





Preview text:
Hãy phân tích khái niệm và đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Trong đó, các đặc trưng nào đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế? Luận giải vì sao?
1.1. Khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường, đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh, và có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Đây là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khác với nền kinh tế thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản chỉ dựa vào thị trường, dẫn đến nhiều hệ lụy như bất bình đẳng thu nhập, ô nhiễm môi trường.
Trong nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và thị trường hoạt động bổ sung lẫn nhau. Khi thị trường mất cân bằng hoặc gặp những vấn đề không tự điều chỉnh, Nhà nước sẽ can thiệp để điều tiết và giải quyết, đảm bảo nền kinh tế vận hành ổn định và hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
=> vd: Năm 2025, trong bối cảnh giá gạo thế giới biến động, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các bộ, ngành điều hành linh hoạt giữa xuất khẩu, dự trữ và lưu thông gạo; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thu mua, bảo đảm lợi ích nông dân, nhằm ổn định giá thóc gạo trong nước và giữ vững an ninh lương thực quốc gia.
Tính tất yếu khách quan của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
- Thứ nhất: Phù hợp với quy luật phát triển khách quan
- Thứ hai: Phát huy ưu việt của kinh tế thị trường trong thúc đẩy phát triển
- Thứ ba: Phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa là yêu cầu khách quan, vừa là chiến lược nhất quán, giúp Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, tự cugyzgng tự cấp sang nền kinh tế hiện đại, năng động, đồng thời kết hợp hiệu quả giữa cơ chế thị trường và vai trò điều tiết của Nhà nước, đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, công bằng xã hội và hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh.
=> vd: Sau đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam liên tục điều chỉnh các chính sách thuế phí để hỗ trợ doanh nghiệp và kích thích phục hồi kinh tế. Cụ thể, Quốc hội Việt Nam đã thông qua việc gia hạn giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% đối với nhiều hàng hóa và dịch vụ đến hết năm 2026, qua đó thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong nền kinh tế.
2.1 Đặc trưng của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
a. Về mục tiêu
Là phương thức để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Từng bước xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Do Việt Nam hiện nay đang trong chặng đầu thời kỳ quá độ nên lực lượng sản xuất còn yếu kém lạc hậu vì thế nên việc phát triển kinh tế thị trường là con đường cơ bản nhất giúp kích thích sản xuất, khuyến khích sự năng động sáng tạo của người lao động, thúc đẩy mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đảm bảo từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và đây cũng là mục tiêu cao cả của dân tộc.
b. Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế
Quan hệ sở hữu : Nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng thành phần kinh tế cùng tồn tại, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
Sở hữu Nhà nước thì có Thành phần kinh tế nhà nước. VD: Doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty nhà nước, xí nghiệp quốc doanh,...
Sở hữu tập thể thì có Thành phần kinh tế tập thể. VD: Hợp tác xã
Sở hữu tư nhân thì có Thành phần kinh tế tư nhân. VD: Cty tư nhân, cty trách nhiệm hữu hạn,...
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Được khuyến khích phát triển, đóng vai trò quan trọng trong hội nhập và chuyển giao công nghệ.
Qua đó ta có thể thấy
Kinh tế nhà nước giữ vị trí vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, cho phép huy động mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế, kích thích cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng năng suất lao động và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể là nền tảng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập tự chủ.
Mỗi thành phần kinh tế đều là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, đều bình đẳng trước pháp luật cùng tồn tại và phát triển, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
VD: Trong lĩnh vực ngân hàng
Ngân hàng nhà nước: Agribank, Vietcombank,... tồn tại song song với hệ thống ngân hàng tư nhân như ACB, VPbank, Techcombank,..
