục
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
và Mặt trận Tổ quốc. Ngoài ra, Việt Nam cũng chú trọng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân, vì dân; có sự phân công, phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Việt Nam cũng đã ban hành Hiến pháp
năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 cùng các luật, bộ luật và pháp lệnh nhằm
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vai trò tối cao của
luật pháp, Hiến pháp trong đời sống. Việc đổi mới hệ thống chính trị gắn liền 14
với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ là bản chất của xã hội chủ
nghĩa, cũng là mục tiêu của sự nghiệp đổi mới.
2.2. Những hạn chế và những vấn đề đặt ra
Trong những năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá tuy
nhiên kinh tế nước ta vẫn phát triển chậm và chưa thật sự bền vững, đặc biệt là
trong 10 năm gần đây. Năng suất lao động cũng như hiệu quả, chất lượng và
năng lực cạnh tranh quốc gia của nền kinh tế Việt Nam còn yếu kém, chất
lượng lao động của nguồn nhân lực cũng còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, thể
chế kinh tế thị trường được hoàn thiện khá chậm; hệ thống thị trường, kết cấu
hạ tầng chưa đươc đồng bộ và hiện đại hóa dẫn đến cản trở sự phát triển của
nền kinh tế. Việc nền tảng cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa còn gặp nhiều khó khăn. Đến nay, nước ta vẫn còn là một nước
nghèo, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, nợ nần nhiều ; cơ sở vật chất,
kỹ thuật còn kém phát triển. Vẫn còn tình trạng một số cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, một bộ phận cán bộ và nhân dân lại lãng phí, tiêu xài vượt mức
mình làm ra, chưa tiết kiệm cho ngân sách nhà nước trong khi nhu cầu vốn
đầu tư phát triển là rất lớn và cấp thiết. Chính sách để huy động nguồn vốn từ
dân còn thiếu sót, năm 1955, việc đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn trong
nước kể cả vốn khấu hao cơ bản chỉ chiếm 16/7% tổng GDP, trong đó 4,2% là
nguồn vốn ngân sách, như vậy là còn tương đối thấp so với mục tiêu phát triển
kinh tế nước ta khi ấy. Việc sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, chưa tập trung
cho các chương trình và dự án cấp thiết, từ đó khiến cho tốc độ tăng trưởng
kinh tế nước ta còn yếu kém.
Tình hình xã hội vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, tệ nạn cần phải giải quyết
như nạn tham nhũng, lãng phí của công, buôn lậu, buôn hàng trái phép vẫn 15
xảy ra nhiều. Trong bộ máy nhà nước, Đảng cùng các đoàn thể, các doanh
nghiệp nhà nước và trong các hoạt động của những cơ quan thi hành pháp luật
vẫn xảy ra những tiêu cực kéo dài nghiêm trọng. Việt làm là một trong những
vấn đề gay gắt, từ đó sự phân hóa giau nghèo giữa các nông thôn và thành thị,
giữa các vùng, giữa các tầng lớp xã hội tăng nhanh. Đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn, đặc biệt là ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
nông thôn, vùng có căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ. Chất lượng giáo dục
và đào tạo cũng như dịch vụ y tế, chăm sóc bệnh nhân còn kém phát triển,
người có thu nhập thấp không đủ khả năng tài chính để chữa bệnh, mua thuốc
hoặc cho con em đi học. Trong khi đó, nguồn tài chính từ ngân sách hoặc các
nguồn khác có thể huy động để xây dựng phúc lợi xã hội vừa hạn hẹp vừa sử
dụng chưa hiệu quả. Ngoài ra, tình trạng ùn tắc giao thông gây ô nhiễm môi
trường; phá hoại tài nguyên thiên nhiên ngày càng tăng nhanh. Trên lĩnh vực
văn hóa, nhiều vấn đề gay gắt nảy sinh mà chưa được nhận thức và giải quyết
hiệu quả. Đạo đức xã hội có phần xuống cấp, văn hóa phẩm độc hại, đi ngược
lại thuần phong mỹ tục tràn lan gây ảnh hưởng đến văn hóa văn minh. Đời
sống văn hóa tinh thần nhân dân nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu.
Trong những năm đổi mới, năng lực và hiệu lực lãnh đạo, quản lý của
Đảng và Nhà nước chưa thể bắt kịp với tình hình chuyển biến phức tạp. Bộ
máy nhà nước được sắp xếp lại, tinh giản hơn và nâng cao chất lượng nhưng
còn chậm; vẫn còn tình trạng quan chức vi phạm quyền dân chủ của nhân đân.