=> Các ngân hàng này tồn tại song song, vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhưng tất cả đều bình đẳng trước pháp luật.
c. Về quan hệ quản lý nền kinh tế
Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo thông qua cương lĩnh, đường lối phát triển kinh tế-xã hội và các chủ trương, chính sách trong từng thời kỳ của đất nước. Đây là yếu tố quan trọng, then chốt giúp đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giữ vai trò quản lí nền kinh tế thông qua pháp luật, chính sách kinh tế-xã hội, kế hoạch và các công cụ kinh tế.
Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thị trường không cực đoan mà vẫn dựa trên nguyên tắc tôn trọng các quy luật kinh tế của thị trường
Bên cạnh đó, nhà nước thực hiện đồng thời việc duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường và đảm bảo tính công bằng, bình đẳng xã hội.
VD: Thị trường xăng dầu tại Việt Nam hoạt động khách quan theo quy luật cung cầu và theo thị trường thế giới. Nhưng nếu giá cả biến động lớn cho nền kinh tế thì nhà nước sẽ sử dụng đến những công cụ điều tiết thông qua thuế xuất nhập khẩu xăng dầu, các quỹ bình ổn xăng dầu nhằm điều hòa giá xăng dầu trong nước, hạn chế tối đa nguy cơ khủng hoảng kinh tế.
d. Về quan hệ phân phối
Hiện nay do có nhiều hình thức sở hữu nên nước ta cũng đang thực hiện nhiều hình thức phân phối khác nhằm đảm bảo tính công bằng, phù hợp với các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất.
Theo các yếu tố đầu vào: mọi chủ thể kinh tế đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực: vốn, tri thức thông qua học tập khởi nghiệp.
Quan hệ phân phối dựa trên các nguyên tắc chủ yếu như:
Phân phối theo kết quả lao động: Bản chất hình thức này dựa trên kết quả về số lượng, chất lượng lao động. VD: Bạn làm nhiều thì nhận thưởng nhiều, làm ít nhận thưởng ít và không làm tất nhiên sẽ không nhận thưởng.
Phân phối theo hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn. VD: Dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp là lỗ hay lời, dựa trên lợi tức là đóng góp vốn nhiều hay ít.
Phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi tập thể VD: hệ thống quỹ phúc lợi hưu trí, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa và các công trình phúc lợi xã hội mà nhân dân được hưởng.
e. Về quan hệ giữa gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
Mục tiêu của Việt Nam là dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh. Vì vậy ngoài mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế còn phải đảm bảo tính công bằng xã hội. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa xã hội.
Thực hiện tính công bằng xã hội được biểu hiện thông qua nhiều khía cạnh khác nhau như công bằng về thu nhập, về lao động, việc làm, các chính sách như chính sách thu nhập, chính sách ưu đãi với người có công cách mạng, chính sách xóa đói giảm nghèo,...
VD: Hãy thử hình dung bạn đang sống trong một xã hội với chỉ số tăng trưởng của nền kinh tế nằm ở mức cao thế nhưng lại có sự chênh lệch khoảng cách giàu nghèo, thất nghiệp gia tăng, bất bình đẳng về thu nhập thì hậu quả cuối cùng là đầy rẫy những cạm bẫy, tệ nạn xã hội, làm xảy ra thực trạng đình công, bãi công dai dẳng. Tác động tiêu cực lại nền kinh tế, kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế. Và một khi chính sách công bằng xã hội được thực hiện sẽ tạo điều kiện thúc đẩy và đảm bảo sự phát triển bền vững.
Tóm lại
Công bằng xã hội không chỉ là công cụ để duy trì sự ổn định nền kinh tế thị trường mà còn là mục tiêu phải hiện thực hóa.
Để tạo ra công bằng xã hội không chỉ dựa vào chính sách điều tiết thu nhập, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội mà còn cần thiết lập những tiền đề, điều kiện cơ sở cần thiết nhằm đảm bảo cho mọi người dân đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm,...
2.2: Đặc trưng đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
Thứ nhất, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết và ổn định nền kinh tế vĩ mô, giữ các lĩnh vực then chốt, bảo đảm định hướng phát triển lâu dài.