Trong khi đó, công tác tuyển chọn, thay đổi và phát triển cán bộ và cán bộ kế
cận còn gặp nhiều vướng mắc, chậm trễ. Tình trạng không ít cán bộ, Đảng
viên mất đi lý tưởng cách mạng, phẩm chất, đạo đức bị tha hóa, sức lực của bộ
phận tổ chức cơ sở Đảng có xu hướng suy yếu. Bên cạnh đó, công tác đổi mới
chính trị còn chậm, chưa bắt kịp với đổi mới kinh tế đặc biệt đổi mới về tổ 16
chức, cơ chế, thể chế và chính sách. Hệ thống chính trị chưa được tinh giản,
còn cồng kềnh, chưa đạt được hiệu quả hoạt động cao. Biên chế hệ thống
chính trị ngày càng tăng lên nhưng chất lượng công vụ còn thấp, chưa ngang tầm với nhiệm vụ.
Công tác giải quyết những vướng mắc về cơ chế, thể chế, chính sách để
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước phát triển, nâng cao hiệu quả
hoạt động cùng với việc thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn ra
còn chậm. Đảng và Nhà nước cũng chưa chú trọng đến việc tổng kết thực tiễn
để đưa ra những phương hướng, chính sách hợp lý để đổi mới kinh tế hợp tác
và cũng chưa kịp thời hỗ trợ các hình thức kinh tế hợp tác mới phát triển. Một
số chính sách, biện pháp để khuyến khích tư nhân phát triển cũng chưa được
giải quyết tốt đồng thời cũng chưa quản lý hiệu quả thành phần kinh tế này,
việc quản lý kinh tế liên doanh với nước ngoài cũng còn nhiều lỗ hổng
Các hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp chưa nhất quán và đồng bộ
đồng thời cũng chưa nghiêm túc thực hiện. Tài chính, ngân hàng, kế hoạch
hóa, giá cả, quy hoạch xây dựng và quản lý đất đai còn nhiều thiếu xót trong
khi các thủ tục hành chính chưa được tỉnh giản, kế hoạch đổi mới tiến hành
còn chậm. Một số trận địa quan trọng thương nghiệp nhà nước còn bỏ sót,
chưa phát huy hiệu quả năng lực và vai trò chủ đạo trên nền kinh tế thị trường.
Ngoài ra, công tác quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều thiếu sót, một vài trường
hợp tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất. Bội chi ngân sách và nhập siêu
còn lớn mà chế độ phân phối thu nhập còn tồn tại những điểm bất hợp lý. Tình
trạng lạm phát tuy được hạn chế những vẫn còn tồn tại. 17 CHƯƠNG 3
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT NHỮNG HẠN CHẾ VÀ BÀI
HỌC RÚT RA TỪ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 3.1.
Một số phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế của công cuộc đổi mới
Tiến hành chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng
sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, điều này giúp mở rộng
quy mô tăng trưởng đồng thời có thể tập trung vào nâng cao hiệu quả, chất
lượng và tính bền vững. Cần xem xét thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, lấy
trọng tâm là các nganh sản xuất dịch vụ, điều chỉnh lại chiến lược phát triển
các doanh nghiệp sao cho phù hợp. Ngoài ra cũng cần phát triển đa dạng các
ngành, nghề để tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập, tạo điều
kiện để người lao động học hỏi và nâng cao trình độ nhằm nâng cao năng suất
lao động và phát triển nền kinh tế.
Đối với nền công nghiệp, cần tiến hành đẩy mạnh việc cơ cấu lại và xây
dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển bền vững, tâp trung vào những
ngành có lợi thế chiến lược đối với sự phát triển nhanh, độc lập và tự chủ của
nền kinh tế. Ưu tiên phát triển công nghiệp có tính chất phục vụ nông nghiệp
như công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc hỗ trợ thu hoạch, bảo quản, chế
biến các sản phẩm nông nghiệp, phân bón, … Tập trung phát huy năng lực
nghiên cứu và chế tọa những sản phẩm công nghiệp áp dụng công nghệ hiện
đại, tiên tiến đặc biệt là các loại máy móc tự động hóa, có khả năng xuất khẩu.
Ngoài ra cũng cần phân bổ công nghiệp trên các vùng, tiếp tục phát huy hiệu 18
quả của các khu công nghiệp hiện đang có, phát triển công nghiệp theo hướng
các cụm, các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và đẩy mạnh xây dựng các khu
công nghệ cao và các khu kinh tế cửa khẩu
Nông – lâm – ngư nghiệp cũng cần chú trọng phát triển theo hướng công
nghệ hóa, hiện đại hóa nhằm đạt hiệu quả lâu dài, bền vững. Tập trung phát
triển nông nghiệp có năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; sản xuất
hàng lớn và có tiềm năng mở rộng xuất khẩu. Phát triển lâm nghiệp toàn diện,
đặc biệt là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dung. Tiến hành mở rộng
diện tích rừng, khuyến khích trồng rừng và tham gia đầu tư. Cần có những
chính sách hỗ trợ người dân có thể sống, kinh doành và bảo vệ rừng, hạn chế
phá hoại tài nguyên môi trường. Thúc đẩy nuôi trông thủy sản đa dạng một
các hợp lý theo quy hoạch. Đẩy mạnh việc đánh bắt xa bờ với công nghệ hiện
đại, tiến hành đồng bộ cơ sở dịch vụ, kết cấu hạ tầng nuôi trồng, đánh bắt, chế
biến và xuất khẩu thủy sản.
Các ngành dịch vụ cần được ưu tiên phát triển và hiện đại hóa, đặc biệt là
ngân hàng, thương mại, du lịch, vận tải, tài chính, viễn thông, chăm sóc sức
khỏe, giáo dục và khoa học công nghệ. Đưa ra những chính sách khuyến khích
sử dụng hàng hóa nội địa, phát triển thương mại trong nước. Đẩy mạnh xuất
khẩu những mặt hàng mới, sản phẩm chế biến được ứng dụng khoa học công
nghệ cao, giảm xuất khẩu khoáng sản, nguyên liệu, sản phẩm thô. Xây dựng
các trung tâm thương mại dịch vụ lớn tại các thành phố lớn như Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ.
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh, đa dạng bằng việc
hình thành nếp sống văn minh trong các gia đình, hộ dân, cơ quan, doanh
nghiệp để giá trị văn hóa tốt đẹp lan tỏa mọi mặt đời sống. Đúc kết và xây
dựng nên hệ giá trị, hệ tư tưởng chung của người Việt Nam thời kỳ công 19
nghiệp hóa, hiện đại hóa; chú trọng giáo dục, nuôi dưỡng tư tưởng thế hệ trẻ;
giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam, phát huy và giữ gin nét
nhân văn, sâu sắc, lịch sử dân tộc, tôn vinh cái đẹp, phê phán cái ác trong các
tác phẩm. Bảo vệ nét đẹp của Tiếng Việt, khuyến khích thế hệ trẻ tìm tòi
những cách thức thể hiện và sáng tạo phong cách nghệ thuật mới.
Mở rộng, tăng cường việc quảng bá, giới thiệu nền văn hóa, nghệ thuật,
con người và đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Phát triển hoạt động
ngoại giao, thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa.
Học hỏi và tiếp nhận những nền văn hóa từ thế giới nhằm phong phú, đa dạng
hóa nền văn hóa nước nhà. Hình thành một số trung tâm văn hóa, trung tâm
dịch thuật Việt Nam tại nước ngoài nhằm đưa Việt Nam ra thế giới.
Giữ vững và phát huy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Cơ chế thị trường cần được vận dụng linh hoạt, đầy đủ nhằm phát triển
kinh tế nhanh chóng và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, xóa đỏi giảm
nghèo và để thực hiện tốt mục tiêu được đề ra “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”. Tiến hành đổi mới, phát triển đa dạng các hình thức sở
hữu, thành phần kinh tế, Hòa thiện cơ chế, chính sách, luật pháp về sở hữu
toàn dân. Nhà nước đại diện quản lý đất đai, tài nguyên và các tài sản công
khác và các cá nhân, tổ chức có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc sử
dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước. Đổi mới và cơ cấu lại các ngành nghề
kinh doanh của các tổ chức, công ty va tập đoàn, chú trọng vào các ngành
nghề then chốt trong kinh tế. Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở hầu
hết các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế theo đúng quy định phát luật. Tạo điều
kiện xây dựng các tập đoàn tư nhân nhằm góp vốn vào các tập đoàn kinh tế
nhà nước, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào những lĩnh vực kinh tế 20