Thứ hai, Nhà nước quản lý nền kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm nền kinh tế phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi Nhà nước sử dụng pháp luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách để quản lý, điều tiết nền kinh tế. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy vai trò quản lý này thể hiện rõ qua điều hành giá xăng dầu, điện năng và các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ ba, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời chú trọng an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống nhân dân. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Ví dụ minh họa:
Điều tiết giá xăng dầu: Công cụ ổn định kinh tế vĩ mô
Trong nền kinh tế thị trường, xăng dầu là mặt hàng chiến lược có độ co giãn của cầu theo giá thấp, nghĩa là sự biến động giá của nó sẽ tác động trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nhà nước Việt Nam không can thiệp bằng cách áp đặt giá chủ quan mà sử dụng Quỹ bình ổn và chính sách thuế như những "bộ giảm chấn" tài chính. Khi giá thế giới tăng đột biến, các công cụ này giúp phân phối lại lợi ích, giảm bớt áp lực chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và bảo vệ sức mua của người dân. Điều này thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong việc ngăn ngừa các cú sốc cung, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.
Phủ lưới điện quốc gia: Ưu tiên phúc lợi và công bằng xã hội
Xét theo kinh tế học thuần túy, việc cung cấp điện cho vùng sâu vùng xa hay hải đảo thường rơi vào trạng thái thất bại của thị trường do chi phí biên quá cao và khả năng thu hồi vốn thấp, khiến các doanh nghiệp tư nhân không có động lực đầu tư. Tuy nhiên, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, điện lưới được xác định là hàng hóa công cộng thiết yếu. Nhà nước thực hiện cơ chế bù chéo lợi nhuận (lấy lợi nhuận từ khu vực đô thị, công nghiệp để bù đắp chi phí cho vùng khó khăn), đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận năng lượng với mức giá bình đẳng. Chính sách này ưu tiên mục tiêu công bằng xã hội và an ninh quốc gia hơn là tối đa hóa lợi nhuận tài chính đơn thuần.
=> Như vậy, qua ví dụ về giá xăng và lưới điện, chúng ta thấy Nhà nước không làm thay thị trường, mà đóng vai trò điều tiết để kinh tế thị trường không đi chệch khỏi mục tiêu phục vụ con người và xã hội.
Lí luận vì sao quan hệ quản lý nền kinh tế bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa?
Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam được bảo đảm trước hết và chủ yếu thông qua quan hệ quản lý nền kinh tế, là nền kinh tế được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mục tiêu và phương hướng phát triển của nền kinh tế. Kinh tế thị trường tự thân không mang định hướng xã hội chủ nghĩa mà vận động theo lợi ích và quy luật của thị trường. Thông qua cương lĩnh, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Đảng định hướng cho nền kinh tế thị trường phát triển vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chính trị bảo đảm nền kinh tế thị trường không chệch khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
- Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ thể trực tiếp quản lý và điều tiết nền kinh tế, biến định hướng của Đảng thành hiện thực. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và các công cụ kinh tế, trên cơ sở tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường. Thông qua quản lý vĩ mô, Nhà nước định hướng hoạt động của các chủ thể thị trường theo lợi ích chung của xã hội, chứ không để thị trường vận hành hoàn toàn tự phát.
- Thứ ba, vai trò quản lý của Nhà nước nhằm khắc phục những khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường, bảo đảm bản chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Kinh tế thị trường có xu hướng dẫn đến phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội và thất bại thị trường trong cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng. Nhà nước xã hội chủ nghĩa can thiệp hợp lý để ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm công bằng xã hội và an sinh xã hội, qua đó thể hiện rõ mục tiêu “vì con người” của định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Thứ tư, quan hệ quản lý nền kinh tế phản ánh bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Khác với nhà nước tư sản quản lý nền kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế để bảo đảm lợi ích của đa số nhân dân lao động. Chính sự khác biệt này làm cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam mang định hướng xã hội chủ nghĩa.
=> Quan hệ quản lý nền kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam.